1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiềm năng, thực trạng và định hướng phát triển du lịch huyện phước sơn, tỉnh quảng nam

76 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Từ sau Đại hội VI đến nay, ngành du lịch Việt Nam đã không ngừng phát triển và trở thành một lĩnh vực kinh doanh đầy hấp dẫn, mang lại hiệu quả kinh tế cao góp phần là

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA LI ̣CH SỬ

*****

Đề tài:

TIỀM NĂNG, THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN PHƯỚC SƠN,

QUẢNG NAM

Đà Nẵng, 5/2014

-SVTH: Nguyễn Thị Như Lai

Lớp 10CVNH, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

GVHD: ThS Nguyễn Xuyên

Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 6

MỞ ĐẦU 7

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH 13

1.1 Các khái niệm và thuật ngữ liên quan Ошибка! Закладка не определена 1.2 Tài nguyên du lịch và đặc điểm tài nguyên du lịch (TNDL) 14

1.2.1 Tài nguyên du lịch 14

1.2.2 Đặc điểm TNDL 14

1.2.3 Phân loại TNDL 15

1.2.3.1.Tài nguyên du lịch tự nhiên (TNDLTN) 15

1.2.3.1.1 Quan niệm 15

1.2.3.1.2 Phân loại 15

1.2.3.2 Tài nguyên du lịch nhân văn (TNDLNV) 16

1.2.3.2.1 Quan niệm 16

1.2.3.2.2 phân loại 16

1.3 Điểm, tuyến du lịch 16

1.3.1 Điểm du lịch 16

1.3.2 Tuyến du lịch 17

1.4 Tác động qua lại giữa du lịch với các lĩnh vực khác 17

1.4.1 Du lịch và văn hóa, xã hội 17

1.4.1.1.Tác động của văn hóa, xã hội với du lịch 17

1.4.1.2.Tác động của du lịch với văn hóa, xã hội 18

1.4.2 Du lịch và môi trường 18

1.4.2.1 Ảnh hưởng của môi trường đến du lịch 18

1.4.2.2 Ảnh hưởng của du lịch đến môi trường 18

1.4.3 Du lịch và kinh tế 18

1.4.3.1.Tác động của kinh tế đến du lịch 18

1.4.3.2 Tác động của du lịch đến kinh tế 19

1.4.4 Du lịch và hòa bình, chính trị 19

1.4.4.1 Ảnh hưởng của hòa bình chính trị đến du lịch 19

Trang 3

1.4.4.2 Ảnh hưởng của du lịch đến hòa bình chính trị 19

1.5 Chủ trương của Đảng, Nhà Nước về phát triển du lịch 19

Chương 2: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN PHƯỚC SƠN- TỈNH QUẢNG NAM 22

2.1 Một số nét về tỉnh Quảng Nam 22

2.1.1 Về địa lý, kinh tế, xã hội 22

2.1.2 Về du lịch 23

2.2 Giới thiệu về huyện Phước Sơn 24

2.2.1 Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội 24

2.2.1.1 Điều kiện tự nhiên 24

2.2.1.2 Tình hình kinh tế xã hội 27

2.2.1.2.1 Tình hình kinh tế 27

2.2.1.2.2 Tình hình văn hóa - xã hội 29

2.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển 38

2.2.2.1 Địa lý và lịch sử hình thành huyện Phước Sơn 38

2.3 Tài nguyên du lịch huyện Phước Sơn 45

2.3.1 Tài nguyên du lịch Nhân văn 46

2.3.2 Tài nguyên du lịch Tự nhiên 47

2.3.3 Lễ hội, làng nghề truyền thống tiêu biểu ở huyện Phước Sơn 50

2.4 Đánh giá chung tài nguyên du lịch huyện Phước Sơn 51

2.5 Thực trạng hoạt động du lịch của huyện Phước Sơn 51

2.5.1 Số lượng khách đến Phước Sơn 51

2.5.2 Các dịch vụ phục vụ hoạt động du lịch 51

2.5.2.1 Dịch vụ lưu trú 51

2.5.2.1 Dịch vụ ăn uống 52

3.2.3 Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 53

3.3 Các hoạt động quảng bá, xúc tiến phát triển du lịch 54

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN PHƯỚC SƠN VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP 55

3.1 Định hướng phát triển du lịch huyện Phước Sơn 55

3.1.1 Quan điểm phát triển 56

Trang 4

3.1.1.1 Mục tiêu định hướng 56

3.1.2 Định hướng chung 56

3.1.3.Định hướng phát triển du lịch cụ thể 57

3.1.3.1.Phát triển các loại hình du lịch 57

3.1.3.2.Phát triển mạng lưới thông tin liên lạc và phương tiện giao thông 58

3.1.3.3 Phát triển và nâng cao chất lượng các dịch vụ phục vụ cho hoạt động du lịch 59 3.1.3.4 Phát triển các công ty, đại lý du lịch 59

3.1.3.5.Định hướng phát triển các tuyến du lịch 60

3.2 Đề xuất một số giải pháp 61

3.2.1 Giải pháp về quy hoạch 61

3.2.2 Giải pháp về công tác tổ chức và quản lý 63

3.2.3 Tăng cường cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch nhằm khai thác có hiệu quả hơn ở các điểm du lịch 63

3.2.4 Tiếp tục tu bổ, tôn tạo, bảo vệ tài nguyên du lịch 64

3.2.5 Công tác quản lý việc tổ chức các chương trình du lịch 65

3.2.6.Công tác đào tạo cán bộ cho hoạt động du lịch 66

3.2.7.Công tác giáo dục môi trường 68

3.2.8.Công tác quảng bá cho hoạt động du lịch 70

PHẦN KẾT LUẬN 71

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Sơ đổ 3.1 Các bước tiến hành thiết lập khuôn khổ quản lý 67 Bảng 3.1 Danh mục các nguyên tắc chỉ đạo tối thiểu cần soạn thảo 68

Trang 6

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình vừa qua, em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy, cô giáo trong khoa Lịch Sử trường Đại Học Sư Phạm, đặc biệt là Ths Nguyễn Xuyên, người đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ

em trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận này

Em cũng xin chân thành cảm ơn phòng Văn hóa thông tin huyện Phước Sơn, đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình khảo sát và khai thác tư liệu liên quan đến

đề tài khóa luận này

Mặc dù đã cố gắng trong quá trình thực hiện để đề tài khóa luận có tính khoa học và thực tiễn cao nhất song do trình độ chuyên môn và vốn kiến thức còn hạn chế nên không tránh khỏi những khiếm khuyết Do vậy em rất mong nhận được sự đóng góp và chỉ bảo của các thầy cô để khóa luận được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn !

Đà Nẵng, ngày 19 tháng 5 năm 2014

Sinh viên

Nguyễn Thị Như Lai

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Từ sau Đại hội VI đến nay, ngành du lịch Việt Nam đã không ngừng phát triển

và trở thành một lĩnh vực kinh doanh đầy hấp dẫn, mang lại hiệu quả kinh tế cao góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước và là đòn bẩy thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân Với chính sách mở cửa: " Việt Nam sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước theo tinh thần hợp tác, hữu nghị, hai bên cùng có lợi", du lịch nước ta có nhiều khởi sắc, từng bước phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách trong nước và quốc tế

Trong Luật du lịch, chương I "Những quy định chung", điều 5, mục 1, khẳng định: "phát triển du lịch bền vững, theo quy hoạch, kế hoạch, bảo đảm hài hòa giữa kinh tế, xã hội và môi trường; phát triển có trọng tâm, trọng điểm theo hướng du lịch văn hóa- lịch sử, du lịch sinh thái; bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị của tài nguyên du lịch" Tuy nhiên trong những năm gần đây thực trạng phát triển du lịch đất nước có nhiều bất cập Khai thác tài nguyên du lịch còn bừa bãi, lãng phí, không chú trọng đến yếu tố bền vững của tài nguyên du lịch, hoạt động tổ chức tuyên truyền thiếu chuyên nghiệp chưa đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch

Trong nền kinh tế thị trường nhiều nhà kinh doanh du lịch mãi chạy theo lợi nhuận trước mắt, tìm cách khai thác tối đa các thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa, khu nghỉ mát Làm cho những nơi này nhanh chóng bị xuống cấp, môi trường bị hủy hoại, nhiều phong tục tập quán, lễ hội truyền thống bị mai một dần, có nguy cơ bị mất hẳn Nhiều thói hư tật xấu phát triển, nhiều tệ nạn xã hội đang xói mòn các giá trị truyền thống quý báu của dân tộc

Quảng Nam là tỉnh có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển du lịch của đất nước, là một trong những trọng điểm du lịch của cả nước Cùng với những lợi thế

về điều kiện tự nhiên và xã hội, những cảnh đẹp thiên tạo, các di tích lịch sử văn hóa, các lễ hội dân tộc, làng nghề truyền thống đã khiến Quảng Nam trở thành tỉnh có nhiều tiềm năng về phát triển du lịch

Nhắc đến du lịch Quảng Nam thì không thể không nhắc đến Phước Sơn, một huyện phía tây tỉnh nơi có tài nguyên du lịch phong phú hấp dẫn Phước Sơn có hơn

20 di tích lịch sử văn hóa, gắn liền với các di tích lịch sử văn hóa là các lễ hội dân gian

Trang 8

độc đáo: Lễ hội mừng lúa mới, lễ hội dệt thổ cẩm của người Bhong, lễ hội đâm trâu, đánh cồng chiên mừng vụ mùa bội thu ở các vùng dân tộc thiểu số như Cơ tu, Ve, Giẻ Triêng, Xơ Đăng Và đặc biệt là khu nghỉ mát thác nước nằm ngay cạnh đường Hồ Chí Minh Khi đời sống nâng cao nhu cầu nghỉ ngơi, tham quan du lịch và tìm hiểu các giá trị văn hóa truyền thống là không thể thiếu Đã từ lâu, ý tưởng phát triển du lịch huyện Phước Sơn đã được các cấp, các ngành và nhân dân quan tâm, mong mỏi Tuy nhiên hoạt động phát triển du lịch tỉnh Quảng Nam nói chung và huyện Phước Sơn nói riêng còn nhiều bất cập, mang tính không chuyên nghiệp, công tác tuyên truyền quảng

bá chưa tốt dẫn đến chưa thu hút đông đảo khách du lịch Tài nguyên chưa được khai thác một cách có hiệu quả và đúng cách Đặc biệt, huyện Phước Sơn du lịch còn mang tính tự phát, rời rạc, chưa đáp ứng được nhu cầu của du khách

Từ thực tế trên, với mong muốn được đóng góp một phần công sức nhỏ bé của mình cho sự phát triển du lịch nói chung và huyện Phước Sơn nói riêng, tôi đã chọn đề tài: "Tiềm năng, thực trạng và định hướng phát triển du lịch huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam" làm khóa luận tốt nghiệp của mình

tâm một cách sâu sắc Cuốn “Non nước Việt Nam” (2007) do Tổng cục du lịch Việt

Nam soạn thảo đã giới thiệu rất nhiều tiềm năng của các tỉnh thành ở Việt Nam trong

