Dạy học tích hợp không chỉ sẽ được thể hiện qua nội dung chương trình của các môn học cụ thể mà còn được thể hiện thông qua việc tổ chức các hoạt động và sử dụng bài tập tích hợp trong d
Trang 11 MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Dạy học tích hợp là một trong những phương thức phát triển năng lực HS
Vì vậy, chương trình giáo dục phổ thông tổng thể sau năm 2018 dự kiến sẽ được
phát triển theo quan điểm dạy học tích hợp Dạy học tích hợp không chỉ sẽ được thể hiện qua nội dung chương trình của các môn học cụ thể mà còn được thể hiện thông qua việc tổ chức các hoạt động và sử dụng bài tập tích hợp trong dạy học của GV.
Trong số các môn học ở trường phổ thông, Vật lí, Hóa học, Sinh học là những môn học có nhiều nội dung liên môn Việc tích hợp các môn khoa học tự nhiên nói trên thành các chủ đề dạy học tự chọn là dễ dàng thực hiện được, thành hệ thống bài tập tích hợp các bộ môn KHTN trong dạy học Hóa học Những nội dung của môn học này đều có thể tích hợp được thành các chuyên đề
tự chọn cho mỗi lĩnh vực trong dạy học
Đứng trước yêu cầu đổi mới toàn diện giáo dục phổ thông và thực trạng giáo dục phổ thông hiện nay, vấn đề đặt ra cho GV là làm thế nào để phát huy được khả năng dạy học theo hướng tích hợp?Trong năm học 2018- 2019 tôi đã
xây dựng hệ thống bài tập tích hợp các môn khoa học tự nhiên vào dạy học chương Oxi-Lưu huỳnh trong chương trình hóa học 10 THPTđây cũng là đề tài
SKKN của tôi trong năm học đó và đạt loại C cấp tỉnh Trong năm học 2019-2020; 2020-2021 tôi đã áp dụng vào thực tế giảng dạy Kết quả là đã nhận được
sự hưởng ứng nhiệt tình của HS, tạo ra được các phong trào học tập, thi đua giữa các nhóm trong lớp, giữa các HS và giữa các lớp được tăng lên Kết quả học tập tăng vượt bậc Chính vì thế để tiếp tục tạo nhiều cảm hứng trong học tập của HS tôi chọn đề tài “Xây dựng hệ thống bài tập tích hợp các môn khoa học tự
nhiên vào dạy học chương Halogentrong chương trình hóa học 10 THPT, nhằm mục đích tạo ra sự hứng thú học tập cho học sinh” để làm đề tài
SKKN của mình
1.2 Mục đích nghiên cứu
-Nhằm nâng cao hiệu quả dạy-học của quá trình giảng dạy của GV và HS trong chương Halogen
Nhằm phát huy tính năng động, tích cực, sáng tạo, của HS thông qua việc dạy -học tích hợp các môn KHTN đểHS phát triển các kĩ năng: hợp tác, hoạt động nhóm, phân tích, đánh giá, tổng hợp nhằm tạo được nhiều hứng thú cho người học
- Lựa chọn và xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập tích hợp (BTTH) các môn khoa học tự nhiên trong chương Halogen của HS trung học phổ thông, cụ thể là
HS lớp 10.Từ đó rút ra các kinh nghiệm tiếp tục vận dụng sử dụng hệ thống BTTH các môn KHTN đạt hiệu quả cao trong dạy học
1.3 Đối tượng nghiên cứu
-Cơ sở lí luận của xây dựng hệ thống bài tập tích hợp
-Việc thiết kế, xây dựng các BTTH trong bài giảng chương Halogen môn hóa học chương trình chuẩn lớp 10 theo định hướng tạo ra các động cơ nhằm tạo sự hứng thú học tập cho HS theo hướng phát triển năng lực HS
