Bởi vì có đổi mới về phương pháp học sinhmới có thể tích cực chủ động trong giờ học, giáo viên tránh rơi vào việc truyền đạtkiến thức thụ động, giờ học mới bớt cảm giác nhàm chán đơn điệ
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
Trang 2MỤC LỤC Tiêu đề
1 MỞ ĐẦU
1.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.5 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA SKKN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI ĐÃ ĐẠT GIẢI
Trang
111222
3368121919
202021
Trang 31 MỞ ĐẦU
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đổi mới phương pháp dạy học là một trong những yêu cầu quan trọng nhất của
mỗi giáo viên trong những năm gần đây Bởi vì có đổi mới về phương pháp học sinhmới có thể tích cực chủ động trong giờ học, giáo viên tránh rơi vào việc truyền đạtkiến thức thụ động, giờ học mới bớt cảm giác nhàm chán đơn điệu
Trong vài năm trở lại đây, đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát
triển năng lực, phẩm chất người học đã trở thành nhiệm vụ trọng tâm của toàn ngànhgiáo dục, được triển khai ở tất cả các cấp học, từ Tiểu học, THCS đến THPT
Yêu cầu trên càng trở nên cấp thiết và có ý nghĩa sâu sắc khi mà tình trạng họcsinh chán học Văn, quay lưng lại với môn Ngữ văn ngày càng nhiều Nếu có học sinh
có tích cực học môn Văn thì lại chủ yếu hướng vào mục đích đạt điểm cao trong thi
cử, khiến cho mục đích dạy học môn Văn trở nên xa rời thực tiễn, đánh mất ý nghĩanhân văn sâu sắc của nó Hậu quả là học sinh ngày càng cùn mòn về năng lực thẩm
mỹ, tư duy ngôn ngữ và không phát triển được các năng lực, phẩm chất liên quan tới
bộ môn Việc dạy- học văn xuôi hiện đại nói chung, bài “Hạnh phúc của một tang gia” (Trích “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng, Ngữ văn 11, Tập 1) nói riêng trong mấy
năm gần đây tuy có nhiều đổi mới nhưng vẫn chưa thực tiếp cận định hướng phát triểnnăng lực đọc của người đọc, chưa có nhiều chuyển biến đáng kể về phương pháp.1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Từ những cơ sở lí luận và thực thiễn như trên, tôi đã quyết định chọn đề tài “ĐỔIMỚI CÁCH DẠY BÀI “HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA” (TRÍCH “SỐ ĐỎ”CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG) THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC, PHẨMCHẤT HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT HÀM RỒNG” với những mục đích cơ bảnsau:
- Đóng góp thêm một số quan niệm, ý kiến của mình về phương hướng tiếp cận và tổchức dạy- học phân môn Đọc- hiểu trong chương trình Ngữ văn THPT nhằm nâng caohơn chất lượng dạy- học các văn bản tự sự, văn xuôi hiện thực phê phán nói chung
Trang 4- Ngoài ra, đây cũng là cơ hội để các giáo viên trau dồi, nâng cao nghiệp vụ chuyênmôn, trao đổi, sẻ chia kinh nghiệm giảng dạy phần Tự sự trong chương trình theohướng đổi mới, từ chú trọng cung cấp kiến thức sang chú trọng phát triển năng lực,phẩm chất người học, đáp ứng nhu cầu thực tiễn.