đó có tỉnh Quảng Nam Thế nhưng chỉ dừng lại ở một vài điểm nổi bật như Hội An,

Mỹ Sơn chứ chưa có các huyện khác

Trong luận án Tiến sĩ “Tổ chức lãnh thổ du lịch Quảng Nam – Đà Nẵng” của

tác giả Trương Phúc Minh (2003) Luận án đưa ra những phương hướng và giải pháp

về tổ chức, phát triển du lịch cho từng vùng cụ thể trong đó có địa bàn Quảng Nam –

Đà Nẵng Tuy nhiên vẫn chưa đề cập cụ thể đến việc phát triển hợp lý tiềm năng du lịch huyện Phước Sơn

Một số bài báo trên internet có đề cập đến một vài địa điểm có tiềm năng về du

Trang 9

lịch chứ chưa đi sâu vào khai thác cụ thể như:

Trong Việt báo Việt Nam, có bài viết “Khám phá vẻ đẹp Thác Nước nơi đại ngàn” của tác giả Nguyễn Văn Sơn đã miêu tả sơ lược vẻ đẹp của con thác này

Trong bài viết “45 năm chiến thắng Khâm Đức – Ngoktavak (Trên quê hương Khâm Đức – Phước Sơn hôm nay)” của Trương Công Minh đăng đã khái quát lên sự thay da đổi thịt của huyện Phước Sơn và giới thiệu sơ lược về cứ điểm lịch sử Ngoktavak

Nhìn chung những công trình nghiên cứu hay các bài viết về du lịch của tỉnh Quảng Nam chỉ tập trung vào các huyện có tài nguyên du lịch lớn hoặc có chăng cũng chỉ là các bài giới thiệu sơ lược về các điểm du lịch, về địa phương mình chứ chưa có tác giả nào đề cập đến việc khai thác các tài nguyên để phát triển du lịch huyện Phước Sơn Tuy thế, đây cũng đã là những nguồn tài liệu vô cùng quý giá để làm cơ sở cho việc nghiên của đề tài

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trong những năm gần đây, khi mà ngành du lịch có vai trò ngày càng cao trong nền kinh tế quốc dân, thì có thể nói việc làm du lịch ngày càng được chú trọng và đẩy mạnh hơn Thế nhưng việc khai thác các địa điểm để đưa vào phục vụ du lịch chỉ dừng lại ở một số ít địa phương, trong khi đó nhiều địa phương với tài nguyên hết sức phong phú, đặc sắc lại bị bỏ hoang hoặc rất ít người biết đến

Vì vậy, mục đích nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu, phân tích, đánh giá tiềm năng du lịch của huyện Phước Sơn, rồi từ đó đưa ra một số định hướng và đề xuất một

số giải pháp nhằm phát triển du lịch tại huyện Phước Sơn – một huyện miền núi nằm ở phía Tây Quảng Nam Bên cạnh đó đề tài còn giúp người Quảng Nam nói chung và người dân Phước Sơn nói riêng thấy được vai trò của các tài nguyên sẵn có trong vùng Việc phát triển du lịch ở đây sẽ thu hút được lượng lớn khách du lịch đến với Quảng Nam cũng như giảm tải bớt lượng khách du lịch ở các điểm như Hội An, Mỹ Sơn góp phần làm thỏa mãn nhu cầu đa dạng về du lịch của du khách, tạo ra nhiều cơ hội việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân địa phương

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài tập trung giải quyết các vấn đề sau:

Trang 10

- Khái quát những vấn đề về lý luận liên quan đến hoạt động du lịch

- Tìm hiểu tiềm năng có thể phát triển du lịch của huyện Phước Sơn bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn

- Đánh giá tình hình hoạt động du lịch, tình hình đầu tư, quảng bá du lịch của huyện Phước Sơn

- Từ thực trạng du lịch của huyện đưa ra những định hướng, đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch của huyện trong tương lai

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tất cả những tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn trên địa bàn huyện Phước Sơn – tỉnh Quảng Nam nhằm phục vụ cho hoạt động phát triển du lịch

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung

Đề tài tìm hiểu tiềm năng du lịch huyện Phước Sơn để đóng góp vào việc phát triển du lịch Thông qua đó đưa ra một số định hướng và đề xuất một số giải phát nhằm khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên du lịch của địa phương

Về không gian

Đề tài tìm hiểu những địa điểm có tài nguyên du lịch trên địa bàn huyện Phước Sơn như các xã Phước Hòa, Phước Mỹ,… và các tài nguyên nằm gần tuyến đường Hồ Chí Minh địa phận của huyện Phước Sơn

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp phân tích – tổng hợp

Đây là một công việc hết sức cần thiết cho việc nghiên cứu đề tài Sử dụng phương pháp này nhằm phân tích, tổng hợp các tài liệu, thông tin có liên quan đến đề tài Để từ đó có thể khái quát hóa, mô hình hóa các tư liệu có được để trình bày vấn đề một cách hợp lý

5.2 Phương pháp thống kê

Việc sưu tầm các số liệu, tư liệu từ nhiều nguồn khác nhau trong một thời gian nhất định để thống kê là rất quan trọng Phương pháp này sẽ giúp thấy được tình hình hoạt động du lịch của huyên Phước Sơn trong thời gian qua

Trang 11

5.3 Phương pháp thực địa

Đây là phương pháp mang tính thực tiễn cao Phương pháp này giúp tôi tìm hiểu một cách sâu sắc, chính xác tiềm năng và thực trạng của các tài nguyên du lịch trên địa bàn huyện để từ đó có những đánh giá đúng đắn và đưa ra những định hướng phù hợp với điều kiện của tiềm năng, phù hợp với điều kiện của vùng

5.4 Phương pháp điều tra – phỏng vấn

Qúa trình nghiên cứu đề tài rất cần có những ý kiến đóng góp của người dân địa phương, khách du lịch, cơ quan quản lý… Chính vì lẽ đó tôi chọn phương pháp này nhằm tổng hợp ý kiến một cách khách quan nhất để từ đó đề tài được hoàn thiện hơn Hình thức: Phỏng vấn trực tiếp

6 Nguồn tài liệu

Tiềm hiểu tiềm năng, thực trạng và định hướng phát triển du lịch là một vấn đề thường được nhắc đến nhưng đối với huyện Phước Sơn đây là một đề tài còn khá mới

mẻ chính lẽ đó việc tìm kiếm nguồn tài liệu để nghiên cứu gặp rất nhiều khó khăn Dưới sự hướng dẫn của Ths Nguyễn Xuyên, tôi tiến hành khai thác một số nguồn tư liệu sau

- Tài liệu thành văn:

+ Sách chuyên ngành

+ Các bài viết trong sách báo

+ Các tài liệu thành văn của tỉnh, huyện

- Tài liệu điền dã:

Đây là nguồn tài liệu đặc biệt quan trọng nhất tạo nên sự thành công cho đề tài Bởi nhờ thông qua việc tìm hiểu thực tế tôi có cơ hội tiếp xúc với thực địa, có cái nhìn chính xác, khách quan hơn

xuyên tìm kiếm thông tin bài viết, những bài đánh giá về các vấn đề liên quan đến du lịch ở địa phương

7 Đóng góp của đề tài

Quảng Nam nói chung, huyện Phước Sơn nói riêng vốn là một vùng đất có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch Song đời sống của nhân dân nơi đây vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, kinh tế – xã hội chưa phát triển mạnh

Trang 12

Vì vậy đề tài tìm hiểu tiềm năng du lịch của huyện với việc làm rõ giá trị của những tiềm năng đó hi vọng sẽ đóng góp cho việc phát triển du lịch của huyện nhằm nâng cao đời sống của nhân dân nơi đây Bên cạnh đó đề tài cũng hi vọng việc phát triển du lịch ở huyện Phước Sơn sẽ mở ra nhiều lựa chọn mới cho điểm đến của du khách trong và ngoài nước, giảm bớt sức tải về du lịch cho các địa phương khác để các tài nguyên được lưu giữ và bảo tồn một cách tốt nhất

8 Bố cục đề tài

Ngoài lời mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài khóa luận gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch

Chương 2:Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam

Chương 3: Định hướng phát triển du lịch huyện Phước Sơn và đề xuất một số giải pháp

Trang 13

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH 1.1 Định nghĩa du lịch

Ngày nay, du lịch trở thành một hiện tượng kinh tế, xã hội phổ biến không chỉ

ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Do hoàn cảnh khác nhau, dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi người có một

cách hiểu về du lịch khác nhau Dưới đây là một số định nghĩa tiêu biểu về du lịch:

- Du lịch là một hiện tượng kinh tế, xã hội nảy sinh trong điều kiện kinh tế, xã hội nhất định, là tổng thể tất cả các quan hệ và hiện tượng trong hành trình để thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí và văn hóa nhưng lưu động chứ không định cư tạm thời ( Học giả Trung Quốc)

- Du lịch là sự kết hợp tương tác của bốn nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách, bao gồm: du khách, nhà cung ứng, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách

du lịch (Michael Coltman)

- Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng những nhu cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan giải trí, tìm hiểuvà các nhu cầu khác của khách du lịch Các hoạt động đó phải mang lợi ích kinh tế, xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho doanh nghiệp (Đại Học Kinh Tế Quốc Dân)

- Luật du lịch Việt Nam (2005) định nghĩa: "Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, tìm hiểu, nghỉ dưỡng trong thời gian nhất định" ( nguồn)

1.2 Các khái niệm và thuật ngữ liên quan

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về du khách tùy vào thực tế hoàn cảnh của mỗi nước, dưới những cách nhìn nhận riêng của mỗi tác giả thì có những định nghĩa khác nhau

Tuy không hoàn toàn giống nhau trong cách định nghĩa, nhưng có thể thấy du khách là người từ nơi khác đến vào thời gian rãnh rỗi của họ với mục đích thỏa mãn các nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, nâng cao hiểu biết…và tiêu thụ những giá trị tinh thần,

Trang 14

vật chất, và các dịch vụ do các cơ sở của ngành lưu trú cung ứng

Du khách được chia làm hai loại

+ Khách du lịch: Là khách thăm viếng có lưu trú tại một quốc gia hoặc một vùng khác với nơi ở thường xuyên trên 24h và nghỉ qua đêm tại đó với mục đích nghỉ dưỡng, thăm quan, thăm viếng gia đình, tham dự hội nghị, hoạt động thể thao, tôn giáo

+ Khách thăm quan: Còn gọi là khách thăm viếng một ngày Đây là loại khách thăm viếng lưu lại ở một nơi nào đó dưới 24h và không lưu trú qua đêm

Dựa trên phạm vi lãnh thổ có thể chia du khách thành 2 loại:

1.3.2 Đặc điểm tài nguyên du lịch

Khối lượng các nguồn tài nguyên và diện tích phân bổ các nguồn tài nguyên là

cơ sở cần thiết để xác định khả năng khai thác và tiềm năng của hệ thống lãnh thổ nghỉ ngơi, du lịch

Thời gian có thể khai thác (như thời kỳ khí hậu thích hợp, mùa tắm, thế nằm

Trang 15

của lớp tuyết phủ ổn định) xác định tính mùa vụ của du lịch, nhịp điệu dòng du lịch