Trang 2- Để có cơ sở đánh giá hiệu quả của đề tài trong thực tế tôi chọn hai lớp của trường THPT Quảng Xương 4 đó là lớp10D5 và10D4 làm lớp đối chứng và lớp 10C3 (năm học 2019 -2020) làm lớp thực nghiệm Hai lớp này có sự tương đồng về số lượng, tỉ lệ nam/nữ trong lớp, hoàn cảnh gia đình, điều kiện kinh tế, điều kiện học tập và có trình độ đầu vào của HS.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1 Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
+ Tham khảo tài liệu, sách báo, tạp chí chuyên nghành, truy cập thông tin trên internet
+ Nghiên cứu nội dung, cấu trúc chương trình sách giáo khoa của các môn học có liên quan như: Sinh học, Vật lí Để nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến đề tài
+Nghiên cứu các phương pháp dạy học, thiết kế, xây dựng các chủ đề dạy học tích hợpở trường THPT để đánh giá tính phù hợp của hệ thống các câu hỏi nhằm phát huy khả năng phát triển năng lực giải quyết vấn đề của HS trong dạy học hóa học
+ Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các nguồn tài liệu để xây dựng cơ sở lý thuyết và nội dung đề tài
1.4.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phát phiếu điều tra các GV phổ thông về hiểu biết, áp dụng,
tổ chức xây dựng và vận dụng kiến thức hệ thống bài tập tích hợp các môn KHTN vào giảng dạy môn Hóa Học
+ Phương pháp quan sát
+ Thực nghiệm sư phạm: Tổ chức hoạt động nhóm, giao các chuyên đề hoặc các bài tập lớn trong các bài giảng và rút ra kinh nghiệm để đạt được hiệu quả cao
+ Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của sáng kiến kinh nghiệm
Khái niệm: Trong lí luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống, ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong các môn học hoặc các hợp phần của bộ môn đó
Dưới góc độ giáo dục học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ,
có hệ thống các kiến thức trong một môn học hoặc giữa các môn học thành một nội dung thống nhất
DHTH đòi hỏi việc học tập trong nhà trường phải được gắn với các tình huống của cuộc sống mà sau này HS có thể đối mặt vì thế nó trở nên có ý nghĩa đối với HS Với cách hiểu như vậy,DHTH phải được thể hiện ở cả nội dung
chương trình, phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá, hình thức
tổ chức dạy học.
Dạy học tích hợp là định hướng về nội dung và phương pháp dạy học.Chính vì thế tích hợp liên môn là hướng phát triển mới, là bước đi đúng đắn cho cả ngườidạy và người học.Theo cách tiếp cận tích hợp liên môn, GV tổ chức
Trang 3chương trình học tập xoay quanh các nội dung học tập chung: Các chủ đề, các khái niệm và kĩ năng liên ngành, liên môn
Như vậy, thực hiện DHTH sẽ phát huy tối đa sự trưởng thành và phát triển cá nhân mỗi HS, giúp các em thành công trong vai trò của người chủ gia đình, người công dân, người lao động tương lai