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Phạm vi khảo sát của đề tài mới dừng lại ở 1 bài thuộc mảng Văn học hiện thực:
Hạnh phúc của một tang gia (Trích “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng), thuộc chương trình
Ngữ văn 11
- Đối tượng khảo sát của đề tài là 3 lớp thuộc khối 11, trường THPT Hàm Rồng
- Nếu có cơ hội được trở lại với đề tài chúng tôi sẽ mở rộng phạm vi nghiên cứu cảmảng Văn xuôi hiện đại, khảo sát cả khối ở nhiều trường, nhiều địa phương khácnhau
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Thời gian nghiên cứu, thai nghén vấn đề trong thực tiễn dạy học từ năm 2019, bắt tayvào nghiên cứu từ khi đăng kí đề tài tháng 9/2021 đến tháng 5/2021
- Địa điểm:
+ Tích luỹ tư liệu, thiết kế giáo án tại nhà và tại Thư viện Trường THPT Hàm Rồng
-Tp Thanh Hóa
+ Thể nghiệm giáo án ở các lớp như lớp 11A3, 11A8, 11A11, năm học 2019-2020
- Tổng hợp đánh giá, phân loại và rút ra kết luận
1.5 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI
- Về mặt lí luận:
+ Qua đề tài, người viết tổng kết lại những đặc điểm cơ bản của việc dạy-học văn xuôihiện đại theo hướng phát triển năng lực, phẩm chất học sinh, đặc biệt là văn xuôi hiệnthực phê phán 1930-1945, trích đoạn “Hạnh phúc của một tang gia” (Vũ TrọngPhụng)
+ Đóng góp một số ý kiến lý luận về phương pháp dạy-học phân môn này ở trườngTHPT
- Về mặt thực tiễn:
Trang 5+ Đề tài nêu ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học văn xuôi nói
chung, văn xuôi hiện thực nói riêng Đặc biệt ở bài Hạnh phúc của một tang gia (Vũ
Trọng Phụng)
+ Đề tài đưa ra một giáo án cụ thể theo một tiến trình đó có sự thể nghiệm để giúpgiáo viên làm một tư liệu tham khảo cho việc giảng dạy phân môn đọc-hiểu nói chung,đọc hiểu truyện nói riêng theo hướng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng pháttriển năng lực và phẩm chất của người học
2 NỘI DUNG
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đổi mới dạy-học theo hướng phát triển phẩm chất năng lực của học sinh là xu
thế tất yếu Chương trình dạy học truyền thống có thể gọi là chương trình giáo dục
“định hướng nội dung” dạy học hay “định hướng đầu vào” (điều khiển đầu vào) Đặc
điểm cơ bản của chương trình giáo dục định hướng nội dung là chú trọng việc truyềnthụ hệ thống tri thức khoa học theo các môn học đã được quy định trong chương trìnhdạy học Những nội dung của các môn học này dựa trên các khoa học chuyên ngànhtương ứng Người ta chú trọng việc trang bị cho người học hệ thống tri thức khoa họckhách quan về nhiều lĩnh vực khác nhau
Ưu thế của hướng dạy học phát triển năng lực, phẩm chất học sinh là giáo dụcđịnh hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiệnmục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụngtri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giảiquyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Chương trình này nhấn mạnh vaitrò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức
Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học định hướngnăng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là “sản phẩm cuốicùng” của quá trình dạy học Việc quản lý chất lượng dạy học chuyển từ việc “điềukhiển đầu vào” sang “điều khiển đầu ra”, tức là kết quả học tập của học sinh
Trang 6Ưu điểm của chương trình giáo dục định hướng năng lực là tạo điều kiện quản
lý chất lượng theo kết quả đầu ra đã quy định, nhấn mạnh năng lực vận dụng của họcsinh
Sau đây là bảng so sánh một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướngnội dung và chương trình định hướng năng lực:
Chương trình định hướng nội dung
Chương trình định hướng năng lực Mục tiêu
giáo dục
Mục tiêu dạy học được mô
tả không chi tiết và khôngnhất thiết phải quan sát,đánh giá được
Kết quả học tập cần đạt được mô tả chitiết và có thể quan sát, đánh giá được;thể hiện được mức độ tiến bộ của họcsinh một cách liên tục
Nội dung
