Những vấn đề khác như đánh giá nănglực đọc hiểu, phát triển tư duy sáng tạo, phản biện cho học sinh chưa được giáoviên quan tâm đúng mứcTừ những lí do trên, tôi lựa chọn và nghiên cứu đề
Trang 1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT NGUYỄN THỊ LỢI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG CÔNG CỤ ĐÁNH GIÁ THƯỜNG XUYÊN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM (1930 - 1945) Ở TRƯỜNG THPT
Người thực hiện: Lê Thị Hường Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ văn
THANH HOÁ, NĂM 2021
Trang 2MỤC LỤC
Trang
I MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Đóng góp của đề tài 2
II NỘI DUNG 3
1 Cơ sở lí luận của vấn đề 3
1.1 Đánh giá kết quả giáo dục 3
1.2 Các hình thức đánh giá kết quả giáo dục 3
1.3 Các phương pháp và công cụ đánh giá 4
2 Thực trạng của vấn đề 5
2.1 Thực trạng giảng dạy và đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn ở trường THPT 5
2.2 Thực trạng xây dựng và sử dụng công cụ đánh giá năng lực đọc hiểu truyện ngắn Việt Nam (1930 - 1945) ở trường THPT hiện nay 6
3 Các giải pháp giải quyết vấn đề 7
3.1 Nguyên tắc xây dựng công cụ đánh giá năng lực đọc hiểu truyện ngắn Việt Nam (1930 - 1945) ở trường THPT 7
3.1.1 Các công cụ đánh giá phải có tính hệ thống, đa dạng, linh hoạt 7
3.1.2 Công cụ đánh giá phải bám sát yêu cầu cần đạt, chuẩn đánh giá năng lực đọc hiểu truyện ngắn của học sinh THPT 7
3.1.3 Công cụ đánh giá phải đảm bảo tính chính xác, khách quan, khoa học, có khả năng phân hóa HS 7
3.1.4 Công cụ đánh giá phải bám sát đặc trưng thể loại truyện ngắn 8
3.2 Xây dựng một số công cụ đánh giá thường xuyên năng lực đọc hiểu truyện ngắn Việt Nam (1930 - 1945) ở trường THPT 8
3.2.1 Câu hỏi/ bài tập 8
3.2.2 Phiếu quan sát 10
3.2.3 Phiếu đọc hiểu 15
4 Hiệu quả thực nghiệm 18
III KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 19
1 Kết luận 19
2 Kiến nghị 19 TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC ĐỀ TÀI SKKN ĐÃ ĐƯỢC XẾP GIẢI CỦA TÁC GIẢ
Trang 3I MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Một trong những vấn đề cốt lõi của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục vàđào tạo hiện nay là chuyển quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sangphát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, học đi đôi với hành, lýluận gắn với thực tiễn, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học
Từ đó rèn luyện cho học sinh năng lực vận dụng kiến thức nhằm giải quyết cácvấn đề trong học tập và trong thực tiễn
Đổi mới giáo dục phải gắn liền với việc đổi mới kiểm tra đánh giá bởi đánhgiá kết quả học tập của học sinh là khâu then chốt cuối cùng của quá trình dạyhọc Đánh giá có hệ thống, bám sát mục tiêu, chuẩn đầu ra của chương trình dạyhọc sẽ cung cấp kịp thời những thông tin cần thiết giúp học sinh tự điều chỉnhhoạt động học và giáo viên có thông tin phản hồi để điều chỉnh, hoàn thiện hoạtđộng dạy Từ đó, nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục Tuy nhiên, trong nhàtrường phổ thông hiện nay, việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
ở các môn học nói chung, môn Ngữ văn nói riêng còn nhiều hạn chế, bất cập.Nhìn chung, việc kiểm tra, đánh giá hiện nay vẫn nghiêng về kiểm tra khốilượng kiến thức, khả năng ghi nhớ, tái hiện của học sinh, chú trọng đánh giáđịnh kì chưa chú trọng đánh giá thường xuyên Hình thức, công cụ kiểm trađánh giá còn đơn điệu, chưa có tính hệ thống
