1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vẻ đẹp nữ tính trong ngôn ngữ thơ xuân quỳnh

83 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 784,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong văn chương Việt Nam có không ít tác giả nữ với tiếng nói về nữ tính nữ quyền và có những tác giả đại diện cho các thời đại như Hồ Xuân Hương, Anh Thơ, Ngân Giáng, Xuân Quỳnh…nhưng

Trang 1

KHOA NGỮ VĂN -

NGUYỄN THỊ PHƯỢNG

VẺ ĐẸP NỮ TÍNH TRONG NGÔN NGỮ THƠ XUÂN QUỲNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Đà Nẵng, tháng 05/2014

Trang 2

KHOA NGỮ VĂN -

VẺ ĐẸP NỮ TÍNH TRONG NGÔN NGỮ THƠ XUÂN QUỲNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH CỬ NHÂN VĂN HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

TS Bùi Trọng Ngoãn

Người thực hiện

NGUYỄN THỊ PHƯỢNG

Đà Nẵng, tháng 05/2014

Trang 3

Trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài, ngoài những nỗ lực không ngừng của bản thân, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ từ thầy cô, người thân và bạn

bè Tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành đến TS Bùi Trọng Ngoãn, người trực tiếp hướng dẫn và hỗ trợ tôi hoàn thành khóa luận Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các thầy cô khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng cũng như cán bộ của thư viện nhà trường đã tạo mọi điều kiện để giúp đỡ tôi Cuối cùng, tôi xin được cảm ơn gia đình, bạn bè, những người luôn bên cạnh, động viên và giúp đỡ để tôi hoàn thành tốt nhất công trình nghiên cứu này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2014 Tác giả khóa luận

Nguyễn Thị Phượng

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; các kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất

kì công trình nào khác Nếu có điều gì sai sót, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Đà Nẵng, tháng 5 năm 2014

Tác giả khóa luận

Nguyễn Thị Phượng

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu đề tài 7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của đề tài 7

7 Bố cục 8

NỘI DUNG 9

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 9

1.1 Về “văn học nữ tính” và “văn học nữ quyền” 9

1.2 Khái niệm nữ tính trong văn học và nữ tính trong ngôn ngữ 13

1.2.1 Nữ tính trong văn học 13

1.2.2 Nữ tính trong ngôn ngữ 15

1.3 Thơ Xuân Quỳnh và ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh 20

Chương 2 KHẢO SÁT CÁC PHƯƠNG TIỆN NGÔN NGỮ LÀ BIỂU HIỆN TÍNH NỮ TRONG THƠ XUÂN QUỲNH 24

2.1 Các phương tiện từ ngữ 24

2.1.1 Những lớp từ biểu thị tâm lí - tình cảm 24

2.1.2 Các đơn vị ngôn ngữ giàu sắc thái biểu cảm 25

2.2 Các phương tiện ngữ pháp 28

2.2.1 Ít dùng câu có tính suy lí 28

2.2.2 Nghiêng về những kiểu câu giàu tính tình thái 31

2.2.2.1 Câu đặc biệt 31

2.2.2.2 Câu danh là danh 33

2.2.2.3 Câu hỏi tu từ 35

Trang 6

2.3.1 Dùng hình thức nói gián tiếp 40

2.3.2 Các phép tu từ liên tưởng 43

2.3.2.1 So sánh tu từ 43

2.3.2.2 Ẩn dụ tu từ 45

Chương 3 VAI TRÒ CỦA CÁC YẾU TỐ NGÔN NGỮ MANG SẮC THÁI NỮ TÍNH TRONG THƠ XUÂN 49

3.1 Hệ thống ngôn ngữ tương thích, phù hợp với hệ thống đề tài đời tư, tâm tình 49

3.2 Yếu tố ngôn ngữ giàu nữ tính trong thơ Xuân Quỳnh làm nên giọng điệu riêng cho thơ Xuân Quỳnh 53

3.3 Vai trò của các yếu tố ngôn ngữ nữ tính góp phần xây dựng một phong cách nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh 56

KẾT LUẬN 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Có thể nói so với các thể loại khác thì thơ là thể loại có nhiều ưu điểm để người đọc dễ nhớ, dễ cảm Bởi với thơ cảm xúc chân thành luôn là cốt lõi, mà sự thật còn con đường nào ngắn hơn bằng sự chân thành để trái tim hòa điệu với trái tim Những vần thơ có thể không vần, không điệu nhưng xuất phát từ một trái tim chân thành tha thiết yêu thương cũng đủ sức lay động lòng người Và thế giới thơ Xuân Quỳnh là một trường hợp điển hình như vậy

Việc đọc thơ Xuân Quỳnh rồi cảm thơ Xuân Quỳnh, yêu thích, ca ngợi thơ Xuân Quỳnh…hầu như thế hệ nào cũng có Những lời lẽ đẹp nhất, hay nhất cũng

đã được bao lớp người đọc ưu ái dành tặng cho thơ Xuân Quỳnh Nên việc chúng tôi lật trở lại những trang thơ của bà dễ bị cho là thừa và lặp nhưng thiết nghĩ: một nhà thơ tài hoa, một hồn thơ đa mang như Xuân Quỳnh thì bao nhiêu

là đủ? Đồng nghĩa với việc khai phá thơ bà là cả một chặng đường dài không điểm cuối

Xuất phát từ suy nghĩ đó, chúng tôi tìm hiểu đến tận cùng cái chúng tôi được biết: Từ Hồ Xuân Hương có lẽ đến Xuân Quỳnh chúng ta mới mới lại bắt gặp một tâm hồn nữ sĩ mà tài năng và sự đa dạng của hồn thơ được thể hiện ở một tầm cỡ đáng kể như vậy Vẻ đẹp trong thơ Xuân Quỳnh được tạo ra một cách tự nhiên bởi chất thiên tính nữ dồi dào xuất phát từ chính thiên chức làm vợ làm mẹ của nhà thơ Cuộc sống đời thực với những mối lo toan, khó khăn và sự

đỗ vỡ hạnh phúc gia đình phần nào lại mang đến cho thơ bà chiều sâu chiêm nghiệm, chất thâm thúy của một tâm hồn phụ nữ từng trải Cái chất nữ tính ấy,

nữ sĩ không chủ ý giấu giếm hay phủ nhận mà ngược lại trực tiếp bộc lộ qua ngôn ngữ; không trau chuốt bóng bẩy mà đơn giản như vốn tự nhiên nó đã thế Nói như Nguyễn Thị Bích Ngọc: “Thơ Xuân Quỳnh tự nhiên như đã gọi là phụ

nữ thì phải sinh con đẻ cái vậy”

Trang 8

Trong cuộc sống đôi khi cái gì gần gũi quá, quen thuộc quá lại khiến người

ta khó nhận ra Với thơ xuân Quỳnh cũng vậy, từng câu chữ, từng cách diễn đạt trong thơ Xuân Quỳnh tự bản thân nó cũng đã mang đậm dấu ấn của một người đàn bà muôn thuở nhưng người đọc phải thật tinh tế lắm mới nhận ra được Và

sẽ thật thiếu sót nếu đến với thơ Xuân Quỳnh mà không chạm đến vẻ đẹp nữ tính trong ngôn ngữ thơ bà

Hơn nữa, tính nữ và ngôn ngữ mang tính nữ là đề tài không hề mới nhưng hầu như chưa được nghiên cứu và xác lập thành một khái niệm hay một cách nhìn hoàn chỉnh Trong văn chương Việt Nam có không ít tác giả nữ với tiếng nói về nữ tính nữ quyền và có những tác giả đại diện cho các thời đại như Hồ Xuân Hương, Anh Thơ, Ngân Giáng, Xuân Quỳnh…nhưng nghiên cứu về biểu hiện ngôn ngữ của tính nữ trong thơ họ hầu như chưa được quan tâm nhiều

Là một sinh viên chuyên ngành nghiên cứu văn học, việc tìm hiểu một đối tượng mang tính khoa học bao giờ cũng cần thiết trên cả hai phương diện tri thức

(Sóng)

Hay:

(Thuyền và biển)

Trang 9

Nhắc đến để rồi tiếc thương cho một số phận “tài hoa bạc mệnh” phải sớm

ra đi khi tuổi xuân, sức trẻ vẫn đang căng trào trong huyết quản Xuân Quỳnh ra

đi đột ngột quá, để lại một khoảng trống vô hình, một niềm tiếc thương vô hạn nơi bạn bè, người thân và cả những người yêu thích thơ bà Ngay lập tức đã có không biết bao nhiêu bài viết, bài thơ tìm đến cuộc đời, thơ Xuân Quỳnh với cả một tấm lòng trân trọng sâu sắc ghi nhận những đóng góp giá trị của Xuân Quỳnh cho nền thi ca nước nhà Ngàn Phương có những lời thơ viết về Xuân Quỳnh đầy tình cảm:

“Sóng” dâng nỗi nhớ mỏi mòn/ Cho “thuyền và biển” mãi còn trẻ trung Câu thơ hát đến kiệt cùng/ Để con tim phút nổ bùng thương yêu…

(Xuân Quỳnh)

Hay Nguyễn Vũ Tiềm có bài:

(Hoa tự hát)

Hiếm có nhà thơ nào lại được đồng nghiệp làm thơ nói về mình nhiều như

Xuân Quỳnh Đã vậy, tên tuổi Xuân Quỳnh còn được lồng ghép với những sáng tác gắn liền với tên tuổi bà như “Sóng”, “Thuyền và biển”, “Tự hát”…bằng một

sự kết nối vô hình mà đầy thú vị

Cuộc đời riêng lắm thăng trầm nhưng ở tâm hồn người phụ nữ đó, trên những vần thơ luôn lạc quan, chứa chan nhựa sống với khát khao vươn lên Vì vượt lên trên tất cả, thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng chân thành của một trái tim phụ nữ đa mang Điều đó được Phạm Tiến Duật thể hiện qua một nhận xét trong

bài viết “Chia tay với Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh” trong Lưu Quang Vũ và

