Hệ quả của chính sách thuế và nợ lãi đối với nông dân Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp.. Một số nhận xét, đánh giá về chính sách thuế và nợ lãi đối với nông dâ
Trang 1KHOA LỊCH SỬ
*****
Đề tài:
THUẾ VÀ NỢ LÃI ĐỐI VỚI NÔNG DÂN VIỆT NAM
QUA HAI CUỘC KHAI THÁC THUỘC ĐỊA
CỦA THỰC DÂN PHÁP
- Đà Nẵng, 5/2014 -
SVTH: Hoàng Thị Hạnh
Lớp 10SLS, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
GVHD: ThS Nguyễn Hữu Giang
Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của đề tài 5
7 Bố cục của đề tài 5
PHẦN NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1 TÌNH HÌNH HÌNH KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI VIỆT NAM QUA HAI CUỘC KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁP6 1.1 Xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp 6
1.1.1 Chính sách thống trị, bóc lột của thực dân Pháp 6
1.1.2 Những chuyển biến về mặt xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất 11
1.2 Xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp 14
1.2.1 Chính sách thống trị, bóc lột của thực dân Pháp 14
1.2.2 Những chuyển biến của xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai 18
CHƯƠNG 2 THUẾ VÀ NỢ LÃI CỦA THỰC DÂN PHONG KIẾN ĐỐI VỚI NÔNG DÂN VIỆT NAM QUA HAI CUỘC KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁP 23
2.1 Một số khái niệm, thuật ngữ 23
2.2 Thuế và nợ lãi đối với nông dân Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp 24
2.2.1 Cơ sở của việc đề ra chính sách thuế và nợ lãi 24
2.2.1.1 Dựa trên chế độ thuế khóa, nợ lãi của triều Nguyễn 24
2.2.1.2 Dựa trên chính sách đầu tư của thực dân Pháp 27
Trang 3thuộc địa của thực dân Pháp 29
2.2.2.1 Thuế trực thu 29
2.2.2.2 Thuế gián thu 37
2.2.2.3 Các hình thức nợ lãi đối với nông dân 44
2.2.3 Việc quản lý và thực hiện chính sách thuế và nợ lãi đối với nông dân 46
2.2.3.1 Việc quản lý thuế, nợ lãi 46
2.2.3.2 Phương thức thu thuế, nợ lãi 48
2.3 Hệ quả của chính sách thuế và nợ lãi đối với nông dân Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp 49
2.4 Một số nhận xét, đánh giá về chính sách thuế và nợ lãi đối với nông dân Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp 53
PHẦN KẾT LUẬN 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Với việc ký vào hai bản hiệp ước Hácmăng (1883) và Patơnốt (1884) đã đánh dấu sự sụp đổ của nhà nước phong kiến độc lập Việt Nam và sự đầu hàng của triều Nguyễn trước thực dân Pháp Đối lập với hành động của triều đình, nhân dân ta vẫn đứng lên chống Pháp dưới sự lãnh đạo của một số sỹ phu có tinh thần yêu nước vào cuối thế kỷ XIX Tuy nhiên, phong trào yêu nước trong giai đoạn này vẫn có chung kết cục với các phong trào chống Pháp của nhân dân ta trước đó Về phía Pháp, sau khi “bình định” bằng quân sự phong trào yêu nước của nhân dân ta vào cuối thế kỷ
XIX, thực dân Pháp bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa ở Việt Nam Mục
đích xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp là nhằm biến Việt Nam thành thị trường cung cấp nguyên liệu nhân công rẻ mạt và tiêu thụ sản phẩm của chúng Do đó ngay sau khi hoàn thành việc xâm chiếm nước ta, chúng đã tiến hành việc khai thác bóc lột kinh tế trên quy mô rộng lớn Thực dân Pháp thực hiện chính sách thuế khóa trên
cơ sở của chính sách thuế cũ của giai cấp phong kiến Sự câu kết giữa chế độ thực dân Pháp và chế độ phong kiến Việt Nam trước đây được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực và trong các mối quan hệ xã hội, trước hết và chủ yếu là trong lĩnh vực kinh tế - tài chính - thuế khóa Nó đã đánh vào tất cả các hoạt động kinh tế và các hoạt động khác có liên quan tới đời sống của nông dân Việt Nam lúc bấy giờ Thuế được xem là xương sống cho công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, là nguồn thu chủ yếu đảm bảo cho nền tài chính tại chỗ Dưới thời Pháp thuộc, thuế được huy động vào hệ thống ngân sách thuộc địa gồm nhiều tầng nấc, nhưng chúng lại không được chuyển thành nguồn tài trợ cho sự phát triển của xã hội mà lại được chuyển về chính quốc, theo đúng mục tiêu của chủ nghĩa thực dân Thuế trực thu thì
có từ trước đó trong xã hội việt Nam như: thuế đinh, thuế ruộng, thuế tạp dịch Sau khi xâm lược và đặt được bộ máy cai trị lên đất nước Việt Nam, thực dân Pháp đã tận dụng triệt để các loại thuế này bằng một phương thức thu mới với tính chất áp đặt và tận thu làm thay đổi hoàn toàn về bản chất so với thời phong kiến Chính phủ
Trang 5thuộc địa Pháp đặt ra các thuế ngoại ngạch tức là loại thuế gián thu như thuế tiêu thụ thuốc lá, thuế rượu, thuế muối Cùng với thuế thì Pháp còn gắn chặt đời sống của người nông dân với sự bần cùng thông qua nợ lãi Đặc điểm của chủ nghĩa tư bản Pháp là “ đế quốc cho vay nặng lãi” Chính vì vậy, nợ lãi do Pháp đặt ra đối với nông dân các nước thuộc địa nói chung trong đó có Việt Nam là hết sức nặng nề Chính quyền thực dân vẫn giữ nguyên bộ máy cai trị của phong kiến để biến tầng lớp này trở thành tay sai đắc lực cho chính quyền Pháp ở Đông Dương bằng cách trao cho họ những quyền lợi về kinh tế và chính trị Việc thu thuế, nợ lãi cũng qua tầng lớp này vì từ thời phong kiến, tất cả mọi thứ thuế, nợ lãi đều đánh vào làng xã Cùng với đó thì người nông dân nghèo bị phụ thuộc nhiều vào làng xã và ít có cơ hội thay đổi cuộc sống Có thể nói, thuế và nợ lãi đối với nông dân Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp là đề tài nhằm giúp chúng tôi có thể
đi sâu tìm hiểu và nhận thức rõ hơn những tội ác mà thực dân Pháp đã gây ra cho xã hội Việt Nam nói chung và người nông dân nói riêng Qua đó, để giúp chúng ta thấy
rõ hơn sự bần cùng và nổi thống khổ mà nhân dân ta phải chịu dưới ách thống trị của thực dân Pháp.Tuy nhiên, vấn đề thuế và nợ lãi của thực dân Pháp đối với nông dân Việt Nam trong giai đoạn này vẫn chưa được nghiên cứu một cách tập trung và
có hệ thống Nhiều vấn đề đặt ra như chính sách thuế, nợ lãi của Pháp đặt ra là gì? Gồm những loại nào? Nó tác động đến đời sống nông dân Việt Nam ra sao thì cần
phải làm rõ Với ý nghĩa trên đây, tôi mạnh dạn chọn đề tài “Thuế và nợ lãi đối với
nông dân Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp” làm đề
tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Những sách và công trình nghiên cứu về lịch sử nước ta dưới thời thực dân Pháp thống trị, trong đó có đề cập ở mức độ khác nhau về thuế và nợ lãi đối với nông dân có thể kể đến:
Tác phẩm Góp phần tìm hiểu một số vấn đề lịch sử Việt Nam cận đại của tác
giả Nguyễn Văn Kiệm, nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, năm 2003 Trong tác phẩm này, tác giả đã có bài viết nói về những lại thuế và những hình thức nợ lãi
Trang 6của nông dân nhưng chưa làm rõ được hệ cách thức thu thuế, nợ lãi cũng như hậu quả của chính sách thuế khóa, nợ lãi đó đối với nông dân Việt Nam như thế nào
Nguyễn Ái Quốc với tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” đã vạch trần
tội ác của thực dân Pháp đối với nhân dân Việt Nam Người đã làm rõ bản chất bóc lột tàn bạo của bọn thực dân xâm lược, chúng đã vắt kiệt sức lực của người dân lao động với hàng trăm thứ thuế vô lý đã đè nặng lên đôi vai của người nông dân
Tác giả Nguyễn Thế Anh trong tác phẩm “Việt Nam thời Pháp đô hộ” đã đi
sâu trình bày về chính sách cai trị và thủ đoạn bóc lột của thực dân Pháp ở nước ta dưới nhiều hình thức trong đó có hình thức bóc lột thời phong kiến vẫn được duy trì
và áp dụng đó là vấn đề thuế, nợ lãi Đây là một gánh nặng đè lên vai người nông dân thời thuộc Pháp
Tác giả Nguyễn Khắc Đạm với tác phẩm “ Những thủ đoạn bóc lột của tư bản
Pháp ở Việt Nam” đã nêu lên được các loại thuế mà thực dân Pháp áp dụng ở Việt
Nam Tuy nhiên, vấn đề về cách hậu quả của nó đối với nông dân Việt Nam vẫn chưa được làm rõ