2.2 Thực trạng áp dụng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Thực trạng giáo dục phổ thông Việt Nam hiện nay cho thấy đặc điểm cơ bản của giáo dục là định hướng nội dung, chú trọng việc truyền thụ hệ thống tri thức khoa học theo các môn học đã được qui định trong chương trình dạy học Những nội dung của các môn học này dựa trên các khoa học chuyên ngành tương ứng Người dạy chỉ chú trọng việc trang bị cho HS hệ thống tri thức khoa học khách quan về nhiều lĩnh vực khác nhau, chưa chú trọng đầy đủ đến chủ thể người học cũng như đến khả năng ứng dụng tri thức đã học trong những tình huống thực tiễn
BTTH còn có tên gọi là bài tập định hướng phát triển năng lực Hiện tại, việc khai thác và sử BTTH trong dạy học và kiểm tra đánh giá còn hạn chế Theo điều tra của tôi các trường THPT trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, những lí do chính của thực trạng trên là số GV biết đến loại bài tập này còn ít, không nhiều GV am hiểu và biết cách vận dụng hiệu quả trong dạy học Công trình nghiên cứu hiệu quả về sử dụng BTTH trong dạy học môn Hóa học nói riêng vẫn chưa phổ biến
Từ thực trạng và những lí do trên tôi đã tiến hành nghiên cứu về BTTH và bước đầu thu thập được kết quả khả quan
2.3 Biện pháp tổ chức thực hiện
2.3.1 Chuẩn bị của GV-HS
- Đối với GV:
- GV cần được bồi dưỡng, bổ sung kiến thức giao thoa giữa các môn học Đưa vấn đề DHTH vào các buổi sinh hoạt chuyên môn để tạo điều kiện cho GV được trao đổi kiến thức, kinh nghiệm dạy học, tìm điểm chung giữa các lĩnh vực kiến thức để thiết kế các chủ đề tích hợp liên môn vật lí, hóa học, sinh học, một cách
cụ thể và đúng hướng
- Xây dựng kế hoạch, nội dung, các chủ đề, các dạng bài dạy có thể áp dụng DHTH, biên soạn hệ thống các bài tập tích hợp sử dụng cho quá trình DHTH
- GV cần xác định việc chuyển đổi hình thức đánh giá HS từ phương thức đánh giá truyền thống sang hình thức đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực
- GV có trách nhiệm, kế hoạch và thực hiện chiến lược tuyên truyền trong cộng đồng và phụ huynh về mô hình giáo dục đổi mới phương pháp theo DHTH tiếp cận năng lực HS đang và sẽ được sử dụng
- Trước mỗi bài học có tích hợp liên môn GV đưa câu hỏi trước cho các HS, nhóm HS yêu cầu các em chuẩn bị, nghiên cứu trước để tiết học sắp tới đạt hiệu quả tốt hơn
- Đối với HS
- HS cần thay đổi quan niệm truyền thống sang DHTH, tức là HS không chỉ làm việc đơn lẻ, cá nhân mà làm việc theo từng nhóm Chuyển từ phương thức đơn thuần lĩnh hội kiến thức sang khám phá kiến thức
Trang 4- HS cần được có vốn kiến thức khá vững vàng giữa các môn học và tìm được mối liên hệ hữu cơ giữa các môn học đó, vận dụng các kiến thức đó vào giải quyết các vấn đề cụ thể
- HS hoàn thành công việc mà GV đãgiao cho các em hoặc các nhóm cùng thực hiện trước đó Nghiên cứu kĩ bài trước khi đến lớp
- HS cần có cái nhìn tổng thể về thế giới xung quanh, tìm các hướng khác nhau mà có thể giải quyết được vấn đề, đưa nội dung của vấn đề áp dụng vào thực tiễn cuộc sống
- HS cần phải có kĩ năng, năng lực trong việc hỗ trợ nhóm như năng lực giao tiếp, năng lực tự quản lí, năng lực hợp tác v.v…
- Tăng cường sưu tầm, giải quyết các bài tập theo hướng tích hợp liên môn.