Xuân Quỳnh gửi lại: “Tác phẩm của Quỳnh trẻ trung từ trong tình cảm, từ sự

Trang 10

sống luôn tái sinh trong mỗi từ ngữ, trong khát vọng tốt đẹp luôn cháy bỏng trên mỗi trang viết” [25, tr.51]

Thơ và đời Xuân Quỳnh là một Thật vậy, Xuân Quỳnh làm thơ đâu phải

chủ ý là làm thơ mà “thơ Xuân Quỳnh tự nhiên như đã gọi là phụ nữ thì phải

sinh con đẻ cái vậy” Đọc thơ Xuân Quỳnh ta bắt gặp rất nhiều tâm trạng, có khi

bắt đầu từ một xúc động hoặc nhẹ nhàng, kín đáo hoặc da diết, sôi nổi…thế là ở

bà đã có một tứ thơ Xuân Quỳnh sống hồn nhiên, sống hết mình với mỗi bài thơ nên có thể nói cách khác: Thơ là cuộc đời của bà được phản chiếu lên trang viết

Đã có một số bài nghiên cứu đề cập đến phần nữ tính thiêng liêng trong thơ Xuân Quỳnh:

PGS.TS Lưu Khánh Thơ trong bài “Xuân Quỳnh- cuộc đời gửi lại trong

thơ” in trong tập Không bao giờ là cuối đã có nhân xét: “Dù đi vào những vấn đề

lớn của đấtt nước hay trở về với những tình cảm riêng tư, thơ Xuân Quỳnh bao giờ cũng là tiếng nói rất riêng của một tâm hồn phụ nữ thông minh, sắc sảo, đầy

nữ tính” [32, tr.267 ] Xuân Quỳnh làm thơ bằng tất cảm xúc chân thật của một

tâm hồn phụ nữ gắn liền với đời sống hằng ngày của bà, với những tâm trạng thật của bà trong mỗi bước vui buồn của cuộc đời

Và không mảnh đất màu mỡ nào thể hiện rõ cái bản chất tính nữ thiêng

liêng của nhà thơ hơn “tình yêu”: “Với chủ đề tình yêu, những đặc điểm của một

tâm hồn phụ nữ ở Xuân Quỳnh được bộc lộ tương đối rõ Dù có trải qua nhiều gian truân thử thách, nhiều đắng cay ngọt bùi, thì tận cùng vẫn là tấm lòng yêu thương tha thiết” [32, tr.270] Tác giả khai thác tính nữ trong thơ Xuân Quỳnh

qua mảng đề tài tình yêu, soi vào để thấy một trái tim phụ nữ thổn thức yêu đương

Trong bài “Cảm hứng nữ quyền trong thơ Xuân Quỳnh”, trên Tạp chí Tia

Sáng (www.Tiasang.com.vn), Khánh Phương đã nhận xét: “Không vờ như không biết tới vị thế giới nữ của mình để hướng tới một cảm quan chung về con người, một tinh thần nhân loại quan liêu, Xuân Quỳnh thông qua những vui

Trang 11

buồn day dứt của một người phụ nữ Việt Nam để khắc họa sâu hơn những giá trị

mà chị cho là tinh túy của con người” [26] Trên những trang thơ tình, Xuân

Quỳnh thể hiện rõ cái vui buồn, day dứt trong tâm hồn phụ nữ của mình Không đơn thuần chỉ là giải bày cảm xúc yêu đương mà còn là những suy tư, day dứt, kiếm tìm những giá trị của bản thân nói riêng và của thân phận phụ nữ nói

chung Tuy nhiên bài viết thiên về so sánh những “ưu việt của người nam, như

một thế mạnh sẵn có do được ưu ái, cũng như vị trí khiêm nhường của giới nữ,

là do đức hy sinh, lòng độ lượng mà thực ra là của kẻ mạnh” [26]

Có thể nói mái ấm gia đình nhỏ luôn là cái đích hướng đến của mọi người phụ nữ dù họ là ai Nắm bắt được tâm lí đó, Chu Văn Sơn đã tiếp cận thế giới nghệ thuật thơ Xuân Quỳnh từ khái niệm “chất thơ từ tổ ấm” qua bài “Cánh

chuồn trong giông bão” (Tạp chí văn học, số 1-1994) Hình ảnh cánh chuồn

mỏng manh bé bỏng mang tin bão xa cho tác giả cảm nhận về thân phận người phụ nữ bơ vơ, mệt nhoài giữa bão giông cuộc đời để rồi mơ về một mái ấm bình yên cho tâm hồn, được chở che dưới mái ấm đó Hình ảnh mái che cứ thấp thoáng ẩn hiện trong thơ Xuân Quỳnh khi là một vòm cây, mái phố, mái nhà, căn

phòng, căn hầm…hay trừu tượng mà to lớn hơn là bầu trời xanh kia - “đó là hiện

thân khác nhau của một hình hài chung nhất, thiêng liêng nhất: Tổ ấm” [28]

Chính hồn thơ đầy nữ tính đã đưa Xuân Quỳnh đến với chất thơ của tổ ấm- nơi

bà được làm vợ, làm mẹ của những đứa con

Trong bài “Xuân Quỳnh - Tiếng nói của tình yêu và tình mẫu tử”, Thụy Sao

có nhận xét: “Thơ Xuân Quỳnh là tiếng nói thành thực của một tâm hồn phụ nữ

với cách cảm, cách nghĩ đặc trưng của giới mình”, là “tiếng nói tâm tình về những ngọt bùi đắng cay ở đời, tiếng nói của tình yêu và tình mẫu tử” [29] Ám

ảnh bởi tuổi thơ cơ cực, lời ru của bà ru cháu, của mẹ ru con là những kỉ niệm theo suốt cuộc đời Xuân Quỳnh Để rồi những lời ru theo vào thơ bà, ấp ủ tình thương yêu bà dành cho con Tình mẫu tử- cái thiên tính nữ cao cả ấy khiến bà

Trang 12

có thể đi thấu tận đáy tâm tư con trẻ, hòa trong thế giới trẻ thơ để có những vần thơ hồn nhiên về thiếu nhi

Một Xuân Quỳnh đầy nữ tính trong thơ còn được khai thác ở những hình tượng thơ tiêu biểu “Sóng” - ở đây việc xây dựng hình tượng con sóng ẩn dụ vừa hóa thân vừa hòa nhập với cái tôi trữ tình Và sóng góp phần nói lên tình cảm, tình yêu của một tâm hồn thơ nữ Mỗi trạng thái tâm hồn cụ thể của người phụ nữ đang yêu đều có thể tìm thấy sự tương đồng của nó với một khía cạnh, một đặc tính nào đó của sóng Trần Đăng Xuyền trong bài “Sóng” in trong tập

Đến với thơ Xuân Quỳnh nhận xét: “Đến Xuân Quỳnh thơ Việt Nam hiện đại mới

có được tiếng nói bày tỏ trực tiếp những khát khao tình yêu vừa hồn nhiên, chân thật, vừa mãnh liệt, sôi nổi của một trái tim phụ nữ” [6, tr.473]

Qua việc tổng quan những công trình nghiên cứu có tầm vóc về đời và thơ

Xuân Quỳnh như Xuân Quỳnh- cuộc đời và tác phẩm (Lưu khánh Thơ- Đông Mai, NXB Phụ nữ, 2003), Thơ Xuân Quỳnh và những lời bình (Ngân Hà, NXB Văn hóa tuổi trẻ, 2003) hay Đến với thơ Xuân Quỳnh (Ngô Viết Dinh, NXB

Thanh niên) đến những bài viết phê bình về một tập thơ, một bài thơ, một chủ đề tiêu biểu in trên các báo, tạp chí….Nhận thấy yếu tố nữ tính trong thơ Xuân Quỳnh đã được nhắc đến ít nhiều Có người nhận thấy tính nữ trong hồn thơ, trong điệu thơ, lại có người thấy trong hình tượng thơ…Song hầu như các công trình, bài viết trên chỉ đề cập đến yếu tố nữ tính trong thế giới thơ Xuân Quỳnh

từ vài khía cạnh và nét biểu hiện riêng lẻ

Cũng có công trình, bài viết đề cập đến ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh nhưng hầu như chưa có công trình nào đề cập đến tính nữ trong ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh một cách sâu sắc, toàn diện Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những ý kiến của các tác giả đi trước, đề tài chúng tôi góp phần làm rõ hơn vẻ đẹp thiên tính

nữ độc đáo trong ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh

Trang 13

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Với đề tài này chúng tôi hướng đến xác định các biểu hiện của tính nữ trên phương diện ngôn ngữ trong thơ Xuân Quỳnh Giúp người đọc có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về vấn đề

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là những yếu tố ngôn ngữ, phương tiện ngôn ngữ gắn liền với biểu hiện nữ tính trong thơ Xuân Quỳnh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong quá trình ngiên cứu đề tài này chúng tôi tập trung khảo sát các bài

thơ của Xuân Quỳnh được tuyển chọn trong tuyển thơ Không bao giờ là cuối của Xuân Quỳnh, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội, 2011

5 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:

- Phương pháp thống kê, phân loại: nhằm tập hợp các bài viết có liên quan đến đề tài chúng tôi đang nghiên cứu, từ đó phân loại để biết được vấn đề đã được gải quyết đến đâu, đã có ai nghiên cứu để tránh lặp lại và cũng là để học hỏi