Ngoài các công trình chuyên biệt còn có rất nhiều giáo trình của Nhà xuất bản Giáo dục được xuất bản cũng phần nào đề cập một cách gián tiếp đến vấn đề thuế khóa, nợ lãi và đời sống người nông dân việt Nam thời thuộc pháp một cách sơ
lược nhất, chủ yếu là qua các con số sinh động như:“Tiến trình lịch sử Việt
Nam” của Nguyễn Quang Ngọc chủ biên;“ Đại cương lịch sử Việt Nam”, tập 2, do
Đinh Xuân Lâm chủ biên…
Các bài viết và tài liệu trên đây mặc dù đã đề cập đến khía cạnh của vấn đề thuế, nợ lãi đối với nông dân Việt Nam thời Pháp thuộc Tuy nhiên, các bài viết chưa đi sâu phân tích một cách đầy đủ nội dung các chính sách cũng như tác động của nó đối với nông dân Nên, đó cũng là nhiệm vụ đặt ra cho tác giả khi giải quyết
đề tài luận văn tốt nghiệp của mình Trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của các tác giả mà chúng tôi sưu tầm, tập hợp lại và cố gắng miêu tả đầy đủ những vấn đề liên quan đến thuế và nợ lãi của chính quyền thực dân và hậu quả của nó đối với nông dân Việt Nam thời Pháp thuộc
Trang 73 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thuế và nợ lãi đối với nông dân Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, đặc biệt là hậu quả của những chính sách thuế, nợ lãi đó đối với đời sống người nông dân
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Với đề tài này, chúng tôi nghiên cứu trên phạm vi cả nước
Về thời gian: Đề tài này nghiên cứu trong hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu chính của đề tài là tìm hiểu một cách chuyên sâu về vấn
đề thuế và nợ lãi đối với nông dân Việt trong hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Đồng thời qua đó thấy được tình cảnh của người nông dân trong giai đoạn lịch sử “phong kiến nửa thuộc địa” của nước ta và những chuyển biến sâu sắc trong kinh tế và xã hội Việt Nam trong giai đoạn đó
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được các mục đích trên, chúng tôi hướng vào việc thực hiện các nhiệm
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các nguồn tư liệu có liên quan hiện đang lưu trữ tại thư viện trường ĐHSP Đà Nẵng, thư viện Tổng hợp Đà Nẵng, thư viện Tổng hợp Huế, thư viện Quân khu V, phòng Học liệu Khoa Lịch sử trường ĐHSP Đà Nẵng, trung tâm Học liệu trường Đại học Bách Khoa Đà Nẵng
Ngoài ra, nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng vào nghiên cứu đề tài còn được khai thác các bài viết từ các sách chuyên ngành báo, tạp chí như: Nghiên cứu lịch sử, Xưa và
Trang 8Nay, Nghiên cứu và phát triển…và trên một số website như: http://lichsuvietnam.info, http://vietnam Plus…
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp luận: khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi đứng trên quan điểm chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm của Đảng và Nhà nước để xem xét đánh giá vấn đề
Về phương pháp nghiên cứu: với đề tài này, chúng tôi kết hợp hai phương pháp chuyên ngành Lịch sử là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic Bên cạnh
đó, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp như: Sưu tầm, tập hợp tư liệu, phân tích, so sánh…
6 Đóng góp của đề tài
Nghiên cứu thành công đề tài “Thuế và nợ lãi đối với nông dân Việt Nam
qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp.” có ý nghĩa khoa học và
thực tiễn:
Thứ nhất, đề tài góp phần làm sáng tỏ và cung cấp một hệ thống tư liệu hoàn
chỉnh về vấn đề thuế, nợ lãi đối với người nông dân Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Qua đó, giúp người đọc hiểu rõ hơn chính sách cai trị, bóc lột của thực dân Pháp đối với nông dân đồng thời hiểu thêm đời sống của họ trong giai đoạn này
Thứ hai, đề tài thành công sẽ cung cấp và bổ sung thêm vào nguồn tư liệu
tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu và học tập của học sinh, sinh viên và những ai quan tâm đến vấn đề này
Trang 9PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 TÌNH HÌNH HÌNH KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI VIỆT NAM QUA HAI
CUỘC KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁP
1.1 Xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp
1.1.1 Chính sách thống trị, bóc lột của thực dân Pháp
Cùng với quá trình xâm lược và bình định Việt Nam, Campuchia và Lào, thực dân Pháp từng bước thiết lập bộ máy thống trị ở mỗi nước và chung cho cả ba nước Đông Dương Từ ngày 13-02-1897, Chính phủ Pháp cử Paul Daumer sang làm Toàn quyền Đông Dương để hoàn thiện bộ máy thống trị và tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất Từ đó, việc cai trị xứ này được tập trung vào phủ Toàn quyền Cơ quan cai trị cao nhất ở Đông Dương là phủ Toàn quyền do Toàn quyền đứng đầu Toàn quyền là người đại diện trực tiếp cho Chính phủ Pháp ở Đông Dương Giúp việc cho Toàn quyền có Hội đồng tối cao Đông Dương gồm giám đốc các công sở, các viên cai trị đầu xứ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao, Cao Miên), chủ sự các Phòng Thương mại và Canh nông
Văn phòng Phủ Toàn quyền gồm các phòng: Chính trị, Hành chính, Quân sự, Nhân sự và Văn thư là cơ quan thường trực của Phủ Toàn quyền kiêm cả công việc đối ngoại khen thưởng và kỷ luật Bên cạnh đó còn có các cơ quan khác như: Hội đồng phòng thủ Đông Dương thành lập ngày 31-10-1902; Ủy ban tư vấn về mỏ thành lập ngày 26-05-1913; Hội đồng tư vấn Học chính Đông Dương thành lập ngày 21-12-1917; Sở chỉ đạo công việc chính trị và bản xứ; Sở tình báo An ninh Trung ương (Sở mật thám)…Ngoài ra, còn có các công sở Trung ương như: quân
sự, hàng hải, dân sự, pháp lý, thanh tra tài chính, thương chính và thuế gián thu, bưu điện, kho bạc…đặc trách các loại công việc cho Toàn quyền Đông Dương
Như vậy, thực dân Pháp đã xây dựng ở nước ta một bộ máy thống trị có hệ thống nhằm tạo điều kiện tiền đề và làm bước đệm cho công cuộc cai trị đất nước
ta Bên cạnh việc thiết lập bộ máy thống trị, thực dân Pháp còn tiến hành hàng loạt
Trang 10các chính sách cai trị tàn độc: Thực dân Pháp thực hiện triệt để ở Việt Nam chính
sách “chia để trị”, kết hợp thực hiện chính sách “ hợp tác” với giai cấp địa chủ bản
xứ Ngoài việc chia cắt đất nước ta ra làm ba xứ với chế độ luật pháp riêng biệt, chúng còn dùng thủ đoạn chia rẻ dân tộc, chia rẻ lương giáo…nhằm phá hoại khối đoàn kết chiến đấu của dân tộc và ba nước Đông Dương trong đấu tranh chống kẻ thù chung Thực dân Pháp tiến hành chia nước ta làm 3 xứ và áp dụng các chính sách cai trị khác nhau ở mỗi xứ như sau:
Nam Kỳ có cơ quan cai trị gọi là Phủ Thống đốc Đứng đầu tỉnh là Thống đốc người Pháp Nam Kỳ là đất thuộc địa không có quan hệ phụ thuộc Nam triều Đơn
vị cai trị dưới tỉnh có nơi là phủ, huyện, có tri phủ và tri huyện hoặc Đốc phủ sứ đứng đầu và là đại diện cho Thống đốc; có nơi không có cấp phủ, huyện mà là tổng
có Cai tổng đứng đầu làm trung gian giữa Thống đốc và kỳ hào các làng xã Đơn vị cai trị cơ sở là xã, ở đây Pháp giữ nguyên vẹn tổ chức cai trị của Nam triều Để giúp việc cho bộ máy cai trị của Pháp, thực dân Pháp vẫn giữ hệ thống chính quyền phong kiến ở dưới làng xã, có xã trưởng, hương trưởng và Hội đồng kỳ hào
Trung Kỳ là xứ bảo hộ, vẫn duy trì triều đình phong kiến là triều đình nhà Nguyễn, nhưng vua An Nam không có “thực quyền” Đứng đầu tỉnh là viên Khâm
sứ người Pháp, có cơ quan Tòa Khâm sứ giúp việc Ở Trung Kỳ (và cả Bắc Kỳ) vẫn tồn tại hệ thống tổ chức quan lại cũ của Nam triều, đứng đầu tỉnh là Tổng đốc (tỉnh lớn) hoặc Tuần phủ (tỉnh nhỏ), Án sát coi việc tư pháp, Bồ chính coi việc thuế khóa, Lãnh binh (tỉnh nhỏ) hoặc Đề đốc (tỉnh lớn) coi việc binh