- HS cần làm quen với việc đánh giá, kiểm tra, thi cử theo hướng tích hợp
- Hình thành các kĩ năng sống tích cực cho bản thân, cho cộng đồng xung
quanh
- Có trách nhiệm tuyên truyền sâu rộng về các nội dung, kiến thức, các ứng
dụng thiết thực của vấn đề được sử dụng trong cuộc sống hằng ngày Tìm ra các giải pháp hữu hiệu nhằm phát huy tính tích cực hoặc hạn chế tiêu cực của vấn đề
đã đề cập đến
2.3.2 Quy trình thực hiện
Bước 1: Đối với GV
GV:Tìm hiểu nội dung các môn học liên quan đến vấn đề cần tích hợp, xây dựng thiết kế câu hỏi sao cho phù hợp với đối tượng HS
Bước 2: Đối với HS
+ Hình thành thói quen học tập theo phương pháp mới cho HS
+ Thành lập các tổ nhóm HS theo năng lực sẵn có của bản thân, xây dựng kế hoạch, nội quy hoạt động của cả nhóm
+ Bầu ra các trưởng nhóm, các ban cán sự theo dõi chung và theo dõi, đánh giá trong từng nhóm
+ Rèn luyện các kĩ năng cơ bản như: Kĩ năng hợp tác, kĩ năng sử dụng ngôn ngữ, kĩ năng tự quản lí, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tính toán, kĩ năng sống v.v… Bước 3: T ổng kết đánh giá, rút kinh nghiệm
+ Sau mỗi chủ đề, bài dạy thực hiện theo hướng DHTH các tổ, nhóm chuyên môn họp phân tích, đánh giá hiệu quả, đúc rút kinh nghiệm
+ Sau mỗi học kỳ, mỗi năm học nhà trường, các cơ sở giáo dục cần đánh giá hiệu quả, đúc rút kinh nghiệm của các tổ, nhóm chuyên môn đã triển khai DHTH
2.3.3 Vận dụng quan điểm dạy học tích hợp các môn khoa học tự nhiên trong dạy học hóa học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh
2.3.3.1 Nguyên tắc và quy trình xây dựng bài tập tích hợp
- Đảm bảo thực hiện được mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường phổ thông, trang bị nhiều kĩ năng sống cho HS Do đó GV phải nghiên cứu để tích hợp các nội dung này một cách cụ thể cho từng môn học và phù hợp với từng đối tượng HS ở các vùng miền khác nhau
- Dựa vào bản chất của mối liên hệ giữa các tri thức khoa học để liên kết, tổng hợp hóa các tri thức và sử dụng các kiến thức đó hàng ngày
Trang 5- Dạy học tích hợp giúp phát triển các năng lực, đặc biệt trí tưởng tượng khoa học và năng lực tư duy của HS Góp phần giảm tải nội dung học tập, tích hợp một cách hợp lí, có ý nghĩa, từ đó tạo ra cảm xúc nhận thức, cũng sẽ làm cho HS nhẹ nhàng vượt qua các khó khăn nhận thức và việc học tập khi đó mới trở thành niềm vui, hứng thú của HS
Trên cơ sở đó một bài tập tích hợp cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
+ Hướng tới mục tiêu môn học
+ Có nội dung liên quan đến kiến thức khoa học của nhiều môn liên quan
+ Chứa đựng nội dung liên quan đến vấn đề thực tiễn cuộc sống hoặc học tập HS
+ Đảm bảo tính chính xác khoa học
+ Đảm bảo tính vừa sức, phù hợp với trình độ HS
Quy trình xây dựng bài tập tích hợp
Bước 1: Xác định nội dung có liên quan đến thực tiễn cuộc sống, liên quan đến các môn học, liên quan đến HS
Bước 2: Xác định kiến thức tích hợp yêu cầu HS vận dụng
