1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

GỢI ý một số kĩ NĂNG TIẾP cận đề KIỂM TRA, đề THI về văn bản kí TRONG môn NGỮ văn 12

25 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 98,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong dạyhọc, kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn, việc hình thành cho học sinh các kĩ năng cầnthiết và phù hợp để học sinh có thể tự học, tự đọc hiểu, tự giải quyết các dạng đềthi về các loại

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Ngày nay, thuật ngữ "kĩ năng" đã trở nên rất quen thuộc trong đời sống,

“kĩ năng” có vai trò rất quan trọng đối với hiệu quả của mọi hoạt động Trong dạyhọc, kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn, việc hình thành cho học sinh các kĩ năng cầnthiết và phù hợp để học sinh có thể tự học, tự đọc hiểu, tự giải quyết các dạng đềthi về các loại văn bản trong và ngoài chương trình học là rất quan trọng Thực tếcho thấy học sinh hiện nay còn thiếu kĩ năng học tập, nhất là kĩ năng tiếp cận cácdạng đề thi môn Ngữ văn - môn học khó định lượng về hiệu quả, chất lượng vềkiến thức, kĩ năng, thái độ bởi vì đó là môn học mang bản chất nghệ thuật trong nộidung khoa học vàmang đặc điểm cá nhân người học cả về trí tuệ, tâm hồn

1.2 Chương trình Ngữ văn THPT hiện hành có mặt đầy đủ các loại hình vănhọc là tự sự, trữ tình, kịch và kí.Mỗi loại hình văn bản có những đặc trưng riêng vềnhận thức thế giới và phương thức phản ánh.Vì vậy, những cảm nhận về tác phẩmtrong mỗi loại hình đòi hỏi phương pháp, biện pháp tiếp cận riêng, phù hợp

Kí là loại hình văn học dặc thù, có khả năng tác động mạnh mẽ tới nhậnthức và tình cảm của độc giả bởi kí mang thông tin xác thực về người thật, việcthật Cũng vì vậy, kí là loại hình văn học nóng hổi hơi thở cuộc sống và gần gũi,cập nhật các vấn đề của thực tế cuộc sống hơn các loại hình văn học khác Đọchiểu và xử lí các đề thi, đề kiểm tra về văn bản kí, bởi vậy, không chỉ là một nộidung học tập bộ môn quan trọng mà còn là hoạt động thiết thực đối với học sinh.Việc hình thành và rèn luyện kĩ năng tiếp cận đề thi, đề kiểm tra về văn bản kí làgiúp các em có kĩ năng cơ bản để tự học, tự xử lí thông tin trong đề thi về tác phẩm

kí một cách linh hoạt, hiệu quả

1.3 Với những đặc trưng riêng về mặt loại hình, việc xử lí các đề thi, đềkiểm tra về văn bản kí đòi hỏi hệ thống kĩ năng phù hợp, đặc thù Nội dung củavăn bản kí là kết quả sự kết hợp nội dung thông tin sự thật và thông tin hư cấu, tínhchất báo chí và văn học, vấn đề đời sống và nghệ thuật,… nên kĩ năng tiếp cận các

đề thi về văn bản kí gồm hai nhóm kĩ năng xử lí thông tin sự thực và tiếp nhậnthông tin nghệ thuật Bởi vậy, bám sát đặc trưng thể loại cùng việc hình thành kĩ

Trang 2

năng ở một số dạng đề cơ bản để hoàn thành tốt các đề thi, đề kiểm tra về văn bản

kí là tư tưởng cơ bản đượcchọn làm cơ sở khoa học của sáng kiến Mặc dù hiệnnay đã có nhiều đổi mới trong kiểm tra đánh giá cũng như cách thức ra đề mônNgữ văn THPT, tuy nhiên, phần đa học sinh thiếu kĩ năng ứng xử, tiếp cận đề thi,