Bắc Kỳ có cơ quan cai trị cao nhất là Phủ Thống sứ do Thống sứ người Pháp đứng đầu, có Hội đồng Bảo hộ giúp việc: Hội đồng này có thể chuyển thành Hội đồng xét xử chung cho cả Bắc Kỳ và Trung Kỳ Còn có thêm hai phòng Thương mại và Canh nông ở hai thành phố Hà Nội và Hải Phòng được cử đại biểu vào Hội đồng Bảo hộ Hệ thống chính quyền ở Bắc Kỳ từ tỉnh trở xuống về đại thể giống như ở Trung kỳ Hầu hết các viên quan nắm quyền cai trị từ cấp xã trở lên đều thuộc giai cấp địa chủ tiếp tục áp bức, bóc lột nhân dân, nhất là ở cấp xã, phủ huyện, đạo, châu Còn từ cấp tỉnh, xứ và Liên bang Đông Dương thì quyền lực tập trung vào tay những quan chức do thực dân Pháp chi trả Số công chức người Pháp ở Việt Nam
Trang 11nói riêng và ở Đông Dương nói chung ngày một tăng thêm và chiếm tỷ lệ cao nhất
so với thuộc địa của các nước khác Theo Đại cương lịch sử Việt Nam do Đinh Xuân Lâm chủ biên thì: “ Số viên chức người Pháp ở Đông Dương năm 1897 là
2860 người, năm 1902 là 3.778 người, năm 1906 là 4.390 người, năm 1911 là 5.683 người”[17; tr 103]
Hệ thống tòa án và nhà tù được thực dân Pháp xây dựng dày đặc ở Việt Nam
Hệ thống tòa án ở các xứ và tỉnh đề trực thuộc Tổng biện lý bên cạnh Toàn quyền
Cơ quan chính quyền xã chỉ làm việc hòa giải Chỉ có Tòa án tỉnh, thành phố và các Tòa án tối cao mới có quyền xử án, xử theo luật của Pháp từ thời kỳ Napôlêông phối hợp với luật Gia Long chứ hoàn toàn không có sự hiểu biết đầy đủ về phong tục tập quán Việt Nam Khi cần khủng bố nhân dân, đàn áp dập tắt các cuộc khởi nghĩa, các hoạt động chống đối chính quyền thuộc địa, chúng thiết lập một Hội đồng đề hình (Tòa án đặc biệt) để xét xử Hội đồng này tìm cách làm thật nhiều án chém và án nặng, việc xét xử chỉ làm chiếu lệ Toàn quyền Paul Daumer mong muốn hoàn thành bình định sớm để phòng thủ Đông Dương, mở rộng quyền lợi của nước Pháp ở vùng Viễn Đông, nhất là ở các nước lân cận với Đông Dương Từ năm
1881, ở Nam Kỳ sau khi chế độ Đô đốc không còn, người Việt Nam và người Pháp đều do Tòa án Pháp xét xử, nhưng theo hai thứ pháp luật phân biệt công dân Pháp
và không phải công dân Pháp Tất cả những người Việt Nam bị cho là “ phiếm loạn” đều bị đưa ra Tòa án binh xét xử, trên hết là Tòa đại hình Sài Gòn, để xét xử những vụ do người Việt gây ra đối với người Âu
Ở Trung Kỳ, bộ luật Gia Long vẫn là luật của xứ “ bảo hộ” này Tháng
2-1888, triều đình Đồng Khánh đã cho sao lục bộ Hình luật từ thời Gia Long trở về sau, trao cho thực dân Pháp tham khảo để đề ra luật Pháp Đối với người Pháp và ngoại kiều khác, quan lại Nam triều không có quyền xét xử
Ở Bắc Kỳ có hai loại Tòa án, tòa án Tây và tòa án Nam Các tỉnh đều có tòa án hỗn hợp dưới quyền chỉ đạo của Công sứ Pháp và Án sát Việt Nam Gắn liền với tổ chức Tòa án là cảnh sát, nhà tù và trại giam Tỉnh nào cũng có Ty Cảnh sát, từ huyện trở lên đều có trại giam trước khi chuyển tù nhân lên tỉnh
Trang 12Ở Nam Kỳ, ngày 15-05-1917, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thiết lập lực lượng Cảnh sát người Việt cho bản xứ, gọi là lực lượng dân vệ Ngoài ra, ở cả
ba xứ, thực dân Pháp đều tổ chức đội thân binh, dưới quyền của bọn Việt gian phản động như Nguyễn Thân, Lê Hoan, Hoàng Cao Khải, Trần Bá Lộc có nhiệm vụ thường trực, đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nhân dân Để tăng cường đàn áp các cuộc nổi dậy của nhân dân, ngày 28-6-1917, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập Sở Tình báo và An ninh Trung ương chung cho toàn Liên bang, thường được gọi là Sở mật thám Đông Dương, tạm thời cho trực thuộc ban chỉ đạo chính trị
và bản sứ của phủ Toàn quyền (thành lập ngày 23-05-1915) Mỗi sứ có một cơ quan mang tên Cảnh sát An ninh Cơ quan này cấp xứ có nhiệm vụ theo dõi ngăn ngừa các hành động có tính chất chống đối, điều tra, truy lùng thủ phạm và cùng giới cầm quyền đàn áp các vụ nổi loạn
Ngoài việc triệt để thực hiện chính sách “dùng người Việt trị người Việt”, và chính sách “chia để trị”, thực dân Pháp còn dùng binh lính thuộc địa để bảo vệ thuộc địa, hoặc để lấn chiếm thuộc địa Vì vậy, chúng tăng cường lực lượng vũ trang, bắt lính người Việt Ngày 7-7-1900, thực dân Pháp ra đạo luật về tổ chức quân đội thuộc địa bao gồm vừa binh lính Pháp, vừa binh lính bản xứ Ở Việt Nam, lính cơ (malice) là lực lượng bổ sung cho quân đội thuộc địa Ngày 1-11-1904, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh bắt thanh niên ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ từ 22 tuổi đến
28 tuổi phải làm “nghĩa vụ binh dịch”
Bên cạnh các chính sách trên, thực dân Pháp còn thi hành hàng loạt các biện pháp cai trị trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục Trong báo cáo gửi Toàn quyền Đông
Dương ngày 1-3-1899, Thống sứ Bắc Kỳ đã viết: “Kinh nghiệm của các dân tộc
Châu Âu khác đã chỉ rõ rằng việc truyền bá một nền học vấn đầy đủ cho người bản
xứ là hết sức dại dột Rõ ràng ngu dân về mặt giáo dục, đầu độc về văn hóa là một trong những biện pháp cai trị của bọn thực dân Mục đích của nền giáo dục thuộc địa là duy trì vĩnh viễn ách thống trị của Pháp, nên tùy theo yêu cầu chính trị của từng giai đoạn cụ thể mà chúng đưa ra những chủ trương cụ thể” [13; tr.109] Đầu
tiên, ý định của chính quyền thực dân là muốn lợi dụng nền Nho học với chế độ khoa cử lỗi thời Một thủ đoạn khác của thực dân Pháp là sử dụng báo chí như một
Trang 13công cụ đắc lực phục vụ tuyên truyền Báo có nhiệm vụ ca ngợi chính sách “khai hóa”, hô hào mở rộng công thương nghiệp, cổ động bỏ khoa cử, hướng theo tân học
Tình hình sinh hoạt văn hóa có ít nhiều biến đổi và phát triển ở các đô thị Ở nông thôn, văn hóa làng vẫn tồn tại trong chính sách “bần cùng hóa” và “ngu dân hóa” Thực dân Pháp để các tệ nạn xấu phát triển mà không hề thực hiện các biện pháp hạn chế Nhân dân ta bị thất học đến 95% Chính vì vậy mà Nguyễn Ái Quốc
đã nhận định: “ Rượu cồn và thuốc phiện cùng báo chí phản động của bọn cầm
quyền bổ sung cho cái công cuộc ngu dân của Chính phủ Máy chém và nhà tù làm nốt phần còn lại”.[13; tr.112] Thực dân Pháp đã thiết lập ở nước ta một chính sách
cai trị tàn bạo, bóc lột đến tận cùng nhân dân ta, đẩy người dân lâm vào bước đường cùng Chính những chính sách đó là nguyên nhân gây nên sự đau khổ cho người dân, làm suy thoái giống nòi, làm suy giảm đi sức đấu tranh của nhân dân ta và làm hủy hoại đi những giá trị truyền thống vốn có của dân tộc Việt Nam
Bên cạnh đó, với đủ mọi mánh khóe tàn ác, chúng đã cướp đoạt tới 470.000 ha năm 1913 so với 10.000 ha năm 1890, dữ dội nhất là ở Nam Kỳ Đã xuất hiện những tên điền chủ lớn, có trong tay từ 2000 đến 20.000 mẫu tây như Laba (Labat), Êmơry( P.Emery), Lika (Lika), Gôbe (Gobert), Táctaranh (Tartarin), ĐờMôngpơda (DeMonpezat)… Vì thế, vào năm 1914, Nam Kỳ đã có thể xuất khẩu 1,4 triệu tấn
gạo, đem lại cho tư bản Pháp mối lợi khổng lồ Theo Trần Bá Đệ: “ Năm 1897,
Pháp ép triều đình ký Điều ước “nhượng” quyền “ khai khẩn đất hoang” cho chúng Chỉ tính riêng Bắc Kỳ và Trung Kỳ, đến năm 1915, địa chủ người Pháp đã chiếm tới 470.000 ha lập đồn điền Quyền sở hữu tối cao về ruộng đất ở Việt Nam
từ tay vua sang tay “nhà nước bảo hộ” Pháp Thủ hiến người Pháp ở ba kỳ có quyền ký giấy cấp cho mỗi người một lần 300 ha trở xuống, còn Toàn quyền Đông Dương thì ký từ 300 ha trở lên” [9; tr 9] Đặc biệt, Pháp đã tiến hành độc chiếm thị
trường Việt Nam (và Đông Dương nói chung), nắm nguồn thuế, độc quyền thương mại, thuế quan, xuất nhập khẩu Dân lao khổ bản xứ ở Đông Dương từ bao đời nay bị bóp nặn bằng đủ mọi thứ thuế khóa, sưu sai, tạp dịch, bằng cưỡng bức phải mua rượu và thuốc phiện theo lệnh quan trên, từ năm 1915 – 1916 lại phải chịu
Trang 14thêm vạ mộ lính nữa Chính sách thống trị, bóc lột của thực dân Pháp đối với nhân dân ta rất tàn bạo, chính những chính sách này đã đẩy người nông dân lâm vào bước đường cùng, đời sống hết sức khó khăn, nền kinh tế ngày càng què quặt và kiệt quệ
1.1.2 Những chuyển biến về mặt xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất
Dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, cùng với những chuyển biến về kinh tế thì xã hội Việt Nam cũng bắt đầu có những thay đổi nhanh chóng Đó là sự ra đời của những giai cấp, tầng lớp mới và sự phân hóa của các giai cấp cũ
Cùng với sự phát triển của các ngành công thương nghiệp, sự du nhập các phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa vào nước ta, giai cấp công nhân đã hình thành liên tục về mặt số lượng cũng như chất lượng Tuy nhiên, khác với các nước
Tư bản phương Tây, giai cấp công nhân Việt Nam chủ yếu xuất thân từ giai cấp nông dân còn gắn bó với nhiều ruộng đất và được hình thành bằng nhiều con đường
khác nhau Số lượng công nhân trong các ngành tăng khá nhanh “Ngành mỏ năm
1904, có 4000 công nhân đến năm 1908 tăng lên 9000 công nhân và đến năm 1913
là 12.000 công nhân Tính đến năm 1906, Việt Nam có khoảng 50 nghìn công nhân chuyên nghiệp làm trong các xí nghiệp của tư bản Pháp Số công nhân tập trung chủ yếu ở Bắc Kỳ (20.000 người), Nam Kỳ (25.000 người), ở Trung Kỳ (5000 người) Đó là chưa kể số công nhân làm theo mùa Trong số 50.000 công nhân có 1.800 người có trình độ chuyên môn chiếm 4%” [36; tr 67]
Với số lượng phát triển quá cao, với chất lượng biểu hiện rõ ở tính tập trung (lao động trong guồng máy tư bản chủ nghĩa với kỹ thuật hiện đại), có tinh thần đoàn kết chống kẻ thù chung, công nhân Việt Nam đã có các điều kiện cần và đủ để hình thành một giai cấp Tuy nhiên, giai đoạn này giai cấp công nhân đã hình thành nhưng mới ở giai đoạn “tự phát” chưa nhận thức được vai trò lịch sử của mình Sau sự ra đời của giai cấp công nhân thì tầng lớp tư sản, tiểu tư sản đầu tiên cũng xuất hiện tuy chưa đông về số lượng và có nguồn gốc khác nhau Nguồn gốc chủ yếu của tư sản Việt Nam là từ các địa chủ chuyên làm thầu khoán hoặc đại lý cho Pháp, chỉ có một số ít từ các tiểu chủ đi lên, một số là quan lại cáo quan về kinh
Trang 15doanh công thương nghiệp với ý thức phát triển kinh tế dân tộc, cũng có những người yêu nước chuyến sang kinh doanh thương nghiệp để phục vụ cho mục đích chính trị Nhưng nhìn chung do bị thực dân chèn ép nặng nề nên tư sản Việt Nam còn phát triển chậm về mọi mặt, chưa đủ đủ điều kiện để hình thành một giai cấp, nhưng cùng với sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa dân tộc là cơ sở thuận lợi
để tiếp thu các trào lưu tư tưởng từ ngoài vào Bên cạnh tầng lớp tư sản là tầng lớp tiểu tư sản có trước và đông hơn tầng lớp tư sản Đó là những nhà tiểu thủ công nghiệp, tiểu thương, những người làm việc ở các công sở hay tư nhân, những người làm nghề tự do, tầng lớp trí thức, giáo viên, học sinh ở các trường với số lượng ngày càng tăng Đặc biệt là tầng lớp công chức, trí thức, giáo viên, học sinh Nhìn chung, tầng lớp tiểu tư sản Việt Nam cũng bị thực dân Pháp chèn ép nặng nề, đặc biệt tầng lớp trí thức, giáo viên họ còn bị chèn ép nhiều về mặt chuyên môn lẫn chính trị, thấm sâu nổi nhục mất nước
Trong khi ở thành thị đang có những biến chuyển lớn như vậy thì ở nông thôn cũng diễn ra những thay đổi gấp rút Những giai cấp cũ trong xã hội Việt Nam trước
sự thâm nhập tàn bạo của chủ nghĩa tư bản thực dân Pháp không tránh khỏi phân hóa nhanh chóng Chính sự phân hóa giai cấp ở nông thôn đã tạo điều kiện cho sự tập hợp, phát triển và hình thành các giai cấp mới ở thành thị Ở nông thôn giai cấp nông dân và thợ thủ công bị bần cùng hóa và phá sản hàng loạt Đume sang, nạn chiếm hữu ruộng đất diễn ra một cách khủng khiếp trong toàn quốc Từ điều ước tháng 10-1897 của triều đình Huế nhượng cho thực dân quyền khai thác đất hoang đến nghị định ngày 1-5-1900 phủ nhận quyền sở hữu ruộng đất trong luật pháp phong kiến càng giúp tư bản Pháp và bè lũ phong kiến tay sai, trắng trợn cướp đoạt
ruộng đất của nông dân trên quy mô lớn “Số nông dân mất đất tăng nhanh do
ruộng công (ở Bắc, Trung Kỳ) giảm, bị cướp đoạt nên họ bị bần cùng hóa Đến những năm 20, đại thể, có tới 70% nông dân Nam Kỳ, 77% nông dân xứ Bắc Kỳ không có ruộng”[15, tr.230] Có một điều cần làm rõ là thực dân Pháp sau khi
chiếm đoạt ruộng đất của nông dân để lập đồn điền nông nghiệp (trồng lúa) vẫn áp dụng chế độ bóc lột phong kiến cũ, phát canh thu tô đối với các tá điền, giống như các đại chủ người Việt vì chúng nhận thấy đó là cách làm ăn ít tốn kém, chắc ăn và
Trang 16nhiều lời nhất “ Ngoài ra, chúng còn dung dưỡng tay sai cướp đoạt ruộng đất của
nông dân Nghị định La-gờ-răng-đi –e ngày 14 và 16-6-1864 đã công nhiên cướp ruộng nông dân làng Bình-yên cho mấy tên tri huyện Đoàn - Tiên –Sanh ở Tân – ninh vì có công giúp thực dân Pháp trong việc đàn áp nông dân Nam Kỳ hay đốc phủ sứ Trần Bá Lộc có công đàn áp phong trào Văn thân Trung kỳ sau năm 1885”[15; tr.79] Như vậy là nạn chiếm hữu ruộng đất đã trầm trọng trước thờ xâm
lược lại còn trầm trọng hơn dưới thời thuộc địa Thêm vào đó, nạn sưu thuế ngày một nặng, nạn cho vay lãi và cầm cố vẫn duy trì càng làm cho nông dân xơ xác,
cuối cùng còn mảnh đất, mảnh vườn nào cũng bị tước đoạt Hơn thế nữa: “ Chế độ
thuộc địa tàn bạo và lạc hậu đã không thanh toán các quan hệ phong kiến lỗi thời trái lại còn củng cố các quan hệ đó, tư bản Pháp cấu kết chặt chẽ với phong kiến để bóc lột nông dân tàn nhẫn và thoái hóa hơn một tầng nữa Chẳng những thế, thực dân Pháp lại sao nhãng việc đắp và bảo vệ đê điều, nạn vỡ đê lụt lội xảy ra liên miên hầu như không năm nào tránh khỏi (lớn nhất vào những năm 1893, 1904, 1911,1913) làm cho đời sống nông dân càng thêm điêu đứng” [9; tr.80] Nông dân
bị cướp ruộng đất, bị sưu cao thuế nặng, trở nên bần cùng hóa Trước mắt họ chỉ còn lại mấy con đường , đường nào cũng đầy chông gai nhọn sắc: Ở lại làm tá điền cho bọn ăn cướp đất, hay ra thành phố, các khu kỹ nghệ, vùng mỏ làm thuê, và nếu đường cùng thì đành vào làm trong các công trường Nói đến tình cảnh người làm tá
điền ở nông thôn: “Nông dân không ruộng đành phải mướn thửa ruộng do chính họ
khai phá ra nay đã bị cướp đoạt Hai bàn tay trắng, họ phải vay thóc giống, thuê trâu bò của chủ ruộng để đến vụ thu hoạch bị trừ đầu khấu đuôi, nhiều khi trong nhà không còn một hạt thóc Rồi lại vay thóc, mượn tiền, thuê trâu bò…những cảnh
đó cứ tiếp tục diễn ra, mỗi năm một thêm trầm trọng, và kiếp người tá điền suốt đời chỉ là kiếp trâu kéo cày trả một món nợ không bao giờ hết Đó là chưa kể tới bao tai ương khác dồn dập giáng xuống đầu người nông dân như sưu thuế, lễ lạt, phu đài, tạp dịch làm cho cuộc đời họ vô cùng tăm tối.”[8; tr.82] Còn đối với những người
bỏ làng ra đi làm việc tại các vùng mỏ, đồn điền, trong các ngành giao thông vận tải, thương mại, trong một số xí nghiệp sản xuất hàng hóa của tue bản Pháp, đời sống cũng không kém phần điêu đứng Hầm mỏ hay đồn điền và xí nghiệp của tư
Trang 17bản đều là những địa ngục trần gian mà người nông dân, thợ thủ công hay dân nghèo thành thị không mong có ngày về Đói rét, nợ nần, bệnh tật, roi vọt, tai nạn
lao động và cuối cùng là chết chóc luôn đe dọa họ Đây là hình ảnh của họ: “ Những
bọn người rách rưới, đôi cánh tay khẳng khiu gầy guộc làm việc rất nặng nhọc dưới mặt trời mà lương rất thấp Có cả đàn bà, và đi sau các chiếc gò ong là những đứa nhỏ mới độ mười tuổi nhưng mặt mày bơ phờ dưới lớp bụi than nên trông già đến bốn mươi…Chúng chạy đi chạy lại không ngừng để mỗi ngày lĩnh 10 hay 15 xu…”
[17; tr 83] Đã nói tới người nông dân là phải nói tới người thợ thủ công Họ cũng
bị chính sách độc chiếm thị trường của thực dân Pháp bóp nghẹt Trừ một số nghề
mỹ nghệ ở các đô thị có điều kiện phát triển, nói chung các nghề thủ công và nghề phụ nông thôn đều bị đình trệ Trước mắt, họ chỉ còn lại mấy con đường giống người nông dân
Sự phân hóa còn biểu hiện ở giai cấp điạ chủ Được thực dân Pháp nâng đỡ,
ưu thế về kinh tế và chính trị của địa chủ Việt Nam tăng lên Một số người kinh doanh công thương nghiệp xuất thân từ địa chủ vẫn cố giữ lấy một phần ruộng đất