Bước 3: Tạo tình huống có vấn đề trong bài tập, yêu cầu HS vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết
Bước 4: Đặt câu hỏi yêu cầu HS giải quyết hoặc giải thích vấn đề
Bước 5: Xây dựng đáp án, chỉnh sửa và hoàn thiện bài tập tích hợp
2.3.3.2 Xác định địa chỉ tích hợp các kiến thức liên
Xác định địa chỉ tích hợp các kiến thức liên môn trong chương Halogen thuộc chương trình SGK hóa học lớp 10 là việc làm cần thiết nhất trong quá trình dạy học tích hợp Từ đó mới lập ra được quy trình DHTH, biên soạn và sử dụng hệ thống bài tập tích hợp các môn có liên quan Tìm tòi, nghiên cứukiến thức ở các
bộ môn tích hợp một cách nghiêm túc để giải thích, lập luận logic, khoa học cho các dạng câu hỏi bài tập tích hợp
Chương tích hợp Địa chỉ Nội dung tích hợp Kiểu tích hợp Halogen Vật lí
Sinh Học
- Khả năng hòa tan, thẩm thấu, bay hơi, tỏa nhiệt, thu nhiệt, sức căng mặt ngoài
- Quá trình trao đổi chất, tế bào, vi khuẩn,đa dạng sinh học, tính chất sinh hóa
Liên môn
Trang 6VẤN ĐỀ ĐẶT RA
Vật Lí
Hóa Học
Sinh Học Địa Lý
Nhóm năng lực chung
Các năng lực chuyên biệt
VẤN ĐỀ
ĐẶT RA
Có ứng dụng gì trong cuộc sống Đóng góp gì cho bảo vệ môi trường
Đóng góp gì cho ngành kĩ thuật, xây dựng
Đóng góp gì cho kĩ năng sống
2.3.3.3 Xây dựng hệ thống bài tập tích hợp
2.3.3.3.1 Cách biên soạn
Để biên soạn một bài tập tích hợp chúng ta có thể sử dụng theo sơ đồ sau:
Phân tích các bộ môn liên quanHình thành các năng lực
Sau khi xác định được các bước trong nguyên tắc biên soạn các bài tập tích hợp chúng ta tiếp tục xác định mục tiêu, tác dụng, ứng dụng của bài tập trong đời sống thực tiễn qua sơ đồ sau:
2.3.3.3.2 Áp dụng
Ví dụ 1 Axit clohiđric có vai trò như thế nào đối với cơ thể?
Phân tích những kiến thức liên môn
Về hóa học
Trong dịch vị dạ dày của người có axit clohiđric với nồng độ khoảng từ 0,0001 đến 0,001 mol/l (có độ pH tương ứng khoảng từ 4 3) là môi trường axit Ngoài việc hoà tan các muối khó tan, axit clohiđric còn là chất xúc tác cho các phản ứng thuỷ phân các chất gluxit (chất đường,bột)và chất protein (chất đạm) thành các chất đơn giản hơn để cơ thể có thể hấp thụ được
Về sinh học
Axit clohiđric có vai trò rất quan trọng đối với quá trình trao đổi chất của cơ thể Lượng axit clohiđric trong dịch vị dạ dày nhỏ hơn hoặc lớn hơn mức bình thường đều mắc bệnh Khi trong dịch vị dạ dày, axit clohiđric có nồng độ nhỏ hơn 0,0001 mol/l (pH > 4,5) ta mắc bệnh khó tiêu do thức ăn khó bị phân hủy,
Trang 7ngược lại, nồng độ lớn hơn 0,001 mol/l (pH < 3,5) ta mắc bệnh ợ chua, viêm loét dạ dày
Những năng lực học sinh đạt được qua việc giải bài tập
a) Tư duy
+ Nhận biết:
- Công thức phân tử, công thức cấu tạo của axit clohiđric
- Tính chất vật lí, tính chất hóa học của axit clohiđric
- Tầm quan trọng của axit clohiđric trong cuộc sống thực tiễn
+ Thông hiểu: Trong dịch vị dạ dày của người có axit clohiđric với nồng độ
khoảng từ 0,0001 đến 0,001 mol/l (có độ pH tương ứng khoảng từ 4 3)
+ Vận dụng: Tầm quan trọng của axit clohiđric trong cuộc sống thực tiển.