đề kiểm tra, nhất là đề về tác phẩm kí, một loại hình văn học đặc thù với tần suấtxuất hiện “thưa thớt” trong chương trình Vậy, vấn đề đặt ra là cần tìm ra các giảipháp khắc phục tình trạng học sinh yếu kém về kĩ năng làm bài, thiếu chủ động, tựgiác, lười tư duy trong học tập và giải quyết các đề thi về tác phẩm kí Đó là tiền đề

cơ sở thực tiễn để chúng tôi đi sâu nghiên cứu các giải pháp nâng cao chất lượngbài thi nghị luận văn học về văn bản kí

1.4 Tác phẩm kí xuất hiện trong chương trình Ngữ văn THPT với một sốlượng khiêm tốn Hơn nữa, sự thiếu hụt về tri thức lí thuyết thể loại, tri thứcphương pháp luận, phương pháp đọc hiể và kĩ năng xử lí các dạng đề về văn bản

kí Cùng với đó, tài liệu tham khảo, hệ thống đề gợi mở và sự quan tâm của họcsinh đối với các tác phẩm thuộc thể loại này cũng khiêm tốn dẫn đến nhiều họcsinh lúng túng trong cách xử lí các dạng đề về tác phẩm kí Bởi vậy, tôi lựa chọn

nghiên cứu vấn đề “Gợi ý một số kĩ năngtiếp cận đề kiểm tra, đề thi về văn bản kí trong môn Ngữ văn lớp 12” với mục đích đề xuất một số kĩ năng hiệu quả cho học

sinh trong tiếp cận đề thi về văn bản kí, giúp các em có thêm hứng thú khi tiếp cậntác phẩm thuộc thể loại giàu màu sắc văn chương này

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm ra những nguyên nhân không ít học sinh có kết quả kiểm tra, kết quả thi

ở môn Ngữ văn còn thấp, nhất là các đề thi về tác phẩm kí

Đề xuất một số kĩ năng tiếp cận các dạng đề thi về tác phẩm kí trong mônNgữ văn 12 hiệu quả nhằm cùng các đồng nghiệp giải quyết những khó khăn trongviệc giảng dạy thể loại này

3 Đối tượng nghiên cứu

Học sinh khối 12, đặc biệt là các học sinh yếu về kĩ năng làm các bài thi, bàikiểm tra môn Ngữ văn, nhất là các bài thi về tác phẩm kí

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 3

Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã sử dụng phương pháp nghiên cứusau:

- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

- Thống kê, xử lí số liệu

5 Những điểm mới của SKKN

Đề xuất một số kĩ năng, phương pháp tiếp cận các dạng đề thi, đề kiểm trathường gặp về tác phẩm kí trong môn Ngữ văn 12 nhằm nâng cao chất lượng đạitrà trong dạy học Ngữ văn ở bậc THPT

NỘI DUNG

1 Cơ sở lí luận

1.1 Kĩ năng- Kĩ năng học tập

Kỹ năng (tiếng Anh: skill) là khả năng thực hiện một hành động với kết

quả được xác định thường trong một khoảng thời gian cùng năng lượng nhất địnhhoặc cả hai Các kỹ năng thường có thể được chia thành các kỹ năng miền chung

và chuyên biệt Kỹ năng thường đòi hỏi các kích thích và tình huống môi trườngnhất định để đánh giá mức độ kỹ năng được thể hiện và sử dụng

Kĩ năng biểu thị mức độ thực hiện thành thạo, chuẩn xác các hoạt động dựatrên kiến thức, hành động đã từng được thực hiện nhiều lần và phù hợp với đốitượng của hành động Ví dụ: kĩ năng nói, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng nấu ăn, kĩ năng

giải toán, kĩ năng làm văn,…Hay nói cáchkhác, một cách ngắn gọn thì kĩ năng là

khả năng vận dụng tốt các kiến thức được học vào giải quyết các nhiệm vụ mớitrong học tập, trong cuộc sống

Kĩ năng học tập, kĩ năng tiếp cận đề là việc thực hiện có hiệu quả nhữnghành động và kĩ thuật học tập trên cơ sở vận dụng kiến thức và kinh nghiệm họctập đã có một cách linh hoạt vào những tình huống khác nhau nhằm đạt được mụctiêu học tập đã xác định Kĩ năng học tập, tiếp cận đề là tập hợp những hành độngnhư phân tích, mô hình hóa, khái quát hóa các đối tượng nhận thức bằng cách vận

Trang 4

dụng những tri thức kinh nghiệm đã có để đạt được những kết quả cao một cáchthành thục.