- Phương pháp phân tích: phân tích các yếu tố ngôn ngữ mang tính nữ

- Phương pháp so sánh, đối chiếu: nhằm thấy được cái hay, cái đặc biệt của tính nữ trong ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh

- Phương pháp liên hội so sánh

6 Đóng góp của đề tài

Với đề tài này, chúng tôi mong muốn sẽ tiếp cận và xây dựng một quan niệm về biểu hiện của tính nữ trong ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh Đồng thời khảo sát, tập hợp được những yếu tố ngôn ngữ mang tính nữ trong thơ Xuân Quỳnh

Trang 15

NỘI DUNG Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Về “văn học nữ tính” và “văn học nữ quyền”

Hồ Khánh Vân trong bài đăng “Bước đầu xác lập một số khái niệm trong phê bình văn học nữ quyền” (http://www.khoavanhoc.ngonngu.edu.vn), đã đưa

ra một số khái niệm nhận diện cũng như phân biệt nữ tính với nữ quyền và những quan niệm khác nhau của các giáo sư chuyên ngành về vấn đề nữ tính, nữ

quyền với văn học:

“Khái niệm nữ quyền (Feminism, women’s right) gắn liền với hoạt động

chính trị, xã hội, sinh ra từ ý thức về sự bình đẳng trên phương diện giới Nói một cách khái quát, khái niệm này chỉ quyền lợi về chính trị và xã hội của người phụ nữ Thông qua những hoạt động đấu tranh chính trị và xã hội, giới nữ đòi lại những lợi ích chính đáng của mình để đạt đến sự bình đẳng với nam giới”

[36]

“Khái niệm nữ tính (Feminity, Womanhood) được sử dụng vừa như một danh từ, vừa như một tính từ (Feminine) Nếu từ phụ nữ thường được dùng để chỉ đối tượng, chỉ con người mang giống cái, thì từ nữ tính được dùng để chỉ tính chất, bản tính, tức là đi vào vấn đề bản thể Nữ tính đi vào những tính chất đặc trưng của người phụ nữ bộc lộ trong hành vi ứng xử và những mối quan hệ mang tính chuẩn mực khuôn mẫu của xã hội và văn hóa” [36]

Theo Hồ Khánh Vân: “Wang Ning- giáo sư chuyên ngành tiếng Anh và Văn

học so sánh, đồng thời là Giám đốc viện văn học so sánh và Nghiên cứu văn học thuộc Đại học Ngôn ngữ và văn hóa Bắc Kinh đã đề ra hai khái niệm để phân định cấp độ ý thức nữ quyền trong sáng tác nữ giới:

- Văn học nữ ( Women’s literature) là văn học do phụ nữ sáng tác, không

quan tâm có mang cảm thức nữ quyền hay không

Trang 16

- Văn học nữ quyền ( Female literature) bao gồm những sáng tác của phụ

nữ có ý thức nữ quyền mạnh mẽ

Tương tự như vậy, Elaine Showalter cũng phân chia thành các khái niệm văn học nữ tính ( Feminine phase), văn học nữ quyền ( Feminist phase) và văn học nữ ( Female phase), dựa trên ý thức về nữ giới theo tiến trình lịch sử phát triển của văn hoc nữ

- Giai đoạn văn học nữ tính: giai đoạn các tác giả nữ phỏng mẫu văn học

truyền thống của nền sáng tác nam quyền từ năm 1840 đến năm 1880

- Giai đoạn văn học nữ quyền: giai đoạn các nhà văn nữ đứng lên đấu

tranh bênh vực cho các thành phần thiểu số và bộc lộ tiếng nói kháng cự lại những giá trị và truyền thống văn chương nam giới từ năm 1880 đến năm 1920

- Giai đoạn văn học nữ: giai đoạn phụ nữ khẳng định bản thể đặc trưng

của mình, cưỡng lại sự phụ thuộc vào nam giới, đi tìm truyền thống văn học nữ

và hình thành nên một nền văn học nữ tự trị Đây là thời kì văn học nữ cắt đuôi các hậu tố “tính” trong nữ tính và “quyền” trong nữ quyền để người phụ nữ hiện hữu trong vai trò chủ thể với nguyên thể nội tại của chính họ Thời kì này kéo dài từ năm 1920 đến nay” [36]

Ở Việt Nam trong buổi tọa đàm “Văn học nữ quyền - chuyện cũ nói lại” tổ chức tại Viện văn học Việt Nam, Hà Nội, sáng 9/9/2010, giới học thuật đã đặt ra nhiều vấn đề xoay quanh văn học nữ quyền và sáng tác của các nhà văn nữ Theo

Hà Linh trong bài đăng “Tọa đàm văn học nữ quyền- chuyện cũ nói lại”: “Trong

buổi tọa đàm, thạc sĩ Nguyễn Giáng Hương phân biệt khá rõ sự khác nhau giữa văn học nữ và văn học nữ quyền Theo chị: Văn học nữ quyền xuất hiện như một dòng văn học phản kháng, văn học dấn thân Dòng văn học này chỉ được viết bởi phụ nữ…văn học nữ quyền không tồn tại tách biệt với văn học nữ, nó nằm bên trong mảng văn học nữ với một ý đồ đấu tranh bình đẳng giới rõ rệt Văn học nữ quyền cùng với phong trào bình đẳng giới là điều kiện để văn học nữ nói chung phát triển cả về quy mô lẫn chất lượng

Trang 17

Trong khi đó, ở một nghiên cứu khác về văn học Trung Quốc đương đại, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Nguyên lại không muốn sử dụng khái niệm “văn học nữ quyền”, mà dùng thuật ngữ “văn học nữ tính” Theo ông, nữ quyền gắn liền với những tư tưởng văn học liên quan đến các vấn đề chính trị xã hội Trong khi đó các nhà văn nữ trẻ Trung Quốc lại “li khai” với đời sống chính trị” [20]

Với phạm vi và những vấn đề được đưa ra của buổi tọa đàm phần nào cho chúng ta thấy vẫn chưa có tiếng nói chung thống nhất về vấn đề “văn học nữ tính”, “văn học nữ quyền” ở nước ta Nhưng cũng không thể phủ nhận sự tồn tại của bộ phận văn học này trong nền văn học nước nhà

Với chúng tôi, nhận thấy rằng mỗi tác giả, mỗi nhà nghiên cứu có cách tiếp cận vấn đề ở những khía cạnh khác nhau: dựa vào quá trình hình thành và phát triển theo tuyến thời gian, khảo sát mối quan hệ giữa phụ nữ và tác tạo văn chương hay giữa giới tính và thể loại…Và chúng tôi, chúng tôi đồng ý với quan

niệm của Elaine Showalter rằng: “Văn học nữ tính” hay “văn học nữ quyền”

thực ra là cách gọi làm bật lên đặc điểm phát triển của văn học nữ qua từng giai đoạn

PGS TS Nguyễn Đăng Điệp trong bài “Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ

quyền trong văn học Việt Nam đương đại” đã có cái nhìn khái quát cả một chặng

đường dài phát triển của ý thức phái tính, ý thức nữ quyền trong văn học thế giới

và Việt Nam: “Năm 1949, nữ văn sĩ Pháp Simon de Beauvoir cho xuất bản Giới

tính thứ hai(The second sex) Đây là công trình có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa nữ quyền trong đời sống xã hội hiện đại nói chung và trong văn học nói riêng Khoảng mười năm sau, cùng với những thay đổi lớn lao trong đời sống tư tưởng của nhân loại, Phê bình nữ quyền, với tư cách là một trường phái phê bình chính trị, xã hội đã phát triển hết sức mạnh mẽ Thậm chí trong giai đoạn hiện nay, phê bình nữ quyền mở rộng, chia thành nhiều nhánh và mang nhiều sắc thái hết sức khác nhau Gắn liền với những đổi thay to lớn đó, âm hưởng nữ quyền đã ngấm sâu vào văn học, tạo

Trang 18

thành một tiếng nói, một bản sắc độc đáo trong văn học hiện đại và hậu hiện đại” [8]

Theo PGS TS Nguyễn Đăng Điệp: Ở Việt Nam có thể nói tôn ti trật tự và thái độ trọng nam khinh nữ từ chỗ là một vấn đề lớn trong xã hội đã chuyển dịch vào lãnh địa sáng tạo và thưởng thức văn học cũng như nhiều hoạt động tinh thần khác từ rất sớm Về phía sáng tạo văn học, công việc này cũng được coi là đặc quyền của đàn ông Tuy nhiên trong vòng cương tỏa đó đã xuất hiện những tài danh văn nữ như Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan và đặc biệt là Hồ Xuân Hương Mặc dù giàu tinh thần nỗi loạn nhưng những khúc tự tình của nữ sĩ

họ Hồ vẫn chủ yếu là tiếng lòng than thân trách phận Đó là lí do khiến bà phải

ao ước:

Ví đây đổi phận làm trai được

Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu

(Đề đền Sầm Nghi Đống) Song ước mơ kia một mặt cho thấy sự đổi phận ấy dường như là không thể,

là bất khả trong thực tế, mặt khác, gián tiếp xác nhận vị thế ưu thắng của đàn ông Bước sang xã hội hiện đại, khi dân trí được nâng cao, phụ nữ bắt đầu có tiếng nói trong xã hội thì văn học sau 1986 cũng chứng kiến sự phát triển mạnh

mẽ của văn học nữ tính đến mức có người cho rằng đây là thời kì “âm thịnh dương suy” với sự góp mặt của các cây bút có thực tài như Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ…và gần đây là Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Nguyễn Thị Ngọc Tư, Y Ban…những cây bút này đã đem đến cho văn đàn những tiếng nói mới mẻ, buộc các nhà văn, các nhà phê bình nam giới phải thừa nhận tài năng của họ