Tính bất biến về mặt lãnh thổ của đa số các loại tài nguyên tạo nên lực hút cơ sở

hạ tầng và dòng du lịch tới nơi tập trung các loại tài nguyên đó

Vốn đầu tư tương đối thấp và giá thành chi phí sản xuất không cao cho phép xây dựng tương đối nhanh chóng cơ sở hạ tầng và mang lại hiệu quả kinh tế- xã hội cũng như khả năng sử dụng độc lập từng loại tài nguyên

Khả năng sử dụng nhiều lần TNDL nếu tuân theo các quy định về sử dụng

tự nhiên một cách hợp lý, thực hiện biện pháp cần thiết để bảo vệ chung

1.3.3 Phân loại TNDL

Tài nguyên du lịch có thể chia làm 2 nhóm:

1.3.3.1.Tài nguyên du lịch tự nhiên

1.3.3.1.1 Quan niệm

Tài nguyên du lịch tự nhiên là tổng thể tự nhiên các thành phần của nó có thể góp phần khôi phục và phát triển thể lực, trí tuệ con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ và được lôi cuốn vào phục vụ cho nhu cầu cũng như sản xuất dịch vụ du lịch

Trong chuyến du lịch, người ta thường tìm đến những nơi có phong cảnh đẹp Phong cảnh theo một nghĩa nào đó đ bược hiểu là một khái niệm tổng hợp liên quan đến tài nguyên du lịch Căn cứ vào mức độ biến đổi của phong cảnh do con người tạo nên, có thể chia nó làm 4 loại:

- Phong cảnh nguyên sinh (thực tế rất ít gặp trên thế giới)

- Phong cảnh tự nhiên, trong đó thiên nhiên bị thay đổi tương đối ít bởi con người

- Phong cảnh nhân tạo (văn hoá), trước hết nó là những yếu tố do con người tạo

Trang 16

du lịch Tài nguyên du lịch nhân văn có các đặc điểm sau:

- Có tác dụng nhận thức nhiều hơn Tác dụng giải trí không điển hình hoặc chỉ

có ý nghĩa thứ yếu

- Việc tìm hiểu các đối tượng nhân tạo thường diễn ra trong thời gian ngắn

- Số người quan tâm tới tài nguyên du lịch nhân văn thường có văn hoá cao hơn, thu nhập và yêu cầu cao hơn

- Tài nguyên du lịch nhân văn thường tập trung ở các điểm quần cư và thành phố lớn

- Ưu thế của tài nguyên du lịch nhân văn là đại bộ phận không có tính mùa vụ (trừ các lễ hội), không bị phụ thuộc nhiều vào các điều kiện khí hậu và các điều kiện tự nhiên khác

- Sở thích của những người tìm đến tài nguyên du lịch nhân văn rất phức tạp và rất khác nhau

1.3.3.2.2 phân loại

- Các di sản văn hóa thế giới và di tích lịch sử văn hoá, kiến trúc - Các lễ hội

- Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học

- Các đối tượng văn hoá thể thao và hoạt động nhận thức khác

1.4 Điểm, tuyến du lịch

1.4.1 Điểm du lịch

Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch

Điều kiện để được công nhận là điểm du lịch

Theo điều 24, mục 1, chương 4, Luật du lịch, điểm du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là điểm du lịch quốc gia:

Trang 17

Có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch

Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất một trăm nghìn lượt khách tham quan một năm

Điểm du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là điểm du lịch địa phương:

Có tài nguyên du lịch hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách du lịch

Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất mười nghìn lượt khách tham quan một năm

1.4.2 Tuyến du lịch

Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, đường hàng không

Điều kiện để được công nhận là tuyến du lịch

Theo điều 25, mục 1, chương 4, Luật du lịch, tuyến du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là tuyến du lịch quốc gia:

Nối các khu du lịch, điểm du lịch, trong đó có khu du lịch, điểm du lịch quốc gia, có tính chất liên vùng, liên tỉnh, kết nối với các cửa khẩu quốc tế

Có biện pháp bảo vệ cảnh quan, môi trường và cơ sở dịch vụ phục vụ khách du lịch dọc theo tuyến

Tuyến du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là tuyến du lịch địa phương:

Nối các khu du lịch, điểm du lịch trong phạm vi địa phương

Có biện pháp bảo vệ cảnh quan, môi trường và cơ sở dịch vụ phục vụ khách du lịch dọc theo tuyến

1.5 Tác động qua lại giữa du lịch với các lĩnh vực khác

1.5.1 Du lịch và văn hóa, xã hội

1.5.1.1 Tác động của văn hóa, xã hội với du lịch

Tác động lớn nhất là về nhận thức: Xã hội có nhận thức đúng đắn và hiểu được vai trò của du lịch với đời sống thì du lịch mới phát triển Đối với chính quyền: Nhận thức đúng đắn về du lịch thì sẽ có những chính sách phát triển du lịch Đối với người

Trang 18

dân có nhận thức đúng đắnvề du lịch thì sẽ đi du lịch nhiều hơn và niềm nở chào đón khách du lịch

Nếu xã hội có những nhận thức không đúng đắn thì sẽ kìm hãm sự phát triển du lịch theo hai hướng: Cản trở du lịch phát triển và bất chấp mọi thủ đoạn để kiếm tiền

từ du lịch

Văn hóa là tài nguyên du lịch nó chiếm một nửa phần tài nguyên quan trọng nhất của du lịch

1.5.1.2.Tác động của du lịch với văn hóa, xã hội

Du lịch có tác dụng phục hồi, tăng cường sức khỏe cho người dân (đối với loại hình du lịch thiên nhiên: Du lịch biển, núi, suối nước khoáng, suối nước nóng) Đồng thời củng cố tình đoàn kết cộng đồng và nâng cao dân trí, phục hồi và phát triển truyền thống văn hóa dân tộc, thúc đẩy giao lưu văn hóa

Tuy nhiên du lịch phát triển sẽ tạo môi trường thuận lợi để các tệ nạn xã hội lây lan và phát triển

Có sự thương mại hóa các hoạt động sản phẩm văn hóa để phục vụ du lịch

1.5.2 Du lịch và môi trường

1.5.2.1 Ảnh hưởng của môi trường đến du lịch

Môi trường là điều kiện diễn ra hoạt động du lịch và cung cấp nguồn tài nguyên cho du lịch Tuy nhiên những tai biến về môi trường sẽ cản trở hoạt động du lịch phát triển: Thiên tai, lũ lụt, hạn hán, cháy rừng

1.5.2.2 Ảnh hưởng của du lịch đến môi trường

Du lịch có vai trò to lớn trong việc giáo dục nhận thức về môi trường Đồng thời kích thích việc tôn tạo, bảo vệ môi trường

Tuy nhiên nếu phát triển du lịch ồ ạt thì sẽ tăng nguy cơ suy thoái ô nhiễm môi trường: Số lượng du khách quá lớn sẽ vượt quá sức tải của môi trường tự nhiên; ý thức của du khách chưa tốt: Vứt rác bừa bãi, sẽ phá hủy môi trường tự nhiên

Trang 19

tế quốc dân cũng phát triển, mà du lịch lại là ngành kinh tế phụ thuộc vào các ngành kinh tế khác, mặt khác kinh tế phát triển có kinh phí đầu tư vào du lịch

1.5.3.2 Tác động của du lịch đến kinh tế

Du lịch góp phần cân đối lại cán cân thu chi và là con đường xuất khẩu tại chỗ,

du lịch thúc đẩy nhiều ngành nghề kinh tế khác phát triển, tạo ra công ăn việc làm cho

xã hội Vì lý do đó mà nhiều quốc gia xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn hoặc trọng điểm

Du lịch giúp phân phối lại thu nhập quốc dân, giảm sự chênh lệch giàu nghèo

Du lịch giúp các ngành nghề thủ công truyền thống khó có khả năng cạnh tranh thương mại trở nên phát triển như: ngành dệt, mây tre đan, gốm sứ

Nhiều nơi trên thế giới du lịch là nguồn thu nhập chính và duy nhất: Hawaii,

Ma cao, Maldives

Tác động tiêu cực

Du lịch tạo nên lạm phát cục bộ ở các vùng phát triển du lịch, do nhu cầu của

du khách tăng Giá cả tăng làm cho đời sống sinh hoạt của người dân địa phương không liên quan đến du lịch gặp khó khăn

1.5.4 Du lịch và hòa bình, chính trị

1.5.4.1 Ảnh hưởng của hòa bình chính trị đến du lịch

Mối quan tâm hàng đầu của khách du lịch là an toàn, không một du khách nào lại muốn đi du lịch ở vùng chiến sự, trừ những người có mục đích, sứ mệnh đặc biệt Việt Nam được đánh giá tốt về tình hình an ninh, đây chính là lợi thế cho phát triển du lịch và là yếu tố hàng đầu quan trọng hấp dẫn du khách.Và đường lối thân thiện cởi

mở sẽ thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển Từ năm 1986 nước ta xây dựng đường lối đối ngoại với phương châm: "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả với tất cả các nước"

1.5.4.2 Ảnh hưởng của du lịch đến hòa bình chính trị

Du lịch phát triển sẽ là chiếc cầu nối hòa bình giữa các dân tộc, tăng cường sự hiểu biết thông cảm, tình đoàn kết hữu nghị

Tuy nhiên đây cũng là cơ hội cho những thế lực phản động lợi dụng du lịch để tuyên truyền chống phá, gây rối

1.6 Chủ trương của Nhà nước về phát triển du lịch

Trang 20

Phát triển du lịch là một chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế- xã hội

Vì du lịch không chỉ góp phần tăng nguồn thu ngân sách cho đất nước mà còn thúc đẩy kinh tế, văn hóa- xã hội phát triển

Trong những năm gần đây nhà nước có nhiều chính sách khuyến khích phát triển du lịch với chủ trương từng bước đưa du lịch trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn Đây là cơ hội đẩy nhanh tốc độ phát triển du lịch Trong Luật du lịch, chương 8, điều 79: "Nhà nước có chính sách và biện pháp đẩy mạnh xúc tiến du lịch" theo các nội dung chủ yếu sau đây:

1 Tuyên truyền, giới thiệu rộng rãi về đất nước, con người Việt Nam, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, di tích cách mạng, di sản văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người, bản sắc văn hoá dân tộc cho nhân dân trong nước và cộng đồng quốc tế

2 Nâng cao nhận thức xã hội về du lịch, tạo môi trường du lịch văn minh, lành mạnh, an toàn, phát huy truyền thống mến khách của dân tộc

3 Huy động các nguồn lực để đầu tư phát triển các đô thị du lịch, khu du lịch, điểm du lịch đa dạng, độc đáo, có chất lượng cao, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc trong cả nước, từng vùng và từng địa phương; phát triển kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất- kỹ thuật du lịch, đa dạng hoá và nâng cao chất lượng các dịch vụ du lịch

4 Nghiên cứu thị trường du lịch, xây dựng sản phẩm du lịch phù hợp với thị hiếu khách du lịch; tuyên truyền, giới thiệu sản phẩm du lịch