Rèn luyện học tập, kĩ năng tiếp cận đề là rèn luyện cho học sinh một hệthống thao tác nhằm làm biến đổi đối tượng và làm sáng tỏ những thông tin trongnhiệm vụ học tập, kiểm tra, đem đến những kết quả như mong đợi

1.2.Kí và đặc trưng loại hình văn bản kí

1.2.1 Kí và các tiểu loại kí

Kí là một trong bốn loại hình văn học (tự sự, trữ tình, kịch và kí), thuộc thểvăn xuôi, có tác phẩm kí trữ tình, có tác phẩm kí tự sự, có tác phẩm vừa trữ tìnhvừa tự sự Kí bao gồm nhiều tiểu loại với những đặc trưng tương đối khác biệtsong đều có điểm chung là ghi chép sự thực Điểm tạo nên khác biệt, cũng là tiêuchí cơ bản để phân loại các tiểu loại kí là cách xử lí mối quan hệ giữa sự thực và

hư cấu trong văn bản

Kí có nghĩa là ghi chép về sự vật, sự việc diễn ra trong đời sống “Từ điểnthuật ngữ văn học” (do Lê Bá Hán,Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên)

đã định nghĩa:”Kí là một loại hình trung gian nằm giữa báo chí và văn học Kí gồmnhiều thể, chủ yếu dưới dạng văn xuôi tự sự như bút kí, hồi kí du kí, nhật kí, phóng

sự, tùy bút và cả hồi kí tự truyện”

Lại Nguyên Ân trong cuốn “150 thuật ngữ văn học” cũng định nghĩa: “Kí làtên gọi chung của một nhóm thể tài nằm ở phần giao nhau giữa văn học và ngoàivăn học (báo chí, chi chép) chủ yếu là văn xuôi tự sự”

Kí hiện đại bao gồm các thể loại phóng sự, kí sự, hồi kí, bút kí, tùy bút, tảnvăn, tạp văn Từ tên gọi của thể loại có thể thấy rõ chức năng quan trọng nhất banđầu của kí là ghi chép, ghi nhớ thông tin, sự kiện

1.2.2 Một số đặc trưng loại hình kí

Sự thực là điểm tựa nội dung của văn bản kí

Cái nhìn nghệ thuật về sự thực là hồn cốt của văn bản kí

Hiện thực đa chiều văn hóa - một kiểu “sự thực” đặc trưng của văn bản kí

Sự kết hợp năng động giữa sự thật và hư cấu, giữa thông tin và nghệ thuậttạo nên đặc trưng nội dung của văn bản kí

Trang 5

Đề tài gần gũi với đời sống, giàu ý nghĩa thực tiễn làm nên tính chất thời sựcủa văn bản kí

2 Cơ sở thực tiễn

2.1 Kí trong Chương trình và Sách giáo khoa hiện hành

Trong chương trình SGK hiện nay, các văn bản kí được đưa vào nhiều hơn

để phục vụ mục tiêu tăng cường vai trò “hành dụng” của môn Ngữ văn Các loạivăn bản nghệ thuật nói chung, kí nghệ thuật nói riêng cũng có vai trò không thểthay thế, bởi bên cạnh nội dung thông tin về các vấn đề của xã hội, thì văn bảnnghệ thuật với những đặc trưng riêng của mình có vai trò quan trọng trong việchình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách, nâng cao năng lực của học sinh