để phát canh thu tô Một số ít khác, đề phòng công việc kinh doanh bấp bênh, cũng mua một ít ruộng đất cho phát canh thu tô Như vậy, ngoài địa chủ Pháp, địa chủ Nhà thờ, địa chủ quan lại, địa chủ thường, còn có các địa chủ kiêm công thương Địa chủ Việt Nam phát triển hơn trước và họ đã mất vai trò giai cấp thống trị có chủ quyền, nói chung đã trở thành chỗ dựa và tay sai cho chủ nghĩa thực dân
Nhìn chung, tới đầu thế kỷ XX, xã hội Việt Nam đã có chuyển biến mới, các mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn giữa công nhân với tư bản, nông dân với địa chủ, mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp xâm lược càng trở nên sâu sắc hơn, quyết liệt hơn dẫn đến cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp ngày càng phát triển mạnh mẽ
1.2 Xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp
1.2.1 Chính sách thống trị, bóc lột của thực dân Pháp
Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, bộ máy thống trị của thực dân Pháp ở Đông Dương vẫn không thay đổi mà còn tăng cường để phục cuộc khai thác thuộc địa lần
Trang 18thứ hai Đó chính là chính sách chuyên chế, mọi quyền hành đều nằm trong tay thực dân Pháp và bọn tay sai trung thành của chúng Bộ máy đàn áp, cảnh sát, mật thám, nhà tù vẫn tiếp tục được củng cố và hoạt động ráo riết Một số tổ chức chính trị, an ninh, kinh tế được thành lập Trong những năm 20, thực dân Pháp đã tiến hành một
số cải cách về chính trị - hành chính nhằm đối phó với những biến động có thể xảy
ra ở Việt Nam Mục tiêu của các cuộc cải cách này là mở rộng cơ sở xã hội của thực dân Pháp, nhưng không làm ảnh hưởng tới nền tảng thống trị ở thuộc địa Xuất phát từ đó, Pháp kiên trì đường lối nhượng bộ đối với các giai cấp có của, đồng thời tăng cường đàn áp chống lại quần chúng lao động
Nhằm mục đích can thiệp trực tiếp vào các làng, xã, từ năm 1904 thực dân
Pháp bắt đầu thực hiện quá trình “cải lương hương chính” với ý đồ đưa tầng lớp tân
học lên cầm quyền thay tầng lớp cựu học Tuy nhiên, từ nghị định đầu tiên vào 27-
8 -1904 ở Nam Kì, phải mất 17 năm sau, đến 12- 8 -1921 thực dân Pháp mới ban hành được nghị định tiếp theo để thực hiện trên đất Bắc Kỳ Công cuộc cải lương hương chính tiếp tục được thực hiện ở hai miền với các nghị định 25- 2 - 1927 của Thống sứ Bắc Kỳ và nghị định 30 – 10 - 1927 của Toàn quyền Đông Dương
Chủ trương chung của thực dân Pháp là tiếp tục sử dụng giai cấp địa chủ và tay sai người Việt vào việc cai trị Các thành phần này ở bên trên chỉ là những kẻ có chức nhưng không có quyền hành gì đáng kể Bộ phận đắc lực là guồng máy tay sai
ở các cấp dưới, chủ yếu làm nhiệm vụ thừa hành mệnh lệnh của cấp trên Ngoài bộ phận tay sai cũ được suy trì và cải tạo để sử dụng, Pháp tăng cường đào tạo lực lượng mới để bổ sung và củng cố cho bộ máy chính quyền của chúng Chính sách này có hiệu lực ở mức độ nhất định, còn bộ phận rộng lớn nhất của xã hội Việt Nam
là các làng, xã thì Pháp khó chi phối hơn Pháp không thể mở trường đào tạo các lí trưởng, chánh tổng, các làng, xã bị đóng kín Nhưng đó lại là bộ phận quan trọng bậc nhất trong cấu trúc xã hội Việt Nam, vì mỗi làng, xã là một tế bào, một cấu kiện ghép thành xã hội nông thôn - nông nghiệp Việt Nam, nên Pháp càng phải ra sức tìm một con đường, xâm nhập và chi phối các làng xã Về căn bản, các chính sách cải lương hương chính chấp nhận các cơ chế cổ truyền của làng xã Việt Nam, nhưng nó cố gắng nắm lấy bộ phận cầm đầu làng, xã, hương, thôn Dù có những
Trang 19khó khăn và phản ứng từ các làng xã, nhưng kết quả của quá trình cải lương hương chính là thực dân Pháp đã thành công trong việc can thiệp vào các làng xã thông qua việc “viên chức hoá” các chức dịch, kì hào, kiểm soát về nhân sự, tài chính, đưa các thành phần gắn bó với chế độ thực dân vào chính quyền…
Sau khi đã xây dựng và củng cố được quyền lực của mình trong thực tế, thực dân Pháp tìm cách gạt bỏ vai trò của triều đình phong kiến trong công việc quốc gia Với bản quy ước ngày 6-11-1925, Pháp đã công khai bãi bỏ thực quyền của giai cấp phong kiến và nắm lấy quyền thống trị cả trên 3 phương diện lập pháp, hành pháp
và tư pháp Một bộ máy nhà nước của thực dân Pháp vừa trùm lên, vừa chi phối hệ thống chính quyền phong kiến, hình thành
Bên cạnh đó, trong những năm 20, thực dân Pháp đã tiến hành một số cải cách
về chính trị - hành chính nhằm đối phó lại những biến động đang diễn ra trong xã hội Việt Nam Mục tiêu của các cuộc cải cách này là mở rộng cơ sở xã hội của thực dân Pháp, nhưng không làm ảnh hưởng tới nền tảng thống trị ở thuộc địa Xuất phát
từ đó, Pháp kiên trì nhượng bộ đối với giai cấp có của, đồng thời tăng cường đàn áp chống lại quần chúng lao động Nhằm xoa dịu quần chúng, các Toàn quyền Pháp là Xa-rô, Lông, Va-ren đã tiến hành một số biện pháp như: lập các Viện Dân Biểu Bắc-Trung kỳ, mở rộng các công sở cho người Việt, lập các ngạch công chức tương đương cho người Pháp và người Việt có bằng cấp ngang nhau, nhưng với các chức
vụ và chế độ lương bổng khác nhau Bộ phận các uỷ viên người Việt trong các Phòng Thương mại và Canh nông của các thành phố lớn cũng được tăng thêm số lượng Năm 1928, Pháp lập Đại hội đồng kinh tế - tài chính Đông Dương với tư cách là cơ quan tư vấn về kinh tế - tài chính trong Liên bang Đông Dương Một trong những biểu hiện khác của chính sách cải cách này là tăng cường số lượng công chức người Việt trong bộ máy hành chính thuộc địa Để thực hiện mục tiêu đó, Toàn quyền Đông Dương ban hành sắc lệnh ngày 20-6-1921 về việc tăng cường lựa chọn vào bộ máy hành chính những quan lại người Việt, tạo điều kiện để tạo ra đội ngũ cán bộ địa phương người Việt, là lần đầu tiên trong lịch sử xâm lược và thống trị Việt Nam, thực dân Pháp chính thức ban hành một quy chế về việc tuyển dụng người Việt vào bộ máy hành chính thuộc địa Tuy nhiên các cải cách của Toàn
Trang 20quyền Lông đã không đạt được mục đích vì đã không làm thay đổi căn bản được tình hình, số lượng công chức người Việt vẫn không đáng kể
Nhìn chung vấn đề xây dựng đội ngũ công chức người Việt trong những năm
20 là một vấn đề được chính quyền thực dân khá coi trọng Một số nhà hoạt động trong lĩnh vực hành chính của Pháp coi đây như là chìa khoá để giải quyết tất cả các vấn đề khác của chính sách thuộc địa ở Việt Nam Nhưng giới cầm quyền Pháp đã
không công bằng với các công chức Việt Nam: “Để tiếp tục giải quyết vấn đề công
chức người Việt, nghị định 27/2/1926 đã nêu rõ rằng từ nay tất cả các chức vụ trong cơ quan hành chính Pháp, trừ một số chức vụ cao, sẽ được xếp ngang nhau cho người Việt Nam và người Pháp Tuy nhiên những quy định đó chỉ là trên giấy
tờ, còn trong thực tế Toàn quyền Va-ren đã phê chuẩn một khoản gọi là “phụ cấp thuộc địa” cho các quan chức người Pháp, chiếm khoảng 0,7% lương tháng” [5; tr
220]
Pháp còn thực hiện chính sách chia rẽ dân tộc, chủng tộc Chính sách xã hội của thực dân Pháp đối với các giai tầng xã hội khác nhau là khác nhau: Với các tầng lớp trên như: những người hữu sản, giàu có, quyền lợi ít nhiều gắn liền với chính quyền thực dân, chúng giành cho những đặc quyền đặc lợi cả về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội Với các tầng lớp dưới, thực dân Pháp chủ trương tăng cường bóc lột, đàn áp và đẩy họ vào vòng tăm tối của chế độ ngu dân Bên cạnh sự phân biệt giai cấp như trên, các chính sách của Pháp còn thể hiện sự phân biệt chủng tộc trắng trợn Tất cả mọi người Pháp đều được ưu tiên trong mọi vị trí, mọi công việc, mọi thời gian; còn người Việt đều bị coi thường, khinh rẻ Người Việt cho dù có tốt nghiệp các trường cao đẳng, thậm chí là học từ Pháp về, cũng không bao giờ được coi ngang bằng với người Pháp cũng học trường đó; bằng cấp ngang nhau nhưng chức vụ và mức lương của người Pháp luôn cao hơn người Việt cùng vị trí, cùng công sở