Tuy nền kinh tế Việt Nam đang gặp không ít khó khăn nhưng ngành du lịch đã vươn lên và phát triển mạnh mẽ thành một trong những ngành có mức tăng trưởng cao

Là một ngành kinh tế tổng hợp, du lịch có liên quan chặt chẽ tới văn hóa, đối ngoại, hải quan, hàng không, giao thông, xây dựngChính phủ yêu cầu các ngành chức năng tăng cường phối hợp với du lịch để giải quyết các vướng mắc theo phương châm tạo điều kiện thuận lợi, thông thoáng cho phát triển du lịch Cần phát triển mạnh hơn nữa các loại hình du lịch để tạo ra sự phong phú trong sản phẩm du lịch Nhà Nước đã và đang đầu tư nâng cấp cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch Khôi phục các giá trị văn hóa truyền thống như: Các làng nghề, các lễ hội dân gian, các di tích văn hóa lịch sử để phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc đồng thời đầu tư vào cải tạo, tu bổ, phát triển tài nguyên du lịch thiên nhiên

Trang 21

theo hướng bền vững Trong nghị quyết hội nghị lần thứ 5 của ban chấp hành Trung Ương Đảng khóa VIII đã ghi rõ: "Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng"

Một số chỉ tiêu chính của du lịch Việt Nam trong những năm sắp tới:

Năm 2016: Khách quốc tế vào Việt Nam du lịch từ 5,5 đến 6 triệu lượt người, khách nội địa từ 25 đến 26 triệu lượt người, thu nhập du lịch đạt 4 đến 4,5 tỷ USD

Mục tiêu của chiến lược phát triển du lịch đến năm 2020 là du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại, sản phẩm du lịch chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, có sức cạnh tranh, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc, thân thiện với môi trường Đưa Việt Nam trở thành điểm đến đẳng cấp trong khu vực Năm 2030, đưa Việt Nam thành một trong những điểm đến du lịch ưa chuộng, có đẳng cấp trên thế giới

Cụ thể, năm 2015 tăng trưởng du khách sẽ đạt 7-8 triệu khách quốc tế, 32- 35 triệu khách nội địa Đến năm 2020 thu hút 11- 12 triệu khách quốc tế và 45- 48 triệu lượt khách nội địa Và đến năm 2030 các con số này đạt 19- 20 triệu khách quốc tế, 70 triệu khách nội địa Thu nhập du lịch đạt 10- 11 tỷ USD năm 2015, 18- 19 tỷ USD năm 2020 và tăng gấp đôi vào năm 2030 Theo đó, GDP du lịch toàn quốc năm 2015

sẽ chiếm 5,5 - 6% và năm 2020 đạt 6,5- 7%/tổng GDP cả nước, lao động trong lĩnh vực du lịch: Lao động trực tiếp 500.000 người, lao động gián tiếp 1,2- 1,3 triệu người

Nhìn chung, ngành du lịch nước ta đang phát triển ngày càng lớn mạnh, để khai thác một cách có hiệu quả các tài nguyên du lịch, đem lại lợi ích cao về kinh tế, văn hóa, xã hội Đa dạng hóa loại hình du lịch để ngày càng thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế

Trang 22

CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN PHƯỚC SƠN- TỈNH QUẢNG NAM

2.1 Một số nét về tỉnh Quảng Nam

2.1.1 Về địa lý, kinh tế, xã hội

Tỉnh Quảng Nam nằm trong tọa độ địa lý khoảng 108026’16” đến 108044’04”

độ kinh đông và từ 15023’38” đến 15038’43” độ vĩ bắc Phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và Kon Tum, phía Tây giáp nước Lào, phía đông là biển Đông Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, chỉ có 2 mùa là mùa mưa và mùa khô, chịu ảnh hưởng của mùa đông lạnh miền Bắc Nhiệt độ trung bình năm 25oC, Mùa đông nhiệt độ vùng đồng bằng có thể xuống dưới 20oC Độ ẩm trung bình trong không khí đạt 84% Lượng mưa trung bình 2000-2500mm, nhưng phấn bố không đều theo thời gian và không gian, mưa ở miền núi nhiều hơn đồng bằng, mưa tập trung vào các tháng 9 - 12, chiếm 80% lượng mưa cả năm; mùa mưa trùng với mùa bão, nên các cơn bão đổ vào miền Trung thường gây ra

lở đất, lũ quét ở các huyện trung du miền núi và gây ngập lũ ở các vùng ven sông

Ngày 01 tháng 01 năm 1997, tỉnh Quảng Nam chính thức được tái lập Toàn tỉnh được chia thành 18 đơn vị hành chính cấp huyện, trong đó có 2 thành phố và 16 huyện Tổng diện tích toàn tỉnh 10.432,2 km² với dân số được cập nhật từ cuộc điều tra dân số năm 2009 là 1.422.300 người và mật độ dân cư trung bình đạt 136 người/ km² Mật độ dân số phân bố không đồng đều giữa các đơn vị hành chính cấp huyện trong tỉnh, trong đó mật độ cao nhất ở thành phố Hội An đạt 1.459 người/ km² và thấp nhất

là huyện Nam Giang chỉ đạt 12 người/ km²

Tỉnh Quảng Nam nằm ngay giữa miền Trung của Việt Nam, trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung gồm Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, là địa phương đầu tiên trong cả nước triển khai mô hình khu kinh tế mở, lại có 2 di sản văn hóa (Khu Di tích Mỹ Sơn và phố cổ Hội An) được thế giới công nhận Còn là một trong số rất ít địa phương trong cả nước có cả sân bay, cảng biển, đường sắt và quốc

lộ Do đó, có thể nói Quảng Nam chứa đựng nhiều tiềm năng, cơ hội lớn để phát triển

Trang 23

mạnh mẽ…

2.1.2 Về du lịch

Quảng Nam là một trong những tỉnh, có chiều dài bờ biển lớn nhất ở khu vực duyên hải Nam Trung bộ, với nhiều bãi tắm sạch đẹp và thơ mộng nằm ở khu vực Điện Bàn, Hội An, Tam Kỳ, Núi Thành Không bị ô nhiễm, độ dốc ít, cát mịn và độ mặn vừa phải, nước biển xanh và khí hậu rất lý tưởng cho việc phát triển các loại hình

du lịch nghỉ dưỡng Bên cạnh đó, còn có quần đảo Cù Lao Chàm được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới vào tháng 5.2009, cùng 10 hồ nước (với 6.000

ha mặt nước, khoảng 11.000 ha rừng xung quanh khu vực hồ và 40 đảo trong các hồ)

là một trong những tiềm năng lớn để phát triển du lịch Quảng Nam Ngoài ra, hai di sản văn hóa thế giới là đô thị cổ Hội An, khu đền tháp Mỹ Sơn và nhiều di tích lịch sử văn hóa cùng với nhiều loại hình hoạt động văn hóa như hát tuồng, hát đối, hô bài chòi, dân ca, hát hò khoan

Quảng Nam còn nổi tiếng với nhiều làng nghề truyền thống và nhiều lễ hội nổi tiếng Làng nghề truyền thống: Làng gốm Thanh Hà, làng mộc Kim Bồng, làng đúc đồng Phước Kiều (xã Điện Phương, huyện Điện Bàn), làng dệt Mã Châu, làng dâu tằm Đông Yên - Thi Lai (xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên), làng dệt chiếu cói Bàn Thạch, làng rau Trà Quế, làng trống Lam Yên (xã Đại Minh, huyện Đại Lộc)

Lễ hội Bà Thu Bồn là một lễ hội dân gian của cư dân ven sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam với mục đích cầu nguyện một năm mới đất trời thuận hòa, người dân ấm

no hạnh phúc Lễ hội được tổ chức hằng năm vào ngày 12 tháng 2 âm lịch Phần hội quan trọng nhất là hội đua thuyền Lệ Bà (Nam-Nữ), hội thả hoa đăng và đốt lửa thiêng trên sông

Lễ hội Bà Chiêm Sơn là lễ hội của cư dân làm nghề nuôi tằm dệt vải của xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên Lễ được tổ chức ngày 10-12 tháng giêng âm lịch tại dinh bà Chiêm Sơn Lễ hội là dịp bày tỏ niềm tôn kính với người đã khai sinh ra nghề ươm tằm, dệt lụa cho địa phương Người tham gia lễ hội có cơ hội thưởng thức các món ăn đặc trưng của người Quảng Nam Lễ hội còn là dịp để tham gia các trò chơi dân gian như đá gà, ném bóng vào rổ, hát bài chòi

Carneval Hội An là lễ hội đường phố được tổ chức lần đầu tiên tại thành phố Hội An vào giao thừa năm 2009 (dương lịch) Lễ hội mô phỏng theo các lễ hội

Trang 24

Carneval đường phố vốn rất nổi tiếng tại các nước Châu Âu và Mỹ Latin

Lễ hội rước cô bà chợ Được được tổ chức hằng năm vào ngày 11 tháng Giêng (âm lịch) tại xã Bình Triều, huyện Thăng Bình Đây là một kiểu lễ hội tâm linh để tỏ lòng tôn kính với bà Nguyễn Thị Của Bà mất năm 1817, hưởng dương 18 tuổi Theo

cư dân địa phương, bà rất linh thiêng Trong một lần ngao du đến làng Phước Ấm (nay

là Chợ Được, xã Bình Triều), thấy cảnh sông nước hữu tình, bà chọn nơi này họp chợ

để giúp cư dân có cuộc sống sung túc hơn Để ghi nhớ công ơn bà, cư dân trong vùng lập đền thờ "Lăng Bà" và được triều đình phong tặng sắc phong "Thần Nữ Linh Ứng-Nguyễn Thị Đẳng Thần"

Lễ Hội Đêm Rằm Phố Cổ được tổ chức vào ngày 14 âm lịch hằng tháng tại đô thị cổ Hội An Tại thời điểm đó, cư dân trong thành phố sẽ tắt hết điện chiếu sáng, thay vào đó là ánh sáng rực rỡ từ đèn lồng Thành phố sống trong không gian tĩnh mịch của quá khứ Các phương tiện có động cơ không được tham gia lưu thông, đường phố được dành cho người đi bộ thưởng lãm

Ngoài ra còn có các lễ hội như : Lễ Hội Long Chu, Lễ Hội Cầu Bông, Lễ Hội

Bà Thiên Hậu, Lễ Tế Cá Ông, Lễ Cúng Tổ Minh Hải, Lễ Hội Nguyên Tiêu là lễ hội của Hoa Kiều tại Hội An Lễ được tổ chức tại Hội Quán Triều Châu và Quảng Triệu vào ngày 16 tháng Giêng (âm lịch) hằng năm Có thể nói Quảng Nam là một vùng đất

có truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời và là vùng đất có nhiều thế mạnh để phát triển

du lịch

2.2 Giới thiệu về huyện Phước Sơn

2.2.1 Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội

2.2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Phước Sơn là huyện miền núi cao của tỉnh Quảng Nam, diện tích tự nhiên 114.479,31 ha, nằm trên triền Đông của dãy Trường Sơn và trung độ cả nước, tọa độ địa lý 15006'33'' - 15021'23'' vĩ độ Bắc; 107006'23'' - 107035'25'' kinh độ Đông