2.2 Thực trạng vấn đề

Tác phẩm kí trong chương trình Ngữ Văn trung học phổ thông nóichung và lớp 12 nói riêng chiếm tỉ lệ nhỏ Trong số 20 tác phẩm văn họcđược đưa vào, chỉ có hai đoạn trích thuộc thể loại kí là “Người lái đò SôngĐà” của Nguyễn Tuân và “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng PhủNgọc Tường Sự chênh lệch quá lớn về số lượng giữa các tác phẩm văn học đã vôtình khiến cho giáo viên và học sinh mất dần sự coi trọng trong việc dạy học cũngnhư rèn luyện kĩ năng làm bài về các tác phẩm kí Nhất là với học sinh lớp 12, khiphải đối mặt với các kì thi như tốt nghiệp, đại học thì việc học, luyện đề về các tácphẩm kí sẽ chỉ là sự đối phó

Thể kí ít được đưa vào làm nội dung trọng tâm trong chương trình thi cử lâunay của bộ môn ngữ văn ở các trường THPT mà chủ yếu dành thời gian rèn luyệntác phẩm văn xuôi thiên về tự sự (có cốt truyện, chi tiết, nhân vật ) Do đó, khicảm thụ tác phẩm văn xuôi giàu chất trữ tình, học sinh không còn căn cứ quenthuộc để bấu víu, dẫn đến lúng túng, không hứng thú trong tiếp nhận đặc trưng củathể loại kí khác xa với đặc trưng của thể loạitruyện ngắn hay thơ ca những thể loại quen thuộc với học sinh, vì thếkhiến cho khoảng cách thẩm mỹ giữa tác phẩm kí với bạn đọc học sinh cóphần hơi xa

Trang 6

Bên cạnh đó, tâm lý của một số giáo viên và học sinh cho rằng loạihình nghệ thuật này vừa khó vừa ít có khả năng “có mặt” trong đề thi củacác kì thi kiểm tra, tốt nghiệp, đại học, từ đó đã vô tình nhân đôi sự khó khăncho quá trình tiếp nhận tác phẩm thể kí.

2.3 Phân tích nguyên nhân

Thứ nhất là do chương trình và sách giáo khoa chưa thực sự đổi mới,chưa phù hợp với mục tiêu, nhu cầu phát triển của xã hội hiện nay Việcphân bố thời gian dạy học và rèn luyện kĩ năng tiếp cận đề về các tác phẩm kí cũngrất hạn chế

Sự tác động của đời sống cơ chế thị trường cũng ảnh hưởng khôngnhỏ tới quá trình dạy học văn nói chung và các tác phẩm kí nói riêng Xuhướng phát triển của khoa học kĩ thuật, của các ngành khoa học tự nhiêntrong đời sống xã hội đã khiến cho một bộ phận học sinh cho rằng môn NgữVăn và việc học Ngữ Văn trong nhà trường không quan trọng và hữu ích

Hạn chế nữa là phương pháp dạy học Nhiều giáo viên vẫn chútrọng quá nhiều vào việc cung cấp kiến thức xoay quanh hai tác phẩm kí chứchưa chú trọng tới phương pháp dạy học, kĩ năng tiếp cận đề thi Trong các giờdạy, phần lớn là giáo viên thuyết trình về bài học, học sinh ghi lại lời giảng củagiáo viên, chứ học sinh không được làm việc theo nhóm, ít được trình bày nhữngsuynghĩ của bản thân, ít được rèn luyện kĩ năng tiếp cận đề

Giáo viên chưa thật sự chú ý đến đặc trưng thể loại kí nênchưa có cơ sở chắc chắn để đánh giá, phân tích tác phẩm Vì vậy, dù cónhững giờ dạy học đã diễn ra khá bài bản nhưng cuối cùng chính người dạycũng chưa thật sự hài lòng về nó, bởi người giáo viên chưa tìm thấy “chiếcchìa khóa” để mở “cánh cửa” chứa ý đồ sáng tạo của nhà văn trong tácphẩm kí cúng như kiến tạo những kĩ năng cơ bản cho học sinh trong tiếp cận cácdạng đề về thể kí

Một hạn chế nữa là thể kí vốn rất ít được các nhà nghiên cứu quan tâm tìmhiểu, vì thế nguồn tư liệu để tìm hiểu, nghiên cứu thể loại này tương đối ít

Trang 7

Quan niệm thể loại và định hướng tiếp cận tác phẩm chưa thật sự sáng rõ,nhất quán.

