1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng sơ đồ tư duy trong dạy học địa lý lớp 4

106 121 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 2,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với các môn học khác, Địa lý là môn học cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản và cần thiết về Trái đất, con người trên bình diện quốc gia và quốc tế làm cơ sở cho hình thành

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA TIỂU HỌC – MẦM NON

-   -

Đà nẵng,tháng 5 năm 2014

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC HÌNH 5

DANH MỤC BIỂU ĐỒ 6

DANH MỤC BẢNG 7

PHẦN MỞ ĐẦU 8

1 Lý do chọn đề tài 8

2 Lịch sử vấn đề 9

3 Mục đích nghiên cứu 10

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 10

5 Phạm vi nghiên cứu 10

6 Khách thể nghiên cứu 10

7 Giả thuyết khoa học 11

8 Phương pháp nghiên cứu 11

9 Cấu trúc của đề tài 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ VIỆC VẬN DỤNG SĐTD TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ LỚP 4 13

1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 13

1.1 Một số vấn đề chung về SĐTD 13

1.1.1 Khái niệm SĐTD 13

1.1.2 Nguồn gốc của SĐTD 14

1.1.3 Đặc điểm của SĐTD 15

1.1.4 Cấu trúc của SĐTD 15

1.1.5 Nguyên tắc hoạt động của SĐTD 17

1.1.6 Các bước để tạo SĐTD 19

1.1.7 Ứng dụng và lợi ích của SĐTD trong dạy học 20

2 CƠ SỞ THỰC TIỄN 24

2.1 Mục tiêu môn Địa lý 24

2.1.1 Kiến thức 24

2.1.2 Kỹ năng 24

2.1.3 Thái độ 25

2.2 Nội dung chương trình SGK Địa lý lớp 4 25

2.2.1 Thực trạng dạy học môn Địa lý lớp 4 27

Trang 3

2.2.1.1 Đối tượng điều tra 27

2.2.1.2 Nội dung điều tra 27

2.2.1.3 Phương pháp điều tra 27

2.2.1.4 Kết quả điều tra 27

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 33

CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG SĐTD TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ LỚP 4 34

2.1 Hình thức tổ chức dạy học vận dụng SĐTD 34

2.1.1 Học cá nhân 34

2.1.2 Học theo nhóm 34

2.2 Phương pháp vẽ SĐTD 36

2.2.1 Phương pháp vẽ thủ công 37

2.2.2 Phương pháp sử dụng phần mềm ImindMap 38

2.2.3 Một số lưu ý 47

2.3 Vận dụng SĐTD trong dạy học Địa lý 4 48

2.3.1 Tổ chức hoạt động Tìm hiểu bài mới 49

2.3.2 Tổ chức hoạt động hệ thống các kiến thức đã học bằng SĐTD 54

2.4 Một số lưu ý khi sử dụng SĐTD trong dạy học Địa lý lớp 4 57

2.4.1 Một số trở ngại 57

2.4.2 Cách khắc phục 58

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 59

3.1 Mục đích thực nghiệm 60

3.2 Chuẩn bị thực nghiệm 60

3.2.1 Thời gian 60

3.2.2 Địa điểm 60

3.2.3 Nội dung thực nghiệm 60

3.3 Tiến hành thực nghiệm 61

3.3.1 Triển khai thực nghiệm 61

3.3.1.1 Chọn lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 61

3.3.1.2 Biên soạn giáo án 63

3.3.2 Tiến hành thực nghiệm 63

3.4 Kết quả thực nghiệm 64

3.4.1 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TRI THỨC 65

3.4.2 ĐÁNH GIÁ MẶT KĨ NĂNG (Tốc độ làm bài của học sinh) 70

Trang 4

3.4.3 ĐÁNH GIÁ THÁI ĐỘ CỦA HỌC SINH 74

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 75

PHẦN KẾT LUẬN 76

1 Kết luận 76

2 Một số đề xuất 77

a Đối với nhà trường 77

b Đối với giáo viên 77

3 Hướng phát triển tiếp tục của đề tài 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

PHIẾU THĂM DÕ Ý KIẾN GIÁO VIÊN 80

PHIẾU THĂM DÕ Ý KIẾN HỌC SINH 82

PHIẾU KHẢO SÁT (Lần 1) 104

Trang 5

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Sơ đồ cách thức triển khai các ý vẽ SĐTD 16Hình 1.2 SĐTD tham khảo 37Hình 2.1 SĐTD tham khảo về “Đặc điểm địa hình của dải đồng bằng duyên hải miền Trung” 51Hình 2.2 SĐTD tham khảo về “Thành phố Hải Phòng” 53Hình 2.3 SĐTD tham khảo về “Nghành công nghiệp đóng tàu TP Hải Phòng” 53Hình 2.4 SĐTD tham khảo về “Hoạt động sản xuất của người dân Hoàng Liên Sơn” 56Hình 2.6 SĐTD mở tham khảo về “ Thủ đô Hà Nội” 57

Trang 6

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.4.1 Biểu đồ đánh giá tri thức lần 1 65

Bảng 3.4.2: Kết quả bài kiểm tra sau TN lần 2 66

Biểu đồ 3.4.2 Biểu đồ đánh giá tri thức lần 2 66

Bảng 3.4.6: Kết quả đánh giá mặt kĩ năng sau khi TN lần 1 70

Biểu đồ 3.4.6 Đánh giá kĩ năng làm bài của học sinh lần 1 70

Bảng 3.4.7: Kết quả đánh giá mặt kĩ năng sau khi TN lần 2 71

Biểu đồ 3.4.7 Đánh giá kĩ năng làm bài của học sinh lần 2 71

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.2.1: Nội dung dạy học ở các lớp 61

Bảng 3.3.1: Thống kê số lƣợng học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 62

Bảng 3.3.2: Thống kê trình độ của học sinh lớp TN và lớp ĐC của học kì I 62

Bảng 3.4.1: Kết quả bài kiểm tra sau TN lần 1 65

Bảng 3.4.2: Kết quả bài kiểm tra sau TN lần 2 66

Bảng 3.4.6: Kết quả đánh giá mặt kĩ năng sau khi TN lần 1 70

Bảng 3.4.7: Kết quả đánh giá mặt kĩ năng sau khi TN lần 2 71

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xã hội ngày càng phát triển đã đặt ra những yêu cầu cao hơn cho ngành giáo dục, đó là phải đào tạo nên một thế hệ người lao động mới năng động trước những biến đổi của thế giới Vì vậy, muốn đáp ứng kịp thời nhu cầu của xã hội thì việc đổi mới các hình thức và phương pháp giáo dục là một vấn đề luôn được quan tâm