Phía Bắc: giáp huyện Nam Giang

Phía Đông: giáp huyện Hiệp Đức

Phía Tây: giáp huyện Nam Giang (Quảng Nam) và huyện Đăk Glei (Kontum)

Phía Nam: giáp huyện Đăk Glei của Kontum

Trang 25

Huyện có 11 xã và 01 thị trấn, trong đó có 05 xã vùng cao (Phước Chánh, Phước Kim, Phước Công, Phước Thành, Phước Lộc), 03 xã vùng trung (Phước Đức, Phước Năng, Phước Mỹ), 03 xã vùng thấp ( Phước Xuân, Phước Hiệp, Phước Hòa) và trị trấn Khâm Đức

Phước Sơn có thị trấn Khâm Đức là trung tâm hành chính của huyện, là đầu mối của các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, thể dục – thể thao Thị trấn Khâm Đức đóng vai trò đầu tàu và là động lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của huyện Phước Sơn

Phước Sơn Nằm cách không xa các trung tâm kinh tế lớn của vùng, gần các khu công nghiệp tập trung và gần các trục giao thông quan trọng có ý nghĩa liên vùng Với

vị trí như vậy, Phước Sơn có thể liên kết, trao đổi và thu hút vốn đầu tư vào phát triển kinh tế xã hội, xây dựng các cụm công nghiệp, đồng thời là thị trường cung cấp nguồn

lao động, nông sản, hàng hoá cho khu vực nội thành và các khu công nghiệp tỉnh bạn

Trang 26

Lượng bốc hơi trung bình: 800 mm

Thời kỳ bốc hơi cao nhất vào tháng: 6,7

Khí hậu khu vực Phước Sơn mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng Nam Hải Vân, nóng ẩm mưa nhiều Do chịu nhiều ảnh hưởng của địa hình nên lượng mưa và biên độ nhiệt ngày đêm của khu vực này lớn hơn vùng trung du và đồng bằng

Nhìn chung, đặc điểm khí hậu thuận lợi cho thực vật sinh trưởng và phát triển, thích hợp cho nhiều loại cây trồng, con vật nuôi Tuy nhiên, mùa mưa do lượng mưa lớn, tập trung theo mùa nên thường có lũ quét gây ách tắc giao thông, ảnh hưởng xấu đến đời sống, sản xuất của nhân dân, mùa khô thường bị hạn gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp

Vùng đất bằng: Là những thung lũng ven chân núi hoặc vùng đất bằng ven sông suối Phân bố tập trung nhiều ở phía Đông (xã Phước Hiệp, Phước Xuân, thị trấn Khâm Đức)

Địa hình đồi núi phức tạp nên rất khó khăn cho xây dựng hạ tầng kỹ thuật như giao thông, điện, nước và các công trình công cộng khác phục vụ dân sinh Đất đai manh mún, khó khăn cho bố trí sản xuất, phát triển thủy lợi, khai hoang, cải tạo đồng

Trang 27

ruộng và cơ giới hóa nông nghiệp

Thủy văn

Phước Sơn là một trong những huyện của tỉnh Quảng Nam có lượng mưa trung bình từ

3150 – 3500 mm, lượng mưa nhỏ nhất là 1857 mm, lớn nhất là 5337 mm tạo nên một nguồn nước dồi dào đổ ra nhiều sông lớn như: Sông Đăk My (56 km) bắt nguồn từ ngọn núi Ngok Lum Heo và các phụ lưu sông Đăk Sa, Đăk Chè, với độ rộng bình quân

là 200m, lòng sông hẹp và sâu Vào những mùa mưa nước lớn lũ dâng nhanh và hiện nay Sông Đak My đã được khai thác và trở thành nhà máy thủy điện có công suất từ

100 – 200 mgw Hay nhiều con sông khác như sông Đăk Mét, suối Đăk Glon, Đăk Xa

Oa, Đăk Xe,…Chính những con sông lớn ấy đã trở thành nơi chứa nước và cung cấp nước cho cuộc sống của người dân Với những con sông, suối lớn đó có thể phát triển các loại hình du lịch sinh thái tham quan mặt khác khách du lịch là đối tượng tiêu thụ lượng nước lớn chính vì vậy có thể tạo ra các sản phẩm nước sạch phục vụ khách du lịch

2.2.1.2 Tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội

2.2.1.2.1 Tình hình kinh tế

Huyện Phước Sơn gồm thị trấn Khâm Đức và 11 xã: Trong đó có 05 xã vùng cao (Phước Chánh, Phước Kim, Phước Công, Phước Thành, Phước Lộc), 03 xã vùng trung (Phước Đức, Phước Năng, Phước Mỹ), 03 xã vùng thấp (Phước Xuân, Phước Hiệp, Phước Hòa) thị trấn Khâm Đức là trung tâm hành chính của huyện, là đầu mối của các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, thể dục – thể thao thị trấn Khâm Đức đóng vai trò đầu tàu và là động lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của huyện Phước Sơn

Trong những năm gần đây, nhờ có sự đầu tư của thành phố và tinh thần tự lực,

tự cường của Đảng bộ và nhân dân trong huyện, bộ mặt trung tâm thị trấn đã ngày càng khang trang hơn, các khu trụ sở cơ quan, trung tâm văn hoá thông tin, trung tâm thể thao, trường học đã được xây mới với dáng kiến trúc hiện đại, đường trục chính thông thoáng Các khu dân cư của 11 xã trong huyện được hình thành tự nhiên từ xa xưa, tồn tại đến ngày nay vẫn mang dáng dấp các làng xóm truyền thống, có cây ăn quả, sân vườn, nhà rông, ao thả cá, bể nước, không gian thoáng mát và yên tĩnh

Nền kinh tế của huyện bao đời nay vẫn là nông nghiệp Huyện lấy nông nghiệp

Trang 28

làm trọng tâm, ngoài trồng lúa huyện còn đầu tư mở rộng trồng các cây hoa màu như: dưa hấu, ớt ngọt, dưa chuộtVà đặc biệt là còn trồng thuốc, keo lá tràm với diện tích hơn 100ha Ngay từ xa xưa, người dân huyện Phước Sơn đã có kinh nghiệm bền bỉ chống chọi với thiên nhiên, khai hoang rừng để mở rộng diện tích đất nông nghiệp; cùng với nghề nông, các nghề thủ công cũng hình thành như đan lát mây tre, dệt chiếu, dệt vải Bên cạnh đó huyện còn chú trọng phát triển diện tích rừng phòng hộ Nâng diện tích rừng từ 150ha lên 1000ha, ngoài ra nghề khai thác khoáng sản cũng phát triển mạnh ở khu vực xã Phước Đức Theo số liệu thống kê, đến cuối năm 2012 tổng giá trị hiện hành của huyện là 259.248 triệu đồng, trong đó giá trị của nông – lâm nghiệp là 65.293 triệu đồng, công nghiệp – xây dựng cơ bản là 101.900 triệu đồng, và thương mại quản lý hành chính là 92.055 triệu đồng

Hiện tại trên địa bàn huyện có 7 chợ, hàng hóa phong phú đa dạng, mỗi chợ có màu sắc riêng mang đặc trưng của từng miền quê, phục vụ tại chỗ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân

Công tác thông tin, văn hóa, thể thao được duy trì và phát triển, chất lượng giáo dục đào tạo có nhiều chuyển biến, các công trình dự án lớn trên địa bàn huyện đang được khẩn trương tiến hành để kỷ niệm những ngày lễ lớn của tỉnh và đất nước

Toàn bộ các hệ thống đường trục huyện, đường liên xã đều được nhựa hoá, nhân dân các địa phương rất cố gắng xây dựng bê tông hoá đường thôn xóm; 100% số

hộ trong huyện đã có điện thắp sáng, phương tiện nghe nhìn, nước sạch, vệ sinh môi trường ngày càng được cải thiện Từ khi đường Hồ Chí Minh được nâng cấp, việc giao lưu kinh tế, đi lại và sản xuất của nhân dân trong huyện đã có rất nhiều thuận lợi, hoà nhập với tuyến tạo nên các tour du lịch hấp dẫn

Ngày nay trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, nhân dân huyện Phước Sơn đang đứng trước những cơ hội mới Phát huy lợi thế, tiềm năng của địa phương, với tinh thần cần cù lao động, chân thành mến khách, được thành tỉnh Quảng Nam quan tâm đầu tư xây dựng thủy điện ĐăkMy

4 và một số khu, cụm công nghiệp điều này sẽ tạo thuận lợi cho việc phát triển hạ tầng giao thông, du lịch dịch vụ Đặc biệt, là khu khai thác vàng huyện Phước Sơn sẽ là nơi thu hút nhiều nguồn lực, vật lực, tài lực để trở thành một địa phương phát triển về kinh

tế, vững mạnh về an ninh trật tự an toàn xã hội và một miền đất du lịch hấp dẫn của

Trang 29

và suối Ka Lỡ đổ qua sông Thanh, hình thành nhiều bản làng, dân cư đông đúc Nhưng

do tập tục trả đầu, giặc mùa, đã làm cho 30 làng bị diệt vong, gồm: Làng Đăk Lác tại Nước Ama, A Gố; làng Đăk Plúa tại Nước Acay, Nước Vàng; làng Đăk Êc tại suối Si Tường; làng Nước La tại Nước La Mê; làng Đăk Mlang tại suối Nước Xa; làng Đăk Nhẽ Mừng và làng Đăk Nhẽ Keo tại Khâm Đức; làng Đăk Pau Mơu tại Nước Dút, Nước Chum; làng Đăk Tình tại Ngok-Ta-Vat; làng Lúa Rẽ tại ngã ba Làng Hồi; làng

Cà Do tại Nước Lang; làng Cà Giang tại Nước Mtan; làng Don Nhẽ tại thượng nguồn Nước Mtan; Làng Lône tại Nước Non; làng Ta Le tại Nước Xa Tin; làng Cà Doạt Ô

Xe tại Nước Poóc; làng Cà Lô Rưa tại Phước Năng cũ; làng Mnen tại thượng nguồn Nước Tà Pui; làng Triềng Lvai và làng Ta Kim tại thượng nguồn Nước Xa Loa; làng Xích tại khe đôi Nước Xa Loa; làng Tráo, làng Công Văn Lơ Dẽ; làng Công Văn KXao; làng Lú tại địa bàn Phước Hòa; làng Cà Đoan tại Khe Xeng; làng Dai tại Khe

Xơ Man; làng Mtía tại Khe Mtía; làng Mừng tại Khe Tre và làng Hàn tại Khe Gia Từng

Hiện nay người Bh'noong Phước Sơn, có 13.152 người, là một bộ phận thuộc dân tộc Giẻ-Triêng, có nguồn gốc từ dân tộc Ta Lieng cư trú ở dãy Tây Trường Sơn thuộc vùng Hạ Lào, do tập quán du canh - du cư, người Giẻ - Triêng dần dần di cư sang phía Đông Bắc tỉnh Kon Tum, một bộ phận di chuyển xuống phía Tây Bắc tỉnh Quảng Nam, cư trú ở vùng Trà My, Hiệp Đức, nhưng số đông cư trú ở huyện Phước Sơn Trong tiến trình lịch sử lâu dài, người Bh'noong sống đông đúc ở huyện Phước Sơn và dần dần hình thành nên những dị điểm về ngôn ngữ, văn hóa và tập quán, phân hóa khỏi dân tộc chủ thể của mình, gần như trở thành một nhóm dân cư chủ thể, đóng