3.Gợi ý một số kĩ năngtiếp cận đề kiểm tra, đề thi về văn bản kí trong môn Ngữ văn lớp 12

3.1 Đặc điểm của đề thi về tác phẩm kí

Xuất phát từ đặc điểm của thể kí là tính xác thực, tác giả kí thường lựa chọnngay những sự việc, sự vật hiện tượng, con người vốn đã có giá trị nổi bật đểphóng bút trong hình hài một tác phẩm văn xuôi giàu chất trữ tình Vì thế đề về thể

kí luôn đặt ra yêu cầu học sinh không chỉ nắm vững kiến thức về tác giả tác phẩm

mà phải nắm vững kĩ năng làm bài cảm nhận đoạn văn, xét cách nhìn tác giả.Nghĩa

là, vận dung kiến thức tổng hợp, nếu học sinh chỉ thỏa mãn những kiến thức có sẵntrong bài văn thì khó mà tiếp nhận cho thấu đáo

Cái khó của đề về tác phẩm kí là học sinh làm bài phải có sự tinh tế, phảiđọc kĩ bài văn để cảm nhận từ hình ảnh, từ ngữ, giọng điệu đến cái tôi tác giả.Nếukhông, các em chỉ viết được một số đoạn dựa trên ngôn ngữ văn bản mà khôngthấy được sự tài hoa của nhà văn.Đề phân hóa thường nằm ở tính cảm xúc vàtrường liên tưởng, so sánh của học sinh về vấn đề đặt ra Do đó, đòi hỏi học sinhphải có kiến thức lí luận, am hiểu phong cách nhà văn; có kĩ năng thẩm bình thìmới đưa ra được những nhận xét sắc bén, “ăn điểm” Nếu không, dễ rơi vào tìnhtrạng diễn xuôi, dễ lặp ý trong bài, viết tản mạn kiểu thuyết minh, miêu tả

Bên cạnh đó, đề về tác phẩm kí không chỉ quan tâm đến sự việc, chi tiết màđặc biệt chú ý cảm xúc trữ tình Thể kí giàu chất văn chương, báo chí, chất tự sự,trữ tình rất cuốn hút nhưng với học sinh, vốn kiến thức liên môn, đa ngành ít ỏi,thời gian hạn chế cùng vốn hiểu biết thể loại nghèo nàn làm cho khả năng liêntưởng, tưởng tượng theo trang kí khá chật vật, khó hiểu hết tầng ý nghĩa văn bản

Từ thực tế phương pháp tiếp cận đề đến kết quả bài viết của HS ở dạng đề thi vềthể kí đều cho thấy vấn đề rèn luyện kĩ năng tiếp cận đề NLVH về thể kí cần tiếptục được quan tâm chú ý

3.2.Gợi ý các dạng đề thường gặp về tác phẩm kí

3.2.1 Dạng đề phân tích ý nghĩa các yếu tố nghệ thuật trong văn bản kí

Trang 8

Cảm nhận và bình giá phương thức biểu đạt của ngôn ngữ hình ảnh, sốngđộng và giàu chất nghệ thuật Nhiều biện pháp tu từ, nhiều thủ pháp gọt giũa đượcngười viết tài hoa sử dụng tạo nên chất văn xuôi lãng mạn bay bổng của ngôn ngữkí.

Sự khác biệt của mỗi tác phẩm kí chính là năng lực ngôn ngữ và tài nănghuy động ngôn ngữ sáng tạo làm nên phong cách nhà văn Chúng ta cần thiết phảiđọc thêm những sáng tác khác của nhà văn và cả các tác giả khác để có cơ sở khicảm nhận cái hay cái đẹp của nghệ thuật dùng từ, tạo câu và sở trường ngôn ngữcủa mỗi tác phẩm

Giá trị thẩm mĩ, tình điệu cảm hứng và giá trị nhận thức của mỗi tác phẩm kíđều là kết quả quá trình trải nghiệm cuộc sống, thai nghén đề tài và thể hiện sángtạo bằng lối nghĩ, cách viết và tài năng, tâm huyết của người cầm bút

Nghiên cứu tác phẩm kí rất thú, rất say nhưng để cảm nhận được hết vẻ đẹpgiàu sang của hiện thực và ngôn từ của tác phẩm đòi hỏi nhiều nỗ lực của rất lớncủa độc giả Trong nhà trường phổ thông, thầy cô Ngữ văn rất cần tìm hiểu, suynghĩ và trao đổi để cùng học sinh từng bước chiếm lĩnh trọn vẹn những giá trị củatác phẩm kí ngàn năm vẫn hấp dẫn của văn học Việt Nam

Ví dụ: So sánh cách sử dụng ngôn ngữ kí của Nguyễn Tuân trong “Người lái

đò sông Đà” và Hoàng Phủ Ngọc Tường trong “Ai đã đặt tên cho dòng sông”

Trang 9

cửa trận, có 4 cửa tử, một cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông…”, ngônngữ võ thuật “đánh đòn chả đánh đến ầm vào chỗ hiểm”…

“Ai đã đặt tên cho dòng sông”:

+ ngôn ngữ đầy chất thơ

“Người lái đò sông Đà”: người đọc cảm nhận được chất thơ qua con sông

đà trữ tình Thay vì bề mặt hung bạo, dữ tợn trên kia, thì giờ đây sông Đà lại đượcmiêu tả một cách thơ mộng, đậm chất trữ tình, “con sông đà tuôn dài, tuôn dài nhưmột áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc, bung nởhoa ban hoa gạo tháng 2 và cuồn cuộn mây khói núi Mèo đốt Nương Xuân” Rồi là

“mùa xuân đồng xanh ngọc bích như nước sông Đà không xanh màu xanh cánhHến của sông gấm, Sông Lô Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt củamột người bầm đi vì rượu bữa, lừ lừ các màu đỏ giận dữ ở một người bất mãn, bựcbội gì mỗi độ Thu về”

“Ai đã đặt tên cho dòng sông”: Sông Hương cũng hiện lên đầy chất thi vịqua những hình ảnh nhòe mờ sương khói, đậm chất Huế: “lập lòe trong đêmsương, những ánh lửa thuyền chài của một linh hồn mô tê xưa cũ” Những câu văngiàu hình ảnh, nhịp điệu trước khi về đến vùng châu thổ êm đềm, nó đã là một bảntrường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mãnh liệt, qua nhữngghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, có lúc nó trở nên dịudàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”, mộtloạt hình ảnh so sánh nhân cách hóa Sông Hương, khi lại là con người lãng mạn,trữ tình, lúc lại là cô gái di gan phóng khoáng, man dại, khi lại là người mẹ phù savới vẻ đẹp dịu dàng, trí tuệ Ngoài ra chất thơ còn toát lên từ cảnh tác giả điểmxuyết những câu ca dao, lời thơ của Tản Đà, Cao Bá Quát, Bà Huyện Thanh Quanvào trong bài Ký, “dòng sông trăng – lá cây xanh” hay “như kiếm dựng trời xanh”

Và còn thể hiện ngay ở nhan đề đầy bâng khuâng, man mát “Ai đã đặt tên chodòng sông”

+ tập trung phát huy ngôn ngữ, biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hóa,trường liên tưởng, tưởng tượng phong phú…

Trang 10

Khi miêu tả quãng mặt ghềnh Hát loóng Nguyễn Tuân đã có sự so sánh, kếthợp nhân hóa thật thú vị khiến cho dòng sông trở thành một kẻ thù chuyên đi đòi

nợ xuýt, nham hiểm, hung bạo, tráo trở lúc nào cũng đi có thể tước đoạt mạng sốngcủa con người “nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió cuồn cuộn luồng gió gầm ghènhư lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò nào qua đó” Hay đoạn miêu tảnhững hút nước sông Đà, trường liên tưởng của ông vô cùng phong phú “nước ởđây thở và kêu như cái cửa cống bị sặc”, “nước ặc ặc lên như rót dầu sôi vào”…Đặc biệt nhất là âm thanh của thác nước sông Đà, có lúc nó được nhân hóa thànhmột con người tráo trở, nham hiểm, đang trong cơn giận dữ với nhiều cung bậc,khi oán trách, khi van xin, khi khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo” Tiếng nướcréo lại gần mãi, réo to mãi lên “Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, nối lạinhư van xin, khiêu khích giọng đàn mà chế nhạo” Có lúc nó lại được động vật hóathành tiếng lóng của một ngàn con trâu mộng Tác giả đã dùng lửa để tả nước – hai

sự vật vốn tương khắc nhau, hủy diệt nhau, nhưng dưới ngòi bút của Nguyễn Tuânlửa lại hiếp sức cho nước, khiến sức nước trở nên dữ dằn vô cùng “Thế rồi nó rốnglên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vào rừng tre, nứanuốt lửa, đang phá tuông tường lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháybùng bùng”

Hoàng Phủ Ngọc Tường dùng biện pháp nghệ thuật nhân hóa, để nội tâmhóa hình dáng của dòng sông, biến nó thành “nỗi vấn vương”, “cả một chút lẳng lơkín đáo của tình yêu” Nhờ đó ta không chỉ cảm nhận được dòng chảy của sôngHương một cách cụ thể, sống thực mà còn thấy nó hiện lên rất giống con người

“mãi mãi chung tình với quê hương, xứ sở” Đó là một vẻ đẹp huyền ảo, thơ mộng

“sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”, với những vẻ đẹp như triết lý, như cổ thi củamột mảnh đất Cố Đô gắn liền với những lăng tẩm, thành quách, in bóng giấc ngủngàn thu của những vua chúa Nguyễn Những cách so sánh liên tưởng bất ngờ,sông Hương uốn một cánh cung rất nhẹ sang đến Cồn Hến

- Khác nhau:

Dưới con mắt quan sát của Nguyễn Tuân sông Đà không còn là một vật vôtri, vô giác hay một hình tượng thiên nhiên thuần túy, mà hiện lên như một con

Trang 11

người với hai nét tính cách trái ngược nhau, vừa hung bạo, vừa trữ tình Khám phácon người ở góc độ tài hoa, nghệ sĩ, hình tượng người lái đò trong cảm nhận củaNguyễn Tuân một người lái đò bình thường trên sông nước sông Đà, lại được miêu

tả như một Dũng tướng tài năng, với một phong thái của người nghệ sĩ

Hoàng Phủ Ngọc Tường lại mang trong mình một phong cách viết kí kếthợp với nghị luận sắc bén và suy tư đa chiều, hệ thống lập luận với các luận điểm,luận cứ được sắp xếp một cách logic, chặt chẽ theo dòng chảy của sông Hương từphía thượng nguồn cho đến khi rời thành phố Huế, để đi ra biển Thêm vào đó mỗikhi nói đến vẻ đẹp nào đó của sông Hương, tác giả lại đưa ra những so sánh, những

ví dụ, những bằng chứng thuyết phục để làm nổi bật vẻ đẹp của sông Hương Suy

tư đa chiều thể hiện nhiều nhất trong cách ông cảm nhận về sông Hương, dướinhiều góc độ lịch sử, địa lý, văn hóa để làm nổi bật vẻ đẹp phong phú, đa dạng củasông Hương Suy tư đa chiều còn thể hiện ngay trong cách so sánh Sông Hươngvới những hình ảnh như người con gái đẹp, cô gái di gan, người mẹ phù sa của mộtvùng văn hóa xứ sở Tóm lại và dù có những nét tương đồng trong vốn tri thức,cách sử dụng ngôn từ nghệ thuật, nhưng khi bỏ qua tất cả những cái đó độc giả lạicảm nhận thấy những nét riêng biệt không thể trộn lẫn

3.2.2 Dạng đề xác định bút pháp trữ tình trong tác phẩm kí

Giống thơ, tác phẩm kí chọn bày tỏ trực tiếp cảm xúc, giãi bày xúc cảm khimiêu tả việc và con người.Nhà văn hiện đại viết kí lại trần thuật sự việc bằng cảmxúc, để người đọc cảm thấu thật ấn tượng về điều tác giả muốn

Nếu phân tích tác phẩm kí chỉ loay hoay chọn chi tiết tả thực để chỉ ra nhàvăn kể được những gì thì chưa ổn.Người viết trải gan ruột khi trần thuật nên đọchiểu tác phẩm rất cần nắm cho được cảm quan và xúc cảm qua tâm trạng, qua tâmthế rất cá nhân của nhà văn.cảm xúc thiết tha, trầm mặc trong Ai đã đặt tên chodòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường); Tác giả kí có thể bằng các giác quan củamình, làm cho sự việc, sự vật dù đen tối vẫn toát lên niềm tin, dù khốc liệt ào àotoát lên sự lạc quan, hi vọng Không bám cốt truyện như tự sự, người viết kí viếtbằng nhiệt tình, hi vọng để làm lây lan sang người đọc cảm hứng sôi nổi, thiết tha

và mãnh liệt

Trang 12

Khi đọc hiểu thể kí, chúng ta cần phân tích theo cảm hứng bi kịch, cảm hứnganh hùng, cảm hứng lịch sử, cảm hứng đời thường hay cảm hứng châm biếm, hàihước… Mỗi tác phẩm kí đều được viết theo cảm hứng chủ đạo đó, cho nên, phântích, bình giá tác phẩm nào cũng nên dựa theo dòng cảm xúc chi phối ngòi bút tácgiả Mặt khác, nhà văn viết kí ít chịu tác động ngoại cảnh xã hội nên cảm hứngsáng tác luôn dạt dào và tự do.

Vì thế, phân tích tác phẩm kí vừa phải chú ý nghệ thuật trần thuật vừa phảixem xét cảm hứng được bộc lộ, giãi bày qua mỗi sự việc, sự vật.Nếu tiếp cận đề vềthể kí mà chỉ loay hoay chọn chi tiết tả thực thì chưa ổn.Học sinh cần nắm đượccảm quan, xúc cảm qua tâm trạng, tâm thế cá nhân của nhà văn

Không bám vào cốt truyện như đề về tác phẩm tự sự, tiếp cận đề thể kí cầnphân tích theo cảm hứng chủ đạo (dòng cảm xúc chi phối ngòi bút tác giả) Nghĩa

là, vừa chú ý nghệ thuật trần thuật, vừa xem xét cảm hứng được bộc lộ, giãi bàyqua mỗi sự việc, sự vật

Phát hiện và đánh giá được óc quan sát, trí liên tưởng tưởng tượng, năng lực

sử dụng ngôn ngữ của nhà văn trong tác phẩm kí Sức hấp dẫn của kí chính là ởkhả năng tái hiện sự thật một cách sinh động của tác giả Nếu chỉ đơn thuần là ghichép thì tác phẩm kí sẽ hết sức khô khan, không gây được ấn tượng đối với ngườiđọc

Ví dụ: - Với tác phẩm “Người lái đò sông Đà”:

+ Khi khám phá vẻ hung bạo của con sông, cần nhận thấy liên tưởng nhất quán củaNguyễn Tuân Nhà văn hình dung sông Đà như một con thủy quái khổng lồ, có tâmđịa đen tối, với biết bao tướng dữ quân tợn vây quanh.Đã thế, con thủy quái mangtên sông Đà còn có hành động, mưu mô ác độc đối với thuyền và người trên sông.Như vậy, nhờ vào khả năng sử dụng ngôn ngữ liên ngành và trí tưởng tượng tài hoacủa tác giả, học sinh vừa hiểu về đặc điểm thực của sông Đà ở thượng nguồn, vừa

bị cuốn hút vào tài năng miêu tả của Nguyễn Tuân

+ Khi khám phá vẻ đẹp thơ mộng trữ tình của con sông, lại cần phải phát hiện ra sựthay đổi di chuyển điểm nhìn và cách miêu tả Sông Đà không chỉ là quái thú sôngnước nữa, mà đã lột xác trở thành người thiếu nữ có mái tóc tuôn dài, thành cố

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:25

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w