Các thủ đoạn trong văn hoá, giáo dục cũng được Pháp “quan tâm” Cuối 1917, Toàn quyền Xa-rô ban hành nghị định về “ Học chính tổng quy ” để cải cách hệ thống giáo dục(đây là cuộc cải cách giáo dục lần 2, lần 1 của Toàn quyền Bô vào 1906) Trong thời kỳ cải cách giáo dục lần 2 (1917-1929) thực dân Pháp chủ trương
Trang 21nhanh chóng xoá bỏ hoàn toàn nền giáo dục Nho học(thực tế thì kì thi Hương cuối cùng là vào năm 1919), đồng thời tiếp tục mở rộng hệ thống giáo dục Pháp-Việt Trong nghiên cứu khoa học, ngoài các cơ quan và viện nghiên cứu đã thành lập từ đầu thế kỷ, thực dân Pháp còn xây thêm một số cơ sở mới như: Túc Mễ cục, Viện Hải dương học, Hội đồng nghiên cứu khoa học Mục đích của các cơ quan và tổ chức khoa học này là nhằm tìm hiểu và khai thác các nguồn tài nguyên, của cải của đất nước ta, phục vụ yêu cầu lợi nhuận của các nhà tư bản Pháp Như vậy, so với những năm đầu thế kỷ XX, giai đoạn sau chiến tranh thế giới thứ nhất nền giáo dục Việt Nam có nhiều thay đổi về hệ thống tổ chức, cơ cấu ngành nghề và nội dung đào tạo nhằm phục vụ cho mục đích của giới cầm quyền Pháp
Đối với lĩnh vực đời sống văn hoá-nghệ thuật, thực dân Pháp ra sức sử dụng
vũ khí văn hoá để phục vụ cho mục đích khai thác thuộc địa, tuyên truyền chính sách hợp tác Pháp-Việt Chính quyền Pháp ưu tiên xuất bản các sách báo phổ biến
tư tưởng Âu châu Một số học giả Việt Nam thân Pháp ra sức viết bài tán dương chủ trương “Pháp-Việt đuề huề”, thừa nhận chế độ cai trị của Pháp, tuyên truyền và ca ngợi văn minh Pháp là nền văn mình cao nhất của phương Tây…
Giống như cuộc khai thác thuộc địa lần trước, cuộc khai thác thuộc lần này vẫn theo đuổi một ý đồ nham hiểm : bòn rút thuộc địa để làm giàu cho chính quốc nhưng không cho thuộc địa có cơ hội cạnh tranh với chính quốc Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, cùng với việc tăng cường đầu tư khai thác, chính quyền thực dân cũng
đã ra sức bóc lột nhân dân ta qua con đường thuế má Bên cạnh thuế khóa, chính quyền thực dân còn tìm cách bắt buộc nhân dân mua các loại công trái, quốc trái để lấy tiền xây dựng các công trình công cộng hoặc phục vụ nhu cầu quân sự Nhiều người không muốn mua cũng bị “gán” cho Riêng công trái phát hành trong những năm khủng hoảng kinh tế đã thu về cho chính quyền thực dân tới 150 triệu đồng
1.2.2 Những chuyển biến của xã hội Việt Nam trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai
Trên phương diện xã hội, dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, xã hội Việt Nam tiếp tục có sự phân hóa giai cấp sâu sắc và cùng với nó là sự
xuất hiện một hệ thống thành phố kiểu phương Tây
Trang 22Sự phân hoá giai cấp:
Giai cấp đia chủ : Nét đặc trưng của xã hội thuộc địa là sự cấu kết chặt chẽ
giữa thực dân và giai cấp địa chủ phong kiến bản xứ Giai cấp địa chủ vì thế, không những không bị thu hẹp lại, mà trái lại được phát triển đủ mạnh để có thể trở thành nền tảng xã hội của chế độ thuộc địa Thế lực này được đo bằng số ruộng đất tập trung trong tay họ Ở Nam Kỳ, mức độ tập trung ruộng đất cao hơn Bắc Kỳ và Trung Kỳ Trong giai cấp địa chủ đã xuất hiện sự phân tầng rõ rệt : địa chủ nhỏ, địa chủ vừa và đại địa chủ Nam Kỳ là nơi tập trung nhiều đại địa chủ, có 2.449 đại địa chủ sở hữu từ 100 - 500 ha và 244 đại địa chủ sở hữu trên 500 ha Nhìn chung, giai cấp địa chủ thời kỳ này chiếm khoảng 7% cư dân nông thôn, nhưng đã nắm trong tay một nửa diện tích canh tác Đến năm 1939, Việt Nam có khoảng 6.500 địa chủ
sở hữu trên 50 ha ruộng đất, trong đó Nam Kỳ có 6.200, Bắc Kỳ có 200 và Trung
Kỳ có 100 người Giai cấp “ngồi mát ăn bát vàng" này đã tách khỏi quá trình sản xuất, sống bằng việc phát canh thu tô (tô tiền, tô hiện vật và tô lao dịch) Do sự nâng đỡ của chính quyền thực dân, giai cấp địa chủ chiếm đại đa số trong cơ cấu chính quyền làng xã (Hội đồng kỳ mục, Hội đồng tộc biểu, người đứng đầu các xã, tổng và hàng thôn) Đồng thời, giai cấp này còn có đại biểu của mình ở các cấp chính quyền bên trên như các Viện Dân biểu, Hội đồng quản hạt Rõ ràng, giai cấp địa chủ trở thành chỗ dựa đáng tin cậy của chính quyền thực dân
Giai cấp nông dân: thành phần chiếm tuyệt đại đa số (khoảng 90% ) trong
xã hội Việt Nam Trong quá trình sản xuất, dưới tác động của chương trình khai thác thuộc địa, giai cấp này đã chuyến biến sâu sắc và có sự phân tầng rõ rệt : phú nông, trung nông, bần nông và cố nông
Phú nông là tầng lớp khá giả nhất trong giai cấp nông dân, chiếm hữu một số ruộng đất tương đối khá nhưng chưa đủ để trở thành địa chủ, cũng tham gia bóc lột bằng thuê nhân công, tuy vẫn trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất
Trung nông là tầng lớp có đủ ruộng đất và công cụ sản xuất như trâu bò, nông cụ…để tiến hành sản xuất nuôi sống gia đình mình, họ không bán sức lao động và cũng không có khả năng tham gia bóc lột người khác Song đây chỉ là giới hạn tương đối Một số trung nông lớp dưới vẫn phải bán sức lao động (tùy thời điểm) và
Trang 23một số có tham gia bóc lột qua lĩnh canh ruộng đất dư hoặc phát canh lại ruộng lĩnh canh của địa chủ như ở Nam Kỳ
Bần nông là tầng lớp thiếu ruộng đất canh tác, thiếu thiếu trâu bò và nông cụ sản xuất Để nuôi sống gia đình mình họ phải lĩnh canh ruộng đất của địa chủ, thuê mướn trâu bò, nông cụ sản xuất và tiền vốn
Cố nông là tầng lớp “không tấc đất cắm dùi” nghèo khổ nhất, bần cùng nhất trong giai cấp nông dân Họ thường không có ruộng đất để cày cấy, không có trâu
bò và nông cụ để sản xuất Vì vậy nguồn sống chủ yếu của họ là lĩnh canh ruộng
đất, đi làm thuê, đi ở cho nhà giàu “ Theo số liệu của cuộc điều tra vào năm 1945
thì ở 16 tỉnh miền Bắc thời kỳ này có 11.785 hộ cố nông, chiếm 20,6% tổng số hộ nông dân, nhưng chỉ có trong tay 1.513 mẫu 7 sào ruộng, bằng khoảng 1,2% tổng
Giai công nhân Việt Nam ngày càng trở nên đông đảo Đến năm 1929, chỉ
tính riêng công nhân trong các doanh nghiệp của người Pháp đã là 221.050 người Điều kiện sống và làm việc của công nhân rất cực khổ, bị tư tư sản Pháp bóc lột nặng nề Vì thế, trong họ đã có sẵn mối thù dân tộc Khi họ trở thành công nhân, làm thuê cho một ông chủ nào đó, bị giới chủ bóc lột, áp bức nặng nề, họ mang thêm một mối thù thứ hai – mối thù giai cấp Mối thù dân tộc có trước thôi thúc mối thù giai cấp chín sớm Do vậy, giai cấp công nhân Việt Nam sớm giác ngộ ý thức giai cấp và nhanh chóng vươn lên nắm lấy ngọn cờ giải phóng dân tộc
Trang 24 Giai cấp tiểu tư sản: Cùng với sự gia tăng của cuộc khai thác thuộc địa, sự
xuất hiện hệ thống thành thị kiểu phương Tây và nền giáo dục Pháp-Việt phát triển, giai cấp tiểu tư sản ngày càng trở nên đông đảo Nó được kết hợp một cách lỏng lẻo bởi ba bộ phận: trí thứ, tiểu thương và thợ thủ công Điểm chung của họ là thi dân,
sở hữu một ít tư liệu sản xuất
Trí thức: là bộ phận quan trọng nhất của giai cấp tiểu tư sản Đến năn 1929, đội ngũ trí thức đã lên tới gần 40 vạn người (12.000 giáo viên, 335.545 học sinh, 23.000 viên chức và hàng trăm sinh viên các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề) Tiểu thương: Thành phần của đội ngũ này khá rộng, từ người buôn thúng bán mẹt đến những người có cửa hàng, cửa hiệu nhưng vốn liếng chưa đạt tới ngưỡng một nhà tư sản Đội ngũ những người buôn bán nhỏ có đóng thuế môn bài thường xuyên là 130.000 người
Thợ thủ công: Vào giữa những năm 30 của thế kỷ này, có khoảng 21,6 thợ thủ công chuyên nghiệp, đông đảo nhất là Bắc Kỳ So với hai bộ phận trên, bộ phận này có đời sống bấp bênh nhất bởi với sự xuất hiện các doanh nghiệp lớn đe doạ thủ công nghiệp phá sản
Giai cấp tư sản: Tư sản Việt Nam, sau chiến tranh, gặp những điều kiện
thuận lợi nên hoạt động kinh doanh của họ càng trở nên sôi nổi hơn, đa dạng hơn