“Sự hình thành của văn học nữ tính và sự xuất hiện mạnh mẽ của âm hưởng

nữ quyền hình thành giai đoạn văn học nữ quyền trong văn học nữ Việt Nam Thậm chí, có khi nhà văn còn mạnh dạn soi rọi tinh thần dân chủ ấy vào lịch sử

để xây dựng một cái nhìn mới Nhiều nhân vật nữ trong “Giàn thiêu” của Võ Thị

Trang 19

Hảo, hay người đàn bà trong “I am đàn bà” của Y Ban là những minh chứng sống đông Tuy nhiên, việc đề cao phụ nữ và nỗ lực nhấn mạnh bản ngã của giới

nữ không phải không có lúc rơi vào quá đà Nó rất dễ dẫn tới hội chứng ghét nam [8]

Theo PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp, khi nói về các nhà văn Trung Quốc đương đại có người đã đưa ra một nhận định rất đáng để các nhà văn chúng ta

suy ngẫm: “Viết văn có thể viết theo kiểu nghiêm túc, sâu sắc; cũng có thể dùng

ngòi bút lãng mạn, u nhã nhưng không nên thô lỗ, bẩn thỉu Đồng thời cũng cần thấy rằng, một số nhà văn nữ đã đi vào ngõ cụt khác: công kích nam tính một cách quá đáng, hoặc một mình thổi phồng ưu thế tính biệt của nữ giới khiến cho con đường của những người nữ viết văn ngày càng thu hẹp Rõ ràng, để có thể tạo nên những tác phẩm văn học thực sự có giá trị, chỉ có cảm xúc và sự thôi thúc của nội tâm thì chưa đủ, nó cần đến những suy tư sâu sắc và sự tỉnh táo mang tính triết học Đó cũng là lời cảnh tỉnh chung cho các nhà văn nữ Việt Nam nói riêng” [8]

1.2 Khái niệm nữ tính trong văn học và nữ tính trong ngôn ngữ

1.2.1 Nữ tính trong văn học

Tính nữ hay còn gọi là nữ tính có thể hiểu đơn giản là một nét phẩm chất riêng, đặc biệt, cốt lõi của người phụ nữ Nó là vẻ đẹp tự nhiên do tạo hóa ban tặng cho người phụ nữ, nó như một thứ sở hữu độc quyền của giới nữ đồng thời

là nét độc đáo làm nên giới nữ phân biệt với giới nam

Trong bài “Văn học với nữ tánh”, (http://www.lainguyenan.fre.fr), Phan Khôi đã đưa ra những cái nhìn khách quan về mối quan hệ giữa nữ tính với văn học xưa và nay, về những ưu thế của nữ tính so với nam tính trong văn chương Theo ông: Với những đặc trưng của nữ tính như trầm tĩnh, nhẫn nại và giàu tình cảm thiết nghĩ phụ nữ hẳn thích hợp với nghề văn và dễ đạt được thành công ở mản này hơn đàn ông Nhưng thực tế chứng minh ngược lại, xưa nay văn học ở các nước vẫn là phần của đàn ông, đàn ông đứng vào trung tâm của văn học Cái

Trang 20

nghịch lí ấy vẫn chưa phải là tất cả, văn chương là chuyện của đàn ông nhưng lại toàn nói chuyện “nhi nữ thường tình” Càng làm những án văn hay bao nhiêu thì lại càng nói tinh về chuyện đàn bà chừng nấy Có lắm bậc văn hào đời xưa lại mượn câu chuyện đàn bà để tỏ bày tâm sự của mình Nhiều nhà thi nhân đại tài cũng mượn các chi tiết là thân phận của người phụ nữ Như vậy mặc dù không là trung tâm của văn học nhưng rõ ràng nữ tính đã đi vào văn chương tự thuở xa xưa nào

Cụ thể, theo ông: “Nói về văn học nước Tàu thì “Kinh Thi” là một bộ sách

rất xa xưa, làm nguồn của văn học nước ấy, mà một sách quốc phong đầu, phần nhiều lại nói về chuyện đàn bà con gái Lật ngay mấy trang đầu, như “Cát đàm”, “Quyển nhĩ”, bài thì nói về vợ lớn vợ bé, bài thì nói về vợ trông chồng Ngay bài thứ nhất là bài “Quan thơ”, ba lần lặp đi lặp lại bốn chữ “yểu điệu thục nữ”

Khuất Nguyên là một bậc trung thần, cũng là một tay văn hào bên Tàu đời xưa Sở từ là sách của ông ấy truyền lại và có tiếng trong giới nhưng ở trỏng cũng chỉ xoay quanh chuyện “mỹ nhân” với “phương thảo” Có người nói rằng Khuất Nguyên muốn mượn chuyện người đàn bà đẹp bị chồng bỏ ví như chuyện trung thần mắc nạn của mình Thiết nghĩ tại cớ làm sao mà ông không nói thẳng cái chuyện của mình, việc gì phải mượn chuyện của người đàn bà đẹp để nói ? Đến như Đỗ phủ, Lí Bạch là những tay thi thánh trong thi đàn Trung Quốc cũng chẳng có mấy bài là không nói đến thứ tình nhi nữ Như bài “Giai nhân” của Đỗ Phủ, thuật chuyện một người đàn bà con nhà tử tế gặp hồi loạn và bị chồng bỏ, ở một mình trong nơi hiu quạnh để giữ lấy trinh tiết Có người lí giải

đó cũng là ông Đỗ Phủ mượn chuyện người đàn bà để nói cái tình cảnh của một bầy tôi bị vua ruồng rẫy Chắc Đỗ Phủ cũng như Khuất Nguyên hay là Nguyễn

Du có chung ý khi nói đến chuyện đàn bà như là một sự kí thác.” [15]

Không chỉ văn chương nước ngoài mà với văn chương nước ta, không ai có

thể phủ nhận Truyện Kiều là một án văn chương kiệt tác đem vinh quang về cho

Trang 21

văn chương nước nhà Thế nhưng câu chuyện vẫn chỉ là xoay quanh cuộc đời lưu lạc của một bậc tiểu thư Vương gia với những ân oán tình thù của kiếp lang

bạc Hay như Cung oán ngâm khúc cũng vẫn là tâm sự của hạng nữ lưu…Đến Nguyễn Minh Châu- một cây bút hiện thực sâu sắc với Chiếc thuyền ngoài xa

cũng là chuyện gia đình của một người đàn bà làng chài và những xung đột bên trong tâm hồn người đàn bà ấy…

Nữ tính đi vào trong văn chương là chuỗi những chuyện đàn bà, tâm sự đàn bà, thân phận đàn bà hay thứ tình nhi nữ…tạo thành một hệ thống nhân vật nữ mang đặc trưng giới mình Những đặc điểm, đặc trưng riêng của giới

nữ sẽ được thể hiện tinh tế qua từng câu chuyện của hệ thống nhân vật nữ ấy 1.2.2 Nữ tính trong ngôn ngữ

Là công cụ giao tiếp quan trọng bậc nhất của con người, ngôn ngữ không chỉ có chức năng phản ánh thực tại xã hội mà còn có chức năng củng cố và duy trì tồn tại xã hội Với cách nhìn này từ góc độ giới có thể nhận thấy, ngôn ngữ không chỉ phản ánh quan niệm, cách nhìn nhận về giới của con người mà còn có thể tác động, góp phần vào thay đổi nhận thức của con người về giới Như vậy ngôn ngữ cũng là một đơn vị mang đặc điểm giới rất tiêu biểu (đặc điểm giới nữ

ở đây là nữ tính - đặc điểm riêng của nữ giới).[ 16]

Theo PGS TS Nguyễn Văn Khang trong bài “Sự kì thị và sự chống kì thị

đối với nữ giới trong sử dụng ngôn ngữ” thì: “Dựa trên chức năng phản ánh

thực tại xã hội mà cụ thể ở đây là cách nhìn nhận về giới của con người thì ngôn ngữ được xem là “tấm gương phản chiếu xã hội” về giới Chẳng hạn bên cạnh những điểm chung mang tính khái quát của ngôn ngữ cho cả hai giới thì người

ta vẫn có thể nhận ra một “thứ” ngôn ngữ mà chỉ giới này dùng hoặc chỉ để nói

về giới này mà không dùng hoặc để nói về giới kia và ngược lại Ví dụ như những từ “yểu điệu”, “thướt tha” chỉ dùng riêng nói về vẻ đẹp của phái nữ, nếu được dùng cho phái nam thì chắc hẳn sẽ kèm theo sắc thái tu từ tiêu cực

Trang 22

Bên cạnh hệ thống từ mang đặc trưng giới thì thói quen trong cách nói năng, dùng từ cũng góp phần tạo nên phong cách nữ tính Ví dụ, thực tế quan sát cho thấy, các từ có lẽ, có thể, khoảng, độ, tùy, liệu, chắc là…có tần số xuất hiện trong các phát ngôn của nữ giới cao hơn nam giới Từ đây có thể đưa ra nhận xét như chiến lược giao tiếp của nữ giới là đảm bảo tính an toàn với tính chất lời nói vòng vo, bỏ ngỏ, rào đón…trong khi đó ở nam giới thì ngược lại Chẳng hạng với câu hỏi: “Bao giờ tới nơi?” Nam giới sẽ thường trả lời rất cụ thể “4 giờ”; còn phụ nữ sẽ là “độ/ khoảng 4 giờ” ”[16]

Theo ông:“Một số nghiên cứu còn đi đến kết luận xa hơn “ngôn ngữ của nữ

giới lịch sự hơn nam giới” và lí giải rằng thiên chức làm mẹ và các tác nhân khác như nghề nghiệp (thư kí, văn phòng, lễ tân…) cùng nhận thức về thân phận (vì thái độ “trọng nam khinh nữ” mà họ phải vươn lên khẳng định mình) đã làm cho họ có được thứ ngôn ngữ lịch sự hơn nam giới” [16] Chẳng hạn khi từ chối

một lời mời: “Đi ăn cơm với tôi không?”, nam giới sẽ thường trả lời “không”; còn nữ giới sẽ kèm theo thán từ “Ồ tiếc quá! tôi mới ăn xong” khiến người nghe lời từ chối cũng cảm thấy dễ chịu hơn

Nêu ra như vậy để thấy rằng ngôn ngữ tuy là của chung, không thuộc giới nào nhưng mỗi giới sử dụng ngôn ngữ theo cách riêng của mình và dần dần hình thành nên một phong cách ngôn ngữ riêng của giới mình Với nữ giới thói quen sử dụng ngôn ngữ xuất phát từ chính bản chất nữ tính thường trực nên nữ tính trong ngôn ngữ có thể hiểu là những thói quen sử dụng ngôn ngữ mang đặc thù giới nữ Đó có thể là việc sử dụng những từ thiên về

nữ giới, những cách nói biểu cảm, các thủ pháp, hình thức diễn đạt…mang đặc điểm tâm lí giới nữ

Đọc thơ Xuân Quỳnh chúng ta bắt gặp rất nhiều các phương tiện biểu hiện

nữ tính trong ngôn ngữ thơ Nữ tính trong ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh biểu hiện ở việc sử dụng nhiều từ ngữ tâm lí - tình cảm, các đơn vị giàu sắc thái biểu cảm,

Trang 23

các phương tiện ít có tính suy lí, các phương tiện giàu tính tình thái và cả trong các hình thức diễn đạt liên tưởng:

-Nhóm từ tâm lí - tình cảm:

Theo Nguyễn Ngọc Trâm trong Nhóm từ tâm lí - tình cảm tiếng Việt và

một số vấn đề từ vưng- ngữ nghĩa: “Từ tâm lí - tình cảm là những từ biểu thị tâm

lí, tình cảm của con người Chẳng hạn như: vui, buồn, giận, sợ, yêu, ghét, khinh, trọng, ngạc nhiên, hi vọng, tin tưởng nhóm từ này có số lượng khá lớn khoảng

300 từ tâm lí - tình cảm cơ bản” [33, tr.11]

Về mặt từ loại của từ tâm lí - tình cảm, kết luận được nhiều người chấp nhận nhất: “Hiện tượng hoạt động tâm lí - tình cảm được biểu thị trong tiếng Việt chủ yếu bằng từ loại động từ (một số ít mang đặc trưng tính từ, hay có đặc trưng vừa của động từ, vừa của tính từ) Điều này hợp lí và phù hợp với ý nghĩa của từ loại động từ: lớp từ có ý nghĩa khái quát về hoạt động, trạng thái Hiện tượng tâm lí - tình cảm chính là sự hoạt động của tình cảm, sự dao động của trạng thái nội tâm Theo đó từ tâm lí - tình cảm là những động từ có khả năng kết hợp với các phụ từ chỉ mức độ (rất, hơi, quá, lắm ) như tính từ (rất vui, ghét quá

Trang 25

Nhóm 19 Xúc động

Ví dụ: rung động, xao xuyến, xốn xang, bâng khuâng, rạo rực

Việc phân chia nhóm từ biểu thị tình cảm - tâm lí thành 19 nhóm là biểu hiện những trạng thái tâm lí - tình cảm cơ bản nhất Những nhóm vạch ra chỉ có thể có một ranh giới tương đối, và cũng chỉ có thể bao gồm phần lớn, chứ không thể bao gồm toàn bộ các từ [33, tr.67]

- Các đơn vị giàu sắc thái biểu cảm:

Theo TS Bùi Trọng Ngoãn, “sắc thái biểu cảm của đơn vị ngôn ngữ”: là nội dung thông tin bổ sung chỉ rõ thái độ đánh giá tình cảm đối với đối tượng được nhận thức và được nói đến trong đơn vị ngôn ngữ (từ, cụm từ, câu ).[23, tr.5]

- Câu có tính suy lí và câu ít tính suy lí:

Theo Ủy ban khoa học xã hội Việt Nam trong sách Ngữ pháp tiếng Việt,

câu đơn có thể chia thành hai kiểu chính: câu tả và câu luận.[34, tr.174]

+ Về mặt ý nghĩa: Câu tả là câu không có tính suy lí

Câu luận là câu có tính suy lí

+ Về mặt ngữ pháp: Câu không có động từ “là” là câu tả

Câu có động từ “ là” là câu luận

- Câu giàu tính tình thái:

Trong quá trình giao tiếp hằng ngày, người nói không đơn thuần thông báo điều gì đó, mà bằng cách này hay cách khác còn cho thấy anh ta nói để làm gì

Vì thế câu thường bao hàm nội dung thông báo là nội dung mệnh đề của câu và

Trang 26

tính tình thái là thái độ của người nói đối với nội dung thông báo trên Như vậy ngoài giá trị nội dung mà câu truyền đạt thì câu giàu tính tình thái còn mang giá trị biểu cảm sâu sắc, thể hiện tình cảm, thái độ, đánh giá, nhận xét cuả người nói đối với vấn đề được nói đến trong câu Các kiểu câu giàu tính tình thái: Câu đặc biệt, câu danh là danh, câu dưới bậc, câu hỏi tu từ

- Các hình thức diễn đạt giàu nữ tính: là cách nói, cách diễn đạt mang

phong cách nữ giới như hình thức nói gián tiếp, sử dụng các phép tu từ liên tưởng (so sánh, ẩn dụ, hoán dụ )

1.3 Thơ Xuân Quỳnh và ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh

Xuân Quỳnh là một cây bút tài năng hàng đầu nửa cuối thế kỉ XX Chủ đề thơ Xuân Quỳnh thường là những vấn đề nội tâm: kỉ niệm tuổi thơ, tình yêu, gia đình, hiện thực xã hội, sự kiện đời sống hiện diện như bối cảnh cho tâm trạng nhà thơ Thơ bà là thơ mang tâm trạng cá nhân Trong khi các nhà thơ cùng thời tìm kiếm tiếng nói chung với tâm trạng của xã hội, vui buồn của tác giả hòa trong vui buồn chung của công dân; thì tâm trạng thơ Xuân Quỳnh lại là tâm trạng nảy sinh từ đời sống của chính bà, hoàn cảnh của riêng bà Nếu xếp trong

chùm thơ chống Mỹ giai đoạn này với Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm), Bài thơ

về tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật), Khoảng trời hố bom (Lâm Thị Mỹ

Dạ) , Sóng của Xuân Quỳnh như một bài thơ lạc điệu Mọi người kể chuyện

chiến tranh hào hùng của dân tộc, Xuân Quỳnh lại lặng lẽ kể chuyện mối tình đơn phương nồng nàn, mãnh liệt:

Nhưng có thể nói như nhà phê bình văn học Phạm Xuân Thạch về sự “lạc điệu”

đó của Xuân Quỳnh: “Xuân Quỳnh là sự báo trước của những nhà thơ nữ đổi

Trang 27

mới Chị báo hiệu khuynh hướng đưa thơ về với cái đời thường, là tiếng nói của người phụ nữ đòi quyền yêu, quyền sống tại trần thế, ngay bây giờ trong những hạnh phúc thường nhật” Xuân Quỳnh không giấu giếm, không gò bó chạy theo

khuôn khổ thời đại, bà đã “tự hát” giản dị và thật thà những thổn thức sâu thẳm nơi trái tim phụ nữ khát khao đi tìm hạnh phúc, tự nguyện hiến dâng Xuân Quỳnh đã mở đường cho một thời đại mới của văn học nghệ thuật, rằng văn học

là cuộc sống và phải là cuộc sống

Viết rất nhiều và cảm động về đề tài tình yêu, Xuân Quỳnh được độc giả yêu mến tặng biệt danh là “Bà hoàng thơ tình” Thơ là nhật ký, là tình yêu, là sự tri ân… Xuân Quỳnh viết bằng tất cả cái sôi nổi, đắm say của trái tim; vì thế không khó để nhận ra phong cách thơ Xuân Quỳnh, bởi trong mỗi trang viết tồn tại một cái tôi trữ tình: trẻ trung mà chững chạc, mãnh liệt mà nữ tính mâu thuẫn mà thống nhất Thơ bà luôn gắn bó mật thiết với cuộc đời, mơ ước luôn trỗi dậy xanh tươi giữa hiện thực khắc nghiệt Giọng thơ đẹp, lạ, phóng khoáng, thường đi kèm với những suy tư và các hình ảnh lặp đi lặp lại Một số biểu tượng thường gặp trong thơ Xuân Quỳnh là sóng, thuyền, biển, mùa thu, hoa cúc, bàn tay, con đường… Các biểu tượng này thể hiện góc nhìn của nhà thơ về tình yêu, thời gian cũng như mối tương quan giữa bản thể và vũ trụ

Thời gian – không gian nghệ thuật trong thơ Xuân Quỳnh cũng rất đặc sắc

Có khi thời gian vô hạn (“Sóng”…), có khi thời gian chỉ xoáy vào một khoảnh khắc (“Mẹ và con”…), có khi thời gian đượm màu hoài niệm (“Có một thời như thế”…), có khi thời gian chỉ mang tính tượng trưng, giả định (“Nếu ngày mai

em không làm thơ nữa”…), thậm chí có khi thời gian không tồn tại (“Thời gian trắng”) Tương tự, không gian có khi rộng vô cùng hoặc mờ nhạt như sương khói, có khi lại cụ thể đến từng địa danh Ngoài những không gian thông thường, Xuân Quỳnh còn xây dựng không gian ba chiều của nội tâm: Chiều cao của khát khao, chiều dài của nỗi nhớ, chiều sâu của tình yêu

Trang 28

Về phương diện ngôn ngữ, Xuân Quỳnh ưu tiên sử dụng các từ đơn giản, gần gũi với ngôn ngữ đời thường nhưng biết cách đặt chúng vào vị trí phù hợp nhất Vì vậy mà ngôn từ trong thơ bà có tính biểu cảm cao Thỉnh thoảng, Xuân Quỳnh cô đọng lại mạch cảm xúc bằng vài từ, chẳng hạn:

Con sóng dưới lòng sâu/ Con sóng trên mặt đất

Ôi con sóng nhớ bờ/ Ngày đêm không ngủ được

(Sóng)

Từ “nhớ” liên thông tư tưởng toàn bài thơ, xuyên suốt mạch cảm xúc cho toàn bài miên man trong trạng thái tình cảm ấy Ngoài ra việc kế thừa hệ thống ngôn ngữ và giọng điệu ca dao, dân ca cũng đem lại cho ngôn ngữ thơ bà sự gần gũi, mềm mại đặc trưng Bên cạnh sử dụng từ ngữ dân dã và một số từ “đắt”, Xuân Quỳnh còn thổi vào thơ một chút hiện đại, khi bà dùng những từ mượn như “Nít và Kăng”, “siêu nhân”, “xà phòng”

Ngôn từ xưng hô trong thơ Xuân Quỳnh cũng khá đa dạng Ở ngôi thứ nhất

bà xưng “tôi”, “em”, “mẹ”, “ta”, “chúng tôi” Ngôi thứ hai bà gọi “anh”, “con”,

“các anh”… Ngôi thứ ba, bà dùng “cha tôi”, “anh ta”, “cỏ”, “thuyền”, “sóng”… Đặc biệt, trong bài thơ “Chị”, bà đưa cả tên mình vào:

Chị biết Quỳnh rất hay vô ý

(Chị)

Các nhân vật không tồn tại riêng lẽ mà thường đi với nhau thành từng cặp:

“anh – em”, “mẹ - con”, “chị - em”, “thuyền – biển”, “sóng – bờ”… Sự xuất hiện nhiều các từ xưng hô với các nhân vật cho thấy sự sáng tạo, linh hoạt của thi sĩ Xuân Quỳnh trong việc tạo cảm hứng làm bật lên được nội dung muốn truyền đạt Góp phần tạo nên một giọng thơ linh hoạt, gợi cảm

Xuân Quỳnh đã thử qua nhiều thể thơ, ở thể nghiệm nào cũng đạt được một số thành công nhất định: lục bát, thơ mới Thành công nhất phải kể đến thể

thơ 5 chữ với các bài “Sóng”, “Thuyền và biển”, “Thơ tình cuối mùa thu” trở

thành những tuyệt tác văn chương

Trang 29

Cảm xúc chín mùi, cảm hứng tươi mới kết hợp với kĩ thuật viết tài hoa đã tạo ra một giọng thơ rất… Xuân Quỳnh Đó là một giọng thơ trữ tình, linh hoạt,

tự nhiên và đầy cá tính Người ta nhận ra sự đằm thắm, sâu lắng trong mảng thơ tình; sự hồn nhiên, dí dỏm trong mảng thơ thiếu nhi; sự lạc quan, mạnh mẽ trong mảng thơ viết về cuộc sống Người ta ngạc nhiên trước những lời tâm tình rất ngây thơ, nồng nàn của một cô gái chớm yêu, hay giọng điệu trầm tĩnh của một người phụ nữ từng trải Tất cả là Xuân Quỳnh, một Xuân Quỳnh rất đời và rất thơ!

Xin mượn lời Quỳnh An trong bài “Nhà thơ của tình yêu” để khái quát vị

trí của Xuân Quỳnh trong dòng thơ nữ Việt Nam: “Nhìn lại, giá trị thơ Xuân

Quỳnh có thể không nằm ở những sáng tạo nghệ thuật đột phá mà ở tầm tư tưởng, quan niệm nghệ thuật Những tác phẩm của bà đã mở đường cho dòng thơ nữ của văn học Việt Nam sau này Những tác giả nữ như Phan Huyền Thư,

Vi Thùy Linh có thể đã mạnh dạn hơn trong việc tìm đến những hình thức biểu hiện táo bạo, mới mẻ nhưng nếu không có Xuân Quỳnh với nỗ lực đưa thơ ca về gần với tiếng nói đời thường, hẳn sẽ khó có đất cho những khuynh hướng tính nữ của ngày hôm nay” [1]

Trang 30

Chương 2 KHẢO SÁT CÁC PHƯƠNG TIỆN NGÔN NGỮ BIỂU HIỆN

TÍNH NỮ TRONG THƠ XUÂN QUỲNH

2.1 Các phương tiện từ ngữ

2.1.1 Những lớp từ biểu thị tâm lí - tình cảm

Dựa vào những định nghĩa và cơ sở lí luận trong chương 1, chúng tôi đi vào khảo sát nhóm từ biểu thị tình cảm - tâm lí trong thơ Xuân Quỳnh và nhận thấy

số lượng từ cũng như tần số sử dụng nhóm từ này trong thơ bà là khá nhiều

(khoảng 200 lần/ 50 bài) gồm: ghét, yêu, thương, nhớ, đau, giận, buồn, vui, lo, lo

âu, lo lắng, mong, mơ, ước, mong ước, muốn, mong đợi, mong chờ, chờ, đợi, quên, sợ, hoảng sợ, tiếc, tủi, tin, ngợp, dữ dội, dịu êm, ồn ào, lặng lẽ, bồi hồi, bỡ ngỡ, bàng hoàng, thao thức, ngập ngừng, khát khao, xao xuyến, hồi hộp, trăn trở, đau đớn,coi thường, rạo rực, nhức nhối, hy vọng, thất vọng, luyến tiếc, suy nghĩ, e, trằn trọc, xúc động

Hầu như ở bài nào Xuân Quỳnh cũng sử dụng những từ biểu thị tâm lí- tình cảm, nhiều từ còn được Xuân Quỳnh lặp đi lặp lại nhiều lần (ngay trong cùng một bài) Trong 50 bài thơ mà chúng tôi khảo sát thì số lần xuất hiện những từ này nhiều nhất: “thương” được sử dụng 26 lần; “nhớ” - 37 lần, “yêu” - 24 lần;

“lo” - 15 lần; “buồn” - 17 lần; “mong” - 12 lần… Tần số xuất hiện khác nhau của các từ tâm lí – tình cảm cũng phần nào nói lên đặc điểm tình cảm của giới nữ bởi:

(Sóng)

Người phụ nữ với trái tim yêu tha thiết như Xuân Quỳnh không ngại nói thẳng ra cái điều mà mình trăn trở, nhớ thì nói “nhớ”, thương thì nói rằng

Trang 31

“thương” Nhưng đằng sau cái táo bạo đó, “nhớ”, “thương” trong Xuân Quỳnh vẫn chỉ nói về phía mình mà không đòi hỏi, vẫn cái nét suy nghĩ “trâu đi tìm cọc” chứ bao giờ “cọc đi tìm trâu” ăn sâu tiềm thức phụ nữ Cũng vì thế mà từ tâm lí- tình cảm “nhớ” là được sử dụng nhiều hơn cả (37 lần), “thương” – 26 lần Người phụ nữ đang yêu trong thơ Xuân Quỳnh rất trân trọng và khao khát tình yêu Nhưng càng đặt niềm tin bao nhiêu thì thơ bà càng đầy ắp những lo âu

và e ngại bấy nhiêu Đó chính là mâu thuẫn thường trực trong tâm hồn phụ nữ đa cảm chứ không riêng gì Xuân Quỳnh Đặc biệt trong cuộc đời đầy biến động này, tình yêu quả là một cái gì đó mong manh, dễ vỡ, bao giờ cũng kèm theo nỗi khắc khoải không yên:

(Tự hát)

Thế giới tình yêu muôn màu trong thơ Xuân Quỳnh còn thật tinh tế khi không bỏ qua những cảm xúc ban đầu “xao xuyến”, “rạo rực”, “bồi hồi”, “trăn trở” mà mấy ai sau này quên được Những cảm xúc ban đầu tinh khôi đó được Xuân Quỳnh thể hiện qua lớp từ tâm lí – tình cảm đầy sức gợi hình, gợi cảm

Dễ dàng nhận thấy trong những câu thơ của mình Xuân Quỳnh hầu như chú tâm bộc lộ hơn là đối thoại Đa số là những vần thơ trôi chảy ra từ sâu thẳm nỗi lòng muốn bộc lộ, chia sẻ Những cung bậc cảm xúc trong con tim yêu nơi Xuân Quỳnh được trực tiếp nói ra, bao nhiêu là “yêu”, là “thương”, “nhớ”, “lo âu” rồi

“mong chờ” Và lớp từ ngữ tâm lí- tình cảm phong phú có thể coi là bến đỗ tuyệt vời cho hồn thơ nữ đa mang như Xuân Quỳnh bày tỏ đến tận cùng những xúc cảm yêu thương

2.1.2 Các đơn vị ngôn ngữ giàu sắc thái biểu cảm

Trong mục này chúng tôi sẽ khảo sát về các tình thái ngữ (có lẽ, phải chăng, hình như ), các tiểu từ tình thái (à, ư, hả, hử, chứ, sao, đâu ), các quán ngữ tình thái, các hô ngữ và các thán từ

Trang 32

Bảng 2.2 Bảng khảo sát các đơn vị giàu sắc thái biểu cảm

STT Tên bài thơ Cụm từ giàu sắc thái biểu

- Em có đem gì theo đâu - Tiểu từ tình thái

4 Trời trở rét - Trời chuyển gió phải chăng

Trang 33

ngôn ngữ của giới nữ qua thơ Xuân Quỳnh Đem lai cho thơ Xuân Quỳnh nhiều sắc thái biểu cảm khác nhau

Ở câu thơ trong bài “Đêm trăng trên đất Mũi”: “Bao giờ đi hết ánh trăng

đây?”, nếu bình thường chỉ cần: “Bao giờ đi hết ánh trăng?” là đủ yêu cầu câu

hỏi và tất nhiên chỉ đáp ứng chức năng thông tin Nhưng với thơ Xuân Quỳnh như thế còn chưa đủ, tiểu từ tình thái “đây” thêm vào tạo cho câu thơ một sắc

thái rõ ràng: Bao giờ đi hết ánh trăng đây? Có chút gì đó thở dài, chút gì đó

mong ngóng trong nỗi niềm vô vọng nơi người nói (vì sự thật làm sao mà đi hết được ánh trăng) Không đơn thuần chỉ là một câu hỏi mà cốt yếu hỏi để bày tỏ nỗi lòng mình trước khung cảnh thiên nhiên bao la

Trong bài “Em có đem gì theo đâu”: “Em có mang gì theo đâu” Ở đây

tiểu từ tình thái “đâu” vừa có tác dụng để hỏi khiến câu thơ trở thành câu nghi vấn nhưng đồng thời nó còn thể hiện sắc thái khẳng định khá cao cho câu thơ Thay vì cách hỏi truyền thống là sử dụng từ để hỏi và lời hỏi thuộc về người khác khi đối tượng được hỏi là mình; thì ở đây “em” đồng thời là chủ thể hỏi và được nói đến Bởi hỏi đó nhưng không nhằm mục đích tìm câu trả lời mà chủ đích là để người nói “em” tự khẳng định nỗi lòng mình với người mình yêu

Tương tự như vậy:

(Trời trở rét)

Tình thái ngữ “phải chăng” vừa là để hỏi nhưng đồng thời qua cách hỏi ta thấy sự khẳng định trong lời đáp riêng của người hỏi Câu hỏi chỉ là chút phân vân như muốn tìm câu trả lời đồng điệu chắc chắn hay đơn thuần là nỗi lòng người trăn trở trước sự thay đổi của sắc trời, của lòng người

Như vậy bằng những đơn vị ngôn ngữ giàu sắc thái biểu cảm Xuân Quỳnh

đã tạo ra cho thơ mình những giá trị tình thái trong ngay từng dòng thơ Với mỗi câu mang các đơn vị ngôn ngữ trên, ngoài việc truyền nội dung thông tin chúng

Trang 34

còn chứa đựng sắc thái biểu cảm mạnh mẽ của người nói Bằng các đơn vị ngôn ngữ giàu sắc thái biểu cảm đó chất nữ tính thường trực trong lời nói, cách nói của người phụ nữ được thể hiện đậm nét, mang lại chất mềm mại, đa sắc thái cảm xúc cho lời thơ Xuân Quỳnh

2.2 Các phương tiện ngữ pháp

2.2.1 Ít dùng câu có tính suy lí

Về mặt nguyên tắc: Câu đơn có “là” và câu ghép có kết từ là loại câu suy lí Thơ Xuân Quỳnh có sử dụng hình thức của những câu trên nhưng ở Xuân Quỳnh tính suy lí trong những câu thơ đó thường nghiêng về cảm tính hơn là suy lí logic Vốn là một người thích đơn giản lại thêm cái vốn nữ tính

không quá triết lí, khoa học nên thơ Xuân Quỳnh hầu như ít sử dụng những loại câu suy lí Số lần xuất hiện của câu có tính suy lí trong thơ Xuân Quỳnh tương đối ít (11 lần/10 bài)

Bảng 2.3 Bảng khảo sát câu có tính suy lí

lần Loại câu Câu có tính suy lí

cầu nối duyên

Trang 35

4 Trời trở rét 8 - câu ghép -Trời chuyển gió phải chăng hồ

mềm yếu/ Nên đổi thay rồi một sắc ưu tư

5 Thành phố lạ 9 - câu ghép -Như ta nhìn thành phố đêm nay/

Tuy không xa nhưng mà rất lạ

11

- câu đơn

- câu đơn

- Yêu thương là lòng anh

- Bao dung là mái phố

Câu mang tính suy lí là câu về mặt ý nghĩa đòi hỏi ở người tiếp thu phải có một khả năng tư duy logic, nhu cầu đánh giá đúng sai Mà Xuân Quỳnh vốn là một người phụ nữ thích đơn giản nên hầu như loại câu này ít được bà sử dụng và nếu có thì cũng nhằm thể hiện cảm xúc là chính Điều đó cũng là một phần tạo nên sự dễ hiểu đặc trưng của thơ Xuân Quỳnh

Với đặc trưng của câu suy lí mang tính logic cao, vào thơ Xuân Quỳnh lại mang một giá trị biểu đạt khác rất nữ tính, rất Xuân Quỳnh: suy lí nhưng không theo cơ sở thực tế khách quan mà ngược lại mang đậm dấu ấn cảm tính Điều đó không những không làm mất đi giá trị thơ Xuân Quỳnh mà nhiều trường hợp câu thơ mang tính suy lí cảm tính lại trở thành điểm sáng làm nên thành công của bài thơ Đó chính là cái tài của người cầm bút biết biến cái khó thành cái đặc trưng của mình

Ví dụ: - (Ai biết đâu) chữ ghét/ Là nhịp cầu nối duyên

(Ghét)

Trang 36

Ở đây tình thái ngữ “Ai biết đâu” chủ yếu thể hiện sự bất ngờ của tác giả hơn là một suy lí logic Hay như:

- Nếu từ giã thuyền rồi/ Biển chỉ còn sóng gió

- Nếu phải cách xa anh/ Em chỉ còn bão tố

(Sóng)

-Yêu thương là lòng anh

- Bao dung là mái phố

(Mái phố)

Thực ra chỉ là những nhận thức chủ quan của người nói chứ không phải là tồn tại thực tế của logic khách quan

Có ai đó đã từng nhận xét: “Xuân Quỳnh là sự trải nghiệm của dân gian;

không có triết lí, khoa học” quả không sai Nếu người nam trong ca dao dân ca

thường khẳng định mình trong các vấn đề có tầm vóc lớn:

- Làm trai cho đáng nên trai

Lên Đông, Đông tĩnh Lên Đoài, Đoài yên

(ca dao)

Thì người nữ với bản chất nhu mì, sống thiên về nội tâm nên mối quan tâm cũng khác Họ mong muốn khẳng định mình trong tình yêu, một tình yêu thủy chung son sắc:

- Dẫu xuôi về phương Bắc/ Dẫu ngược về phương Nam

Nơi nào em cũng nghĩ/ Hướng về anh một phương

Trang 37

Các kết từ “dẫu”, “dù” mang giá trị khẳng định mạnh mẽ cho tình yêu của

cô gái hơn là đi vào những suy lí logic với các cặp kết từ hô ứng “dẫu/ dù/ tuy- nhưng” - thường thể hiện rõ quan hệ suy lí logic trên cơ sở khách quan

2.2.2 Nghiêng về những kiểu câu giàu tính tình thái

Xuân Quỳnh không chỉ độc đáo trong cách lựa chọn từ ngữ mà còn hết sức sáng tạo trong việc sử dụng các phương tiện ngữ pháp mà đặc biệt là những kiểu câu giàu tính tình thái: Câu đặc biệt, câu danh là danh, câu hỏi tu từ

2.2.2.1 Câu đặc biệt

Câu đặc biệt là câu không phân định được thành phần, cấu tạo đặc biệt chỉ

có một từ hoặc một nhóm từ chính phụ hay đẳng lập.Và có nội dung tương đối độc lập Chính đặc điểm ngữ pháp này khiến việc sử dụng cũng như nắm bắt ý nghĩa loại câu này không rõ ràng, mông lung Tuy nhiên câu đặc biệt lại giàu khả năng tình thái, mang chủ đích nhấn mạnh cao mà trong thơ đôi khi hiệu ứng tình cảm lại cần thiết hơn là việc truyền đạt nội dung Với tính chất mơ hồ, không rõ ràng của loại câu này đôi khi lại chính là phương tiện hữu hiệu để nữ sĩ bày tỏ những cảm xúc, thổn thức không bao giờ cố định trong tình yêu Với một nhà thơ tình có tiếng như Xuân Quỳnh thì câu đặc biệt tất nhiên không thể thiếu trong lựa chọn của bà

Thông thường câu đặc biệt được Xuân Quỳnh sử dụng để nêu lên sự tồn tại khái quát của một sự vật, hiện tượng, một thời gian, không gian nào đó theo kiểu liệt kê Mở đầu bài “Sóng” Xuân Quỳnh đã dùng hai câu đặc biệt đi liền nhau:

“Dữ dội và dịu êm/ Ồn ào và lặng lẽ” (Sóng) để diễn tả những sắc thái khác

nhau của con sóng tình yêu Xuân Quỳnh không đơn thuần liệt kê những đặc điểm của con sóng ngoài tự nhiên mà chủ ý lấy đặc tính của con sóng ngoài tự

nhiên để nói con sóng tình đang “bồi hồi trong ngực trẻ” Sự đan xen các cung

bậc cảm xúc đối lập tạo sự mông lung, không tuân theo một trật tự nào của tình yêu muôn thuở Đó chính là tình yêu đầy màu sắc bí ẩn Câu thơ chủ ý nhấn mạnh các cung bậc cảm xúc khiến người đọc ngay khi bước vào bài thơ đã bị chi

Trang 38

phối bởi sự mông lung đó, rồi như bị thôi thúc lần tìm những câu tiếp theo để thỏa lòng trăn trở

Hay đơn giản chỉ là không gian chuyển sang mùa đầy thơ mộng nơi bến vắng nào đấy:

(Hoa cỏ may)

Nhưng với sự dồn dập của hàng loạt hình ảnh đẹp, buồn, cô đơn của thiên nhiên ấy lại như muốn nhấn mạnh cái cô đơn nơi lòng người Không gian mà tác giả vẽ ra thơ mộng đấy, yên bình đấy nhưng phản phất trong đó hơi thở của

sự tiếc nuối thời gian đã qua

Nhiều trường hợp Xuân Quỳnh sử dụng câu đặc biệt để nêu sự xuất hiện của nhiều hiện tượng, sự vật bên nhau như một sự liệt kê:

(Cỏ dại)

Chính sự liệt kê đơn thuần đó lại mang đến cho câu thơ trên giá trị nhấn mạnh rõ nét, nhấn mạnh sự gắn bó sâu sắc của nhân vật trữ tình với từng cái nhỏ nhặt, đời thường nơi quê nhà từ “dòng sông”, “ngọn núi” đến “rừng cây” Nỗi nhớ vô hình được nhấn mạnh trong từng chữ “một” như càng thấy rõ sự thân quen của khung cảnh mà tác giả xây dựng

Hay một tình yêu được khẳng định từ những gian khổ, những hi sinh:

(Mái phố)

Có khi lại là sắc màu đa dạng của hoa tường vi như tô điểm cho màu mây cuối chân trời xa tạo ấn tượng về một sắc hoa bình dị nhưng rất thanh tao:

Trang 39

Tựa màu mây phiêu lãng cuối trời xa

(Hoa tường vi)

Hơn nữa trong cách dùng từ, đặt câu Xuân Quỳnh không tự gò bó vào chuẩn mực khuôn mẫu nào cả Ngược lại bà luôn tạo ra một sự thoải mái, để cho dòng cảm xúc tự do lựa chọn từ ngữ cho mình Chính vì thế thơ bà có khá nhiều câu thơ đặc biệt với lối diễn đạt khá lạ:

(Hoa cỏ may)

Hay:

(Sân ga chiều em đi)

Nói về nỗi lòng của những người yêu nhau khi cách xa hẳn chưa ai có cách

ví von hay như Xuân Quỳnh: “Bắc” - “Nam” hai miền của tổ quốc xa nhau là thế nhưng vẫn thống nhất trên hình hài chữ S Việt Nam thân yêu như tình yêu đôi lứa dù cách xa nhưng vẫn một lòng hướng về nhau

Trong cuộc sống cũng như trong nghệ thuật Xuân Quỳnh không chấp nhận

sự lưng chừng, lỡ cỡ Chị luôn có xu hướng đẩy trạng thái tình cảm lên đến tột cùng Ở trạng thái con người ta trở về với vô thức - “chết” mà với Xuân Quỳnh

vẫn còn nhịp đập của một trái tim yêu tha thiêt: “Biết yêu anh cả khi chết đi rồi”

Nhưng ở Xuân Quỳnh vẫn giữ nét e ấp, kín đáo đặc trưng phái mình chứ không phô bày trực tiếp như Xuân Diệu:

(Tương tư)

2.2.2.2 Câu danh là danh

Câu danh là danh với cấu trúc: ‘‘danh từ’’ ‘‘là’’ ‘‘danh từ’’ mang giá trị khẳng định cao đươc Xuân Quỳnh sử dụng tạo thành những định nghĩa giản dị

và dễ hiểu:

Trang 40

- Vị chua là bát canh riêu

Vị cay là trái hạt tiêu đất mình

(Thơ viết tặng anh)

- Rộng lắm là mặt bể/ Dài là con đường đi

Núi thì xanh và xa/ Hình tròn là trái đất

(Chuyện cổ tích về loài người)

Dường như với những định nghĩa theo cấu trúc trên, người đọc chỉ việc tiếp nhận như một lẽ tự nhiên, không màu mè, không lắt léo vì: bát canh riêu thì có vị chua, vị cay là vị của hạt tiêu hay núi thì có màu xanh và xa thì mới nhìn thấy núi Những đặc điểm hiển nhiên của sự vật được đưa ra càng khẳng định tính đúng đắn của vấn đề mà không cần phải chứng minh gì nhiều

Kiểu câu danh là danh trong thơ Xuân Quỳnh thường là kiểu câu đẳng thức: thường một đối tượng A sẽ có nhiều đặc trưng nhưng khi đưa B lên trước thì có nghĩa đã nhấn mạnh đặc trưng đó có tính đại diện cho đối tượng Chính nhờ kiểu câu này mà Xuân Quỳnh đã nhấn mạnh được đặc trưng của các đối tượng trong thơ mình như: ‘‘vị chua’’ – ‘‘canh riêu’’ ; ‘‘vị cay’’ – ‘‘hạt tiêu’’ Thể hiện được nhận thức đơn giản mà tinh tế của người phụ nữ về những sự vật xung quanh mình

Ngoài những định nghĩa có phần rõ ràng của hiện thực nhìn thấy, nếm thấy; thì còn có những điều phải có chút liên tưởng bởi nó thuộc về những sự vật vô hình và thường khẳng định một nhận thức mang tính cảm tính rất phụ nữ:

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:24

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Theo Quỳnh An (2013), “Nhà thơ của tình yêu”, trang Thanhniên online, http://www.Thanhnien.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà thơ của tình yêu
Tác giả: Theo Quỳnh An
Năm: 2013
2. Diệp Quang Ban (2004), Ngữ pháp Việt Nam phần câu, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: pháp Việt Nam phần câu
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2004
3. Đỗ Hữu Châu (2007), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
4. Đỗ Hữu Châu (1997), Các bình diện của từ và từ tiếng Việt, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bình diện của từ và từ tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
5. Nguyễn Phan Cảnh (1987), Ngôn ngữ thơ, NXB Đại học và giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: NXB Đại học và giáo dục Hà Nội
Năm: 1987
6. Ngô Viết Dinh tuyển chọn vả biên tập (2003), Đến với thơ Xuân Quỳnh, NXB Thanh Niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đến với thơ Xuân Quỳnh
Tác giả: Ngô Viết Dinh tuyển chọn vả biên tập
Nhà XB: NXB Thanh Niên
Năm: 2003
7. Hà Minh Đức chủ biên (1997), Lí luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức chủ biên
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
8. Nguyễn Đăng Điệp (2011), “Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại”, http://www.gas.hoasen.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam đương đại
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Năm: 2011
9. Hà Minh Đức (1998), Thơ và mấy vấn đề trong thơ hiện đại, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
10. Đinh Văn Đức (2001), Ngữ pháp tiếng Việt- Từ loại, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt- Từ loại
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
11. Ngân Hà tuyển chọn và biên soạn (2003), Thơ Xuân Quỳnh và những lời bình, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Xuân Quỳnh và những lời bình
Tác giả: Ngân Hà tuyển chọn và biên soạn
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2003
12. Đinh Thị Phương Hà (2013), “Hình tượng ám ảnh trong thơ Xuân Quỳnh”, http://wwww.khoavanhoc-ngonngu.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình tượng ám ảnh trong thơ Xuân Quỳnh
Tác giả: Đinh Thị Phương Hà
Năm: 2013
13. Lê Bá Hán- Trần Đình Sử- Nguyễn Khắc Phi chủ biên (2000), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán- Trần Đình Sử- Nguyễn Khắc Phi chủ biên
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
14. Trương Thị Hiền (2005), luận văn Một số đặc trưng ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh, thuvien24.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc trưng ngôn ngữ thơ Xuân Quỳnh
Tác giả: Trương Thị Hiền
Năm: 2005
15. Phan Khôi (1929), “Văn học nữ tánh”, http://www.lainguyenan.fre.fr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học nữ tánh
Tác giả: Phan Khôi
Năm: 1929
16. Nguyễn Văn Khang (2004), “Sự kì thị và sự chống kì thị đối với nữ giới trong sử dụng ngôn ngữ”, www.gus.hoasen.edu.vn (trích từ bài đăng trên tạp chí Xã hội học, số 2/ 2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự kì thị và sự chống kì thị đối với nữ giới trong sử dụng ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Năm: 2004
17. Đinh Trọng Lạc (2003), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
18. Nguyễn Văn Long chủ biên (2007), Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại tập II, NXB Đại học sư phạm, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại tập II
Tác giả: Nguyễn Văn Long chủ biên
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2007
19. Vân Long sưu tầm và tuyển chon (1998), Xuân Quỳnh thơ và đời, NXB văn hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Quỳnh thơ và đời
Tác giả: Vân Long sưu tầm và tuyển chon
Nhà XB: NXB văn hóa
Năm: 1998
20. Hà Linh (2010), “Tọa đàm văn học nữ quyền- chuyện cũ nói lại”, www.phongdiep.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hà Linh (2010), “Tọa đàm văn học nữ quyền- chuyện cũ nói lại
Tác giả: Hà Linh
Năm: 2010

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w