Trang 30

góp nhiều công sức tạo dựng cơ đồ, sự nghiệp trên vùng đất huyện Phước Sơn mà họ đang sinh sống Hiện nay tiếng nói của người Bh'noong Phước Sơn thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), trên 90% tiếng nói giống với nhóm Gié-Triêng ở Kon Tum và tương đối gần gũi với tiếng Xơ Đăng, Ba Na Năm 2000, thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về xây dựng

và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Huyện ủy Phước Sơn chủ trương biên soạn bộ chữ viết tiếng Bh'noong và qua nhiều năm nghiên cứu, hợp tác với Viện Ngôn ngữ học, Viện Dân tộc học và Đại học Đà Nẵng, Nhà giáo ưu

tú Nguyễn Văn Thanh - Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện Phước Sơn đã biên soạn bộ sách chữ viết tiếng Giẻ Triêng (nhóm Bh'noong), được Hội đồng Khoa học huyện Phước Sơn nghiệm thu tháng 12/2007, đánh dấu bước phát triển mới về văn hóa của người Giẻ-Triêng (nhóm Bh'noong), bộ chữ viết Giẻ-Triêng (nhóm Bh'noong) được cấu tạo bộ vần bằng chữ cái La-tinh

Về lịch sử người Bh'noong, là cư dân sinh sống lâu đời trên vùng đất huyện Phước Sơn, tập quán sản xuất của họ là phát rừng làm nương rẫy, trồng cây lương thực Cách thức canh tác của người Bh'noong cũng giống như các dân tộc thiểu số khác sinh sống ở miền núi trong vùng Công cụ chủ yếu: Dùng rìu, rựa để phát dọn; gậy đẽo nhọn đầu để chọc lỗ khi gieo tỉa; cà veo là công cụ để làm cỏ Tất cả các loại cây trồng đều được gieo trồng trên nương rẫy Con vật nuôi gồm: trâu, heo, gà, ngan, chó , chỉ giết mổ vào các dịp lễ, tết để cúng thần linh và tổ tiên, ông bà Ngoài tập quán sản xuất nương rẫy, người Bh'noong có sở trường đan đát, trồng quế, rèn nông

cụ Xưa kia xã Phước Công có một số người biết dệt thổ cẩm nhưng kỹ thuật còn thấp, sau này bị mai mọt Quan hệ hàng hóa: Trước kia người Bh'noong dùng vật đổi vật, ngày nay dùng tiền để mua bán hàng hóa Người Bh'noong ở Phước Sơn ăn cơm ngày

3 bữa (bữa sáng và tối ăn ở nhà, bữa trưa thường ăn nhẹ ở nương rẫy); nguồn thức ăn hàng ngày kiếm được nhờ săn bẫy thú rừng, đánh bắt cá dưới sông suối và hái lượm hoa, quả, rau, nấm ở rừng; thức ăn ưa thích là các món nướng đối với cá, thịt và canh rau cũng thường có trong bữa cơm Trước kia người Bh'noong có tập quán ăn bốc, uống nước lã, rượu cần (rượu cần được chế biến từ củ sắn), ngày nay dùng bát, đũa, ly, tách khi ăn uống trong gia đình và tiếp khách; người Bh'noong còn có thói quen hút thuốc lá (cả nam, nữ, người lớn và trẻ em)

Trang 31

Nhà ở của người Bh'noong trước kia làm theo kiểu nhà sàn dài, được chia thành các gian nhỏ cho mỗi hộ "mơn vác", ở giữa ngôi nhà có một hành lang chạy suốt chiều dài ngôi nhà, hai nửa ra vào hành lang là cửa đi chung của các thành viên trong nhà Vật liệu chủ yếu làm bằng cây, lá, với kỹ thuật lắp ghép, chằng buộc rất tinh xảo, đây

là lối kiến trúc truyền thống khá phổ biến Mỗi làng của người Bh'noong chỉ có từ một đến hai ngôi nhà Hiện nay người Bh'noong làm nhà trệt theo kiểu nhà ở của người kinh, trừ những nhà làng truyền thống được kiến trúc theo kiểu nhà sàn, cao, to và đẹp;

có bài trí các hoa văn, họa tiết, trong nhà làng có trưng bày đầu thú rừng và sừng trâu…, một biểu tượng về nét văn hóa riêng của người Bh'noong

Về y phục truyền thống: Nam giới quấn khố, ở trần, mùa lạnh thì choàng thêm tấm đồ cho ấm Nữ giới mặc áo, quấn váy, nhưng có nơi dùng loại váy ống dài để che

từ ngực trở xuống; phụ nữ thường đeo trang sức bằng cuờm đá nhiều màu sắc và cả các loại vòng bạc, đồng ở cổ và tay, chân Hiện nay y phục theo kiểu người Việt được người Bh'noong sử dụng khá phổ biến ở mọi lứa tuổi Phương tiện người Bh'noong dùng để vận chuyển lương thực, đồ dùng hàng ngày, hoặc sử dụng khi đi nương rẫy là các loại gùi Gùi được đan bằng mây, hoặc cây lùng với nhiều kích cỡ và kiểu dáng khác nhau: Gùi đan thưa, đan dày, gùi có ngăn và gùi không ngăn; gùi đeo theo người hàng ngày, gùi để chứa đựng đồ dùng tại nhà, gùi có hoa văn nan nhuộm màu đen, đỏ

và gùi có hoa văn nhưng nan không nhuộm màu, gùi dùng cho người lớn, gùi dùng cho trẻ em, gùi dùng cho nam giới

Quan hệ xã hội: Người Bh'noong chưa phân hóa giai cấp, tuy trong làng có phân chia thành ba lớp người: Hạng giàu (pan gioong phi), hạng đủ ăn (tó cha) và hạng nghèo (tôi pa), song nhìn chung, họ có quan hệ cộng đồng khá chặt chẽ Mặc dù trong làng cũng có họ hàng khác nhau, nhưng họ có quan niệm chung về truyền thuyết và cội nguồn, nên rất yêu thương, giúp đỡ và bảo vệ lẫn nhau trong cuộc sống Già làng

"Piku" là người lớn tuổi, có uy tín cao, hiểu biết nhiều kinh nghiệm và thường là người

có công tạo lập làng, già làng là người điều khiển công việc chung của làng theo tinh thần dân chủ, dựa vào phong tục, tập quán mang tính thần quyền có từ thời xa xưa Trong làng còn có "Càm trồng" là người trông coi công việc phòng thủ bảo vệ dân làng, hoặc tổ chức cho dân làng tấn công kẻ thù, hoặc thú rừng một khi cuộc sống của dân làng bị đe dọa "Con rét" là người trông coi công việc nương rẫy, trồng tỉa của dân

Trang 32

làng; tổ chức ngày tết theo phong tục cổ truyền Ngoài ra, trong làng còn có thầy cúng

"bjâu"", là người bày vẽ cách cúng tế thần linh, ma quỉ, mang tập tục mê tín, dị đoan,

"bjâu" không được coi là người có vị trí lớn trong xã hội và không được dân làng ưu tiên về các quyền lợi như già làng "Piku", hoặc "Càm trồng", "Con rét"

Về hôn nhân: Khi trai, gái lớn lên họ tự tìm hiểu bạn đời (có thể trong làng, hoặc

ở làng khác), cha mẹ thường chấp nhận nếu không vi phạm phong tục, tập quán, song cũng có nhiều trường hợp do hai bên gia đình quyết định Việc cưới xin phải trải qua nhiều bước, nhưng bao giờ cũng có lễ kết gắn cô dâu, chú rể bằng cách trai, gái đưa cơm với gan gà cho nhau và cùng ăn, cùng uống rượu cần, hoặc trùm chung tấm chăn Trước khi cưới, cô gái phải chuẩn bị 100 bó củi đẹp để đem đến nhà trai; nhà trai tặng nhà gái các vật dụng đan đát đẹp nhất (thường là chiếc gùi 3 ngăn, có nắp đậy); và nhà gái cũng tặng lại cho nhà trai những sản phẩm đồ dệt: đồ, váy Sau khi cưới, đôi vợ chồng phải ở luân phiên nhà cha mẹ chồng và cha mẹ vợ mỗi đợt vài ba năm, cho đến khi một trong hai bên cha mẹ có người qua đời thì đôi vợ chồng mới có quyền tạo lập cuộc sống riêng Cũng theo phong tục trước đây, khi người vợ sinh đẻ, người chồng phải làm lều ngoài rừng để cho vợ sinh nở và sản phụ tự lo một mình trong việc sinh

nở của mình, sau 10 ngày mới được mang con về nhà Đứa bé được coi là thành viên của gia đình cũng sau khi được gia đình tiến hành một nghi thức cúng thần linh, xin cho đứa bé gia nhập cộng đồng của những người thân thuộc trong nhà và trong làng

Về ma chay, người Bh'noong khi chết được chôn trong một quan tài độc mộc, đẽo gọt rất tinh xảo, có tạc hình đầu trâu phía trên đầu của cổ quan tài Người chết được mai táng ở khu rừng ma (nghĩa địa), nhà mồ làm đơn giản, có rào xung quanh đề phòng chim, thú đào bới Đồ vật đem theo cho người chết có thể là chiêng, ché, gùi, rìu, rựa, cà veo Khi trong làng có người chết, thì cả làng đều kiêng cữ suốt 10 ngày không vào rừng và không đi xa nhà, cho đến khi tang gia tổ chức lễ cúng "nhắc nhở" linh hồn người chết ở yên bãi mộ thì gia đình và dân làng mới hết kiêng cữ Sau một năm, gia đình tổ chức một lễ thức đoạn tuyệt với mộ người chết, cầu cho linh hồn người chết về với tổ tiên và từ đây gia đình cũng không còn quan tâm đến ngôi mộ của người đã chết nữa

Về tín ngưỡng tâm linh, người Bh'noong quan niệm mọi vật cũng như con người, con thú đều có linh hồn ẩn trú, các thần linh gồm: Thần mặt trời, thần đất, thần

Trang 33

nước, thần làng, thần lúa, thần đá, thần cây , được người Bh'noong thờ cúng Mỗi làng của người Bh'noong đều có vật "thiêng" làm bùa hộ mệnh, được cất dấu ở rừng và giữ bí mật với người ngoài Mỗi gia đình, dòng họ cũng có vật "thiêng" để cầu cho mùa màn tươi tốt và các thành viên trong gia đình không có người ốm đau Người Bh'noong quan niệm thần linh và con ma là thế lực siêu nhiên chi phối cuộc sống của

họ Vì vậy họ có rất nhiều lễ thức cúng bái theo tín ngưỡng riêng; mỗi khi cúng bái đều có vật hiến tế, máu con vật hiến tế là quan trọng nhất Trong lễ tết cổ truyền của người Bh'noong (tết lúa rẫy được tổ chức riêng theo từng làng), thường có đâm trâu,

và các lễ trọng như: Khi chuyển làng đến nơi ở mới, khi chọn vùng đất rẫy mới, khi hạ chói, gieo tỉa, hoặc khi hạn hán, khi mở đầu tuốt lúa, đưa lúa lên kho, khi được 100 gùi lúa trở lên đều có tổ chức lễ thức cúng bái Gắn với chu kỳ của đời người, cũng có các

lễ thức trong thời kỳ mang thai, sau khi đẻ, khi đặt tên, khi cưa răng, khi kết hôn, hoặc khi bị ốm đau, khi chết đều có các lễ thức cúng bái thần linh