Cơ chế làm giảm cơn đau dạ dày khi người bệnh sử dụng natri hiđrocacbonat
3
NaHCO (còn gọi là thuốc muối)
+ Phân tích: Các loại thức ăn, nước uống nào có thể làm tăng hoặc giảm nồng
độ của axit clohiđric có trong dạ dày
+ Sáng tạo:
- Liệt kê các loại thức ăn, nước uống có ảnh lợi và có hại đến dạ dày và đặc biệt là đối với người đau dạ dày
- Có thể dùng một số loại thuốc chữa đau dạ dày trong đó có chứa muối natri hiđrocacbonat NaHCO3 (còn gọi là thuốc muối) có tác dụng trung hoà bớt axit trong dạ dày
3
NaHCO + HClNaCl+ CO 2 + H O2
b) Kĩ năng
+ Vận dụng được kiến thức Hóa học, Sinh học vào thực tiễn
+ Giải thích được nguyên nhân, cơ chế và các phòng chống bệnh đau dạ dày ở người
c) Thái độ
+ Nhận thức được vai trò của axit clohiđric trong cơ thể và trong cuộc sống thực tiển
+ Đề xuất được một số giải pháp ngăn ngừa, điều trị bệnh đau dạ dày ở người
d) Ý thức
Sở dĩ trong dạ dày luôn duy trì môi trường axit (có độ pH tương ứng khoảng
từ 4 3) là môi trường tốt nhất cho quá trình hòa tan và thủy phân các thức ăn
vì vậy cần thiết đưa ra chế độ ăn uống phù hợp
e) Kĩ năng sống
Cuộc sống hiện đại càng nhiều người bị đau dạ dày nên khi biết vấn đề này thì người ta có thể tự bảo vệ cho mình Có biện pháp phòng tránh các tác hại, rủi ro khi tiếp xúc với axit clohiđric và các vật dụng có chứa axit clohiđric (ắc quy)
g) Trách nhiệm với cộng động
Tăng cường công tác tuyên truyền cho cộng đồng hiểu được vai trò của axit clohiđric trong cơ thể nhằm bảo vệ và điều trị bệnh đau dạ dày ở người Giúp cho HS hiểu được axit clohiđric có vai trò hết sức quan trọng trong cuộc sống hằng ngày và là nguyên liệu để sản xuất nhiều hợp chất vô cơ và hữu cơ phục vụ cho ngành công nghiệp hóa chất và sản xuất Đồng thời cảnh báo các tác hại của
Trang 8axit clohiđric và một số hợp chất của axit clohiđric đối với cuộc sống và môi trường
Ví dụ 2 Tại sao chúng ta thường dùng dung dịch NaCl loãng để sát trùng các vết thương? Tại sao dân cư ở các vùng ven biển lại ít mắc các bệnh liên quan đến tai mũi họng?
Phân tích những kiến thức liên môn
Về hóa học
Khi tan trong nước NaCl sẽ phân li theo phương trình: NaClNa+ + Cl
- Về vật lí
Trong không khí độ ẩm khá cao, hơi nước nhiều Khi chúng ta hô hấp sẽ hít vào một lượng NaClđã hòa tan trong hơi nước Chính vì thế dân cư ở các vùng ven biển lại ít mắc các bệnh liên quan đến tai mũi họng
Về sinh học
Sự chênh lệch nồng độ muối ( môi trường ưu trương ) giữa hai bên màng sinh chất gây nên một áp suất thẩm thấu dẫn đến nước trong tế bào vi sinh vật bị rút
ra ngoài gây co nguyên sinh là cho vi sinh vật mất khả năng phân chia và hấp thụ dẫn đến chúng bị tê liệt rồi chết
Những năng lực học sinh đạt được qua việc giải bài tập
a) Tư duy
+Nhận biết: Công thức muối ăn,tính chất vật lí, hóa học của dung dịch NaCl + Thông hiểu:Tại sao dân cư ở các vùng ven biển lại ít mắc các bệnh liên quan