Công cụ đánh giá là thuật ngữ chỉ những phương tiện dùng để đo lườngnhằm đưa ra những nhận định, kết luận, phán đoán về trình độ, phẩm chất củahọc sinh từ đó có sự điều chỉnh, ra những quyết định về phương pháp dạy họcphù hợp Trong quá trình dạy học, bộ công cụ đánh giá có vai trò rất quan trọng.Nhờ công cụ đánh giá, giáo viên sẽ đánh giá chính xác, khách quan năng lực vàkết quả học tập của mỗi học sinh và của tập thể lớp; thu thập thông tin về kiếnthức, kĩ năng, thái độ của học sinh trong học tập; phát hiện ra những nguyênnhân sai sót, giúp học sinh học tập một cách có hiệu quả Đồng thời, nhờ công
cụ đánh giá, giáo viên nắm rõ mức độ đạt được và chưa đạt được về các mụctiêu dạy học, kiến thức, kĩ năng, thái độ của học sinh so với yêu cầu của chươngtrình; tạo cơ hội cho học sinh phát triển kĩ năng đánh giá, giúp các em nhận ra sựtiến bộ của mình trong quá trình học tập Qua đó, giáo viên có cơ sở thực tế đểnhận ra điểm mạnh, điểm yếu, tự điều chỉnh, tự hoàn thiện hoạt động dạy họccủa mình
Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn (1930 - 1945) chiếm vị trí đặc biệt trong
chương trình Ngữ văn THPT, với 5 tác phẩm: "Hai đứa trẻ" của Thạch Lam, "Chữ
người tử tù" của Nguyễn Tuân, "Chí Phèo", "Đời thừa” của Nam Cao, “Tinh thần thể dục” của Nguyễn Công Hoan (riêng tác phẩm “Đời thừa” chỉ có trong chương trình Nâng cao) Những tác phẩm này đều là tác phẩm tiêu biểu có giá
trị lớn về nội dung và nghệ thuật Tuy nhiên, trong quá trình dạy học thể loạitruyện ngắn nói chung, truyện ngắn Việt Nam giai đoạn (1930 - 1945) nói riêng,giáo viên mới chỉ quan tâm là làm sao để học sinh hiểu bối cảnh thời đại tác giả
Trang 4sáng tác tác phẩm, những điều tác giả muốn thể hiện qua tác phẩm, giá trị nộidung và đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm Những vấn đề khác như đánh giá nănglực đọc hiểu, phát triển tư duy sáng tạo, phản biện cho học sinh chưa được giáoviên quan tâm đúng mức
Từ những lí do trên, tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài "Xây dựng và sử
dụng công cụ đánh giá thường xuyên năng lực đọc hiểu truyện ngắn Việt Nam (1930 - 1945) ở trường THPT"
2 Mục đích nghiên cứu
- Với đề tài này, tôi mạnh dạn đề xuất những nguyên tắc, cách thức xâydựng và sử dụng một số công cụ đánh giá năng lực đọc hiểu truyện ngắn ViệtNam giai đoạn (1930 - 1945) ở trường THPT, vận dụng cụ thể trong hình thứcđánh giá thường xuyên nhằm phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh
3 Đối tượng nghiên cứu:
Trong phạm vi đề tài này, tôi tập trung nghiên cứu một số công cụ chủ yếucho hình thức đánh giá thường xuyên năng lực đọc hiểu truyện ngắn Việt Namgiai đoạn (1930 - 1945) ở trường THPT
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các vấn đề lí luận về kiểm tra, đánhgiá theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS; về công cụ đánh giánăng lực đọc hiểu thể loại truyện ngắn Việt Nam (1930 - 1945) ở trường THPT
4.2 Điều tra, khảo sát thực tế, thu tập thông tin
- Dự giờ thăm lớp một số tiết dạy Đọc hiểu văn bản Truyện ngắn ViệtNam (1930 - 1945) của đồng nghiệp
- Thực nghiệm đề tài trong những giờ dạy Đọc hiểu văn bản Truyện ngắnViệt Nam (1930 - 1945) cụ thể
4.3 Phân loại, thống kê, so sánh đối chiếu
Chọn 2 lớp cơ bản có trình độ ngang nhau, một lớp chú ý đến phươngpháp dạy học có sử dụng các công cụ đánh giá thường xuyên năng lực đọc hiểu
thể loại truyện ngắn Việt Nam (1930 - 1945) và một lớp không nhấn mạnh khắc
sâu phương diện này Từ đó, phân loại, thống kê, so sánh đối chiếu để rút ra kếtluận
5 Đóng góp của đề tài
- SKKN là tài liệu tham khảo thiết thực cho GV và HS trong dạy và họcđọc hiểu truyện ngắn Việt Nam (1930 - 1945), góp phần đổi mới phương phápkiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học
Trang 5II NỘI DUNG
1 Cơ sở lí luận của vấn đề
1.1 Đánh giá kết quả giáo dục
Theo Jeam Maria D.Kefele, “Đánh giá có nghĩa là xem xét mức độ phùhợp của một tập hợp các thông tin thu được với một tập hợp các tiêu chí thíchhợp của một mục tiêu đã xác định nhằm đưa ra một quyết định theo một mụcđích nào đó” [5]
Theo quy định của "Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể" năm 2018[2], kết quả giáo dục được đánh giá bằng các hình thức định tính và định lượngthông qua đánh giá thường xuyên, định kì ở cơ sở giáo dục, các kì đánh giá trêndiện rộng ở cấp quốc gia, cấp địa phương và các kì đánh giá quốc tế Kết quảcác môn học tự chọn được sử dụng cho đánh giá kết quả học tập chung của họcsinh trong từng năm học và trong cả quá trình học tập
Như vậy, mục tiêu đánh giá kết quả giáo dục là cung cấp thông tin chínhxác, kịp thời, có giá trị về mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt của chương trình và
sự tiến bộ của học sinh để hướng dẫn hoạt động học tập, điều chỉnh các hoạtđộng dạy học, quản lí và phát triển chương trình, bảo đảm sự tiến bộ của từnghọc sinh và nâng cao chất lượng giáo dục
1.2 Các hình thức đánh giá kết quả giáo dục
Theo các nhà khoa học, có hai loại đánh giá là đánh giá thường xuyên vàđánh giá định kì
Đánh giá thường xuyên là hoạt động đánh giá diễn ra trong tiến trình dạyhọc thu thập thông tin phản hồi cho giáo viên và học sinh nhằm mục tiêu cảithiện hoạt động dạy và học Đánh giá thường xuyên còn được xem là đánh giáquá trình học tập, vì sự tiến bộ của người học Mục đích của đánh giá thườngxuyên là nhằm thu thập các minh chứng liên quan đến kết quả học tập, rèn luyệncủa học sinh trong quá trình học để cung cấp những phản hồi cho GV và HS.Thông qua kết quả đánh giá thường xuyên, giáo viên nắm được những gì HS đãlàm được so với mục tiêu, yêu cầu cần đạt của bài học, của chương trình, từ đókhuyến khích sự nỗ lực của HS, xác định những gì các em chưa làm được đểđiều chỉnh hoạt động dạy và học, tìm các biện pháp nhằm cải thiện, nâng cao kếtquả học tập trong thời điểm tiếp theo
Đánh giá thường xuyên sử dụng đa dạng các hình hình thức đánh giá nhưvấn đáp, trò chơi, thảo luận nhóm, thuyết trình nhóm hoặc trước lớp, trắcnghiệm và được tiến hành trong tất cả các thời điểm, các hoạt động của tiếntrình học tập Đánh giá thường xuyên nhằm tạo ra một môi trường học tập phùhợp để hỗ trợ trực tiếp hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của họcsinh, giúp cho việc lập kế hoạch và điều chỉnh kế hoạch dạy học kịp thời, hiệuquả
Đánh giá định kì là hoạt động đánh giá diễn ra sau một giai đoạn dạy họcđược thực hiện bằng các bài kiểm tra trên lớp cho tất cả học sinh để lấy kết quảlàm căn cứ xếp loại học sinh Mục đích chính của đánh giá định kì là thu thập
Trang 6các minh chứng liên quan đến kết quả học tập, rèn luyện của HS, xác định cácmức độ đạt được về thành tích để xếp loại, công nhận HS đã hoàn thành hoặcchưa hoàn thành nhiệm vụ học tập Căn cứ vào kết quả thu được từ kết quả đánhgiá định kì, các nhà trường sẽ xem xét điều chỉnh những yếu tố liên quan để cảithiện chất lượng giáo dục.
Việc kiểm tra này có thể bao quát một mạch nội dung của môn học hoặcmột chủ điểm, một giai đoạn học tập, có tác dụng hỗ trợ rất lớn đến việc triểnkhai các bước tiếp theo của quá trình học tập Do vậy, khi biên soạn đề kiểm trađánh giá định kì, giáo viên cần lưu ý phân tích kĩ mục tiêu, nội dung chươngtrình và SGK, xác định những kiến thức và kĩ năng trọng tâm của nội dung vừahọc để xây dựng ma trận đề hợp lí nhằm hướng tới mục tiêu đánh giá năng lựccủa học sinh một cách toàn diện, khách quan, khoa học và phân hóa được trình
độ của học sinh
1.3 Các phương pháp và công cụ đánh giá
Theo các nhà nghiên cứu, có 5 phương pháp đánh giá chủ yếu thườngđược sử dụng trong nhà trường, mỗi phương pháp có thể lựa chọn các công cụđánh giá khác nhau
1.3.1 Phương pháp viết bài luận
Phương pháp viết bài luận là một trong những phương pháp phổ biến từtrước đến nay, được dùng cho cả đánh giá thường xuyên và định kì, nhưng cóthế mạnh hơn trong đánh giá định kì Các công cụ thường dùng trong phươngpháp đánh giá viết bài luận là: các đề bài thi, bài kiểm tra, bài thu hoạch, bài tập
dự án, bài tập nghiên cứu….Thông qua các bài viết, bài trình bày, HS thể hiệnđược mức độ hiểu kiến thức, sự thành thạo về kĩ năng, khả năng lập luận, khảnăng tư duy và giải quyết vấn đề
1.3.2 Phương pháp trắc nghiệm khách quan
Phương pháp trắc nghiệm khách quan (TNKQ) khá quen thuộc với GVNgữ văn trong những năm gần đây Phương pháp trắc nghiệm cũng có thể sửdụng ở cả 2 hình thức đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì Công cụ chủ
yếu được sử dụng ở phương pháp TNKQ là: các câu hỏi dạng nhiều lựa chọn,
điền khuyết, đúng- sai, đối chiếu cặp đôi Ưu điểm của phương pháp TNKQ là
nội dung đánh giá được phủ rộng, số lượng câu hỏi nhiều (đảm bảo tốt độ tincậy trong đánh giá), cần ít thời gian cho câu trả lời, HS có thể làm trên máy tính,kết quả đánh giá khách quan không phụ thuộc vào người chấm; câu hỏi tự luận
có thể đo được khả năng tư duy và diễn đạt của HS Tuy nhiên, đối với mônNgữ văn, phương pháp này khó đo lường khả năng diễn đạt, ý tưởng sáng tạocủa HS
1.3.3 Phương pháp vấn đáp:
Phương pháp này thường được GV sử dụng trong đánh giá thường xuyên,thực hiện dưới hình thức GV đặt câu hỏi, HS trả lời nhằm rút ra những kết luận,những tri thức mới mà HS cần hiểu hoặc tổng kết, củng cố, kiểm tra, mở rộngnhững tri thức mới mà HS đã học Các công cụ được sử dụng trong phươngpháp vấn đáp như các câu hỏi của GV; các câu hỏi và trả lời của HS; các ý kiến
Trang 7thảo luận, thuyết trình của HS; các nhận xét, phỏng vấn, chia sẻ kinh nghiệm củaHS, Ưu điểm của phương pháp vấn đáp là dễ dàng kích thích khả năng tư duycủa HS, bồi dưỡng hứng thú học tập, GV thu được tín hiệu phản hồi nhanhchóng để kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy học…Hạn chế của phương pháp này
là khó kiểm soát thời gian, dễ ảnh hưởng đến tiến độ giờ dạy
1.3.4 Phương pháp quan sát:
Đây là phương pháp GV sử dụng tri giác để thu thập thông tin về cácbiểu hiện đặc điểm, tính chất, trạng thái học tập của HS Quan sát bao gồm việctheo dõi hoặc xem xét HS thực hiện các hoạt động (quan sát quá trình, kĩ năng)hoặc nhận xét một sản phẩm do HS tạo nên (quan sát sản phẩm) Có những quansát được GV chủ động tiến hành như trong trường hợp HS đọc văn bản, GV vàcác HS khác trong lớp theo dõi, nhận xét; hay GV quan sát HS khi làm việcnhóm, khi thực hiện các nhiệm vụ học tập… Công cụ đánh giá được sử dụng
trong phương pháp quan sát bao gồm: Phiếu quan sát, nhật kí giờ học….Ưu
điểm của phương pháp này là cho thấy hình ảnh cụ thể của đối tượng đánh giá,
có thông tin trực tiếp trung thực và nhanh chóng, rất phù hợp với đánh giá cáchoạt động thực hành, Tuy nhiên, phương pháp này cũng có một số hạn chế nhưthông tin phản hồi mang tính định tính, không thuận lợi khi quan sát những hoạtđộng phức tạp với số lượng HS đông
1.3.5 Phương pháp thực hành
Đây là phương pháp GV tổ chức cho HS tiến hành các hoạt động thựctiễn, viết báo cáo về kết quả thực hành Phương pháp đánh giá qua thực hànhchú trọng tới quy trình tiến hành hoạt động và sản phẩm cuối cùng Thông quanhững bài tập thực hành, GV đánh giá được khả năng HS vận dụng lí thuyết đãhọc để giải quyết những vấn đề có liên quan trong thực tiễn Công cụ sử dụngtrong đánh giá thực hành là các câu hỏi, bài tập gắn với những tình huống cụthể, các nhiệm vụ học tập cần được giải quyết, các thí nghiệm, trình diễn, biểudiễn, hồ sơ học tập… Phương pháp thực hành đánh giá khá chính xác năng lựccủa HS nhưng cần đầu tư nhiều thời gian, nguồn lực (cơ sở vật chất, phương tiện
kĩ thuật, không gian thực hành…)
Như vậy, hai hình thức đánh giá được sử dụng trong nhà trường hiệnnay là đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì với 5 phương pháp chủ yếu,mỗi phương pháp có thể sử dụng các loại công cụ đánh giá khác nhau phù hợpvới mục tiêu, đặc trưng môn học và điều kiện thực tiễn của nhà trường, địaphương
Trang 8việc phối hợp các phương pháp, phương tiện dạy học hiện đại nhằm phát huytính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh chưa nhiều.
Hoạt động kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển phẩm chất, nănglực học sinh chưa được thực hiện đồng bộ GV chủ yếu yêu cầu học sinh ghinhớ, tái hiện kiến thức và đánh giá qua điểm số, ít quan tâm đến vận dụng kiếnthức, rèn luyện kĩ năng của học sinh Nhiều giáo viên chưa vận dụng đúng quytrình biên soạn đề kiểm tra nên các bài kiểm tra còn mang nặng tính chủ quancủa người dạy Hoạt động kiểm tra, đánh giá chỉ chú trọng đánh giá định kì chưachú trọng đánh giá thường xuyên và thường được thực hiện ngay trong giờ họctrên lớp, tức là GV chưa quan tâm đến đánh giá kết quả học tập của HS mộtcách khoa học, đa dạng và hiệu quả
Thực trạng trên đây đã dẫn đến HS còn thụ động trong việc học tập,không phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo cũng như năng lực vậndụng tri thức đã học vào giải quyết các tình huống thực tiễn cuộc sống
2.2 Thực trạng xây dựng và sử dụng công cụ đánh giá năng lực đọc hiểu truyện ngắn Việt Nam (1930 - 1945) ở trường THPT hiện nay
Truyện ngắn Việt Nam (1930 - 1945) được đưa vào giảng dạy trongchương trình Ngữ văn lớp 11 cả ban Cơ bản và Nâng cao với 5 tác phẩm: "Hai
đứa trẻ" của Thạch Lam, "Chữ người tử tù" của Nguyễn Tuân, "Chí Phèo", "Đời thừa” của Nam Cao, “Tinh thần thể dục” của Nguyễn Công Hoan Qua thực tế
giảng dạy của bản thân và khảo sát các giờ dạy Đọc hiểu văn bản của đồngnghiệp, tôi nhận thấy đa số GV còn lúng túng và rất ít sử dụng các công cụ đánhgiá năng lực đọc hiểu của học sinh Tỉ lệ GV sử dụng các công cụ trong đánh giánăng lực đọc hiểu truyện ngắn Việt Nam (1930 - 1945) ở trường THPT được hệthống trong biểu đồ dưới đây:
[1]
Từ kết quả khảo sát trên cho thấy, mặc dù GV đã quan tâm đến việc sửdụng các công cụ trong đánh giá năng lực đọc hiểu truyện ngắn của HS, nhưng
về cơ bản GV mới sử dụng công cụ đánh giá phổ biến, quen thuộc nhất đó là câu
Phiếu quan sát Phiếu đọc- hiểu Hồ sơ học tập Câu hỏi/ Bài tập
Trang 9hỏi, bài tập riêng lẻ hoặc thiết kế thành các đề thi/kiểm tra Các công cụ khácnhư phiếu đọc- hiểu, phiếu quan sát, hồ sơ học tập,…còn mơ hồ, ít sử dụng Đây
là những cơ sở lí luận và thực tiễn quan trọng giúp tôi xây dựng và sử dụng một
số công cụ đánh giá thường xuyên năng lực đọc hiểu truyện ngắn Việt Nam
(1930 - 1945) ở trường THPT
3 Các giải pháp giải quyết vấn đề
3.1 Nguyên tắc xây dựng công cụ đánh giá năng lực đọc hiểu truyện ngắn Việt Nam (1930 - 1945) ở trường THPT
3.1.1 Các công cụ đánh giá phải có tính hệ thống, đa dạng, linh hoạt
Các công cụ đánh giá năng lực đọc hiểu truyện ngắn phải có tính hệthống Tính hệ thống được thể hiện ở chỗ các công cụ có mối quan hệ hữu cơ,thống nhất với nhau để cùng đánh giá khách quan, toàn diện năng lực đọc hiểutruyện ngắn của HS Chẳng hạn, hệ thống câu hỏi vấn đáp sẽ kết hợp chặt chẽvới các yêu cầu về bài tập thảo luận, bài tập thuyết trình để cùng đánh giá kĩnăng nói (theo Chương trình môn Ngữ văn 2018), hệ thống phiếu quan sát sẽgiúp đánh giá hứng thú, khả năng giải quyết vấn đề của HS trong giờ học, hệthống câu hỏi, đề thi, đề kiểm tra sẽ giúp đánh giá toàn diện năng lực đọc hiểuthể loại truyện ngắn của học sinh THPT
Bên cạnh tính hệ thống, các công cụ phải đảm bảo tính đa dạng, linh hoạt
Do đặc điểm tâm lí và sự đa dạng phong cách học tập của HS, chúng ta cần đadạng hóa công cụ để kích thích tư duy và cảm thụ sáng tạo của các em trong khiđánh giá năng lực đọc hiểu văn bản Cần phải có sự kết hợp đánh giá của GV và
tự đánh giá của HS, HS đánh giá lẫn nhau Vì vậy, GV phải sử dụng linh hoạtcác công cụ cho phép HS tự đánh giá với các mức độ khác nhau như: Nhận xétcâu trả lời của bạn, trao đổi chấm bài/đánh giá kết quả làm bài cho nhau, tự đánhgiá sản phẩm của mình…
3.1.2 Công cụ đánh giá phải bám sát yêu cầu cần đạt, chuẩn đánh giá năng lực đọc hiểu truyện ngắn của học sinh THPT
Để đánh giá năng lực đọc hiểu của HS thực sự là động lực thúc đẩy việchọc đạt đến mục tiêu chuẩn đầu ra theo Chương trình Ngữ văn 2018, chức năngquan trọng nhất của công cụ là đánh giá chính xác kết quả học tập mà HS đạtđược Vì vậy, công cụ cần bám sát được các mức độ của yêu cầu cần đạt đểđánh giá thực sự năng lực đọc hiểu thể loại truyện ngắn của HS Trong dạy đọchiểu truyện ngắn GV có thể sử dụng các dạng câu hỏi, bài tập như: So sánh, đốichiếu chi tiết, nhân vật, tình huống truyện, ngôn ngữ, nghệ thuật trần thuật…củacác truyện ngắn khác nhau; vận dụng tri thức đặc điểm thể loại truyện ngắn vàođọc hiểu truyện ngắn ngoài chương trình
3.1.3 Công cụ đánh giá phải đảm bảo tính chính xác, khách quan, khoa học, có khả năng phân hóa HS
Mục tiêu của đánh giá là để đo lường năng lực đọc hiểu cũng như chuẩnđầu ra của HS Hơn nữa, đánh giá chính xác sẽ giúp GV có thông tin phản hồi
về phương pháp dạy học của mình, phân hóa được HS, từ đó điều chỉnh, hoànthiện phương pháp dạy học và giáo dục Do đó, công cụ đánh giá tất yếu phải
Trang 10đảm bảo tính chính xác, khách quan, khoa học Câu hỏi/bài tập, đề kiểm tra…phải chính xác về nội dung, diễn đạt khoa học Ngoài ra, đánh giá phải có khảnăng phân hóa HS Chẳng hạn, để đánh giá mức độ phản hồi, đánh giá, kết nốivấn đề trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao, chúng ta có thể sử dụng câu
hỏi, bài tập yêu cầu HS lí giải nguyên nhân cái chết của Chí Phèo theo quan
điểm của các em HS trung bình chỉ có thể nhận xét, phản hồi được một khía
cạnh (nêu được 1 -2 nguyên nhân dẫn đến cái chết của Chí Phèo); HS khá có thểnêu được 3 -4 nguyên nhân; HS giỏi có thể nêu được nhiều nguyên nhân hơn vàphân tích, lí giải một cách mạch lạc.Trên cơ sở câu hỏi đó, GV sẽ dễ dàng phânloại được HS
3.1.4 Công cụ đánh giá phải bám sát đặc trưng thể loại truyện ngắn
Truyện ngắn có đặc điểm riêng về thể loại như: cách thức xây dựng nhânvật, tình huống truyện, chi tiết, ngôn ngữ trần thuật…Vì vậy, khi xây dựng công
cụ đánh giá năng lực đọc hiểu truyện ngắn, đặc biệt là các phiếu đọc hiểu, cáccâu hỏi/bài tập…GV cần phải bám sát đặc trưng thể loại Dạy đọc hiểu truyệnngắn theo đặc trưng thể loại, HS mới hiểu đúng, hiểu sâu giá trị nội dung cũngnhư giá trị nghệ thuật của tác phẩm, tránh tình trạng suy diễn không căn cứ, lệchlạc Khi dạy đọc hiểu nhân vật, GV sử dụng phiếu đọc hiểu giúp HS phân tíchnhân vật theo diễn biến cốt truyện hoặc các phương diện như ngoại hình, hànhđộng, nội tâm, ngôn ngữ, mối quan hệ với các nhân vật khác, với hoàn cảnhsống để thấy được số phận, tính cách của nhân vật cũng như tài năng nghệ thuậtxây dựng nhân vật của tác giả…Từ đó, GV giúp HS hình thành năng lực đọchiểu truyện ngắn tốt hơn
3.2 Xây dựng một số công cụ đánh giá thường xuyên năng lực đọc hiểu truyện ngắn Việt Nam (1930 - 1945) ở trường THPT
3.2.1 Câu hỏi/ bài tập
Câu hỏi trong dạy học là những yêu cầu, những vấn đề cần được giảiquyết trong quá trình tương tác giữa GV-HS Về hình thức, câu hỏi thường làcâu nghi vấn có dấu hỏi cuối câu và các từ/cụm từ để hỏi: Thế nào? Tại sao?Như thế nào? Cũng có khi câu hỏi không có từ để hỏi hay từ cầu khiến Ví dụ:Liệt kê các hình ảnh trong đoạn văn dùng để miêu tả tâm trạng nhân vật
Bài tập là "bài ra cho HS làm để vận dụng những điều đã học" [7] Bài tập
là những nhiệm vụ, công việc được giao cho mỗi nhóm hoặc mỗi cá nhân trongkhuôn khổ một giờ dạy nhằm nâng cao nhận thức, rèn luyện kĩ năng cho HS
Trong dạy học đọc hiểu theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực
HS, GV phải giúp HS thông qua bài học hình thành được tri thức, kĩ năng, tháiđộ; vận dụng những tri thức, kĩ năng, thái độ đó vào những tình huống mới Đểđạt được mục tiêu đó, GV có thể sử dụng những câu hỏi/bài tập theo các mức độ sau:
- Câu hỏi/bài tập ở mức độ nhận biết: trong câu hỏi thường sử dụng các
động từ yêu cầu HS nêu, mô tả, nhận định, hồi tưởng…
- Câu hỏi/bài tập ở mức độ thông hiểu: trong câu hỏi/bài tập thường sử
dụng các động từ: phân tích, suy luận, giải thích, cắt nghĩa, so sánh…
Trang 11- Câu hỏi/bài tập ở mức độ vận dụng: trong câu hỏi/bài tập thường sử
dụng các động từ: dự đoán, đánh giá, so sánh và đối chiếu, lựa chọn, vẽ, thiết
kế, sáng tạo, viết lại, viết thêm…
Ngoài yêu cầu chung về các mức độ trên, câu hỏi/bài tập đọc hiểu truyệnngắn còn phải đảm bảo được những yêu cầu sau đây:
- Câu hỏi/bài tập phải được thiết kế phù hợp với đặc trưng thể loại truyện ngắn
- Câu hỏi/bài tập phải liên kết thành hệ thống để hướng dẫn HS khám phá,tìm hiểu nội dung, hình thức nghệ thuật của truyện ngắn
- Câu hỏi/bài tập phải khởi động hoạt động tư duy và cảm xúc của HStrong tiến trình đọc như: liên hệ; hình dung, tưởng tượng; dự đoán, suy luận;khái quát hóa; đánh giá; kiểm soát quá trình đọc… Sau đây là một ví dụ minhhọa về các dạng và mức độ câu hỏi/bài tập
Bảng đánh giá năng lực đọc hiểu thể loại truyện ngắn của HS
(Qua hệ thống câu hỏi/bài tập về truyện ngắn "Chí Phèo"của Nam Cao)
đã học của NamCao? Nhắc lại mộtvài nét tiêu biểu vềnội dung và nghệthuật của tác phẩmđó?
- Tìm và nêu vài nétkhái quát về hoàncảnh sáng tác tácphẩm?
- Truyện có tên là
"Chí Phèo" Đó là tênnhân vật chính trongtruyện Tên truyệngợi cho em suy nghĩgì? Hãy nêu dự đoáncủa em về nội dungcủa truyện?
- Theo em, mục đíchcủa tác giả khi viếttác phẩm này là gì?
- Em đã đọc nhiềutruyện ngắn Theo
em, những yếu tốnào của truyệnngắn cần khai tháctrong quá trình đọctruyện?
- Tóm tắt đoạn trích;
nêu ý chính của từngđoạn?
- Tóm tắt những sựviệc chính xảy ra đốivới nhân vật ChíPhèo trong đoạntrích Theo em, sựviệc nào là quantrọng nhất để đưa đếnkết thúc của truyện?
Vì sao?
- Theo em chi tiếttiếng chửi củanhân vật Chí Phèotrong đoạn trích có
ý nghĩa gì? tiếngchửi của Chí khiến
- Vì sao khi bị Thị
Nở dứt tình, ChíPhèo lại xách dao đigiết Bá Kiến và tựsát? Em đánh giá như
- Theo em, bi kịchlớn nhất của ChíPhèo là gì?
- Đoạn trích giúp
em hiểu thêm gì về
Trang 12tâm, chăm sóc ấy đãlàm thay đổi conngười Chí Phèo nhưthế nào? Nêu nhậnxét, đánh giá của em
về nhân vật Thị Nở?
thế nào về hành độnggiết Bá Kiến và tự sátcủa Chí Phèo?
cuộc sống và phẩmchất của ngườinông dân trong xãhội cũ?
- Nếu em là ChíPhèo, em sẽ hànhđộng như thế nào?
- Ngôn ngữ kểchuyện và ngôn ngữnhân vật trong truyệnngắn này có nhữngđiểm gì đặc sắc?
- Nêu những diễnbiến tâm trạng củaChí Phèo sau khi gặpThị Nở Tác giả đã
sử dụng những hìnhthức ngôn ngữ nào đểdiễn tả tâm trạng củanhân vật?
- Nếu được viếtmột kết thúc kháccho truyện ngắn
"Chí Phèo", em sẽviết như thế nào?
3.2.2 Phiếu quan sát
Phiếu quan sát là công cụ quan trọng trong đánh giá năng lực đọc hiểu của
HS Qua phiếu quan sát, HS biết được những điểm đạt được hoặc chưa đạt được
ở kĩ năng đang được rèn luyện Từ đó, các em có thể có những điều chỉnh tốthơn trong những giờ học tiếp theo
GV sử dụng phiếu quan sát để thu thập thông tin đưới dạng những minhchứng nhằm bổ sung, hỗ trợ cho những quyết định đánh giá Thông qua phiếuquan sát, GV sẽ đánh giá được chính xác về động cơ, thái độ học tập, sự hứngthú, sự tập trung chú ý của HS vào bài học, đánh giá quá trình hình thành kĩnăng, năng lực đọc hiểu thể loại truyện ngắn của HS
Sau đây là một mẫu phiếu quan sát năng lực đọc hiểu truyện ngắn ViệtNam (1930 - 1945)
I Thông tin chung
Người quan sát (giáoviên): ………
Họ và tên học sinh: ……… Lớp… Trường THPT……… Nội dung thực hành: ……… Đọc hiểu văn bản: ……… Tiết PPCT…………Ngày……tháng……năm…
II Bảng tiêu chí đánh giá
Nội dung
quan sát
Mức độ đạt được