Lịch của người Bh'noong xưa kia căn cứ vào chu kỳ của mặt trăng, theo đó tên gọi của mỗi ngày trong tháng có trùng lặp, nhưng người Bh'noong có cách gọi riêng biệt ngày của nửa tháng đầu và ngày của nửa tháng cuối khác nhau Mỗi một năm, người Bh'noong cũng tính 12 tháng, mỗi tháng có những công việc trọng tâm nhất định, và thường là khi kết thúc thu hoạch mùa lúa rẫy, người Bh'noong tổ chức ăn tết

cổ truyền Xưa kia tuổi của con người cũng được tính theo mùa lúa rẫy Người Bh'noong còn có kinh nghiệm xem thời tiết theo chu kỳ thay lá, ra hoa của một số loại cây, hoặc cách thức hoạt động của một số loài con trùng mà đoán được thời tiết nắng mưa, hạn hán, bão lũ

Về văn hóa, văn nghệ: Người Bh'noong có các vũ điệu dân gian và nhiều làn điệu dân ca, hát lý, truyện cổ tích và truyền thuyết về giống nòi được truyền miệng từ đời này sang đời khác Nhạc cụ quý giá nhất là cồng chiêng (cồng chiêng mỗi làng cũng khác nhau, có làng sử dụng bộ cồng chiêng gồm 3 cồng, 7 hoặc 9 chiêng; có làng chỉ sử dụng 3 cồng với 4 hoặc 6 chiêng) Có nơi cồng chiêng tấu cùng với trống, bộ

gõ, nhưng có nơi không sử dụng trống và bộ gõ tấu với cồng chiêng Các làn điệu dân

ca, vũ điệu dân gian, hát lý, hát đối của người Bh'noong rất khỏe mạnh, phản ánh trung thực về cuộc sống lao động, ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên, cảnh trí thanh bình và tình yêu thương của con người

Trang 34

Người Cadong ở huyện Phước Sơn thuộc dân tộc Xơđăng (hiện nay người Xơđăng cư trú ở các huyện Đăk Tô, Sa Thầy, Đăk Glei tỉnh Kon Tum; các huyện Nam Trà My, Bắc Trà My, Hiệp Đức và Phước Sơn tỉnh Quảng Nam; huyện Sơn Hà tỉnh Quảng Ngãi ) Do tập quán du canh - du cư, một bộ phận người Xơđăng ở Kon Tum

di chuyển sang hướng Tây Nam tỉnh Quảng nam và cư trú ở địa bàn Nam - Bắc Trà My; nhóm khác di chuyển xuống vùng thấp Phước Sơn, cư trú dọc sông Trà Nô và sông Gia, hình thành nên nhóm người Cadong ở huyện Phước Sơn (năm 1986, xã Phước Gia và Phước Trà chuyển về huyện Hiệp Đức) Người Cadong khi đến cư trú ở Phước Sơn, họ sống thành từng làng (plei) Mỗi làng của người Cadong có một phạm

vi đất đai, rừng núi riêng của mình, ranh giới được đánh dấu bằng những địa hình của con suối, dòng sông, đỉnh núi, hoặc cây cổ thụ Những thành viên trong làng được toàn quyền sử dụng đất đai, rừng núi trong phạm vị của làng mình Các gia đình cũng tự thỏa thuận với nhau về phạm vị nương rẫy khi muốn khai phá, mỗi gia đình đều có một diện tích nương rẫy đương canh tác và một diện tích nương rẫy dự trử Nếu vì lý

do nào đó trong làng có gia đình đi nơi khác thì họ cũng mất luôn quyền sở hữu đối với mãnh đất của mình Theo tập quán của người Cadong, mỗi làng bao giờ cũng có một máng nước (lang-tak), là nơi để dân làng tổ chức các lễ thức cúng thần nước (Karát-langták) cầu xin cho mưa thuận gió hòa, nương rẫy được mùa, dân làng no đủ, đoàn kết và bình yên Làng của người Cadong thường có từ 5 - 6 nóc (spôk), mỗi nóc

có thể từ 20 - 30 bếp (gia đình), nóc của người Cadong làm theo kiểu nhà sàn, mái thấp, lợp bằng lá cọ hoặc lá mây, các nóc thường ở gần nhau, bên cạnh nóc có các kho thóc của từng gia đình

Mỗi làng của người Cadong có một nhà làng, là nơi vui chơi cũng như để dân làng tiến hành các nghi thức cổ truyền, nhất là lễ hội đâm trâu và các lễ hội truyền thống của cộng đồng liên quan đến tín ngưỡng thần linh, phong tục tập quán và ma chay, cưới hỏi Về sản xuất, người Cadong có tập quán phát rừng làm nương rẫy, thông thường họ xen canh nhiều loại cây trồng trên cùng một diện tích nương rẫy, nhưng chủ yếu là cây lương thực: Lúa nếp, lúa tẻ, khoai, sắn Về y phục truyền thống, người Cadong đàn ông đóng khố, cởi trần, mùa lạnh thì khoát thêm tấm choàng; phụ

nữ mặc váy ống, đeo đồ trang sức bằng cườm đá nhiều màu sắc ở thắt lưng, cổ tay, cổ chân, đeo vòng đồng, vòng bạc trên cổ và khuyên tai Trai, gái Cadong đến tuổi trưởng

Trang 35

thành đều có quyền tự do tìm hiểu, yêu thương mà không bị sự ràng buộc của gia đình, sau khi hai bên tìm hiểu và ưng thuận, cha mẹ bên trai tìm người mai mối (bla), và họ tiến hành các lễ thức như: lễ dạm hỏi (la ích), tiếp theo là lễ ăn hỏi (la xúi), rồi đến lễ cưới (la giok k di) Người Cadong không thách cưới, hôn nhân một vợ, một chồng bền vững và rất ít trường hợp vợ chồng bỏ nhau Gia đình người Cadong có truyền thống đoàn kết theo huyết thống, trong một gia đình có nhiều thế hệ chung sống và con trai hay con gái đều được thương yêu như nhau

Người Cadong ở huyện Phước Sơn chưa phân hóa giai cấp Già làng thường là người lớn tuổi, có uy tín cao, được các gia đình trong làng cử ra làm người đại diện cho cả làng để chăm nom, bảo vệ địa giớí của làng, bàn bạc và quyết định việc tranh chấp hay hòa giải, đôn đốc dân làng bảo vệ khi có giặc; có trách nhiệm giữ gìn các phong tục tập quán, bàn bạc xử lý những vi phạm theo luật tục Đại diện cho dân làng trong các lễ thức tôn giáo, hay trong việc tiếp khách quí của làng Người Cadong khi quyết định một công việc gì của làng, đều được già làng bàn bạc kỷ với dân làng một cách dân chủ và khi dân làng nhất trí, thì già làng là người có trách nhiệm đôn đốc thực hiện Người Cadong cho rằng, nếu mọi việc trong làng xử sự đúng đắn, giữ gìn tục lệ nghiêm minh thì được các thần linh phù hộ và như vậy thì mọi viêc đều thành công tốt đẹp Ngược lại nếu làng làm việc gì sai trái, các thần linh trừng phạt, mà biểu hiện của nó là mùa màn thất bát, dân làng ốm đau dịch bệnh, nắng hạn mưa lũ, cháy nhà, sét đánh Và mỗi khi có hiện tượng không tốt đó xảy ra, thì tất cả dân làng phải chịu trách nhiệm, mà trách nhiệm lớn nhất là của già làng, nên khi mùa màn thất bát, dân làng ốm đau thì già làng phải đứng ra cúng bái, tế lễ để xin thần linh buông tha Nếu đã cúng, nhưng năm sau lại tiếp tục mất mùa hoặc dịch bệnh xảy ra, thì dân làng phải cúng xin thần linh để cử ra một Già làng khác lên trông coi công việc của làng

Nhìn chung, hiện nay quan hệ hôn nhân, gia đình và xã hội của người Bh'noong, Cadong và các tộc người thiểu số khác ở Phước Sơn đã có nhiều biến đổi Người dân biết làm chủ lấy cuộc sống của bản thân mình, họ ra sức học tập, rèn luyện cầu tiến bộ Hôn nhân một vợ một chồng, sinh đẻ có kế hoach, gia đình ít con, chăm lo cuộc sống

ấm no, hạnh phúc, xây dựng gia đình bền vững Đối với cộng đồng và xã hội, họ luôn coi trọng tình làng nghĩa xóm, sống đoàn kết, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến

Trang 36

bộ, có ý thức trách nhiệm cao trong việc xây dựng thôn bản văn hóa, như cộng đồng không có người đói, không có người vi phạm pháp luật, không sinh con thứ ba nhiều tập tục lạc hậu được đấu tranh xóa bỏ Thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ công dân, tôn trọng pháp luật

Người kinh (người Việt), ở Phước Sơn có 7.134 người; trước cách mạng tháng Tám năm 1945, người kinh đến Phước Sơn chủ yếu là thương lái, hành nghề trao đổi, mua bán các sản vật giữa đồng bằng với miền núi, nhưng chưa hình thành nên cộng đồng người kinh trên vùng đất này Từ năm 1946 - 1954, hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tỉnh ủy và Ủy ban hành chính kháng chiến tỉnh Quảng Nam quyết định xây dựng miền núi Quảng nam thành vùng hậu cứ cách mạng để tổ chức kháng chiến Trong thời gian này nhiều cán bộ người kinh được phân công lên hoạt động ở vùng núi Phước Sơn, họ là những cán bộ Việt Minh, bộ đội

cụ Hồ được đồng bào các dân tộc Bh'noong, Cadong hết sức tin tưởng, đùm bọc và chở che Họ đã góp phần cùng với cả nước làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, công nhận nền độc lập chủ quyền của Việt Nam và Đông Dương Song, đế quốc Mỹ và ngụy quyền tay sai Ngô Đình Diệm cố tình chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ, dùng miền Nam làm bàn đạp để đánh phá miền Bắc, nhằm ngăn chặn phong trào Cộng sản đang mở rộng xuống các nước Đông Nam Á Do vậy nhiệm

vụ mới của cách mạng nước ta là tiếp tục đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Từ năm 1955 - 1975, Phước Sơn đã trở thành vùng hậu cứ vững chắc của cách mạng, có các cơ quan và nhiều đơn vị quân đội đứng chân, đội ngũ cán bộ người kinh lúc này tăng lên đáng kể Đặc biệt sau năm 1975, do yêu cầu phát triển của địa phương cùng với chủ trương xây dựng vùng kinh tế mới, nên cộng đồng người Kinh nhanh chóng được hình thành trên địa bàn huyện, đông nhất là ở thị trấn Khâm Đức và

xã Phước Đức

Hiện nay người kinh ở Phước Sơn sống đoàn kết với cộng đồng các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện, họ tích cực lao động sản xuất, hoạt động kinh doanh và công tác trong các cơ quan nhà nước, góp phần cùng với cộng đồng các dân tộc anh

em xây dựng huyện nhà từng bước phát triển với mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công hằng, dân chủ, văn minh"

Trang 37

Bằng nhiều nguồn đầu tư như: Chương trình 135, vốn ngân sách địa phương và các nguồn khác, mạng lưới trường lớp, quy mô các ngành học, bậc học được củng cố

và mở rộng, công tác xóa mù chữ và phổ cập giáo dục đã đạt được nhiều kết quả, giáo dục trung học phổ thông phát triển mạnh và đã xóa được thôn trắng về giáo dục Số học sinh cuối năm học 2012 – 2013 là 7.044 học sinh (trong đó: Mẫu giáo, mầm non: 1.373 học sinh; tiểu học: 2.739 học sinh; trung học cơ sở: 1618 học sinh; trung học phổ thông: 968 học sinh; phổ thông dân tộc nội trú: 346 học sinh) Đội ngũ giáo viên phát triển về số lượng và chất lượng, thường xuyên được bổ sung, đào tạo và bồi dưỡng theo chuẩn hóa, hiện tại có 494 giáo viên (không tính giáo viên hợp đồng), trong đó giáo viên mẫu giáo, mầm non có 77 giáo viên, tiểu học có 182 giáo viên, trung học phổ thông có 132 giáo viên, phổ thông trumg học có 78, phổ thông dan tộc nội trú có 20 giáo viên; Trung tâm giáo dục thường xuyên có 5 giáo viên Trang thiết

bị, đồ dung dạy học không ngừng được tăng cường theo hướng đồng bộ, hiện đại, có

210 bảng chống lóa, 366 máy tính để bàn, 28 máy chiếu, 59 máy in, photocopy…

Văn hóa Thể dục thể thao

Hoạt động văn hóa thể thao có nhiều khởi sắc, đời sống văn hóa – tinh thần của nhân dân được cải thiện, nhưng phong trào phát triển chưa đều, các hoạt động sôi nổi thường chỉ diễn ra trong dịp tết, Lễ hội Hoạt động thư viện được duy trì phục vụ nhu cầu đọc sách của cán bộ và nhân dân Công tác bảo tồn, bảo tàng tiếp tục được chú trọng, đảm bảo nguồn tư liệu, hiện vật để trưng bày phục vụ trong những ngày lễ lớn

Hoạt động chiếu phim phục vụ nhân dân được quan tâm Hàng năm phục vụ cho hàng nghìn lượt người xem, tập trung vào các chủ đề miền núi và nông thôn

Hiện tại huyện có1 Nhà văn hóa 300 chỗ ngồi, 1thư viện có 7.000 đầu sách, 1

Trang 38

đội thông tin tuyên truyền, 1 đội chiếu bóng lưu động, 1 công viên đang được quy hoạch xây dựng…, tuy còn khó khăn về nhiều mặt, nhưng vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc phục vụ đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân

Công tác sưu tầm hiện vật lịch sử - văn hóa được chú trọng Tuy nhiên do chưa

có nhà trưng bày, điều kiện bảo vệ, bảo quản chưa đảm bảo nên chưa phát huy được hiệu quả giáo dục và nhu cầu tìm hiểu nghiên cứu của cán bộ nhân dân

Nhìn chung, bằng nhiều hình thức hoạt động, hoạt động văn hóa thông tin đã góp phần quan trọng vào việc khơi dậy truyền thống đoàn kết, tin tưởng vào Đảng, Nhà nước, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

Thực hiện chỉ thị số 133/CT – TTg của Thủ tướng chính phủ về việc xây dựng phong trào Thể dục thể thao ở cơ sở, trong những năm qua, đã tổ chức nhiều giải thể thao tại cơ sở với nhiều môn bóng đá, bóng chuyền và các môn thể thao dân tộc, thu hút hàng trăm vận động viên tham gia Ở trung tâm huyện có 1 sân vận động phục vụ cho các lễ hội và thi đấu thể thao Tại một số xã đã có nhà văn hóa, một số thôn có sân luyện tập và thi đấu bóng đá, bóng chuyền phục vụ cho nhu cầu tập luyện và thi đấu của người dân

2.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển

2.2.2.1 Lịch sử hình thành huyện Phước Sơn

Phía Đông giáp huyện Hiệp Đức; phía Nam giáp huyện Bắc Trà My; phía Tây giáp huyện Đăk Glei - tỉnh Kun Tum và phía Bắc giáp huyện Nam Giang Huyện lỵ Phước Sơn đóng tại thị trấn Khâm Đức, cách thành phố Tam Kỳ 130 km về hướng Đông Bắc, cách thành phố Đà Nẵng 135 km về hướng Đông Nam

Theo sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi và sách Đại Nam thống nhất chí của Quốc Sử quán triều Nguyễn, xưa kia Quảng Nam là đất Việt Thường thị, đời Tần thuộc Tượng Quận, đời Hán thuộc Nhật Nam (châu Lư Dung tức vùng đất Quảng nam, thuộc quận Nhật Nam) Năm 192, Khu Liên nổi dậy đánh đuổi quân xâm lược phương Bắc, lập ra Nhà nước Lâm Ấp (Amaravati, một tiểu vương quốc phía bắc của Vương quốc Chămpa) Năm 605, Lâm Ấp bị nhà Tùy chiếm đóng, đổi thành quận Hải Âm (gồm 4 huyện, châu Lư Dung đổi thành huyện Tân Dung) Năm 1306, theo thỏa ước giữa Vua Chiêm Thành là Chế Mân và Vua Đại Việt là Trần Nhân Tông, Vua Chế Mân dâng hai châu Ô, Lý làm sính lễ cưới Công chúa Huyền Trân , em gái Vua Trần

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vũ Thế Bình (chủ biên) (2007), Non nước Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Non nước Việt Nam
Tác giả: Vũ Thế Bình (chủ biên)
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2007
3. Nguyễn Quang Hà, Trần Hoàng, Mai Khắc Ứng, Phạm Hồng Việt, Nguyễn Đức Việt (2006), Sổ tay địa danh du lịch các tỉnh Trung Trung Bộ, NXB Giao dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay địa danh du lịch các tỉnh Trung Trung Bộ
Tác giả: Nguyễn Quang Hà, Trần Hoàng, Mai Khắc Ứng, Phạm Hồng Việt, Nguyễn Đức Việt
Nhà XB: NXB Giao dục
Năm: 2006
4. Đinh Trung Kiên (2006), Một số vấn đề về du lịch Việt Nam, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về du lịch Việt Nam
Tác giả: Đinh Trung Kiên
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
5. Phạm Trung Lương ( chủ biên) (2002), Du lịch sinh thái – Những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam, NXB Giao dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái – Những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Trung Lương ( chủ biên)
Nhà XB: NXB Giao dục
Năm: 2002
7. Phạm Công Sơn (2008), Non nước Việt Nam – Sắc nét Trung Bộ, NXB Phương Đông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Non nước Việt Nam – Sắc nét Trung Bộ
Tác giả: Phạm Công Sơn
Nhà XB: NXB Phương Đông
Năm: 2008
8. Hà Văn Siêu (2010), “ Định hướng phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn tới “ – Tạp chí Xây dựng đời sống văn hóa, Số 93, trang 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Định hướng phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn tới "“
Tác giả: Hà Văn Siêu
Năm: 2010
9. Đoàn Huyền Trang (2008), Sổ tay du lịch Việt Nam, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay du lịch Việt Nam
Tác giả: Đoàn Huyền Trang
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2008
10. Nguyễn Thị Minh Tuệ ( chủ biên) (1997), Địa lí du lịch, NXB Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Địa lí du lịch
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Tuệ ( chủ biên)
Nhà XB: NXB Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1997
11. Bùi Thị Hải Yến (2006), Quy hoạch du lịch, NXB Giao dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch du lịch
Tác giả: Bùi Thị Hải Yến
Nhà XB: NXB Giao dục
Năm: 2006
12. Bùi Thị Hải Yến, Phạm Hồng Long (2007), Tài nguyên du lịch, NXB Giao dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên du lịch
Tác giả: Bùi Thị Hải Yến, Phạm Hồng Long
Nhà XB: NXB Giao dục
Năm: 2007
13. Bùi Thị Hải Yến (2009), Tuyến điểm du lịch Việt Nam, NXB Giao dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyến điểm du lịch Việt Nam
Tác giả: Bùi Thị Hải Yến
Nhà XB: NXB Giao dục
Năm: 2009
14. Nguyễn Văn Hớn (chủ biên), (2006), “Du lịch Quảng Nam – Một điểm đến hai di sản thế giới” Trung tâm xúc tiến du lịch Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch Quảng Nam – Một điểm đến "hai di sản thế giới
Tác giả: Nguyễn Văn Hớn (chủ biên)
Năm: 2006
15. Trương Phước Minh (2003), Tổ chức lãnh thổ du lịch Quảng Nam – Đà Nẵng, Luận án Tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức lãnh thổ du lịch Quảng Nam – Đà Nẵng
Tác giả: Trương Phước Minh
Năm: 2003
16. Phạm Trọng Nghĩa (2009), “ Phát triển du lịch và ứng xử với môi trường tự nhiên” Tạp chí du lịch Việt Nam, trang 13, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch và ứng xử với môi trường tự "nhiên
Tác giả: Phạm Trọng Nghĩa
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2009
17. Trần Trung Sáng (2009), “ Để phục hồi và phát triển du khách đường bộ”, Tạp chí văn hóa Quảng Nam – Những giá trị đặc trưng Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Để phục hồi và phát triển du khách đường bộ”
Tác giả: Trần Trung Sáng
Năm: 2009
18. Nguyễn Xuân Hồng (2004), Phong tục - tập quán - lễ hội Quảng Nam, Sở văn hóa thông tin Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong tục - tập quán - lễ hội Quảng Nam
Tác giả: Nguyễn Xuân Hồng
Năm: 2004
19. Trần Mạnh Thường (2005), Việt Nam văn hóa và du lịch, NXB Thông Tấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa và du lịch
Tác giả: Trần Mạnh Thường
Nhà XB: NXB Thông Tấn
Năm: 2005
20. Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam (2013), “Chương trình tour du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Nam năm 2012”, Báo cáo tổng hợp, Quảng Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình "tour du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Nam năm 2012
Tác giả: Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam
Năm: 2013
21. UBND Tỉnh Quảng Nam (2007), “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Quảng Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.” Sách, tạp chí
Tiêu đề: UBND Tỉnh Quảng Nam (2007), “"Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch "Quảng Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Tác giả: UBND Tỉnh Quảng Nam
Năm: 2007
2. Thế Đạt (2003), Du lịch và du lịch Sinh Thái, NXB Lao động, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w