đến tai mũi họng
+ Vận dụng: Công dụng của NaCl trong thực tiển,vai trò của nước biển trong
đời sống hằng ngày
b) Kĩ năng
+ Vận dụng được kiến thức bộ môn Sinh học vào thực tiễn đời sống hằng ngày + Giải thích được cơ chế khử trùng của nước muối
c) Thái độ
+ Nhận thức được vai trò của NaCl trong cuộc sống
+ Đề xuất được một số giải pháp ngăn ngừa và tiêu diệt vi khuẩn có hại
d) Ý thức
+ Hình thành ý thức bảo vệ môi trường, biết cách xử lí vết thương
e) Kĩ năng sống
Khi cơ thể chúng ta không may bị vết thương hở, tại đó các tế bào bị phân hủy
là nơi các vi khuẩn rất dễ xâm nhập và trú ngụ, bởi vậy chúng ta phải có biện pháp ngăn chặn và triệt tiêu chúng Một trong các phương pháp đó là chúng ta
sử dụng dung dịch nước muối NaClnồng độ phù hợp Không nên pha nước muối quá mặn và dùng nước quá nóng sẽ gây tổn thương các tế bào non
Sử dụng dung dịch NaCl để ngâm hoa quả, rau sống trước khi dùng Cách bảo quản gia vị như muối ăn, xúp
g) Trách nhiệm với cộng động
Giải thích, tuyên truyền sâu rộng trong HS và trong cộng đồng vai trò của NaCl trong cuộc sống Chính vì thế mà mỗi chúng ta cần bảo vệ môi trường biển ngày càng xanh sạch đẹp
Trang 9Ví dụ 3.Vì sao “Chảo không dính” khi chiên, rán thức ăn lại không bị dính
chảo?(Hình minh họa số 1 phần phụ lục)
Phân tích những kiến thức liên môn
Về hóa học
Thực ra mặt trong của chảo không dính người ta có trải một lớp hợp chất cao
phân tử Đó là politetra floetylen được tôn vinh là “vua chất dẻo” thường gọi là
“teflon” Teflon chỉ chứa 2 nguyên tố C và F Có CTPT là (C2F4)n
Khi cho teflon vào axit vô cơ hay axit H SO 2 4 đậm đặc, nước cường thủy (hỗn hợp HCl và HNO 3đặc), vào dung dịch kiềm đun sôi thì teflon không hề biến chất Dùng teflon tráng lên đáy chảo khi đun với nước sôi không hề xảy ra bất kì tác dụng nào Các loại dầu ăn, muối, dấm,…cũng không xảy ra hiện tượng gì Cho dù không cho dầu mở mà trực tiếp rán cá, trứng trong chảo thì cũng không xảy ra hiện tượng gì
Về vật lí
Nếu dùng chảo bằng gang, nhôm thường để chiên cá, trứng không khéo sẽ bị
dính chảo Nhưng nếu dùng chảo không dính thì thức ăn sẽ không dính chảo.
Do mặt trong của chảo không dính người ta có trải một lớp hợp chất cao phân tửlà teflon Teflon tạo nên một hợp chất có khả năng liên kết với vật liệu kim loại rất bền chắc.Mặc dù lớp “teflon” rất mỏng nhưng nó bám rất chắc vào thành nồi và chảo Mà khi ta đun nóng chúng không bị bong ra Nguyên nhân là nó có
hệ số giản nở về nhiệt tương đương với vật dụng đó Lớptefloncó hệ số ma sát thấp trơn nên khả năng chống dính cao
Về sinh học
Một điều chú ý là khi đốt nóng chảo không trên bếp lửa vì teflon ở nhiệt độ trên 250oC là bắt đầu phân hủy và thoát ra chất độc
Những năng lực học sinh đạt được qua việc giải bài tập:
a) Tư duy
+ Nhận biết: CTPT,CTCT của teflon
+ Thông hiểu:Khả năng chống dính của lớp politetra floetilen.