giáo dục
Việc lựa chọn nội dung dựavào các khoa học chuyênmôn, không gắn với các tìnhhuống thực tiễn Nội dungđược quy định chi tiết trongchương trình
Lựa chọn những nội dung nhằm đạt đượckết quả đầu ra đã quy định, gắn với các tìnhhuống thực tiễn Chương trình chỉ quy địnhnhững nội dung chính, không quy định chitiết
- Giáo viên chủ yếu là người tổ chức, hỗtrợ học sinh tự lực và tích cực lĩnh hội trithức Chú trọng sự phát triển khả nănggiải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp…
- Chú trọng sử dụng các quan điểm,phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực;các phương pháp dạy học thí nghiệm, thựchành
Đánh giá Tiêu chí đánh giá được xây Tiêu chí đánh giá dựa vào năng lực đầu ra, có
Trang 7tính đến sự tiến bộ trong quá trình học tập,chú trọng khả năng vận dụng trong các tìnhhuống thực tiễn
Ngữ văn là môn học công cụ, mang tính nhân văn Vì vậy yêu cầu đổi mới dạyhọc Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực là tất yếu Các đặc trưng này thể hiện quanhững mục tiêu cơ bản của nó và cách tiếp cận những mục tiêu đó Môn Ngữ văn giúp
HS phát triển các năng lực và phẩm chất tổng quát và đặc thù, góp phần thực hiện mụctiêu giáo dục của nhà trường phổ thông nói chung Năng lực tư duy, năng lực tưởngtượng và sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực tự học là những năng lực tổng quát, liênquan đến nhiều môn học Năng lực sử dụng ngôn ngữ và năng lực thẩm mỹ mà chủyếu là cảm thụ văn học là những năng lực đặc thù, trong đó năng lực sử dụng ngônngữ để giao tiếp và tư duy đóng vai trò hết sức quan trọng trong học tập của HS vàcông việc của các em trong tương lai, giúp các em nâng cao chất lượng cuộc sống.Đồng thời với quá trình giúp HS phát triển các năng lực tổng quát và đặc thù, mônNgữ văn có sứ mạng giáo dục tình cảm và nhân cách cho người học
Thực tế phần Đọc- hiểu văn xuôi hiện đại là trọng tâm chương trình Ngữ văn lớp
11, học kì 1, có vai trò ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thực hiện nhiệm vụ trọng yếu làcung cấp tri thức hữu ích về bức tranh hiện thực xã hội và hiện thực văn học, rèn nănglực đọc hiểu văn bản văn xuôi nghệ thuật và các loại năng lực đặcthù của môn ngữ văncho học sinh Văn xuôi hiện thực trong chương trình THPT có ý sự kế thừa và nângcao so với chương trình cấp THCS:
Văn xuôi hiện thực trong chương trình
Tức nước vỡ bờ, trích Tắt đèn (Ngô Tất
Tố) Ngữ văn 8
Hạnh phúc của một tang gia, trích Số
đỏ (Vũ Trọng Phụng) Trong lòng mẹ, trích Những ngày thơ ấu Chí Phèo (Nam Cao)
Trang 8(Nguyên Hồng), Ngữ văn 8 Đời thừa (Nam Cao)
Lão Hạc (Nam Cao) Ngữ Văn 8 Tinh thần thể dục (Nguyễn Công
2.2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINHNGHIỆM
Trong quá trình tiếp cận và giảng dạy văn xuôi hiện thực 1930-1945, tôi nhậnthấy một vài khó khăn như sau: Trong ba loại hình văn học: tự sự, trữ tình, và kịch, thì
có thể nói, tự sự là một loại thể tương đối khó, đặc biệt là tự sự hiện đại Văn xuôi hiệnđại nói chung và văn xuôi hiện thực nói riêng là sự thể hiện của một kiểu tư duy mới
mẻ để phản ánh “một mảnh nhỏ của thế giới” Nó có những đặc trưng riêng về: cốttruyện, chức năng, kết cấu, bút pháp trần thuật, các chi tiết, điểm nhìn trần thuật, giọngđiệu…Tất cả nhằm làm nổi bật những phương diện của một tác phẩm văn học: tầngngôn từ, tầng hình tượng, tầng nghĩa Chính vì là sự tập hợp một cách có nghệ thuậtcủa rất nhiều yếu tố nên đọc - hiểu một tác phẩm văn xuôi sẽ rất khó khăn nếu không
có sự chia tách rạch ròi và những hướng tiếp cận cụ thể Trong khi đó, thời lượngchương trình cho một bài học là rất ít, đòi hỏi về mục tiêu cần đạt lại quá nhiều, nhất
là khi cần thay đổi theo phương pháp tích cực, hướng tới phát triển các loại năng lựccho học sinh Đó là 1 nghịch lý trong thực tiễn dạy-học, trở thành nỗi trăn trở của bất
kì giáo viên nào có trách nhiệm và nhiệt huyết với chuyên môn