Cùng với việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay theo hướng phát huy tính tích cực chủ động và sáng tạo của học sinh thì việc đổi mới phương pháp học của học sinh cũng rất quan trọng Trẻ em ở lứa tuổi Tiểu học khả năng tập trung chưa tốt nên việc giảng dạy sử dụng những hình ảnh sinh động sẽ thu hút các em vào bài học Đồng thời kích thích được tính tích cực và khả năng sáng tạo của các em, góp phần làm cho tiết học trên lớp hiệu quả hơn Trên cơ sở đó, việc định hướng cho học sinh xây dựng và củng cố kiến thức một cách hệ thống

bằng Sơ đồ tư duy là một phương pháp dạy-học mang lại hiệu quả cao

Cùng với các môn học khác, Địa lý là môn học cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản và cần thiết về Trái đất, con người trên bình diện quốc gia và quốc tế làm cơ sở cho hình thành thế giới quan khoa học, giáo dục tư tưởng đúng đắn đồng thời rèn luyện cho học sinh những kĩ năng, hành động, ứng xử phù hợp với môi trường tự nhiên, xã hội Môn Địa lý góp phần bồi dưỡng cho học sinh ý thức trách nhiệm, lòng ham hiểu biết về khoa học, tính yêu thiên nhiên, con người và đất nước

Việc đa dạng hoá các biện pháp và phương tiện dạy học đã trở thành yêu cầu thiết yếu trong dạy học hiện nay Trong số các biện pháp dạy học thì "Sơ đồ tư duy" là biện pháp dạy học nhằm giúp dạy học lấy học sinh làm trung tâm phát huy

Trang 9

tính tự giác tích cực và năng động trong việc lĩnh hội những kiến thức mới “Sơ đồ

tư duy” là biện pháp dạy học khoa học mang lại hiệu quả cao và dễ thực hiện

Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn đề tài: “VẬN DỤNG SƠ ĐỒ TƯ

DUY TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ LỚP 4” để thực hiện khóa luận của mình

Ở nước ta SĐTD mới được áp dụng từ đầu năm học 2010 - 2011 nhưng dạy

học bằng SĐTD kết hợp với các phương pháp dạy học khác đã giúp học sinh học tập tích cực, chủ động, hiểu vấn đề sâu sắc, có hệ thống, học sinh yêu thích

đi học hơn, như:

 Vận dụng Bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn Lịch sử ở nhà trường THCS của Nguyễn Thị Nhiên và Đoàn Luyến Tác giả tập trung nghiên cứu để khi kết hợp giữa sử dụng SĐTD với các phương pháp dạy học khác để tạo sự kích thích và hứng thú học tập đối với học sinh

 Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Lịch sử ở trường THPT của Nguyễn Chí Thuận Ở đây tác giả nghiên cứu và sử dụng SĐTD vào dạy học nhằm giúp cho tất cả học sinh đều phải động não, sáng tạo trong việc chiếm lĩnh tri thức Thay vì cách ghi chép bài truyền thống học sinh sẽ thể hiện cái riêng của mình trong mỗi bài học bằng SĐTD

 SKKN sử dụng SĐTD trong dạy học môn Toán THCS của Nguyễn

Quang Dũng – Trường THCS Thị trân Thới Bình Tác giả đã nghiên cứu và sử

Trang 10

dụng SĐTD trong dạy học và đưa ra những biện pháp nhằm giúp cho học sinh

hệ thống và củng cố lại kiến thức sau mỗi tiết học, mỗi chương, bằng SĐTD Ngoài ra còn giúp học sinh có thói quen lập SĐTD trước và sau mỗi tiết học để

giúp các em có cách sắp xếp kiến thức một cách khoa học, logic

Như vậy, các công trình trên đã đưa ra những vấn đề cơ bản của SĐTD và ứng dụng của nó trong nhà trường qua các cấp học và ở Tiểu học cũng vậy.Tuy nhiên chưa có nghiên cứu vào môn Địa lý lớp 4 Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu trên là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích cho tôi trong quá trình tiến hành nghiên cứu đề tài của mình

3 Mục đích nghiên cứu

Ứng dụng SĐTD trong dạy học môn Địa lý lớp 4 nhằm phát huy tối đa khả năng tư duy, giúp học sinh tiếp thu bài nhanh và nhớ được lâu

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng SĐTD trong dạy học môn Địa lý lớp 4

- Vận dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học Địa lý lớp 4

- Lựa chọn và soạn giáo án

Trang 11

7 Giả thuyết khoa học

Đề tài sẽ là một tài liệu tham khảo có ích cho GV trong việc bổ sung thêm một cách giảng dạy mới, hiệu quả giúp HS tiếp thu bài học, củng cố kiến thức, nắm vững những kiến thức cơ bản ngay tại lớp Để làm được điều này sẽ gặp những khó khăn nhất định nhưng sẽ mang lại thành công lớn cho GV trong việc góp phần đổi nới và tìm ra phương tiện dạy học hiệu quả không chỉ cho môn Địa

lý nói riêng mà còn cho tất cả các môn học ở cấp học nói chung

8 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp đọc và phân tích – tổng hợp tài liệu: Đọc các tài liệu có liên quan, từ đó phân tích và tổng hợp các thông tin cần thiết cho đề tài

- Phương pháp điều tra bằng anket: Dùng hệ thống câu hỏi để thu thập thông tin làm cơ sở lí luận cho đề tài

- Phương pháp thống kê: Để phân tích kết quả thực nghiệm ở lớp thực nghiệm và lớp đối chứng

- Phương pháp quan sát sư phạm: Quan sát các giờ dạy môn Địa lý lớp 4 ở các trường Tiểu học

- Phương pháp thực nghiệm: Thiết kế và sử dụng SĐTD vào giảng dạy môn Địa lý lớp 4

- Phương pháp đánh giá và xử lí kết quả: Đánh giá, phân tích và xử lí số liệu kết quả thu được sau khi thực nghiệm

9 Cấu trúc của đề tài

Đề tài gồm 3 phần:

 Phần mở đầu:

- Lí do chọn đề tài

Trang 12

- Giả thuyết khoa học

- Phương pháp nghiên cứu

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ VIỆC VẬN DỤNG SĐTD TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ LỚP 4

Còn theo Tony Buzan thì Sơ đồ tư duy là hình thức ghi chép sử dụng nhiều màu sắc và hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho những ý chính và đều được nối với ý trung tâm.[ 19, Sắp xếp ý tưởng với Sơ đồ tư duy- Bản dịch Trần Chánh Nguyên)

Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau nhưng tất cả đều hướng đến một kết luận chung, đó là: Sơ đồ tư duy là công cụ tổ chức tư duy, giúp con người làm việc một cách khoa học, sáng tạo và đem lại hiệu quả cao nhất

Đó là một kĩ thuật hình họa, một dạng sơ đồ, kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp, tương thích với cấu trúc, hoạt động và chức năng của não bộ Cơ sở của kĩ thuật đó là khả năng tưởng tượng và tìm thấy các mối liên hệ bên trong giữa các sự kiện, con người, đối tượng khác nhau rồi kết nối chúng lại với nhau như chúng tồn tại trong thực tế cuộc sống

Trang 14

Vì đây là một công cụ đa năng nên rất khó định nghĩa một cách ngắn gọn

Do đó, trước hết chúng ta có thể hiểu một cách khái quát như sau:

SĐTD thể hiện mối quan hệ theo một trật tự tạm thời và có tính chủ quan giữa các dữ liệu dưới dạng sơ đồ hình nhánh, nhằm tổ chức và/hoặc làm nổi bật thông tin

1.1.2 Nguồn gốc của SĐTD

Rất lâu trước khi hệ thống chữ viết ra đời, con người đã biết diễn tả thông tin bằng hình ảnh để truyền đạt tri thức.Thế nhưng ngày nay phương tiện phổ biến để truyền bá tri thức và tình cảm lại là văn bản, một loại hình thể hiện thông tin theo tuần tự thời gian Trong khi đó, “hình ảnh, vốn được xem là sự thể hiện

về không gian và không mang tính thời gian, bị xem là một hình thức phụ, chỉ

có ích trong việc minh họa và bổ sung cho văn bản hay sách vở” [21, Sắp xếp ý tưởng với Sơ đồ tư duy – bản dịch Trần Chánh Nguyên]

Tuy nhiên, trong những lĩnh vực phức tạp như y học, khi con người phải có tầm nhìn hệ thống và bao quát hơn để nắm bắt vấn đề cũng như đưa ra những quyết định một cách sáng suốt và chín chắn thì hình ảnh vẫn là một phương tiện thiết yếu

Leeosonard de Vinci, Albert Einstein và những sáng tạo đa tài khác đã sử dụng phương thức diễn tả thông tin bằng hình ảnh không những để ghi lại kiến thức của mình mà còn khám phá những tri thức mới

Vào những năm 1970, Tony Buzan đã đưa ra mô hình và phổ biến rộng rãi phương pháp sơ đồ tư duy (Mind Mapping) Đây là phương pháp được sử dụng

để ghi chú và trình bày thông tin dước dạng sơ đồ

Sau đó không lâu, Nacny Margulies đã phát triển công cụ này (như hiện nay người ta vẫn tiếp tục cải tiến), đồng thời kết hợp nó với những thành quả đạt được trong nghành khoa học nhận thức, phương pháp hệ thống, nghành họa đồ

Trang 15

1.1.3 Đặc điểm của SĐTD

SĐTD có 4 đặc điểm chủ yếu sau:

- Đối tượng cần quan tâm được tóm lược trong một hình ảnh trọng tâm

- Từ hình ảnh trọng tâm, những chủ đề phát sinh được lan tỏa thành các nhánh

- Các nhánh được cấu thành một hình ảnh chủ đạo hay từ khóa trên một dòng liên kết, những vấn đề phụ cũng được biểu thị bởi các nhánh gắn kết với các nhánh thứ bậc cao hơn

Cũng nên sử dụng màu sắc, hình ảnh, kí hiệu, kích thước để làm phong phú, nổi bật SĐTD, làm tăng sự thu hút, hấp dẫn và tính độc đáo, nhờ đó mà người viết phát huy tính sáng tạo, khả năng nhớ lâu hơn

Khi lập SĐTD, bắt buộc người làm phải “động não” và biết sử dụng hình ảnh càng nhiều, càng tốt (hạn chế sử dụng ngôn ngữ) để liên kết các ý với nhau

Ý trung tâm cần được thể hiện bằng một hình ảnh trung tâm (và không quên sử dụng kỹ năng diễn đạt từ ngữ và kỹ năng tạo ảnh làm tăng gấp bội sức mạnh tư duy)

SĐTD giúp phân biệt sức chứa tư duy, thể hiện qua sơ đồ tư duy, với hiệu quả lưu trữ tư duy có sự đóng góp của sơ đồ tư duy Hiệu quả lưu trữ thông tin

sẽ nhân bội sức chứa thông tin Sự khác nhau đó giống như một nhà kho có chất hàng tối ưu hoặc một thư viện có sắp xếp sách theo hệ thống hay không

Trang 16

được vẽ, viết, đọc theo hướng bắt nguồn từ trung tâm di chuyển ra phía ngoài và sau đó là theo chiều kim đồng hồ

- Ở giữa SĐTD là một hình ảnh hay một từ khóa thể hiện một ý tưởng hay một khái niệm/chủ đề/nội dung chính

- Từ trung tâm sẽ được phát triển nối với các hình ảnh hay từ khóa/tiểu chủ

đề cấp 1 liên quan bằng các nhánh chính (thường tô đậm nét)

- Từ các nhánh chính tiếp tục phát triển phân nhánh đến các hình ảnh hay từ khóa/ tiểu chủ đề cấp 2 có liên quan đến nhánh chính (trên các nhánh, có thể thêm các hình ảnh hay các kí hiệu cần thiết)

- Cứ thế, sự phân nhánh cứ tiếp tục và các khái niệm/nội dung/ vấn đề liên quan luôn được nối kết với nhau Chính sự liên kết này đã tạo ra một “bức tranh tổng thể” mô tả về khái niệm/ nội dung/chủ đề trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng

Sơ đồ mẫu:

Hình 1.1 Sơ đồ cách thức triển khai các ý vẽ SĐTD

Như vậy, một khái niệm/nội dung/chủ đề chính được gắn kết với các nội dung/tiểu chủ đề liên quan Nội dung/chủ đề chính đóng vai trò là điểm hội tụ

Trang 17

của những mối liên hệ với các nội dung/tiểu chủ đề liên quan khác Kết cấu này

là tạm thời và hữu cơ, cho phép có thể thêm và điều chỉnh chi tiết Bản chất mở của quá trình này khuyến khích việc tạo nên mối liên hệ giữa các ý tưởng

1.1.5 Nguyên tắc hoạt động của SĐTD

Sơ đồ tư duy chính là công cụ ghi chú tuyệt vời, Tony Buzan đã đưa ra

nguyên tắc hoạt động của SĐTD, đó là:

Từ khóa + Trí nhớ siêu đẳng + Bán cầu não = SĐTD

Từ khóa: Hướng dẫn cách đọc hiệu quả

từ khóa, nó tồn tại dưới dạng động từ, tính từ, danh từ và phó từ

Ví dụ: Hãy tham khảo đoạn văn sau đây

“Hải Phòng không chỉ là một cảng biển mà còn là một trung tâm công nghiệp lớn Nơi đây có rất nhiều ngành công nghiệp, trong đó quan trọng nhất là ngành đóng tàu Các nhà máy đóng tàu Bạch Đằng, cơ khí Hạ Long, cơ khí Hải Phòng,… các nhà máy này có khả năng đóng mới và sửa chữa các loại sà lan, ca

nô, tàu du lịch…”

(Bài 16: Thành phố Hải Phòng Địa lý 4)

Thông thường khi tiếp cận đoạn văn này học sinh có xu hướng học thuộc toàn bộ đoạn văn (hơn 70 từ) Nhưng nếu áp dụng quy tắc từ khóa (là những từ được gạch dưới) thì lượng từ ghi nhớ giảm xuống 35 từ và từ không cần ghi nhớ là 35 từ

Trang 18

b Nguyên tắc trí nhớ siêu đẳng

* Trí nhớ: được tạo thành bằng cách liên kết từng mảng thông tin với nhau, bao gồm thông tin chúng ta đã biết với thông tin chúng ta mới tiếp nhận Sự liên kết này càng bền vững thì chúng ta càng nhớ lâu

* Nguyên tắc Nhớ:

- Sự hình dung: Trí nhớ làm việc theo hình ảnh, có khuynh hướng nhớ

Hình ảnh lớn hơn nhớ Từ, điều này chứng minh vì sao sinh viên có hiện tượng hay quên bài vì khi học họ đã cố lưu giữ từ trong khi não thì có nguyên tắc làm việc ngược lại

SĐTD chuyển kiến thức thành hình ảnh để lưu vào bộ nhớ giúp sinh viên ghi nhớ bài dễ dàng

- Sự liên tưởng: là việc tạo ra những mối liên kết giữa những việc chúng ta

cần nhớ Những liên kết này sẽ tạo ra mục lục dưới dạng chuỗi liên kết trong đầu giúp ta dễ dàng tìm kiếm thông tin

SĐTD liên kết những hình ảnh gồm hình dung kết hợp với liên tưởng sẽ lưu vào bộ nhớ sinh viên những thông tin cần thiết

- Làm nổi bật sự việc: bộ não có khuynh hướng ghi nhớ những sự việc nổi

bật như là chi tiết hài hước hay yếu tố nghịch lý

- Sự tưởng tượng: bộ não có xu hướng nhớ những sự việc do chúng ta

tưởng tượng ra, đặc biệt là khi dùng tất cả các giác quan để tưởng tượng tạo cảm xúc mạnh mẽ giúp nhớ lâu

- Màu sắc: có khả năng tác động đến trí nhớ mạnh mẽ, tăng cường trí nhớ

đến 50%

- Âm điệu: làm tăng khả năng nhớ lại thông tin do kích thích bán cầu não

phải hoạt động ( bán cầu não hay bị bỏ quên trong học tập)

Trang 19

- Chính thể luận: là sự liên kết các thông tin vào các khái niệm tổng quát

ghi nhớ thông tin tốt hơn là học từng chi tiết

Để giải quyết vấn đề này, chúng ta cần bắt cả hai bán cầu não của các em cùng làm việc Đây là cách làm việc hết công suất của não, rất hiệu quả được ví như là một người chạy bằng hai chân thì bao giờ cũng nhanh hơn người chay một chân

1.1.6 Các bước để tạo SĐTD

Có hai cách vẽ SĐTD: vẽ bằng tay hoặc bằng máy vi tính Nếu vẽ bằng tay thì người học chỉ cần một tờ giấy A4 hoặc lớn hơn, một hộp bút màu loại có đầu nhọn Còn vẽ bằng máy vi tính thì người học có thể sử dụng các phần mềm Mind Mapping như phần mềm Mindjet MindManager Pro hoặc vẽ bằng chương trình Microsoft Word Để thiết kế một SĐTD dù vẽ thủ công trên bảng, trên giấy , hay trên phần mềm Mind Map, chúng ta đều thực hiện theo thứ tự các bước sau đây:

Bước 1: Bắt đầu từ trung tâm với từ, cụm từ thể hiện chủ đề (có thể vẽ hình

ảnh minh họa cho chủ đề - nếu hình dung được)

Trang 20

Bước 2: Từ hình ảnh trung tâm (chủ đề) chúng ta cần xác định: để làm

rõ chủ đề, thì ta đưa ra những ý chính nào Sau đó, ta phân chia ra những ý chính, đặt tiêu đề các nhánh chính, nối chúng với trung tâm

Bước 3: Ở mỗi ý chính, ta lại xác định cần đưa ra những ý nhỏ nào để làm

rõ mỗi ý chính ấy Sau đó, nối chúng vào mỗi nhánh chính Cứ thế ta triển khai thành mạng lưới liên kết chặt chẽ

Bước 4: Cuối cùng, ta dùng hình ảnh (vẽ hoặc chèn) để minh họa cho các ý,

tạo tác động trực quan, dễ nhớ

*Lưu ý:

- Nên chọn hướng giấy ngang để khổ giấy rộng, thuận lợi cho việc vẽ các nhánh con

- Nên dùng các nét vẽ cong, mềm mại thay vì vẽ các đường thẳng để thu hút

sự chú ý của mắt, như vậy SĐTD sẽ lôi cuốn, hấp dẫn hơn

- Các nhánh càng ở gần trung tâm thì càng được tô đậm hơn, dày hơn

- Chú ý dùng màu sắc, đường nét hợp lý để vừa làm rõ các ý trong sơ đồ đồng thời tạo sự cân đối, hài hòa cho sơ đồ

- Không ghi quá dài dòng, hoặc ghi những ý rời rạc, không cần thiết, nên dùng các từ, cụm từ một cách ngắn gọn

- Không dùng quá nhiều hình ảnh, nên chọn lọc những hình ảnh thật cần thiết góp phần làm rõ các ý, chủ đề

- Có thể đánh số thứ tự ở các ý chính cùng cấp

- Không đầu tư quá nhiều thời gian vào việc “làm đẹp” sơ đồ bằng vẽ, viết, tô màu

- Người lập sơ đồ được phép vẽ và trang trí theo cách riêng của mình

1.1.7 Ứng dụng và lợi ích của SĐTD trong dạy học

a Học sinh học một cách sáng tạo hơn

SĐTD là hình thức ghi chép sử dụng màu sắc, hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng với phương thức tiến dần từ trung tâm ra xung quanh khiến

Trang 21

tưởng tướng sẽ được mở rộng SĐTD là công cụ lí tưởng để phát triển tư duy, sáng tạo vì chúng làm việc dựa trên các quy luật tư duy của bộ não, kích thích

bộ não hình thành liên kết giữa các ý tưởng nhằm hướng tới những kết luận quan trọng Nó tận dụng tất cả những kĩ năng liên quan đến hoạt động sáng tạo,

sự liên hệ ý tưởng, tính linh hoạt Nếu chúng ta kích thích nó bằng những công

cụ tư duy và học tập phù hợp chắc chắn sẽ đem lại những giải pháp tuyệt vời cho bất kì vấn đề nào, đó là chìa khóa dẫn đến thành công

Việc phát triển tư duy của người học là một trong những ưu tiên hàng đầu của người làm công tác giáo dục Nhằm hướng người học đến một phương pháp tích cực, tự chủ, chúng ta không chỉ để khám phá ra kiến thức đã học mà còn hướng dẫn để khám phá ra kiến thức mới

b Học sinh học bài tiết kiệm thời gian hơn

Hiểu và nhớ được nội dung bài học là yêu cầu mà học sinh cần đạt được sau mỗi tiết Vì vậy việc ôn bài nên diễn ra trong một khoảng thời gian cụ thể sau mỗi lần học Các nghiên cứu cho thấy khả năng nhớ bài thường đạt đỉnh điểm sau khi học 10 phút rồi sau đó giảm từ từ Những lần ôn bài tiếp theo nên lần lượt diễn ra sau 24 giờ, sau một tuần, một tháng, và sau 3 đến 6 tháng Để học sinh phải chuẩn bị bài sớm và rải đều suốt quá trình học, phải làm thế nào để duy trì trí nhớ

ở phong độ tốt nhất cho đến ngày thi? Câu trả lời nằm ở việc ôn bài

Nhiều học sinh nghĩ rằng việc ôn bài làm lãng phí thời gian Tuy nhiên, nếu học sinh có 1 kế hoạch ôn bài hợp lý cùng với SĐTD, các em sẽ tiết kiệm rất nhiều thời gian so với cách học bình thường Lượng từ cần ghi nhớ giảm xuống

mà nội dung vẫn đảm bảo sẽ giúp cho học sinh nhớ chính xác và nhớ lâu mà không cần học thuộc lòng từng từ

c Khả năng ghi nhớ bài tốt hơn

Trí nhớ được tạo thành bằng cách liên tưởng từng mảng thông tin với nhau Hay việc ghi nhớ một thông tin mới chỉ đơn giản là liên kết thông tin

Trang 22

đó với một thông tin khác chúng ta đã biết Muốn việc ghi nhớ dễ dàng hơn cần dựa vào kĩ thuật hỗ trợ trí nhớ của SĐTD Đó là việc sử dụng trí tưởng tượng và liên tưởng để tạo ra hình ảnh mới Sử dụng SĐTD sẽ tăng khả năng ghi nhớ, nhớ chi tiết cụ thể từng sự kiện, nhớ rõ thông tin, sắp xếp thông tin theo từng nhóm có hệ thống Cùng với hình ảnh nổi bật, chúng ta có thể ghi nhớ tất cả các yếu tố chính xác SĐTD chuyển kiến thức vào hình ảnh để lưu vào bộ não một cách dễ dàng nên việc ghi nhớ vài học không phải là điều khó

d Nhìn thấy bức tranh tổng thể

Mỗi SĐTD đều bắt đầu từ hình ảnh hay từ khóa nằm ở trung tâm và bao quanh là các nhánh rẽ thể hiện mối quan hệ với vấn đề chính Vì thế, khi nhìn vào SĐTD chúng ta nhanh chóng biết đâu là trọng tâm, cho phép người đọc

có cái nhìn tổng quan về vấn đề đang nghiên cứu Ý chủ đạo nằm ở vị trí này

sẽ thuận lợi trọng việc liên kết với những ý phân cấp khác giúp ta dễ dàng triển khai một hệ thống hài hòa, đồng thời nó giữ vai trò định hướng chủ đạo Hình ảnh trung tâm là công cụ hiệu quả để tạo hình dáng, cấu trúc giúp tư duy hoạt động theo cơ chế tự nhiên Xuất phát từ vấn đề trung tâm đó, người xem sẽ biết được mức độ quan trọng của những nhánh xung quanh Các nhánh rẽ này lại được phân nhánh thành các nhánh nhỏ chủ đề ở mức độ sâu hơn Cứ như thế sự phân nhánh được tiếp tục, các kiến thức hình ảnh luôn được nối kết với nhau Chính sự liên kết này sẽ tạo ra bức tranh tổng thể mô

tả ý tưởng một cách đầy đủ, rõ ràng Với một SĐTD, chúng ta luôn nhìn thấy bao quát các vấn đề, định hướng được các mục đích, yêu cầu cần làm rõ, tìm hiểu vấn đề một cách kĩ càng ở mọi khía cạnh, giúp trí não nhanh chóng huy động được nguồn kiến thức xung quanh

e SĐTD tạo hứng thú, giúp học sinh học tập một cách tích cực

Nhận thức là một trong những nhu cầu tinh thần Chính nhu cầu ham hiểu biết tạo nên động cơ, hứng thú học tập Sự hứng thú học tập của người học có ý

Trang 23

nghĩa quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển trí tuệ Nếu không có hứng thú thì cũng không có tính tích cực trí tuệ Hình thành hứng thú trong học tập rất quan trọng là cơ sở phát huy tính tích cực của người học Để tạo được hứng thú học tập, điều cốt yếu là làm cho nhu cầu nảy sinh, hình thành và phát triển Khác với các phương tiện hỗ trợ học tập khác, SĐTD có vai trò rất quan trọng trong việc tạo hứng thú học tập Trên cơ sở màu sắc, hình vẽ, đường nét của SĐTD sẽ kích thích khả năng tư duy, sáng tạo đặc biệt là tạo hứng thú học tập cho học sinh Thông qua SĐTD học sinh sẽ hệ thống hóa kiến thức một cách logic từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, hiểu bài nhanh nhớ bài học lâu hơn

f Động não và giải quyết tốt một vấn đề phức tạp

Phát hiện và giải quyết vấn đề là một trong những cách tiếp cận mới trong lĩnh vực dạy học Mục đích của phát hiện và giải quyết vấn đề không chỉ

là việc nắm vững một hệ thống tri thức mà còn là con đường, cách thức chiếm lĩnh tri thức, hình thành tính tích cực, sáng tạo cho học sinh Việc lập SĐTD giúp học sinh phát hiện và giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng, từ đó chiếm lĩnh tri thức khoa họ, phát hiện khả năng tư duy và hình thành thế giới quan khoa học, giúp giáo viên điều khiển được hoạt động nhận thức của học sinh Khi một vấn đề được đưa ra trên SĐTD, học sinh sẽ hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo, tận lực huy động tri thức đã có trong khả năng của mình để tìm cách giải quyết vấn đề đó

g Học sinh tự lập kế hoạch học tập và công việc cho bản thân

Đa số học sinh cho rằng mình không đủ thời gian để thực hiện tất cả các công việc trong ngày Để đảm bảo vừa học tốt vừa hoàn thành các công việc trong cuộc sống là một việc rất khó Một số em dành tất cả thời gian học để đạt kết quả tốt thì rõ ràng không có thời gian dành cho gia đình và bạn bè và kể cả bản thân Cái chính ở đây là các em chưa biết sắp xếp công việc và quản lý thời gian chưa tốt Đa số các em quản lý một cách tự phát: các em hành động theo kiểu “sự việc đến đều giải quyết đến đó” Vì vậy, mỗi lúc càng có thêm nhiều

Trang 24

công việc cần làm SĐTD sẽ là một công cụ giúp các em vạch ra kế hoạch học tập và công việc cho bản thân một cách chi tiết và rõ ràng nhất từ đó thực hiện chúng theo thời gian mà các em đã xác định

SĐTD là một công cụ đơn giản và tương tự như một trò chơi Tuy vậy, nó giúp chúng ta sắp xếp hợp lý các công việc hằng ngày và thực hiện các mục tiêu học tập đã vạch ra một cách tự tin

h Rèn cho học sinh khả năng thuyết trình

Sau khi lập được SĐTD theo yêu cầu bài học, học sinh sẽ dựa vào sảm phẩm của mình để trình bày trước lớp,các em nắm được trình tự và liên kết các vấn đề với nhau bằng ngôn ngữ của chính mình Dựa vào SĐTD mà các em có thể trả lời một cách trôi chảy những vấn đề đã trình bàytrước đó Qua việc trình bày này học sinh rèn luyện kĩ năng thuyết trình trước đám đông và từ đó các em

sẽ tự tin hơn, mạnh dạn hơn, đây cũng là một trong những điểm cần rèn luyện cho học sinh Tiểu học

Trang 25

- Thu thập, xử lí và trình bày thông tin địa lý

- Vận dụng tri thức Địa lý để giải thích ở mức độ đơn giản các hiện tượng, sự vật địa lý

2.1.3 Thái độ

- Ham học hỏi để biết về các hiện tượng tự nhiên, kinh tế - xã hội

- Có tình yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước

- Có ý thức tôn trọng, bảo vệ các thành quả lao động của con người, bảo vệ các di tích lịch sử và văn hóa

- Có ý thức trách nhiệm và tham gia vào các hoạt động sử dụng hợp lí, bảo vệ

và cải tạo môi trường nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của gia đình và cộng đồng

2.2 Nội dung chương trình SGK Địa lý lớp 4

Ngoài 3 bài chung: Môn lịch sử và Địa lí lớp 4, Bản đồ, Sử dụng bản đồ ở phần mở đầu của sách, phần Địa lí lớp 4 gồm 3 chủ đề với 32 bài ứng với 32 tiết học Trong đó có 25 bài học kiến thức mới, 3 bài ôn tập, được phân bố cụ thể như sau:

1 Thiên nhiên và hoạt

động của con người ở

miền núi và trung du

Bài 1: Dãy Hoàng Liên Sơn 4 Bài 2: Một số dân tộc ở Hoàng Liên Sơn

Bài 6: Một số dân tộc ở Tây Nguyên 9 Bài 7-8: Hoạt động sản xuất của người dân ở Tây Nguyên

10-11

Trang 26

2 Thiên nhiên và hoạt

động của con người ở

16-17

Bài 16: Thành phố Hải Phòng 19 Bài 17: Đồng bằng Nam Bộ 20 Bài 18: Người dân ở đồng bằng Nam

28

Bài 28: Thành phố Đà Nẵng 30

3 Vùng biển Việt Nam Bài 29: Biển, đảo và quần đảo 31

Bài 30: Khai thác khoáng sản và hải sản ở vùng biển Việt Nam

32

Trang 27

2.2.1 Thực trạng dạy học môn Địa lý lớp 4

2.2.1.1 Đối tượng điều tra

Giáo viên và học sinh đang dạy và học tại trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, trường Tiểu học Trần Cao Vân, quận Thanh Khê, trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, quận Liên Chiểu TP Đà Nẵng

2.2.1.2 Nội dung điều tra

a Đối với giáo viên

- Tìm hiểu những phương pháp và hình thức dạy học được giáo viên

thường xuyên sử dụng trong các bài học môn Địa lý lớp 4

- Tìm hiểu nhận thức và thực trạng ứng dụng SĐTD của giáo viên trong giảng dạy môn Địa lý lớp 4

b Đối với học sinh

- Tìm hiểu mức độ hứng thú của học sinh trong giờ học môn Địa lý

- Tìm hiểu sự hiểu biết của học sinh về SĐTD và mức độ hứng thú của các

em trong giờ học được tổ chức với SĐTD

2.2.1.3 Phương pháp điều tra

- Phương pháp Anket (phiếu điều tra)

- Phương pháp xử lý thống kê

2.2.1.4 Kết quả điều tra

Để biết được thực trạng dạy và học môn Địa lý lớp 4, tôi đã xây dựng phiếu thăm dò ý kiến và kết quả như sau:

a Đối với giáo viên

Trang 28

Tổng số phiếu phát ra: 35 phiếu

Tổng số phiếu thu lại: 35 phiếu

Câu 1 Cô (thầy) thường xuyên sử dụng phương pháp dạy học nào trong các

phương pháp dạy học dưới đây để dạy học môn Địa lý lớp 4

Câu 2: Trong quá trình dạy học môn Địa lí lớp 4, cô (thầy) có sử dụng các

phương tiện dạy học hỗ trợ cho việc giảng dạy ở mức độ nào?

Chúng tôi nhận thấy rằng trong quá trình dạy học môn Địa lý lớp 4, đa số giáo viên đã sử dụng phương tiện dạy học hỗ trợ cho việc giảng dạy một cách thường xuyên (chiếm 80%) và chưa có trường hợp không bao giờ sử dụng

Trang 29

phương tiện dạy học hỗ trợ cho việc dạy (0%) Điều này cho thấy rằng trong 1 tiết học Địa lý cần có sự hỗ trợ của các phương tiện dạy học

Câu 3 Cô ( thầy) sử dụng các hình thức tổ chức dạy học nào dưới đây ở

Câu 4: Hiện nay SĐTD là một biện pháp dạy học mang lại hiệu quả cao, thầy

(cô) đã biết đến SĐTD chưa?

Trang 30

Mức độ Tỉ lệ

Từ bảng số liệu trên, chúng tôi thấy rằng mặc dù tất cả giáo viên đều biết đến SĐTD nhưng số giáo viên sử dụng SĐTD vào trong dạy học Địa lý lớp 4 còn rất ít (chiếm 20%)

Qua việc điều tra và hỏi ý kiến giáo viên chúng tôi nhận thấy:

Phần lớn giáo viên vẫn dạy Địa lý bằng phương pháp giáo dục hiện có mà chủ yếu là phương pháp giảng giải và hỏi đáp nên chưa thật sự thu hút sự chú ý của học sinh vào bài giảng của mình

Khi dạy giờ Địa lý, đa số giáo viên Tiểu học chỉ sử dụng các thiết bị dạy học Địa lý để minh họa cho lời giảng mà ít chú ý đến chức năng nguồn tri thức của chúng, tức là không chú ý đến việc cho học sinh khai thác kiến thức từ các nguồn này Sự hiểu biết, cập nhật các thông tin về dân số, kinh tế, chính trị xã hội cũng là một vấn đề mà mỗi giáo viên giảng dạy Địa lí cần phải qua tâm Bên cạnh đó cũng có giáo viên chú trọng vào các phân môn khác nhiều hơn đặc biệt là Toán-Tiếng việt, xem nhẹ phân môn Địa Lý

b Đối với học sinh

Số phiếu phát ra: 250 phiếu

Số phiếu thu vào: 250 phiếu Câu 1: Em có thích học môn Địa lý không?

Trang 31

Bình thường 25 10%

Như vậy, đa số học sinh đều thích học môn Địa lý (chiếm 90%) vì đặc trưng môn học phù hợp với tâm sinh lứa tuổi là thích khám phá, tìm tòi những điều mới

lạ về những vùng đất mới trên khắp Thế giới

Câu 2: Hoạt động nào mà giáo viên thường tổ chức trong giờ học Địa lý?

Số phiếu Phần trăm

Trao đổi, thảo luận với bạn để tìm hiểu bài 40 16%

Qua việc xử lý bảng số liệu trên chúng tôi nhận thấy rằng trong một giờ học Địa lý giáo viên đã tổ chức nhiều hoạt động giúp học sinh nắm được nội dung bài học tuy nhiên hoạt động nghe giáo viên giảng, ghi chép (chiếm 32%)

và hoạt động đọc trong SGK và trả lời câu hỏi chiếm tỉ lệ cao (chiếm 42%) Câu 3: Hoạt động nào em thích nhất trong giờ học Địa lý?

Số phiếu Phần trăm

Trao đổi, thảo luận với bạn để tìm hiểu bài 78 31,2%

Căn cứ vào bảng số liệu chúng tôi thấy rằng trong tiết học Địa lý hầu hết học sinh đều muốn tham gia vào hoạt động thảo luận nhóm để tìm hiểu bài

Trang 32

(chiếm 31,2%) và trò chơi học tập (chiếm 43,6%) Đây là những hoạt động thu hút đƣợc học sinh tham gia một cách tích cực

Câu 4: Em có biết về SĐTD không?

Câu 5: Em có thích thầy (cô) tổ chức giảng dạy tiết học Địa lí bằng SĐTD không? (Nếu câu 4 học sinh đã biết thì mới trả lời câu 5)

Qua việc điều tra chúng tôi nhận thấy:

Nhƣ vậy, có thể nói học sinh lớp 4 lần đầu tiên đƣợc tiếp thu kiến thúc mới đối với môn Địa lí Học sinh lần đầu tiên đƣợc làm việc nhiều với bản đồ, lƣợc

đồ, tranh ảnh để tìm hiểu nội dung của bài nên các em phân tích bảng số liệu, đọc và chỉ bản đồ, lƣợc đồ còn lúng túng, thậm chí có học sinh chƣa biết chỉ đúng bản đồ, lƣợc đồ…

Trang 33

Mặt khác do thiết bị dạy học còn thiếu thốn nên nhiều học sinh không được thường xuyên làm việc với các thiết bị dạy học làm cho học sinh yếu về các kĩ năng Địa lý cần thiết như đọc bản đồ, sử dụng bản đồ, sử dụng các bảng số liệu đơn giản

Học sinh còn thụ động tiếp thu và ghi nhớ những nội dung mà giáo viên truyền đạt, về nhà học thuộc lòng những bài khóa trong sách giáo khoa dẫn đến tình trạng học sinh học đối phó chưa thật sự yêu thích môn học

Đa số các em và cả phụ huynh chưa thấy được tầm quan trọng của các môn học ở lớp 4 nói chung và nhất là môn Địa lí.Vì vậy nên chưa đầu tư đúng mức vào việc học môn Địa lí

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Có thể nói SĐTD là tấm “bản đồ” tuyệt vời cho trí nhớ Nó giúp cho học sinh tổ chức các sự kiện, các suy nghĩ theo cơ chế hoạt động tự nhiên của bộ não con người ngay từ lúc bắt đầu Điều này có nghĩa là việc nhớ và gợi lại kiến thức

từ những bài đã học sẽ dễ dàng, đáng tin cậy hơn so với khi sử dụng kĩ thuật ghi chép truyền thống Việc vận dụng SĐTD trong dạy học sẽ tạo hứng thú cho học sinh, thay vì học thuộc các khái niệm, định nghĩa hay cả bài giảng như lúc trước, giờ đây học sinh có thể hiểu và nắm bài qua hình vẽ mà tự tay các em vẽ nên Cách học này còn phát huy năng lực của từng em không chỉ về trí tuê, vẽ, viết gì trên SĐTD, hệ thống hóa kiến thức chọn lọc những phần nào trong bài để ghi, thể hiện dưới hình thức kết hợp hình vẽ, chữ viết, màu sắc mà còn vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống

Trang 34

CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG SĐTD TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÝ

LỚP 4 2.1 Hình thức tổ chức dạy học vận dụng SĐTD

2.1.1 Học cá nhân

Đây là hình thức dạy học mà mỗi học sinh phải tự lập SĐTD theo gợi ý của giáo viên để tìm hiểu bài mới hay củng cố, hệ thống lại kiến thức của những bài đã học Giáo viên sẽ là người hướng dẫn các em tìm hiểu bài, giúp các em hoàn chỉnh SĐTD và là người nhận xét, đánh giá khi các em trình bày Trong quá trình học, mỗi học sinh phải chuẩn bị cho mình những đồ dùng cần thiết để lập SĐTD Trước khi lập SĐTD, học sinh sẽ được tìm hiểu bài qua những câu hỏi gợi ý của giáo viên để từ đó các em có cơ sở để lập nên những SĐTD xác với yêu cầu bài học Sau khi đã lập SĐTD theo sự sáng tạo của mình, học sinh sẽ báo cáo, thuyết minh về SĐTD Từ việc trình bày trên học sinh sẽ rèn được khả năng thuyết trình trước đám đông và một lần nữa khắc sâu kiến thức mà mình vừa tìm hiểu

Ngoài ra, học sinh tự sử dụng SĐTD để hỗ trợ việc tự học tại nhà, tìm hiểu trước bài mới, củng cố, ôn tập kiến thức bằng SĐTD trên giấy, bìa…hoặc tư duy một vấn đề mới, qua đó phát triển khả năng tư duy logic, cũng cố khắc sâu kiến thức, kĩ năng ghi chép

2.1.2 Học theo nhóm

Học theo nhóm chính là hoạt động học tập có sự phân chia học sinh theo nhóm nhỏ với đủ thành phần khác nhau về trình độ, cùng trao đổi ý tưởng, một nguồn kiến thức dựa trên cơ sở là hoạt động tích cực của mỗi cá nhân Từng thành viên của nhóm không chỉ có trách nhiệm với việc học tập của mình mà còn có trách nhiệm quan tâm đến việc học tập của bạn bè trong nhóm

Học sinh lập SĐTD theo nhóm với những gợi ý của giáo viên

Trang 35

Báo cáo, thuyết minh về SĐTD Cho một vài học sinh đại diện của các nhóm học sinh lên báo cáo, thuyết minh về SĐTD mà nhóm mình đã thiết lập Qua hoạt động này vừa biết rõ việc hiểu kiến thức của các em vừa giúp các em

tự tin, mạnh dạn hơn

Học sinh thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện SĐTD về kiến thức của bài học đó Giáo viên sẽ là người hướng dẫn, là người cố vấn, là trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh SĐTD, từ đó dẫn dắt đến kiến thức bài học

SĐTD là một sơ đồ mở nên không yêu cầu tất cả các nhóm học sinh có chung một kiểu SĐTD, giáo viên chỉ nên chỉnh sửa cho học sinh về mặt kiến thức và góp ý thêm về đường nét vẽ và hình thức

- Nhóm đa trình độ do giáo viên lựa chọn

- Nhóm theo biểu tượng: giáo viên chuẩn bị các biểu tượng có số lượng bằng nhau và phát ngẫu nhiên cho học sinh Những học sinh có cùng biểu tượng thì được xếp vào một nhóm

- Nhóm chọn bạn: học sinh có quyền chọn bạn để thành lập một nhóm

- Nhóm cố định : do giáo viên chọn những em ngồi gần để thành lập một nhóm, ( ngoài ra còn nhiều cách chia nhóm khác nữa)

2.1.2.2 Một số lưu ý khi tiến hành chia nhóm:

- Cần xác định số lượng thành viên trong mỗi nhóm, số lượng thành viên trong hoạt động nhóm thì mỗi nhóm chỉ có từ 2 đến 5 thành viên là có hiệu quả nhất Vì nếu nhóm có nhiều thành viên, mặc dù có nhiều năng lực được tham gia nhưng các kỹ năng như diễn đạt, phát biểu ý kiến, phối hợp các thành viên,

Trang 36

thống nhất ý kiến, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, quản lí để nhiều học sinh tham gia khó có thể đạt được