+ Vận dụng:Từ cấu trúc phân tử nêu được tính chất hóa học cơ bản của
chúng
+ Phân tích:Từ các tính chất cơ nhiệt học của lớp “teflon” nên “teflon”còn
được dùng mạ ở các trục khuỷu củacác động cơ
+ Sáng tạo: Từ các tính chất cơ nhiệt học của lớp“teflon”HS có thể nêu lên
các ứng dụng khác
b) Kĩ năng
+ Vận dụng được kiến thức bộ môn hóa học, vật lí để giải quyết vấn đề
+ Giải thích được khả năng chống dính của lớp politetra floetilen
c) Thái độ
+ Nhận thức được vai trò, ứng dụng lớp “teflon” trong các đồ gia dụng
+ Đề xuất được một số giải pháp nhằm bảovệ và kéo dài tuổi thọ của lớp politetra floetilen “teflon” trên các vật dụng có sử dụng nó
Trang 10d) Ý thức
+ Hình thành ý thức vệ và kéo dài tuổi thọ của lớp politetra floetilen“teflon” trên các vật dụng có sử dụng nó
e) Kĩ năng sống
Lớp chống dính được tráng bởipolitetra floetilen “teflon” rất mỏng bởi vậy khi chúng ta chùi rửa không nên chà, cạo các vật dụng quá cứng mà là mài mòn chúng
g) Trách nhiệm với cộng động
Giải thích, tuyên truyền sâu rộng trong HS và trong cộng đồng mục đích, vai trò của lớp chống dính được tráng trong các vật dụnggia đình Khi rửa chảo không nên chà xát bằng các đồ vật cứng vì có thể gây tổn hại cho lớp chống dính, và khi đốt nóng chảo không trên bếp lửa vì teflon ở nhiệt độ trên 250oC là bắt đầu phân hủy và thoát ra chất độc.Chính vì thế mà mỗi chúng ta cần bảo vệ
và kéo dài tuổi thọ của lớp “teflon” trên các vật dụng có sử dụng nó
Ví dụ 4 Làm thế nào có thể khắc được thuỷ tinh?
Phân tích những kiến thức liên môn
Về hóa học
Muốn khắc thuỷ tinh người ta nhúng thuỷ tinh vào sáp nóng chảy, nhấc ra cho nguội, dùng vật nhọn khắc hình ảnh cần khắc nhờ lớp sáp mất đi, rồi nhỏ dung dịch HF vào thì thuỷ tinh sẽ bị ăn mòn ở những chỗ hở của lớp sáp bị cào đi:
2
SiO + 4HF SiF 4 + 2H O2
Nếu không có dung dịch HF thì thay bằng dung dịch H SO 2 4 đặc và bột CaF2 Làm tương tự như trên nhưng ta cho bột CaF 2 vào chỗ cần khắc, sau đó cho thêm H SO 2 4 đặc vào và lấy tấm kính khác đặt trên chỗ cần khắc Sau một thời gian, thuỷ tinh cũng sẽ bị ăn mòn ở những nơi cạo sáp
2
CaF + 2H SO 2 4 CaSO 4 + 2HF (dùng tấm kính che lại)
Sau đó:SiO 2 + 4HF SiF 4 + 2H O2 (Hình minh họa số 2 phần phụ lục)
Về vật lí
Sở dĩ muốn khắc thuỷ tinh người ta phải nhúng tấm thuỷ tinh vào sáp nóng chảy: - Thủy tinh không ngấm dung dịch, căng mặt ngoài của nước lớn trên bề mặt thủy tinh lớn nên khó định hình vết khắc
- Sáp mền thuận tiện cho mình viết, vẽ theo ý muốn
- Mặt khác chúng ta nên có một tấm kính khác đậy lại vì HF và SiF 4 là các chất khá dễ bay hơi
Những năng lực học sinh đạt được qua việc giải bài tập:
a)Tư duy
+ Nhận biết:HF là một axit yếu, có khả năng ăn mòn thủy tinh.
+ Thông hiểu:- Thành phần chính của thủy tinh là SiO 2
- Phương trình phản ứng giữa HF với thủy tinh
b) Kĩ năng
+ Vận dụng được kiến thức Vật lí, Hóa học vào giải quyết vấn đề trong thực tiễn