Họ kinh doanh trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế, từ xay xát, nhuộm dệt, in ấn, vận tải đến sản xuất nước mắm, đường, xà phòng, sơn, đồ gốm v.v Một số đã có trong tay một sản nghiệp lớn như mỏ, đồn điền, công ty vận tải sông biển, các công ty thương mại Cuối những năm 1920 tư sản Việt Nam đã gia tăng về số lượng, đã đạt từ con số 20.000 người, chiếm khoảng 0,1% dân số cả nước Tư sản Việt Nam
đã từ một tầng lớp trở thành một giai cấp xã hội thực sự sau Chiến tranh thế giới thứ nhất Do điều kiện kinh doanh, giai cấp tư sản Việt Nam tự phân thành hai bộ phận :
tư sản mại bản và tư sản dân tộc
Tư sản mại bản là một bộ phận những nhà đại lý cho tư bản nước ngoài, những nhà thầu khoán và những tư sản hùn vốn kinh doanh với tư sản Pháp và những nhà doanh nghiệp có quan hệ buôn bán với nước ngoài Vì lợi ích kinh tế của
bộ phận này gắn chặt với lợi ích kinh tế của tư bản thực dân Ngoài bộ phận trên,
Trang 25phần lớn các nhà tư sản Việt Nam đều là tư sản dân tộc Họ có mặt trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế, đặc biệt trong thương nghiệp Lợi ích kinh tế của bộ phận tư sản dân tộc không đồng nhất với lợi ích kinh tế của chính quyền thực dân Họ bị chèn ép từ nhiều phía, từ tư sản Pháp đến các nhà tư sản ngoại kiều Vì thế, để tồn tại và phát triển, bộ phận này đã cố kết với nhau trong kinh doanh và do đó ít nhiều
họ có tinh thần dân tộc
Cùng với sự phân hóa của các giai cấp trong giai đoạn này đó là sự hình thành
hệ thống đô thị kiểu phương Tây Quá trình hình thành hệ thống thành thị kiểu phương Tây ở nước ta gắn chặt với công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, được đẩy mạnh và hoàn thiện trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai Cùng với sự lớn mạnh của các đô thị, số thị dân tăng nhanh Trong quá trình sinh tồn, thị dân đã tạo
ra một lối sống riêng, một phong tục tập quán riêng, vừa kế thừa những giá trị truyền thống, nhưng đồng thời cũng có những nét khác với lối sống của nông dân Một hệ thống thành thị phát triển, thị dân trở nên đông đúc là những tiền đề, những điều kiện để tiếp nhận văn hóa phương Tây Với sự hình thành và hoàn thiện một hệ thống thành thị kiểu phương Tây, trong xã hội Việt Nam đã xuất hiện nền văn minh
đô thị, một nền văn minh tiên tiến thúc đẩy xã hội Việt Nam vươn tới
Qua đây cho ta thấy đầu thế kỷ XX, cùng với những chính sách thống trị và bóc lột thuộc địa của thực dân Pháp đã xuất hiện những chuyển biến mạnh mẽ trong
cơ cấu xã hội Việt Nam Xã hội Việt Nam đã có sự xuất hiện của nhiều giai cấp, tầng lớp mới; giai cấp cũ thì phân hóa sâu sắc Trong xã hội cũng đã bộc lộ những mâu thuẫn giai cấp và mâu thuẫn dân tộc ngày càng gay gắt
Trang 26CHƯƠNG 2 THUẾ VÀ NỢ LÃI CỦA THỰC DÂN PHONG KIẾN ĐỐI VỚI NÔNG DÂN
VIỆT NAM QUA HAI CUỘC KHAI THÁC THUỘC ĐỊA
CỦA THỰC DÂN PHÁP
2.1 Một số khái niệm, thuật ngữ
Thuế trực thu
Theo Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông: Thuế trực thu là loại thuế dưới thời
phong kiến, thực dân, đánh trực tiếp vào người dân như: thuế đinh, thuế điền [17; tr 411]
Thuế gián thu
Theo Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông: Thuế gián thu là loại thuế đánh vào
hàng hóa qua đó đánh vào người tiêu dùng, chủ yếu là nhân dân lao động: Bọn thực dân tăng thuế gián thu nhằm để tăng cường bóc lột nhân dân thuộc địa [4; tr 200]
Nợ lãi
Theo PGS TS Lâm Quang Huyên trong “ Những biến đổi của giai cấp nông
dân và quan hệ địa chủ - tá điền ở Nam Bộ thời kỳ cận đại”: Nợ lãi là hình thức bóc
lột của địa chủ, thực dân bằng cách cho nông dân vay thóc hoặc tiền, mua lúa non cũng là hình thức cho vay lãi cắt cổ khá phổ biến Còn vay tiền, tỷ lệ lãi thường một vốn một lãi (100%) nếu đáo hạn không trả được thì phải gán đất gán nhà [4; tr 3]
Nông dân
Theo Từ điển thuật ngữ lịch sử phổ thông: Nông dân là những người lao động
sản xuất nông nghiệp Dưới thời phong kiến và tư bản chủ nghĩa, nông dân là một giai cấp gồm nhiều tầng lớp (cố nông, bần nông, trung nông, phú nông), trong đó cố nông, bần nông là nguồn lao động thực sự Nông dân là lực lượng cách mạng lớn
lao, đồng minh gần của giai cấp công nhân trong đấu tranh cách mạng [27; tr 310]
Trang 272.2 Thuế và nợ lãi đối với nông dân Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp
2.2.1 Cơ sở của việc đề ra chính sách thuế và nợ lãi
2.2.1.1 Dựa trên chế độ thuế khóa, nợ lãi của triều Nguyễn
Cũng như các triều đại phong kiến khác, dưới thời nhà Nguyễn, thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân quỹ quốc gia Mọi chi phí cho các hoạt động của nhà nước và các sinh hoạt lương bổng của hệ thống vua quan triều đình đều dựa vào nguồn thu này Sau khi lên ngôi (1802), Gia Long tiếp tục thực hiện “ phép tô, dung” như các triều đại trước Ba sắc thuế chính được nhà Nguyễn đặt ra là: thuế điền thổ (thuế ruộng đất), thuế đinh (thuế thân), thuế tạp dịch Ngoài ra còn có một số sắc thuế khác đánh vào các hoạt động công thương như thuế hầm mỏ, thuế cảng, thuế nguồn đàm, thuế quan tân, thuế hiện vật đối với các hộ sản xuất thủ công, thuế thuốc phiện, thuế thuyền bè, thuế rượu…
Về thuế điền thổ, Nhà nước đánh thuế hầu hết các loại ruộng, đất (trừ đất công cộng, đất ban thưởng cho gia đình quan lại, đất đình chùa và thờ tự) Ruộng đất phân chia thành 2 loại hình sở hữu: ruộng đất thuộc quyền sở hữu nhà nước và ruộng đất công (làng xã), tư (cá nhân) Triều đình đánh thuế ruộng công nặng hơn ruộng tư nên các tầng lớp nông dân nghèo không có ruộng, nhất là những vùng đông dân cư ở đồng bằng sông Hồng, sông Mã chịu thuế nặng
Đối với ruộng đất thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, nhà Nguyễn chia thành 4 loại: đồn điền, quan điền - quan trại, ruộng đại nạp Nam Kỳ và ruộng ba tú Nam
Kỳ Ở mỗi triều vua ruộng đất lại được chia thành nhiều đẳng hạng và áp dụng các mức thuế khác nhau Tô thuế ruộng đất thường nộp bằng hiện vật (đơn vị tính là
học, thăng hoặc bát thóc) “Ruộng quan điền quan trại thời Gia Long, thuế thu 100
thăng/mẫu; thời Tự Đức có nhiều mức, từ 10 thăng đến 245 thăng/mẫu; ruộng đại nạp Nam Kỳ hạng hộc, hạng 24 hộc, hạng 33 hộc”[16; tr.173] Ruộng đất công, tư
lại được chia làm hai loại: ruộng (để cày cấy) và đất (để trồng màu và cây lâu năm) Đất cũng được chia thành từng vùng và mức thuế đánh theo từng loại cây trồng Hình thức nộp thuế của từng loại đất trồng cây khác nhau: được thu bằng
hiện vật hay bằng tiền Thời Gia Long, đất trồng mía thu 10 thăng/mẫu, còn các
Trang 28loại đất khác nộp bằng tiền, như đất trồng dừa có ba mức thuế: 19 quan/5 thửa, 2 quan/thửa và 2,5 quan/thửa [19; tr 173] Một bộ phận thu nhập quan trọng của nhà
nước, đồng thời là một thứ nghĩa vụ là thuế thân (thuế đinh) chỉ đánh vào nội đinh (là những người dân chính thức của làng), được hưởng những quyền lợi công dân, như được chia ruộng đất công, được tham gia các chức vụ chính quyền ở xã hay phạm vi ngoài xã và nhiều quyền lợi khác Ngoại đinh (dân lậu hay ngụ cư) được miễn thuế thân, nhưng không được hưởng một quyền lợi nào
Cũng như thuế ruộng đất, thuế thân cũng được chia theo vùng Thời Gia Long,
cả nước chia làm 3 vùng; thời Tự Đức chia 5 vùng, ở mỗi vùng, áp dụng các mức thuế khác nhau Nhà nước dựa vào sổ đinh của làng xã để đánh thuế Trong sổ đinh, nội đinh được sắp xếp theo hạng rất tỉ mỷ (tráng hạng, quân hạng, dân hạng, lão tật hạng) với các mức thuế khác nhau Những hạng được miễn thuế là: người có chức sắc, con quan thời Nguyễn, nhiêu ấm, nhiêu thân, quan chức, người đỗ đạt, binh sỹ, thợ thuyền Trong thời gian chống Pháp, triều đình có chính sách miễn, trừ thuế thân, tạp dịch đối với thương binh, tùy theo mức độ thương tật Sổ đinh mỗi năm tiểu tu một lần và 5 năm đại tu một lần để điều chỉnh cho đúng với thực tế dân cư trong xã Thuế thân thu bằng tiền