- Để hình thành kỹ năng học hợp tác nhóm, lúc đầu giáo viên nên bắt đầu

từ nhóm đôi Khi học sinh đã có kinh nghiệm, kỹ năng nhất định sẽ tổ chức nhóm với số lượng nhiều hơn

2.2.2.3 Giao nhiệm vụ cho nhóm:

Nhiệm vụ giao cho mỗi nhóm phải rõ ràng, ngắn gọn, đủ để các thành viên hiểu rõ về nhiệm vụ cụ thể của tổ mình phải làm gì, làm trong thời gian bao lâu; nếu cần giáo viên có thể giải thích thêm một vài từ ngữ, khái niệm…, kiểm tra thử một vài thành viên xem các em có hiểu được nhiệm vụ được giao hay chưa Giáo viên cần gợi ý cho các nhóm để các bạn lâu nay ít được phát biểu, ít được

đề đạt ý kiến của mình có quyền đưa ra câu trả lời trước nhất

2.2.2.4 Tổ chức quản lý:

Cần nói rõ cho học sinh rằng đánh giá kết quả theo nhóm, không theo cá nhân Học sinh cần nhận thấy mọi thành viên cần phải có trách nhiệm đóng góp, mọi thành viên đều phải hoàn thành công việc, mọi thành viên đều phải được lĩnh hội kiến thức Thành công của nhóm chính là thành công của mỗi cá nhân.Vì thế các em cần phải hợp tác chặt chẽ với nhau Như đã nêu trên, vì câu hỏi khó và mở cần có nhiều ý trả lời nên mỗi thành viên trong nhóm phải tìm được cho mình một đáp án đúng Cần ưu tiên cho những bạn yếu hơn đưa ra đáp

án trước để các bạn này có cơ hội tham gia vào hoạt động chung của nhóm Trong quá trình học sinh hoạt động nhóm, giáo viên theo dõi tổng quát, phát hiện và hỗ trợ cho nhóm có khó khăn, kịp thời uốn nắn, điều chỉnh những lệch lạc của học sinh Giáo viên phải hạn chế đến mức thấp nhất việc nói của mình trong khi các em đang hoạt động nhóm Nếu cần, giáo viên cho cả lớp dừng lại để tập trung chú ý nghe giáo viên hướng dẫn thêm

2.2 Phương pháp vẽ SĐTD

Trang 37

2.2.1 Phương pháp vẽ thủ công

- Đối với giáo viên: Vẽ trực tiếp lên bảng, chuẩn bị bảng phụ trên giấy

Chuẩn bị: phấn màu, giấy A0, bút màu

- Đối với học sinh: Chuẩn bị giấy A4, bút màu

Hình 1.2 SĐTD tham khảo

 Ưu điểm:

- SĐTD có thể vận dụng được với bắt kì điều kiện cơ sở vật chất nào của nhà trường hiện nay Dễ áp dụng trong tất cả hoàn cảnh, điều kiện, ít tốn kém, khi tổ chức không cần quan tâm đến sự cố mất điện hay trang thiết bị máy móc

- Khi giáo viên trình bày bài lên bảng bằng SĐTD học sinh dễ dàng theo dõi tiến trình của bài học diễn ra đến đâu

- Sử dụng bảng khi trình bày hoàn toàn có thể thêm ý tưởng, xóa đi hay bổ sung khi cần thiết

Trang 38

- Vì đây là cách đơn giản, dễ học nhất nên học sinh dễ dàng trình bày yw tưởng của mình trước lớp

 Nhược điểm:

- Không có nhiều thời gian nên không thể cho tất cả học sinh hay các nhóm trình bày trước lớp sản phẩm của mình

- Giáo viên mất nhiều thời gian chuẩn bị cho bài học

- Khi trình bày lên bảng đòi hỏi giáo viên cần một chút “năng khiếu”, như vậy việc thể hiện các hình ảnh, trình bày bố cục sẽ đem lại hiệu quả cao hơn, nếu không nhìn vào bảng học sinh sẽ thấy bị “rối”

A Dowload và cài đặt phần mềm vẽ BĐTD từ Internet

Trang 39

Bước 1: Đầu tiên chúng ta chọn chuột đôi vào biểu tượng trên màn hình

Hoặc chọn chuột phải vào biểu tượng Google Chrome  Open Trang khỏi

động của Chrome sẽ xuất hiện

Bước 2: Truy cập vào trang web: 02-full-imindmap-moi-nhat/

http://tinhoc2.net/download-imindmap-6-Bước 3: Trước khi chọn tải về máy chúng ta cần lưu ý một số điều sau:

1 Cài đặt Net Framework 3.5 nếu phiên bản Net Framework nhỏ hơn 3.5

2 Gỡ bỏ phiên bản cũ nếu trước đó chúng ta đã cài đặt nó trước khi cài phiên bản 6.01 này

3 Sau khi cài đặt thành công chúng ta không chạy chức năng update

Bước 4: Tại trang web hiện hành ta chọn Tải về máy

Bước 5: Ta chờ cho đến khi tải về hoàn tất

Bước 6: Sau khi tải về hoàn tất chúng ta bắt đầu cài đặt phần mềm Ngắt

mạng Internet trước khi cài đặt

Bước 7: Chọn chuột phải vào biểu tượng phần cài đặt của phần mềm

Open Sau đó chọn như hình rồi chọn OK

Trang 40

Bước 8: Khi bắt đầu vào trang cài đặt chính ta chọn Next Sau đó chọn địa chỉ

cần lưu phần cài đặt phần mềm như hình  Next

Bước 9: Tiếp theo ta chọn Install Sau khi cài đặt hoàn tất ta chọn Finish

B Hướng dẫn sử dụng phần mềm Imindmap

KHỞI ĐỘNG PHẦN MỀM

Click đúp chuột vào biểu tượng chương trình iMindMap trên màn hình desktop hoặc vào menu Start  All Programs  iMindMap 6  iMindMap 6

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Biên dịch: Phạm Thế Anh - Lập bản đồ tư duy - Nhà xuất bản lao động và xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lập bản đồ tư duy
Nhà XB: Nhà xuất bản lao động và xã hội
[2]. Sách giáo khoa – Sách giáo viên Lịch sử và Địa lí lớp 4 – Nhà xuất bản Giáo dục năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Lịch sử và Địa lí lớp 4
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục năm 2009
[6]. Biên dịch: Trần Chánh Nguyên - Sắp xếp ý tưởng với Sơ đồ tư duy - Nhà xuất bản Tổng hợp TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắp xếp ý tưởng với Sơ đồ tư duy
Nhà XB: Nhà xuất bản Tổng hợp TP.HCM
[7]. Vận dụng Bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn Lịch sử ở nhà trường THCS - Nguyễn Thị Nhiên và Đoàn Luyến Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vận dụng Bản đồ tư duy trong việc dạy và học môn Lịch sử ở nhà trường THCS
[8]. Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Lịch sử ở trường THPT - Nguyễn Chí Thuận Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học Lịch sử ở trường THPT
[9]. SKKN sử dụng SĐTD trong dạy học môn Toán THCS của Nguyễn Quang Dũng - Trường THCS Thị trân Thới Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: SKKN sử dụng SĐTD trong dạy học môn Toán THCS của Nguyễn Quang Dũng

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w