Ở góc độ giáo viên, trong thực tiễn giảng dạy cũng như dự giờ các đồng nghiệp,người viết nhận thấy một số thực trạng sau: hướng thứ nhất lựa chọn tiếp cận văn bản
Trang 9theo phương pháp truyền thống: chủ yếu thầy cô giảng bình, thầy cô là trung tâmtruyền tải cái đẹp văn bản cho học sinh Cách làm này ưu điểm là giờ học thường trôichảy, trơn tru, nếu thầy cô có năng lực thẩm bình, cảm thụ tốt, năng lực ngôn ngữ vàdiễn đạt hấp dẫn thì có thể “truyền lửa” cho học sinh khá dễ dàng, học sinh cũng dễtiếp nhận cái hay cái đẹp của văn chương từ bài giảng của giáo viên Tuy nhiên nhượcđiểm hướng này là thầy cô không có nhiều người có năng lực truyền lửa, khiến chogiờ văn nhạt nhẽo, đọc chép là chủ yếu, đồng thời học sinh hoàn toàn thụ động, không
có cơ hội rèn luyện để phát triển các năng lực cần thiết liên quan đến bộ môn và phânmôn
Hướng thứ hai, tiếp cận theo chuẩn kiến thức kĩ năng, lấy tiêu chí cung cấpkiến thức làm mục đích chính Ưu điểm hướng tiếp cận này là xác định rõ các mụctiêu với các tiêu chí rõ ràng về kiến thức, kĩ năng, thái độ, bắt đầu có định hướng kĩnăng, đã chú trọng tích hợp kiến thức liên môn, ở phân môn đọc hiểu đã tập trung rènnăng lực đọc hiểu văn bản văn học theo đặc trưng thể loại Nhược điểm chính là tậptrung quá nhiều về việc cung cấp nội dung kiến thức (nếu không đủ thì gọi là khôngđạt chuẩn) dẫn đến tình trạng nhồi nhét, quá tải cho người học
Cả hai hướng trên đều đã bộc lộ nhiều hạn chế, và đã dần chuyển sang khuynhhướng thứ ba: dạy theo định hướng hình thành, phát triển các năng lực cho học sinh.Tuy nhiên hướng này cũng cho thấy một số hạn chế của hướng đi này: chia cắt họcsinh hoạt động theo các nhóm không tránh khỏi phá vỡ tính chỉnh thể của tác phẩm,nhất là khi năng lực giảng văn của GV còn hạn chế, giờ đọc hiểu văn bản thiếu cảmxúc, rời rạc Một số GV chọn hoạt động cho học sinh còn mang tính hình thức, chưathực sự hướng tới hiệu quả phát triển năng lực, chẳng hạn hoạt động nhóm đã được
“bài binh bố trận”, tập trung vào một số em có năng lực tốt, sự tương tác giữa HS-HSchưa cao, nhiều học sinh kém bị “bỏ quên” trong giờ dạy, gần như chỉ dự khán Thêmvào đó là sức ép quá lớn vì chương trình các môn đều nặng, mà để hoạt động tốt hsphải bỏ rất nhiều thời gian cho một giờ học theo chủ đề
Về phía học sinh, thực tế trong nhiều tiết dạy của phân môn đọc hiểu, kể cả đọchiểu văn xuôi hiện thực, đã bộc lộ rõ một số thực trạng đáng trăn trở suy ngẫm Khi
Trang 10GV chuyển giao nhiệm vụ một cách qua loa, dặn soạn bài A, soạn bài B, nhưng khôngyêu cầu cụ thể, dẫn đến các em chỉ chuẩn bị bài lấy lệ, đối phó, chép sách “Để học tốt”cho xong phần trả lời câu hỏi soạn bài Đến khi giáo viên yêu cầu tóm tắt cốt truyệnthì lúng túng, không nhớ cả tên nhân vật Trong quá trình tìm hiểu văn bản, khi GVnêu vấn đề, học sinh lười tư duy, hoặc không trả lời hoặc đối phó bằng cách mở vởsoạn ra đọc câu trả lời Khi hoạt động nhóm, nhiều em còn tự ti, thiếu tích cực, ỷ lạicho các bạn khác, né tránh nhiệm vụ học tập Kết quả là khi kiểm tra đánh giá, nhiều
em hiểu biết về tác giả, tác phẩm sơ sài, năng lực phân tích cảm thụ hình tượng, lý giảivấn đề còn kém, kết quả học tập bộ môn do vậy chưa cao Học sinh còn thiếu tích cựctrong việc hình thành phương pháp tự học để có thể tự học suốt đời và chưa có ý thứcứng dụng những kiến thức và kĩ năng học được vào cuộc sống
Thực trạng đó đòi hỏi mỗi người giáo viên cần nỗ lực tìm một hướng dạy để trảlại chất văn cho giờ đọc văn, đồng thời giúp học sinh hình thành những năng lực thiếtyêu liên quan đến môn học quan trọng kiến thiết các giá trị nhân văn cho con người,
để “văn học là nhân học” thực sự theo đúng nghĩa của nó
2.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐÃ ĐƯỢC SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Đã có một vài hướng hình thành năng lực đọc-hiểu văn xuôi hiện thực theo địnhhướng phát triển năng lực hiện nay như sau:
2.3.1 Bám sát đặc trưng loại thể kết hợp với cách tiếp cận truyền thống.
*Hướng dẫn học sinh tìm hiểu xuất xứ hoặc hoàn cảnh ra đời của tác phẩm (tiếp cậntheo hướng văn học sử): Văn xuôi hiện thực với nguyên tắc phản ánh chân thực hiệnthực xã hội với thái độ phê phán, do vậy hiện thực trong tác phẩm có liên quan mậtthiết đến bối cảnh ra đời của tác phẩm Bởi thế, HS khó cảm nhận được chủ đề của
Hạnh phúc của một tang gia cũng như khó phân tích các bức chân dung biếm họa trong Số đỏ, nếu như không tìm hiểu về bối cảnh XH Việt Nam những năm 1936-
1939 Tuy nhiên, đây không nên là những kiến thức do giáo viên giảng lại, là phải làkiến thức do HS tự tìm hiểu khi tích hợp với bài Khái quát văn học Việt Nam 1900đến CMT8/1945 GV cần cho vào hệ thống câu hỏi chuẩn bị bài và giúp HS nắm được
Trang 11thông tin lịch sử xã hội cần thiết (Phong trào cải cách, Âu hóa, Vui vẻ trẻ trung, Chấnhưng Phật giáo,…của tư sản thị dân đương thời ở Hà thành)
* Hướng dẫn học sinh xác định các yếu tố thuộc về tác phẩm, dựa trên đặc trưng thể
loại
và đặc trưng riêng của dòng văn xuôi hiện thực phê phán :
- Về cảm hứng: Văn học hiện thực 1930 – 1945 vận động trên dòng phát triển của thời
cuộc Sống và viết trong giai đoạn có nhiều biến động về lịch sử, các nhà văn hiệnthực phải nhạy bén nhận thức những chuyển biến xã hội Dưới con mắt của nhà văntrào phúng bậc thầy Vũ Trọng Phụng, cuộc đời như một tấn bi hài kịch Ở tiểu thuyết
bùng lên trên sân khấu đại hài kịch “Số đỏ” tiếng cười mỉa mai, hài hước, khi châm
biếm, đả kích, khi căm phẫn hằn học cái xã hội bẩn thỉu, giả dối, vô luân Có thể nóilòng căm thù chính là sức mạnh nghệ thuật của tài năng văn chương ở nhà văn mệnhyểu này
- Về cốt truyện, tình huống truyện: Đây là vấn đề mấu chốt của loại hình tự sự, văn
xuôi hiện thực cũng không nằm ngoài quy luật Dạy Vũ Trọng Phụng không thể khônghướng dẫn học sinh khai thác các tình huống giàu kịch tính, đặc biệt tình huống đám
tang trong Hạnh phúc của một tang gia, từ tình huống khái quát lên mâu thuẫn trào
phúng, khái quát bức tranh hiện thực đời sống và niềm căm ghét khôn nguôi của nhàvăn với cái xã hội mà ông gọi là “giả dối, vô nghĩa lý” và “chó đểu” đương thời Tuyvậy, GV nên trao cho học sinh công cụ để khám phá tri thức: cách phân tích tìnhhuống truyện Nắm được công thức phân tích yếu tố tình huống truyện, học sinh sẽ dễdàng và hứng thú hơn khi tự khai thác những đặc sắc, độc đáo của tình huống trong
Hạnh phúc của một tang gia.
- Hệ thống nhân vật, mối quan hệ và nghệ thuật xây dựng các nhân vật, bút pháp, thủ pháp nghệ thuật tiêu biểu: Văn học hiện thực 1930 – 1945 đã tạo dựng được những
Trang 12chân dung nhân vật có tầm khái quát cao, lại rất chân thực và sinh động, vừa mang ýnghĩa xã hội vừa có giá trị thẩm mĩ độc đáo, đó là nhân vật điển hình.
2.3.2 Tổ chức hoạt động tìm hiểu văn bản theo hướng phát triển năng lực:
*Đọc hiểu cốt truyện và phương pháp sơ đồ tư duy.
Theo như quan sát, đa số học sinh hào hứng với việc điền hoặc vẽ sơ đồ, vì sơ
đồ tư duy không chỉ giúp tái hiện những gì đã đọc mà còn giúp các em khắc sâu những
sự việc chi tiết tiêu biểu
Sau đây là một mẫu nối ý theo thứ tự đúng của diễn biến tiểu thuyết Số đỏ:
* Phân tích nhân vật trong truyện và cảm thụ chi tiết nghệ thuật.
Cần hình thành các kĩ năng, phẩm chất cần thiết qua tổ chức hoạt động của học
sinh Ở Hạnh phúc của một tang gia có thể phân tích chi tiết về các nhân vật hoặc chi
tiết về bức tranh đám ma gương mẫu) Sau khi hs phân tích cần chốt lại được kĩ năngphân tích chi tiết trong tác phẩm văn xuôi:
Bước 1: Giới thiệu chi tiết (vị trí)
Bước 2: Phân tích biểu hiện của chi tiếtBước 3: Ý nghĩa chi tiết (trong việc biểu hiện nhân vật, chủ đề, tài năngcủa nhà văn)
Bước 4: Khép lại vấn đề