Về thuế tạp dịch (lao dịch), nhà nước không định số ngày huy động trong năm
mà tùy theo yêu cầu của công việc Dân miền núi và vùng xa trung tâm thường được miễn Pháp luật nhà Nguyễn cấm ngặt quan lại không dược huy động nhân công cho việc riêng, hoặc khi đang vụ mùa màng, nếu không được phép của triều đình Những việc lớn huy động nhân công theo lệnh của triều đình, chính quyền hàng tỉnh chỉ được huy động nhân công cho việc nhỏ hoặc việc tu bổ Số lượng nhân công huy động dựa trên số nội đinh của mỗi xã Khi đi lao dịch, lý trưởng hoặc chức dịch xã phải dẫn đi Mỗi nhân công được cấp một phương gạo/1 tháng Những người có việc bận có thể mướn người đi thay Thuế tạp dịch lúc đầu là bắt buộc phải đi, về sau đổi lệ có thể nộp bằng tiền; mỗi năm 2 kỳ, mỗi kỳ 6 tiền Đối với các dân tộc ít người ở vùng thượng du có thể nộp bằng hiện vật, như mật ong, sáp ong, trầm hương, ngà voi, sừng tê giác, hoặc bằng bạc nén Ngoài ra người dân còn phải nộp các khoản tạp dịch khác như tiền mâm (phụ thu theo đầu người), tiền
Trang 29điệu, tiền cước mễ (thóc thu theo đầu người), tiền đầu lạt, tiền thập vật, tiền khoán khố (giấy tờ gửi kho), tiền sai dư (sai phái), tiền trước bạ, tiền dầu đèn…Nhà nước không trực tiếp thu thuế của dân mà phân phối cho từng xã, rồi làng xã tự phân bổ
cho dân chúng Bên cạnh việc quy định lại các loại thuế như thuế thân, thuế điền,
các vua triều Nguyễn còn đặt ra các loại thuế mới như:
Thuế hầm mỏ, nhà Nguyễn rất khuyến khích việc khai thác mỏ Chủ mỏ chỉ cần xin phép và nộp thuế Khai thác thứ gì nộp thuế bằng sản phẩm đó theo một giá được định trước
Thuế các hộ sản xuất thủ công, chế biến, thu lượm, từ tháng 11-1864, Nhà nước thu thuế hiện vật đối với các hộ xã dân làm các nghề khác, ngoài nghề nông Những xã có sản vật đặc biệt như trầm hương, quế, sâm, tôm, mực, dệt lụa, dệt sa, chiếu , sơn, nấu dầu thảo mộc, đục đẽo đá, luyện sắt , đồng đỏ, đồng lá, vàng thếp, vải trắng…thì nộp thuế biệt nạp, tức thu lượm, làm ra những sản phẩm gì thì nộp thuế bằng sản phẩm ấy Người nộp thuế gọi là biệt tính, được miễn binh dịch, tạp dịch và được nộp thuế thân bằng sản phẩm đặc biệt
Thuế thuốc phiện, trong các triều đại trước, việc hút thuốc phiện bị cấm ngặt, nhưng từ tháng 2-1865, Tự Đức bãi bỏ lệnh cấm hút thuốc phiện và bắt đầu đánh thuế thuốc phiện, bằng hình thức cho lĩnh trưng nộp thuế trên phạm vi cả nước Thuế cảng, từ tháng giêng 1866, định lệ thu các tàu thuyền nước ngoài cập bến các cửa bể để buôn bán, trước tiên ở Bắc Kỳ Lúc đầu Nhà nước căn cứ vào kích thước và nơi xuất phát của tàu để đánh thuế Từ tháng 11-1866, Sở thuế quan, ở sông Cấm (Hải Dương), đã có quy định về thuế thu cảng
Thuế quan tân, đánh vào các hoạt động giao dịch thông thương qua các cửa
ải, bến đò, khúc sông, chợ búa…được căn cứ vào giá trị hàng hóa, thu bằng tiền, hoặc nửa bằng hiện vật
Thuế rượu, từ tháng 8-1866 bắt đầu thu ở ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên và cho phép thương nhân Trung Quốc đứng ra lĩnh chừng nộp thuế với mức
2500 quan/ năm và quy đinh mức thuế ty là 1/40 như thuế thuốc phiện Tháng
3-1873, bắt đầu đánh thuế lò rượu ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, cứ lò lớn 40 quan, lò nhỏ
30 quan
Trang 30Thuế muối, từ tháng 12-1867, triều đình bắt đầu đánh thuế muối xuất cảng ở hai cửa khẩu Bình Định và Bình Thuận (Trung Kỳ) và đặt ty đánh thuế muối ở hai nơi đó Loại thuế này sau đó áp dụng cho cả Bắc Kỳ
Thuế môn bài: tháng 11-1870, triều đình dự định đánh thuế môn bài đối với các thương gia Trung Quốc nhưng về sau triều đình lại không thi hành
Thuế nguồn đầm, áp dụng với những người sử dụng ao, hồ, đầm, chằm (mặt nước) để đánh cá hay nuôi trồng thủy sản Thuế này thu bằng tiền
Cho vay nặng lãi cũng là một hình thức bóc lột đối với nông dân dưới thời phong kiến nhà Nguyễn Đây là hiện tượng rất phổ biến, theo tác giả Vũ Huy Phúc:
“Có tài liệu nói rằng Gia Long quy định mức lãi là một vốn, một lãi, tức 100% Lại
có tài liệu nói mức lãi chính thức được Nhà nước phong kiến quy định là 36%, nhưng trong thực tế ít tờ văn khế nào ghi mức lãi dưới 50% hoặc 60% Trong những trường hợp vay ngắn hạn, mức lãi còn cao hơn nữa Ví dụ việc vay nợ trong một tuần lễ thường không chiếm những văn khế vay 5 tiền phải trả 10 tiền trong một tháng Hoặc có hình thức vay trả dần có thể vay 100 tiền rồi trả dần mỗi ngày một tiền ¼ trong vòng 3 tháng” [29; tr 401]
Như vậy, thời Nguyễn, do nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu nên thuế ruộng đất, thuế đinh là chính, thuế gián thu, nợ lãi chưa phải là nguồn lợi lớn của nhà nước Nhưng từ khi đặt nền thống trị, Pháp đã dựa vào chính sách thuế đó của nhà Nguyễn để đặt ra nhiều thứ thuế vô lý khác Cùng với thuế trực thu thì thuế gián thu
và nợ lãi trở thành những nguồn lợi cơ bản của bản Pháp trong công cuộc khai thác, bóc lột nhân dân ta
2.2.1.2 Dựa trên chính sách đầu tư của thực dân Pháp
Đối với chủ nghĩa thực dân, việc chiếm thuộc địa để khai thác, bóc lột về kinh
tế là mục tiêu hàng đầu Tất cả những chính sách trong các lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội…cũng chỉ nhằm mục đích phục vụ cho mục tiêu bóc lột về kinh tế Một trong những khía cạnh đầu tiên của công cuộc khai thác thuộc địa trong lĩnh vực kinh tế là chính sách đầu tư vốn Việc đầu tư tư bản này không phải vì mục đích phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân thuộc địa mà nhằm mục tiêu khai thác
và bóc lột nhiều nhất, lâu dài nhất nền kinh tế thuộc địa Mặt khác, với đặc điểm là
Trang 31chủ nghĩa đế quốc cho vay nặng lãi thì chính sách đầu tư của thực dân Pháp càng được đẩy mạnh Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, tư bản nước ngoài được đầu tư vào Việt Nam từ đầu thế kỷ XX chủ yếu là của Pháp Việc đầu tư nhằm vào việc thiết kế cơ sở hạ tầng, từng bước đầu tư mở mang công thương nghiệp
Toàn quyền Pau Domer khi sang Đông Dương nêu rõ: “Xây dựng cho Đông Dương
một thiết bị kinh tế to lớn, một hệ thống đường sắt đường giao thông, sông đào bến cảng, những chính sách cần thiết cho việc khai thác xứ Đông Dương” và ra sức “ đẩy mạnh sức sản xuất và thương mại của thuộc địa bằng việc thực hiện công cuộc thực dân của người Pháp và lao động của người dân bản xứ” [19; tr 115] Để thực
hiện được điều đó, Daumer đã cho thống nhất tài chính toàn Đông Dương, lập ra ngân sách chung cho cả năm xứ Năm 1887, thực dân Pháp đã dự định thiết lập ngân sách Đông Dương, nhưng đến năm sau thì bị bãi bỏ nhưng phải đến năm 1898, nguồn ngân sách chung cho Đông mới được thiết lập Từ năm 1896 đến 1914 có
514 triệu phơrăng vàng được đầu tư dưới hình thức tiền vốn của Nhà nước, đó là theo số liệu của nhà kinh tế học người Mỹ Callis Cũng theo nguồn tư liệu chính thức của Pháp thì đó là 425 triệu Từ năm 1888 đến năm 1920 có 500 triệu phơrăng
vàng Thực dân Pháp bỏ vốn đầu tư vào nhiều ngành như: Giao thông vận tải, công
nghiệp, thương nghiệp, nông nghiệp… nhưng trọng tâm trong cuộc khai thác này là ngành khai mỏ và giao thông vận tải Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai, thực dân Pháp tiến hành đồng tư ồ ạt vào các ngành kinh tế Việt Nam với một tốc
độ nhanh và quy mô rộng lớn hơn được khai thác thuộc địa lần thứ nhất Số vốn đầu
tư tăng rất nhanh qua các năm “Riêng năm 1920, khối lượng vốn đầu tư vào Việt
Nam của tư bản Pháp đã đạt đến con số 255 triệu phơ răng Nếu trong vòng 30 năm từ 1888 đến 1918 Pháp đã đầu tư vào Đông Dương (chủ yếu là Việt Nam) khoảng 1 tỷ phơrăng thì chỉ tính riêng trong 6 năm từ 1924 đến 1929 khối lượng
đó đã lên tới 4.000 triệu phơrăng” [3; tr 212]
Dưới đây là khối lượng đầu tư vốn theo theo các ngành kinh tế của các Công
ty vô danh Pháp tiến hành trong những năm 1924 đến năm 1930 ở Việt Nam: