1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp nâng cao kĩ năng đặt câu hỏi theo các mức độ nhận thức của học sinh khi dạy phần văn xuôi ngữ văn 12 tại trường THPT quan sơn

22 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 73,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số giải pháp nâng cao kĩ năng đặt câu hỏi theo các mức độ nhận thức của học sinh khi dạy phần văn xuôi Ngữ văn 12 tại trường THPT Quan Sơn.. Chính vìvậy tôi lựa chọn đề tài: “Một số

Trang 1

6 5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm 2

9 1.1 Các mức độ nhận thức của học sinh và vai trò của “giaoviệc vừa sức” 3

10 1.2 Vai trò của kĩ năng đặt câu hỏi vàphân loại câu hỏi trongdạy học 3

12 2.1 Nhận xét sơ bộ về các tác phẩm văn xuôi Ngữ văn 12 5

13 2.2 Mức độ nhận thức và đặc điểm tiếp nhận của học sinh lớp12 trường THPT Quan Sơn 5

14 2.3 Thực trạng đặt câu hỏi khi giáo viên trường THPT QuanSơn dạy các tác phẩm văn xuôi Ngữ văn 12 615

3 Một số giải pháp nâng cao kĩ năng đặt câu hỏi theo các mức

độ nhận thức của học sinh khi dạy phần văn xuôi Ngữ văn 12

tại trường THPT Quan Sơn

7

16 3.1 Xây dựng các mẫu câu hỏi theo mức độ nhận thức củahọc sinh 7

17 3.2 Sử dụng câu hỏi song ngữ Việt – Thái 15

Trang 2

I MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong chương trình Ngữ văn, phân môn Đọc văn – nhất là các giờ Đọc hiểuvăn bản có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc bồi dưỡng tâm hồn tình cảm,thái độ và năng lực thẩm mĩ cho học sinh Ở một mức độ nhất định, các tiết Đọchiểu văn bản khơi gợi được nhiều hứng thú cho giáo viên và học sinh Niềm yêuthích say mê môn học phần lớn được “tiếp lửa” từ những tiết học này Tuy nhiên

có những tiết học Ngữ văn không được như mong muốn, hiệu quả tiết họckhông cao Hiện thực đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân Trong đó phải kể đếnhạn chế trong kĩ năng đặt câu hỏi của giáo viên.Cá biệt, có những giáo viên sửdụng câu hỏi không đạt yêu cầu về tính khoa học, tính sư phạm nên chưa đủ sứclôi cuốn học sinh tham gia giờ học với tinh thần hứng thú, say mê

Đặc biệt với học sinh khối 12, vấn đề học và hiểu bài rất quan trọng Câuhỏi của giáo viên giúp cho học sinh rèn luyện cách suy nghĩ, tự lực, cho phéphọc sinh thực hành các khái niệm và quy tắc các em được học đồng thời tạo cơhội cho chính chúng ta - người giáo viên - kiểm tra và sửa lỗi ngay tại chỗ Qua

hệ thống câu hỏi,giáo viên có thông tin phản hồi để biết được học sinh có hiểubài hay không.Câu hỏi trong dạy học như một cây cầu dẫn học sinh đến với thếgiới tri thức một cách chủ động, đặc biệt đối với học sinh khối 12 khi các emphải chuẩn bị thật tốt kiến thức và kĩ năng để thi tốt nghiệp THPT Tuy nhiên,

để có một hệ thống câu hỏi phong phú và cách hỏi thực sự hiệu quả giúp pháttriển năng lực của học sinh thì không phải giáo viên nào cũng có được Chính vìvậy tôi lựa chọn đề tài:

“Một số biện pháp nâng cao kĩ năng đặt câu hỏi theo các mức độ nhận thức của học sinh khi dạy phần văn xuôi Ngữ văn 12 tại trường THPT

Quan Sơn” để cùng chia sẻ, trao đổi với các đồng nghiệp.

2 Mục đích nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, bản thân tôi dướng đếnnghiên cứu cấu trúc chươngtrình Ngữ Văn 12, khảo sát các tiết dạy văn xuôi Ngữ văn 12 của các thầy côtrường THPT Quan Sơn để xác định các rào cản khách quan, rào cản chủ quankhiến học sinh gặp khó trong tiếp nhận tri thức môn học Từ đó hình thành các

kĩ năng tiếp nhận văn bản văn xuôi cho học sinh 12 của trường THPT Quan Sơn

từ đơn giản đến phức tạp.Xây dựng hệ thống câu hỏi trong quá trình học tập thuthập thông tin phản hồi nhằm đánh giá nhận xét đúng đắn hơn về các đối tượnghọc sinh.Kiểm tra đánh giá, nhận xét học sinh để điều chỉnh phương pháp dạyhọc một cách kịp thời, hợp lí, hướng đến nâng cao hiệu quả dạy học tại trườngTHPT Quan Sơn

3 Đối tượng nghiên cứu

Tôi thực hiện nghiên cứu đặc điểm các văn bản văn xuôi Ngữ văn 12; cáctiết dạy phần văn xuôi Ngữ văn 12 của các thầy cô trường THPT Quan Sơntrọng tâm là cách thức đặt câu hỏi, các dạng câu hỏi mà giáo viên sử dụng chocác bài, các mục và cho các đối tượng học sinh

Trang 3

4 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, tôi kết hợp các phương pháp: Phân tích, tổng hợp;phương pháp so sánh, kiểm tra đánh giá, nhận xét; đọc, tìm hiểu tài liệu; quansát, dự giờ của giáo viên Ngữ Văn cùng chuyên ngành; thực nghiệm sư phạm đểđánh giá tính khả thi của đề tài

5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm

Những kinh nghiệm được đúc rút trong đề tài này là những vấn đề mới mẻ, bao gồm những mẫu câu hỏi theo mức độ nhận thức và câu hỏi bằng song ngữ dành cho các em học sinh dân tộc thiểu số còn hạn chế về năng lực tiếng Việt

Trang 4

II NỘI DUNG

1 Cơ sở lí luận của đề tài

1.1 Các mức độ nhận thức của học sinh và vai trò của “giao việc vừa sức”

Năm 1956, Benjamin Bloom, một giáo sư của trường Đại học Chicago đãđưa ra thang đánh giá về các mức độ nhận thức từ dễ đến khó, từ đơn giản đếnphức tạp Theo đó, có sáu mức độ nhận thức như sau:

Một là Nhớ (knowledge) – tức khả năng ghi nhớ và nhận diện thông tin Nhớ là cần thiết cho tất các mức độ tư duy Nhớ ở đây được hiểu là nhớ lại những kiến thức đã học một cách máy móc và nhắc lại.

Hai là Hiểu (comprehension) - khả năng hiểu, diễn dịch, diễn giải, giải thích hoặc suy diễn (dự đoán được kết quả hoặc hậu quả) Hiểu không đơn thuần là nhắc lại cái gì đó Học sinh phải có khả năng diễn đạt khái niệm theo ý hiểu của mình.

Ba là Vận dụng (application) - khả năng sử dụng thông tin và chuyển đổi kiến thức từ dạng này sang dạng khác (sử dụng những kiến thức đã học trong hoàn cảnh mới) Vận dụng là bắt đầu của mức tư duy sáng tạo, tức là vận dụng những gì đã học vào đời sống hoặc một tình huống mới.

Bốn là Phân tích (analysis) - khả năng nhận biết chi tiết, phát hiện và phân biệt các bộ phận cấu thành của thông tin hay tình huống Ở mức độ này đòi hỏi khả năng phân nhỏ đối tượng thành các hợp phần cấu thành để hiểu rõ hơn cấu trúc của nó.

Năm là Tổng hợp (synthesis) - Tổng hợp là khả năng hợp nhất các thành phần để tạo thành một tổng thể/sự vật lớn Ở mức độ này học sinh phải sử dụng những gì đã học để tạo ra hoặc sáng tạo một cái gì đó hoàn toàn mới.

Sáu là Đánh giá (evaluation) - Đánh giá là khả năng phán xét giá trị hoặc

sử dụng thông tin theo các tiêu chí thích hợp (Hỗ trợ đánh giá bằng lý do/lập luận) Để sử dụng đúng mức độ này, học sinh phải có khả năng giải thích tại sao sử dụng những lập luận giá trị để bảo vệ quan điểm.(5)

Hành trình người thầy dẫn dắt học sinh chiếm lĩnh tri thức môn học, hìnhthành phẩm chất và năng lực vừa là con đường khoa học vừa là một con đườngnghệ thuật Trong đó, dù hỏi hay giao việc thì người thầy cũng phải tuân thủnguyên tắc “giao việc vừa sức”, “câu hỏi vừa sức” bởi đây là nguyên tắc quantrọng và là yêu cầu chung cho mọi biện pháp dạy học Câu hỏi phải nằm tronggiới hạn của khả năng tri giác thông tin, ngôn ngữ, hiểu ngữ nghĩa và ý trongcâu, kinh nghiệm cảm nhận các tình huống giao tiếp, năng lực tư duy, tưởngtượng, khả năng độc thoại,diễn đạt ý nghĩ của học sinh Có như vậy mới pháthuy được hết khả năng, kích thích phát triển tư duy học sinh

1.2.Vai trò của kĩ năng đặt câu hỏi và phân loại câu hỏi trong dạy học

Đặt câu hỏi là một trong những kỹ năng hữu ích mà giáo viên cần pháttriển Trong một tiết dạy, người giáo viên giỏi luôn biết sử dụng nhiều câu hỏivới nhiều mục đích khác nhau Tuy nhiên, người đặt câu hỏi cũng phải cókĩnăng và hiểu biết thì mới có thể diễn đạt câu hỏi một cách rõ ràng, chính xác,

Trang 5

đưa ra câu hỏi đúng thời điểm, phù hợp với nội dung bài học, với mức độ nhânthức của học sinh để đem lại hiệu quả tối đa, và khai thác câu trả lời để đặt câuhỏi tiếp theo.Học sinh thường nhận thấy hỏi và trả lời là một hoạt động thú vị,sôi nổi Đặc biệt là khi trả lời đúng, các em sẽ tự tin hơn rất nhiều và có cảmgiác thành công Ngay cả khi những học sinh không được gọi trả lời cũng thấy

tự tin hơn nếu các em cũng nghĩ được câu trả lời đúng Cảm giác thành côngnày, cùng với những lời khen ngợi và tán thưởng của giáo viên sẽ cổ vũ các emrất nhiều

Câu hỏi được sử dụng ở cả hình thức nói lẫn viết.Trong đề tài này tôi muốn

tập trung phân tích vào các câu hỏi dạng nói của giáo viên (còn gọi là vấn đáp hay hỏi đáp) Nhiều chuyên gia giáo dục, kể cả các giáo viên dạy giỏi có kinh

nghiệm đều xem kỹ thuật đặt câu hỏi là một trong những công cụ đắc lực Vìvậy tìm hiểu, nghiên cứu, trau dồi kĩ năng đặt câu hỏi là một phần rất quan trọngđối với giáo viên, đòi hỏi sự chuẩn bị chu đáo và sự linh hoạt trong khâu lên

lớp.Hỏi- đáp (còn gọi là vấn đáp) là phương pháp giáo viên đặt câu hỏi và học sinh trả lời câu hỏi (hoặc ngược lại), nhằm rút ra những kết luận, những tri thức mới mà học sinh cần nắm, hoặc nhằm tổng kết, củng cố, kiểm tra mở rộng, đào sâu những tri thức mà học sinh đã học Phương pháp đặt câu hỏi vấn đáp cung cấp rất nhiều thông tin chính thức và không chính thức về học sinh Việc làm chủ, thành thạo các kĩ thuật đặt câu hỏi đặc biệt có ích trong khi dạy học.

(5) Qua hỏi - đáp, giáo viên có thể thu thập được thông tin mình muốn màkhông cần đến bất kì một loại đánh giá viết nào Vấn đáp là một đặc trưng rấtphổ biến của mọi lớp học và sau mỗi bài giảng, đây là hoạt động dạy học thườngdùng nhất

Tuỳ theo vị trí của phương pháp vấn đáp trong quá trình dạy học, cũng nhưtuỳ theo mục đích, nội dung của bài giảng, người ta phân biệt những dạng vấn

đáp cơ bản sau:Hỏi - đáp gợi mở, hỏi - đáp củng cố, hỏi - đáp tổng kết, hỏi - đáp kiểm tra (5) Tuỳ vào mục đích và nội dung bài học, giáo viên có thể sử dụng

một trong bốn hoặc cả bốn dạng phương pháp vấn đáp nêu trên

Xét trong lĩnh vực dạy học và dựa trên mục đích, chức năng của câu hỏi thì

có thể phân ra các loại câu hỏi sau: Câu hỏi đóng, câu hỏi mở, câu hỏi giả định,câu hỏi hành động, câu hỏi làm rõ, câu hỏi mở rộng, câu hỏi so sánh, câu hỏitóm tắt

Ngoài cách phân loại trên, dựa trên thang nhận thức Bloom, có thể phân

loại thành những dạng câu hỏi sau: Câu hỏi biết, câu hỏi hiểu, câu hỏi vận dụng, câu hỏi phân tích, câu hỏi đánh giá, câu hỏi tổng hợp (4)

Trong đề tài này, tôi chủ yếu xoay quanh các dạng câu hỏi theo thang nhậnthức Bloom nhằm tìm ra hướng đi phù hợp khi giáo viên dạy các văn bản vănxuôi Ngữ văn 12 đặt trong mối quan hệ với mức độ nhận thức của học sinh

Trang 6

2 Thực trạng vấn đề

2.1 Nhận xét sơ bộ về các tác phẩm văn xuôi Ngữ văn 12

Môn Ngữ văn ở trường THPT nói chung, chương trình Ngữ văn 12 nóiriêng là sự tích hợp ba phân môn: Đọc văn, Tiếng Việt và Làm văn Mỗi phânmôn có vai trò vị trí khác nhau trong việc trang bị tri thức khoa học, rèn luyện kĩnăng và bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, thái độ cho học sinh Trong đó phân mônĐọc văn, nhất là các giờ Đọc hiểu văn bản có tầm quan trọng đặc biệt trong bồidưỡng tư tưởng tình cảm và năng lực thẩm mĩ cho học sinh Bởi vậy khi đưa cáctác phẩm vào trong chương trình, các tác giả biên soạn sách đã công phu lựachọn những tác phẩm giàu giá trị thẩm mĩ, giá trị nhận thức, giá trị giáo dục… Các tác phẩm văn học được đưa vào sách giáo khoa Ngữ văn 12 bao gồmhai loại lớn là thơ và văn xuôi; trong đó có các thể khác nhau ở các giai đoạn:Sau cách mạng tháng Tám 1945 đến 1975 và từ 1975 đến hết thế kỉ XX; thuộcvăn học Việt Nam và văn học nước ngoài

Trong khuôn khổ đề tài này, tôi chỉ hạn định nghiên cứu kĩ năng đặt câuhỏi trong các tiết văn xuôi Ngữ văn 12 thuộc phần văn học Việt Nam (không kểnhững văn bản đọc thêm và văn học nước ngoài) Chương trình gồm những tác

phẩm:Người lái đò sông Đà(Nguyễn Tuân),Ai đã đặt tên cho dòng sông?(Hoàng Phủ Ngọc Tường),Vợ chồng A Phủ(Tô Hoài),Vợ nhặt(Kim Lân), Rừng xà nu(Nguyễn Trung Thành), Những đứa con trong gia đình(Nguyễn Thi),Chiếc thuyền ngoài xa(Nguyễn Minh Châu), Hồn Trương Ba, da hàng thịt(Lưu Quang

Vũ)

Những tác phẩm nêu trên gồm các thể loại: Bút kí, tùy bút, truyện ngắn vàkịch; đều là những tác phẩm mang giá trị thẩm mĩ cao Mặt khác, những tácphẩm này không chỉ thực hiện sứ mệnh của một tác phẩm nghệ thuật ngôn từđơn thuần mà qua đó, học sinh vừa thấy được đặc trưng trong sáng tác của mỗitác giả, diện mạo riêng của mỗi giai đoạn văn học; thấy được biểu hiện sinhđộng quá trình vận động của đời sống văn học trong tiến trình lịch sử Qua tiếpcận các tác phẩm văn học trên, học sinh vừa được học VĂN vừa được học vềĐỜI bởi khả năng liên hệ thực tiễn được gợi ra từ các tác phẩm ấy rất lớn Điều

đó cũng đồng nghĩa với việc những thách thức đặt ra cho giáo viên càng cao,càng khó khi dạy văn xuôi Ngữ văn 12

2.2 Mức độ nhận thức và đặc điểm tiếp nhận của học sinh lớp 12 trường THPTQuan Sơn

Trường THPT Quan Sơn là một trong những trường thuộc huyện miền núicao của tỉnh Thanh Hóa, được thành lập năm 1999 Đa số học sinh nhà trườngđều là học sinh dân tộc Thái Hầu hết các em học sinh này đều sinh sống ở các

xã vùng sâu vùng xa, các xã đặc biệt khó khăn Tuy các em được tiếp xúc vớitiếng Việt ở nhà trường từ nhỏ nhưng sự tiếp xúc đó không thường xuyên, chỉgiới hạn trong những tiết học ngắn ngủi trên lớp Trong thực tiễn giao tiếp vàsinh hoạt, các em học sinh dân tộc thiểu số chủ yếu sử dụng tiếng mẹ đẻ và chỉthành thạo tiếng mẹ đẻ nên việc tiếp nhận, lĩnh hội tri thức vướng phải nhiềukhó khăn, cả trong quá trình lĩnh hội và tạo lập văn bản Vốn từ tiếng Việt của

Trang 7

các em hầu hết mới chỉ đạt ở mức đảm bảo giao tiếp cơ bản, với những từ ngữthông dụng nhất trong giao tiếp hàng ngày Khi học Ngữ Văn – các em phải tiếpnhận và tạo lập bằng vốn tiếng Việt mang tính nghệ thuật cao – thì hầu hết các

em học sinh dân tộc Thái ở trường THPT Quan Sơn cảm thấy khó khăn, quásức

Mặt khác, điểm đầu vào của các em khi thi vào lớp 10 rất thấp (trườngTHPT Quan Sơn luôn thuộc nhóm các trường có điểm chuẩn thi vào lớp 10 thấpnhất toàn tỉnh) Điều đó chứng tỏ mặt bằng kiến thức nền tảng của các em khôngcao.Đến lớp 12, có một số em học tốt môn Ngữ văn nhưng tỉ lệ học khá - giỏiquá ít ỏi

Hai yếu tố nêu trên khiến các giáo viên Ngữ văn trường THPT Quan Sơnluôn trăn trở: Làm sao để hướng dẫn các em lĩnh hội được những tác phẩm nghệthuật ngôn từ trong khi năng lực ngôn ngữ và mức độ nhận thức của các em cònnhiều hạn chế? Làm sao để phát huy được năng lực của những em có tố chấtngay trong lớp học đại trà?

2.3 Thực trạng đặt câu hỏi khi giáo viên trường THPT Quan Sơn dạy các tácphẩm văn xuôi 12

Hiện nay trường THPT Quan Sơn có 06 giáo viên Ngữ văn Trong đó, 05giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy từ 10 năm trở lên, 01 giáo viên mới đượctuyển dụng, đang trong thời gian tập sự; 02/06 giáo viên là người dân tộc Thái ởđịa phương; 05/06 giáo viên đã hoàn thành chương trình tiếng chữ dân tộc Thái,

có chứng chỉ do Sở giáo dục đào tạo Thanh hóa cấp; 06/06 giáo viên có thể giaotiếp bằng tiếng Thái Qua khảo sát thực tế và tiến hành dự giờ đồng nghiệp khidạy phần văn xuôi Ngữ Văn 12, tôi nhận thấy:

Về hạn chế:

- Nhiều khi giáo viên đặt câu hỏi còn dập khuôn, đơn điệu, gò bó khiến họcsinh trả lời và tiếp thu một cách thụ động

- Hệ thống câu hỏi thiếu khoa học, chưa tạo được “tình huống có vấn đề”

để kích thích tư duy, khả năng sáng tạo của học sinh Đôi khi câu hỏi mà giáoviên đặt ra rất khó hiểu, mơ hồ, ngay cả đến giáo viên dự giờ cũng cảm thấylúng túng, hoặc hệ thống câu hỏi đưa ra đa phần là câu hỏi nhận biết, chỉ tậptrung tái hiện kiến thức chứ không phong phú đa dạng, câu hỏi không phù hợpvới các mức độ nhận thức khác nhau của các đối tượng học sinh

- Có giáo viên chưa biết khai thác tận dụng triệt để và linh hoạt các câu hỏitrong sách giáo khoa

Trang 8

- Có những câu hỏi chứa các từ học sinh dân tộc Thái không hiểu được vìvốn từ tiếng Việt của các em còn nghèo nàn dẫn đến việc không trả lời được câuhỏi.

- Có những học sinh “bị bỏ rơi” trong lớp học do giáo viên đặt câu hỏi quásức với các em; có những em học sinh trở thành “chủ công” trong suốt tiết họckhi giáo viên đưa ra câu hỏi chỉ nhóm khá giỏi trả lời được

Do có những hạn chế trong khâu đặt câu hỏi từ phía giáo viên nên chưa tạođược sự tương tác giữa giáo viên và học sinh và giữa các học sinh với nhau để từ

đó phát triển tư duy đa chiều, đặc biệt chú trọng phát triển các năng lực giảiquyết vấn đề, năng lực giao tiếp ở học sinh Những hạn chế đó khiến không khí

và hiệu quả dạy học các tiết văn xuôi Ngữ văn 12 không được như mong muốncủa cả người dạy và người học

3 Các giải pháp nâng cao kĩ năng đặt câu hỏi theo các mức độ nhận thức của học sinh khi dạy phần văn xuôi Ngữ văn 12 tại trường THPT Quan Sơn.

3.1 Xây dựng và vận dụng linh hoạt các mẫu câu hỏi theo mức độ nhận thức của học sinh

Với mỗi mức độ nhận thức, có những “câu lệnh” riêng để dẫn dắt, địnhhướng học sinh chiếm lĩnh tri thức.Trong dạy học phần văn xuôi Ngữ văn 12,dựa vào mục tiêu bài học và các mức độ nhận thức khác nhau của các em họcsinh mà giáo viên xây dựng cho mình hệ thống câu hỏi hợp lí để áp dụng chotừng phần, từng mục

a Câu hỏi Nhớ:

Thông thường, ở trường THPT Quan Sơn, trước khi học mỗi văn bản, họcsinh được giao việc tự đọc sách giáo khoa và soạn bài ở nhà Văn bản văn học vìthế ít nhiều đã được các em “đào xới” một lần dù nông hay sâu Các em ít nhiềunhớ được các chi tiết, hình ảnh, các ý cơ bản liên quan đến tác giả, tác phẩm ởphần Tiểu dẫn Giáo viên nên sử dụng các câu hỏi mang tính ghi nhớ, phát hiện,

“đọc là thấy”, “nhìn là biết”như:

- Dựa vào Tiểu dẫn trong sách giáo khoa, em hãy nêu những thông tin cơ bản về cuộc đời và sự nghiệp nhà văn? (Theo đó, giáo viên có thể dẫn dắt cụ thể

về những thông tin mà học sinh cần nêu, chẳng hạn như: tên tuổi, quê quán, yếu

tố gia đình, yếu tố quê hương, yếu tố thời đại, đề tài chính, các tác phẩm tiêubiểu, phong cách nghệ thuật…) Dựa vào câu lệnh của giáo viên, học sinh bằngtrí nhớ hoặc dựa vào sách giáo khoa có thể đưa ra câu trả lời về những kiến thứcnền, chẳn hạn như:

- Với văn bản “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, cũng từ câu hỏi trên, họcsinh dựa vào sách giáo khoa, có thể đưa ra câu trả lời:

+ Lưu Quang Vũ (1948 1988), quê gốc ở Đà Nẵng, sinh tại Phú Thọ trong một gia đình trí thức, năng khiếu nghệ thuật được bộc lộ từ nhỏ Lưu Quang Vũ là nghệ sĩ đa tài Từ 1978 – 1988, một nguồn sáng tạo mạnh mẽ đột khởi bùng cháy dưới ngòi bút Lưu Quang Vũ khiến ông gây chấn động dư luận,

-từ đó trở thành một hiện tượng đặc biệt của sân khấu Việt Nam (1)

Trang 9

+ Các các phẩm chính: “Hương cây”, “Mây trắng của đời tôi”, “Bầy ongtrong đêm sâu”, “Sống mãi tuổi mười bảy”, “Lời nói dối cuối cùng”, “Nàng Xi -ta”, “Chết cho điều chưa có”, “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”…

- Với tác phẩm “Vợ nhặt”, câu hỏi Nhớ như trên sẽ định hướng các em

nhận biết:

+ Kim Lân (1920 - 2007), tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài, quê ở làng PhùLưu, xã Tân Hồng, huyện Từ Sơn, tỉnh bắc Ninh Do hoàn cảnh gia đình khókhăn, chỉ học hết tiểu học nhưng với tố chất nghệ thuât, Kim Lân đã cống hiếnhăng say cho văn chương và cách mạng

+ Kim Lân thường viết về nông thôn và người nông dân, ông có những trang viết đặc sắc về phong tục và đời sống làng quê với những “thú đồng quê”,

“phong lưu đồng ruộng” Dù viết về phong tục hay con người, trong tác phẩm của Kim Lân vẫn thấp thoáng cuộc sống và con người của làng quê Việt Nam nghèo khổ, thiếu thốn mà vẫn yêu đời, thật thà, chất phác mà thông minh, hóm hỉnh, tài hoa.(1)

+ Tiêu biểu là hai tập truyện: “Nên vợ nên chồng”, “Con chó xấu xí”

Dạng câu hỏi mang tính nhận biết này cũng được dùng để hướng dẫn khaithác thông tin nền về tác phẩm, về chi tiết, hình ảnh…Mẫu câu hỏi thường dùnglà:

- Dựa vào phần Tiểu dẫn, em hãy nêu những thông tin cơ bản về tác phẩm (đoạn trích)? (Giáo viên định hướng linh hoạt tùy từng văn bản: Xuất xứ, hoàn

cảnh sáng tác, đề tài, …)

- Em hãy tìm những chi tiết nói về…?

- Câu, từ, hình ảnh nào trong tác phẩm chứng tỏ…?

Với mẫu câu hỏi ấy, học sinh dễ dàng tìmđược:

+ Truyện ngắn “Rừng xà nu” được viết năm 1965, ra mắt lần đầu tiên trên tạp chí Văn nghệ quân giải phóng Trung Trung Bộ số 2/1965, sau đó in trong tập “Trên quê hương những anh hùng Điện Ngọc” (1)

+ “Vợ nhặt” là truyện ngắn đặc sắc nhất của Kim Lân in trong tập “Conchó xấu xí” (1962) Tiền thân của tác phẩm là tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” – mộttác phẩm được tác giả viết ngay sau Cách mạng tháng Tám nhưng bị thất lạc bảnthảo Sau khi hòa bình lập lại (1954), Kim Lân dựa vào một phần cốt truyện cũ

để viết truyện ngắn này

Bằng câu hỏi Em hãy tìm những chi tiết nói về…? Câu, từ, hình ảnh nào trong tác phẩm chứng tỏ…?, giáo viên cũng thôi thúc được các em đọc văn bản

để nhận diện chi tiết, câu từ, hình ảnh Chẳng hạn:

Em hãy tìm những chi tiết nói về cuộc sống của Mị trước khi trở thành con dâu gạt nợ nhà thống lí Pá Tra?(2) Học sinh có thể tìm được các chi tiết, hình

ảnh:

+ Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi… Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng haynhư thổi sáo Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị.+ Trai đến đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng Mị

Trang 10

+ Khi Pá Tra đề nghị bố Mị “Cho tao đứa con gái này về làm dâu thì taoxóa hết nợ cho”, Mị trả lời: “Con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con phải làmnương ngô giả nợ thay cho bố Bố đừng bán con cho nhà giàu”.

Em hãy tìm những chi tiết, hình ảnh nói về ngoại hình của nhân vật Người đàn bà hàng chài?(2) Bằng việc đọc văn bản, học sinh có thể tìm được các chi

học sinh có thể thấy, xà nu được khắc họa ở những góc độ sau: Rừng xà nu, đồi

xà nu, lửa xà nu, khói xà nu, nhựa xà nu, dầu xà nu…

Bởi đặc điểm “đọc là thấy”, “nhìn là biết” nên những câu hỏi này hướngđến những em học sinh top cuối, chỉ cần các em chịu khó đọc sách, tìm ý chứkhông cần đến khả năng tư duy, giải thích, phân tích, cảm nhận phức tạp

b Câu hỏi Hiểu

Dạng câu hỏi này không chỉ dừng lại ở mức nhận biết, ghi nhớ mà học sinhphải diễn đạt lại kiến thức nào đó theo ý hiểu của mình Học sinh không còn phụthuộc hoàn toàn vào sách giáo khoa nữa mà bắt đầu chuyển kiến thức nền thànhkiến thức của mình để tạo lập văn bản qua câu trả lời Câu hỏi “hiểu” được vậndụng cả trong phần Tìm hiểu chung và phần Đọc hiểu văn bản Chủ yếu để họcsinh tóm tắt, so sánh, diễn giải, phân biệt

Mẫu câu hỏi “hiểu” thường có các cụm từ: Tại sao…? Hãy phân tích…? Hãy so sánh…? Hãy liên hệ…? Với dạng câu hỏi này, học sinh sẽ bắt đầu phải

suy nghĩ, “động não” Chẳng hạn:

- Khi dạy phần Tìm hiểu chung của “người lái đò sông Đà”, giảng về sựnghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân, giáo viên định hướng về sự đa dạng mà thốngnhất trong phong cách nghệ thuật của nhà văn, về sự khác biệt và chuyển biếntrước Cách mạng và sau Cách mạng tháng Tám Để học sinh hiểu bản chất vấn

đề, giáo viên có thể phát vấn: Tại sao Nguyễn Tuân lại có sự chuyển biến trong quan niệm nghệ thuật và nhân sinh quan? Câu hỏi này là sự gợi dẫn để chốt lại

vấn đề:

+ Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân ảnh hưởng sâu sắc từ ngườicha mình là cụ Nguyễn An Lan – một nhà Nho sinh bất phùng thời, tài hoa bấtđắc chí, luôn đối lập mình với xã hội nên chỉ thấy cái đẹp trong quá khứ, chorằng chỉ những nhà Nho cuối mùa mới là người tài hoa nghệ sĩ Bởi bất hòa với

xã hội, giọng văn Nguyễn Tuân có phần lạnh lùng, kiêu bạc Nhưng sau cáchmạng tháng Tám, Nguyễn Tuân được hòa mình vào đời sống chiến đấu và laođộng của nhân dân, cảm nhận được đời sống gian khó mà sôi động của nhândân, được tiếp thêm hơi thở ấm nóng từ thời đại nên đã làm hòa với xã hội rồi

Trang 11

nhận ra: Cái đẹp có trong thực tại, những người dân lao động bình dị cũng lànhững người tài hoa nghệ sĩ.

+ Để làm nổi bật vị trí của Nguyễn Minh Châu trong văn đàn dân tộc sau

1975, giáo viên khai thác triệt để nhận định trong sách giáo khoa: “NguyễnMinh Châu được coi là một trong những cây bút tiên phong của văn học ViệtNam thời kì đổi mới” Và người thầy giỏi không chỉ nêu vấn đề mà còn phải đặtcâu hỏi “Vì sao?” để học sinh nhận ra:Trong suốt ba mươi năm chiến tranh(1945-1975), giới nghệ sĩ chịu ảnh hưởng, chi phối sâu sắc từ bản Đề cương vănhóa năm 1943, với những nội dung: dân tộc, khoa học, đại chúng; nhân vậtchính là công - nông – binh; chủ yếu là giọng điệu ngợi ca, hạn chế hoặc khôngđược phép nói đến mất mát hi sinh; tình cảm cá nhân phải ẩn sau tình yêu vớiquê hương đất nước… Bản Đề cương đó chính là sợi chỉ đỏ làm nên dòng vănhọc cách mạng 1945 – 1975 Nhưng khi chiến tranh kết thúc, đất nước được hòabình, độc lập, thống nhất thì lối viết ấy, lối nghĩ ấy không còn phù hợp nữa bởi

“xã hội nào văn học nấy” Sứ mệnh khác được trao cho nhà văn Họ cần khaithác đời sống cá nhân, cần hướng nội, cần viết về đề tài thế sự Chính NguyễnMinh Châu đã nhận ra điều đó Ông đã tiên phong tìm tòi sáng tạo và chính lànhà văn đầu tiên “đọc bản điếu văn cho một nền văn học minh họa”.Những điềuđược giả thích trên đây còn là đòn bẩy để khi phân tích tác phẩm, giáo viên giúphọc sinh nhận ra sự khác biệt, lí do khác biệt giữa đề tài, cảm hứng, giọng điệucủa “Chiếc thuyền ngoài xa”, sau này là cả tác phẩm “Hồn Trương Ba, da hàngthit” (thuộc giai đoạn văn học sau 1975) khác hẳn, khác xa với các tác phẩm vănxuôi đã học trước đó như: “Vợ chồng A Phủ”, “Vợ nhặt”, “Những đứa con tronggia đình”, “Rừng xà nu” (thuộc giai đoạn văn học 1945 - 1975)

Xây dựng và vận dụng thành công mẫu câu hỏi này, giáo viên có thểdùngcho nhiều đối tượng học sinh, thậm chívừa sức với học sinh yếu và họcsinh trung bình để các em không bị “bỏ rơi” trong lớp học

c Câu hỏi Vận dụng

Câu hỏi vận dụng là khả năng sử dụng thông tin và chuyển đổi kiến thức từdạng này sang dạng khác, là bắt đầu của mức tư duy sáng tạo Để học sinh pháthuy sự sáng tạo của mình và vận dụng những gì đã học vào tình huống mới, giáoviên có thể sử dụng những câu hỏi “Hãy nhận xét…?”, “Hãy cho biết…?”, “Hãy

Với tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”, sau khi học sinh tìm được những chi tiếtnói về nhân vật Mị trước khi bị bắt làm con dâu gạt nợ nhà thông lí Pá Tra, giáo

viên phát vấn để định hướng: Em hãy nhận xét về nhân vật Mị (nhan sắc, tâm

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:24

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w