1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế và sử dụng website học tập cho chương “các định luật bảo toàn” – vật lý 10 nâng cao

141 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 3,55 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chỉ thị số 55/2008/CT-BGDĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ GDĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012 đã nêu “Công ng

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Trang 2

1

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan đây là khóa luận của riêng em, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Tác giả

Phan Quang Mạnh

Trang 3

2

LỜI CẢM ƠN !

Em xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư Phạm, Ban Chủ nhiệm khoa Vật lý cùng Quý thầy giáo, cô giáo tham gia giảng dạy Lớp 10SVL – Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Đà Nẵng

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất về sự hướng dẫn tận tình của PGS.TS Nguyễn Bảo Hoàng Thanh trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn thầy Trịnh Khắc Đức và thầy Lê Thanh Huy đã giúp đỡ, hướng dẫn tận tình em trong quá trình thiết kế website cũng như ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình thiết kế bài giảng

Cuối cùng em xin cảm ơn gia đình, các bạn sinh viên lớp 08SVL đã dành nhiều tình cảm, giúp đỡ, động viên em hoàn thành khóa luận này

Xin trân trọng cảm ơn !

Đà Nẵng, 05/2014

Sinh viên thực hiện Phan Quang Mạnh

Trang 4

3

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

CNTT Công nghệ thông tin GV Giáo viên

DH Dạy học HS Học sinh

ĐC Đối chứng BGĐT Bài giảng điện tử

TN Thực nghiệm PPDH Phương pháp dạy học SGV Sách giáo viên LLDH Lí luận dạy học SGK Sách giáo khoa THPT Trung học phổ thông PTDH Phương tiện dạy học QTDH Quá trình dạy học

Trang 5

và chính xác là điều rất cần thiết, vì vậy không lí do gì mà chúng ta không áp dụng CNTT vào các lĩnh vực trong đời sống

Nhưng để làm được như vậy, chúng ta cần giải quyết nhiều vấn đề cấp thiết như: phải có một nền khoa học tri thức tiên tiến, xây dựng cơ sở hạ tầng và trang thiết bị hiện đại Đặc biệt phải có một nguồn nhân lực năng động, sáng tạo và có kĩ năng thực hành tốt, có khả năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước đang

đi theo nền kinh tế tri thức Và điều quan trọng nhất đó là chúng ta phải có một nền giáo dục tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, một nền giáo dục đào tạo ra những con người năng động, sáng tạo, tích cực trong học tập cũng như lao động, và có lòng yêu nước nồng nàn

Trong thời gian hiện tại, ta thấy Việt Nam cũng đã có một vài thành tựu về CNTT, tuy chưa lớn nhưng đó là nền tảng để phát triển kinh tế xã hội như:

- Năm 2008, chỉ 2 năm sau khi Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) thành lập Viện Công nghệ Vũ Trụ, Việt Nam đã có vệ tinh viễn thông đầu tiên được phóng lên từ Kourou (French Guiana)

- Ba năm sau đó, tiếp theo thành công này của Việt Nam, VAST đã khai trương Trung tâm Vệ tinh Quốc gia Việt Nam Tháng 5 năm 2013, một lần nữa từ Kourou, vệ tinh giám sát môi trường đầu tiên của Việt Nam đã được phóng vào quỹ đạo

Trang 6

Chỉ thị số 55/2008/CT-BGDĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ GDĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo

dục giai đoạn 2008-2012 đã nêu “Công nghệ thông tin (CNTT) là công cụ đắc lực

hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập và hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục, góp phần nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng giáo dục…”

Cũng trong chị thị trên ở điều 4 ta có “Triển khai áp dụng CNTT trong dạy

và học, hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, tích hợp ứng dụng CNTT ngay trong mỗi môn học một cách hiệu quả và sáng tạo ở những nơi có điều kiện thiết bị tin học; xây dựng nội dung thông tin số phục vụ giáo dục; phát huy tính tích cực tự học, tự tìm tòi thông tin qua mạng Internet của người học; tạo điều kiện để người học có thể học ở mọi nơi, mọi lúc, tìm được nội dung học phù hợp; xoá bỏ sự lạc hậu về công nghệ và thông tin do khoảng cách địa lý đem lại Cụ thể là:

- Khuyến khích giáo viên, giảng viên soạn bài trình chiếu, bài giảng điện tử

và giáo án trên máy tính Khuyến khích giáo viên, giảng viên trao đổi kinh nghiệm giảng dạy qua website của các cơ sở giáo dục và qua Diễn đàn giáo dục trên Website Bộ

Trang 7

6

- Triển khai mạnh mẽ công nghệ học điện tử (e-Learning) Tổ chức cho giáo viên, giảng viên soạn bài giảng điện tử e-Learning trực tuyến; tổ chức các khoá học trên mạng, tăng tính mềm dẻo trong việc lựa chọn cơ hội học tập cho người học

- Xây dựng trên Website Bộ các cơ sở dữ liệu và thư viện học liệu điện tử (gồm giáo trình và sách giáo khoa điện tử, đề thi trắc nghiệm, phần mềm thí nghiệm

ảo, học liệu đa phương tiện, bài giảng, bài trình chiếu, giáo án của giáo viên, giảng viên) Tổ chức “sân chơi” trí tuệ trực tuyến miễn phí của một số môn học.”

- Việc hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy bằng ứng dụng CNTT phải được thực hiện một cách hợp lý, tránh lạm dụng, tránh bệnh hình thức chỉ ứng dụng CNTT tại một số giờ giảng trong cuộc thi, trong khi không áp dụng trong thực tế hàng ngày

Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam mục 1.4 Đổi mới nội dung, phương

pháp dạy học, thi, kiểm tra và đánh giá chất lượng giáo dục điều i) ghi rõ: “ Ban hành chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành Giáo dục giai đoạn 2013-2018.”

“Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy và học các môn học khác Đổi mới nội dung dạy và học môn tin học ở các cấp, bậc học theo hướng hiện đại, thiết thực và trên nền mã nguồn mở Triển khai chương trình tin học ứng dụng theo mô đun kiến thức Quy định chuẩn kiến thức về công nghệ thông tin đối với giáo viên, sinh viên và học sinh.”

Nhưng chúng ta thấy, Vật Lý là môn học yêu cầu chúng ta cần nắm vững cả

lí thuyết lẫn cách giải bài tập, trong mọi đề kiểm tra Vật Lý ta đều có 20% - 30% là

lí thuyết, phần còn lại là bài tập

Vật lý là cơ sở của tất cả các ngành khoa học, nó còn được gọi là triết học tự nhiên, vì vậy học Vật Lý chúng ta cần phải nắm rõ phần lí thuyết và việc giải bài toán Vật Lý có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện sự tư duy định hướng họ sinh một cách tích cực, khả năng vận dụng kiến thức cũng như giải quyết vấn đề của học sinh

Trang 8

7

Chúng ta thấy rằng yêu cầu đối với môn học là rất lớn, thế nhưng thời gian trên lớp của GV lại rất hạn chế, và môn Vật Lý là môn học đòii hỏi chúng ta phải học mãi vì kiến thức của nó thay đổi mới liên tục

Vì những lí do trên, em xin thực hiện đề tài: Thiết kế và sử dụng website học tập cho chương “Các định luật bảo toàn” Vật Lý 10 nâng cao

2 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng và sử dụng website hỗ trợ việc học tập các kiến thức giáo khoa cũng như việc giải bài tập Vật Lý (Vận dụng vào chương “Các định luật bảo toàn” – Vật Lý

10 Nâng cao) góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Vật Lý ở trường THPT

3 Giả thuyết khoa học

Nếu việc thiết kế và sử dụng website học tập thành công thì sẽ góp phần hỗ trợ học tập Vật Lý trong cả lí thuyết lẫn bài tập Nâng cao chất lượng dạy học ở trường THPT, hỗ trợ hoạt động dạy học của GV Phát huy tích tích cực tự giác của HS trong học tập

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng

- Hoạt động dạy và học Vật Lý ở trường THPT

- Hoạt động tự học của HS trung học phổ thông

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Chương “Các định luật bảo toàn” lớp 10 Nâng cao

- Dạy học Vật Lý ở một số trường trên địa bàn Đà Nẵng

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Cơ sở lí luận về việc dạy học Vật Lý ở trường THPT cả về lí thuyết và bài tập

- Cơ sở lí luận về việc tự học cũng như cách phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của HS

- Nghiên cứu chương trình SGK, chuẩn kiến thức kĩ năng của HS đối với chương “ Các định luật bảo toàn” lớp 10 Nâng cao

- Nghiên cứu, xây dựng website hỗ trợ việc tự học Vật Lý của HS vận dụng vào chương “Các định luật bảo toàn”

Trang 9

8

- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả đề tài

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Nghiên cứu các văn kiện chỉ đạo của Đảng và nhà nước về việc áp dụng CNTT trong dạy học Vật Lý

- Nghiên cứu một số đề tài và luận văn có liên quan đến vấn đề trên

- Tham khảo một số tài liệu của thư viện, của khoa Vật Lý củng như trên mạng Internet

- Nghiên cứu một số tài liệu về sử dụng CNTT và các phần mềm xây dựng website cho việc tự học Vật Lý

- Nghiên cứu chương trình SGK, SGV Vật lý 10 nâng cao

6.2 Phương pháp quan sát

Quan sát một số giờ dạy thông qua thời gian kiến tập cũng như thực tập sư phạm

6.3 Phương pháp điều tra giáo dục

Điều tra bằng phiếu điều tra ý kiến đối với HS một số trường THPT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Tiến hành thực nghiệm sư phạm đối với một số trường THPT trên địa bàn

TP Đà Nẵng để kiểm tra giả thuyết khoa học

6.5 Phương pháp thống kê toán học

Dùng thống kê toán học để xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm

7 Cấu trúc nội dung

Trang 10

cơ thúc đẩy hoạt động đó

1.1.1.2 Bản chất của quá trình dạy

Nếu học là hành động của học sinh xây dựng kiến thức cho chính bản thân mình

và vận dụng kiến thức của mình thì dạy học là dạy hành động (hành động chiếm lĩnh tri thức và hành động vận dụng tri thức) và do đó trong dạy học người dạy cần

tổ chức các tình huống học tập đòi hỏi sự thích ứng của học sinh, để qua đó học sinh chiếm lĩnh được tri thức đồng thời phát triển trí tuệ và nhân cách toàn diện của mình

1.1.1.3 Mối liên hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học

Quá trình dạy học là quá trình thống nhất bao gồm quá trình dạy và quá trình học, là hệ thống tác động lẫn nhau giữa giáo viên và học sinh Trong hệ thống đó, mỗi chủ thể tác động lẫn nhau có chức năng và vai trò của mình Dạy là hoạt động

tổ chức, hướng dẫn và định hướng hoạt động học theo mục tiêu dạy học Học là những hoạt động chủ động của học sinh tìm kiến kiến thức dưới sự tổ chức, định hướng và giúp đỡ của giáo viên

1.1.2 Tính tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học VL 1.1.2.1 Tính tích cực

Trang 11

10

Tính tích cực nhận thức là thái độ cải tạo của chủ thể đối với khách thể thông qua sự huy động ở mức cao của chức năng tâm lí nhằm giải quyết vấn đề học tập – nhận thức Nó vừa là mục đích hoạt động, vừa là phương tiện, vừa là điều kiện để đạt được mục đích, vừa là kết quả của hoạt động Nó là phẩm chất hoạt động của cá nhân

Tính tích cực của nhận thức – học tập đối với học sinh đòi hỏi phải có những nhân tố, tính lựa chọn thái độ đối với đối tượng nhận thức; đề ra cho mình mục đích, nhiệm vụ cần giải quyết sau khi đã lựa chọn đối tượng, cải tạo đối tượng trong hoạt động sau này nhằm giải quyết vấn đề Hoạt động mà thiếu những nhân tố

đó thì chỉ có thể nói đó là sự thể hiện trạng thái hành động nhất định của con người

mà không thể nói là tính tích cực của nhận thức Chẳng hạn học sinh có thể theo yêu cầu giáo viên, họ đọc sách, nhìn lên bảng và chuyển tất cả những cái gì nhìn thấy trên bảng vào vở, nhưng với cái đó họ không nhận biết được gì cả, vì họ không thể hiện thái độ cải tạo đối với điều đó, họ không có ý định suy ngẫm mối liên hệ điều thấy được, nghe được vói điều họ đã biết và tìm ra những dấu hiệu mới sau này Hiện tượng tích cực và trạng thái hành động về bề ngoài có thể giống nhau, nhưng khác nhau về bản chất Tính tích cực khi được thể hiện trong hoạt động cải tạo, đòi hỏi phải thay đổi mà trước tiên là trong ý thức của chủ thể hành động Còn trạng thái hành động không đòi hỏi một sự cải tạo như vậy

Tùy theo việc huy động chủ yếu những chức năng tâm lí nào mà mức độ huy động những chứ năng tâm lí đó mà người ta phân ra ba loại tích cực:

- Tích cực tái hiện: chủ yếu dựa vào trí nhớ và tư duy tái hiện

- Tích cực tìm tòi: được đặc trưng bằng sự bình phẩm, phê phán, tìm tòi tích cực

về mặt nhận thức, óc sáng kiến, lòng khát khao tìm tòi kiến thức, hứng thú học tập Tính tích cực đó không bị hạn chế trong khuôn khổ những yêu cầu của giáo viên trong giờ học

- Tích cực sáng tạo: là mức độ cao nhất của tính tích cực Nó đặc trưng bằng sự khẳng định con đường riêng của mình, không giống với con đường mà mọi người đã thừa nhận, đã trở thành chuẩn hóa, để đạt được mục đích

Trang 12

11

1.1.2.2 Những biểu hiện của tính tích cực

Trong quá trình học tập, tính tích cực được biểu hiện thông qua:

- Sự hứng thú trong học tập, sự sẵn sàng trong tư duy

- Sự tự giác, chủ động, hăng hái tham gia các nhiệm vụ học tập

- Sự sáng tạo trong tiếp thu và vận dụng kiến thức

- Quyết tâm vượt khó trong quá trình học tập

1.1.2.3 Mục đích của việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh

Tích cực hóa là tập hợp các hoạt động của nguời thầy nhằm chuyển vị trí người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể để tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập

Dạy theo cách này, GV không chỉ đơn giản truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động nội dung và PPDH phải giúp cho từng HS biết hành động và tích cực tham gia các chương trình hành động của cộng đồng

1.1.3.2 Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp và phát huy năng lực tự học của HS

Các phương pháp dạy học tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho

HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu

Trang 13

12

dạy học Trong các phương pháp dạy thì cốt lõi là dạy phương pháp tự học Có nhiều hình thức về tự học nhưng có thể nhận thấy: tự học là quá trình hoạt động có

ý thức, tích cực, tự lực, chủ động của người học

Có nhiều quan điểm tự học:

- Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân tự tìm tòi và nắm vững tri thức thông qua GV, sách, báo, internet…

- Tự học là tìm tòi học hỏi để hiểu biết thêm một kiến thức thuộc một lịch vực nào đó, có thể có thầy hoặc không có thầy, người học có thể làm chủ mình, muốn học lúc nào, vấn đề gì thì tùy ý

- Tự học là tự tìm tòi, tự đặt câu hỏi, tự tìm hiểu để nắm được vấn đề, hiểu sâu hơn, thậm chí hiểu khác đi bằng cách sáng tạo, đi đến một đáp số, kết luận khác

- Tự học là HS tự quyết định việc lựa chọn mục tiêu học tập, lựa chọn các hoạt động học tập và các phương pháp điều tra, đánh giá thích hợp, từ đó tổ chức, xây dựng, kiểm tra, kiểm soát tiến hành học tập của cá nhân với ý thức trách nhiệm Chính vì vậy nếu rèn luyện cho người học có được những phương pháp, kỹ năng, thói quen, ý chí, tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn

có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội thì ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động trong quá trình dạy học, nổ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang hoạt động tự chủ, vấn đề phát triển tự học ngay trong trường THPT, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học ngay sau tiết học có

sự hướng dẫn của GV

1.1.3.3 Dạy học phân hóa kết hợp với học tập hợp tác

Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của HS không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng PPDH tích cực buột phải chấp nhận sự phân hóa cường độ, mức độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi hoạt động độc lập

Áp dụng PPDH tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa ngày càng lớn Việc sử dụng phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu

cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng tự học của mỗi HS

Trang 14

13

Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kỹ năng, thái dộ diều được hình thành bằng những hoạt động cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy – trò, trò- trò, tạo mối quan hệ hợp tác của các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới

Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, cả lớp…Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội

Chuyển từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, GV không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, GV trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập chủ động đạt đến mục tiêu, kiến thức, thái độ theo yêu cầu của chương trình Trên lớp học sinh hoạt động là chính, GV có vẻ nhàn nhã hơn nhưng trước đó, khi soạn giáo án, GV phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp và vai trò là người gợi

mở, xúc tác, động viên, cố vấn, dẫn dắt, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của HS GV phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình

độ sư phạm lành nghề mói có thể tổ chức, hướng dẫn các hoạt động của HS mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của GV

1.1.3.4 Kết hợp đánh giá của thầy với đánh giá của bạn, với tự đánh giá

Hoạt động đánh giá đa dạng: đánh giá chính thức và không chính thức; đánh giá bằng định tính và định lượng; đánh giá bằng kết quả và biểu lộ thái độ, tình cảm; đánh giá thông qua sản phẩm được giới thiệu và điịnh hướng phát triển các mối quan hệ xã hội

1.1.3.4 Tăng cường khả năng, kỹ năng vận dụng vào thực tế

Phù hợp với điều kiện thực tế về cơ sở vật chất, về đội ngũ GV, khả năng của

HS, tối ưu các điều kiện hiện có Sử dụng các PTDH, thiết bị dạy học hiện đại khi

có điều kiện

Trang 15

14

1.1.3.5 Đem lại niềm vui, tạo hứng thú trong học tập cho HS đạt hiệu quả cao

Tăng tính tích cực, chủ động, sáng tạo; tăng cường khả năng tự học; tăng tính tự tin; tăng khả năng hợp tác tác trong hợp tác trong học tập và làm việc; tăng cơ hội được đánh; chất lượng, hiệu quả dạy học nâng cao

Muốn thực hiện dạy và học tích cực thì cần phát triển phương pháp thực hành, phương pháp trực quan theo kiểu tìm tòi từng phần hoạt nghiên cứu phát hiện, nhất

là khi dạy các môn khoa học thực nghiệm

Đổi mới PPDH cần thừa kế, phát triển những mặt tích cực của hệ thống PPDH

đã quen thuộc, đồng thời cần học hỏi, vận dụng một số PPDH mới, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện dạy và học ở nước ta để giáo dục từng bước tiến lên vững chắc

Môi trường học tập mới khuyến khích hình thành thói quen tự học và tự đánh giá của HS, thói quen của cả đời

Theo hướng nói trên, nên quan tâm phát triển một số phương pháp dưới đây

* Dạy học vấn đáp

Vấn đáp (đàm thoại) là phương pháp trong đó GV đặt ra những câu hỏi để HS trả lời, hoặc có thể tranh luận vói nhau và với cả GV, qua đó HS lĩnh hội được nội dung bài học

Có ba mức độ: vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích – minh họa và vấn đáp tìm tòi

* Dạy và học phát hiện và giải quyết

Trang 16

15

Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt, thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lí những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng lực bảo đảm sự hình thành trong cuộc sống Vì vậy, tập dượt cho HS biết phát hiện, đặt và giả quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng không chỉ trong học tập , trong cuộc sống của cá nhân, gia đình cộng đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm PPDH mà phải được đặt như một mục tiêu giáo dục Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề , HS vừa nắm được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp chiếm lĩnh tri thức đó, phát triển tư duy tích cực sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội; phát hiện kịp thời giải quyết vấn đề nảy sinh Dạy và học phát hiện, giải quyết vấn

đề không chỉ giới hạn ở phạm trù PPDH, nó đòi hỏi cải tạo nội dung, đổi mói cách

tổ chức quá trình dạy học trong mối quan hệ thống nhất với PPDH

* Dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ

PPDH hợp tác trong nhóm nhỏ là mói với đa số vói GV PPDH hợp tác giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây xựng nhận thức mới Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải chỉ là sự tiếp nhận thụ động từ GV

Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên, vì vậy phương pháp này còn được gọi là phương pháp cùng tham gia, nó như một phương pháp trung gian giữa sự làm việc độc lập của từng HS với sự việc chung của cả lớp Trong hoạt động nhóm, tư duy tích cực của HS phải được phát huy và ý quan trọng của phương pháp này là rèn luyện phương pháp này là rằng luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao động Cần tránh khuynh hướng hình thức và đề phòng lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm

là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi ới PPDH, hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tỏ PPDH, hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tỏ PPDH càng đổi mới

Trang 17

16

1.2 Cơ sở khoa học của việc thiết kế, sử dụng website dạy học vật lý nhằm tính tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh

1.2.1 Phương tiện dạy học

1.2.1.1 Khái niệm và tầm quan trọng của phương tiện dạy học

Phương tiện dạy học là những thiết bị có khả năng chứa đựng hoặc chuyển tải những thông tin về nội dung dạy học và sự điều khiển của quá trình dạy học

Mô hình, hình vẽ, sách giáo khoa, phiếu học tập, máy vi tính…là những ví dụ về phương tiện dạy học

Phương tiện dạy học tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức hoạt động học tập Chúng có thể tiếp nối, mở rộng giác quan của con người, hình thành những môi trường có dụng ý sư phạm, mô phỏng những hiện tượng, quá trình nguy hiểm hoặc vượt quá những hạn chế về thời gian, không gian, chi phí…

1.2.1.2 Những phương tiện dạy học thông dụng

Các phương tiện dạy học có thể được liệt kê vào những nhóm sau đây:

a) Phương tiện nghe nhìn

Thuộc nhóm này có: vật thật, mô hình, hình ảnh…

b) Tài liệu in ấn

Tài liệu in ấn như sách giáo khoa, sách bài tập, sổ tay tóm tắt công thức, phiếu học tập…

c) Công nghệ thông tin và truyền thông

Thuộc nhóm này có máy vi tính, đĩa mềm, đĩa CD…

1.2.1.3 Vai trò của phương tiện dạy học

Phương tiện có thể đóng nhiều vai trò trong quá trình dạy học Các phương tiện dạy học thay thế cho những sự vật, hiện tượng và các quá trình xãy ra trong thực tiễn mà giáo viên và học sinh không thể tiếp cận trực tiếp được Chúng giúp cho thầy giáo phát huy tất cả các giác quan của học sinh trong quá trình truyền thụ kiến thức, do đó học sinh nhận biết được quan hệ giữa các hiện tượng và tái hiện những khái niệm, quy luật làm cơ sở cho việc rút kinh nghiệm và áp dụng kiến thức đã học

và thực tế sản xuất

Trang 18

- Rút ngắn thời gian giảng dạy mà việc lĩnh hội kiến thức của học sinh lại nhanh hơn

- Giải phóng người thầy giáo khỏi một khối lượng lớn các công việc tay chân,

do đó làm tăng khả năng nâng cao chất lượng dạy học

- Dễ dàng gây được cảm tình và sự chú ý của học sinh

- Bằng việc sử dụng phương tiện dạy học, giáo viên có thể kiểm tra một cách khách quan khả năng tiếp thụ kiến thức cũng như sự hình thành kĩ năng, kĩ xảo của học sinh

1.2.1.4 Sử dụng phương tiện dạy học thích ứng linh hoạt với những ý đồ về phương pháp dạy học

Những phương tiện dạy học nói chung có khả năng đáp ứng những nhu cầu đa dạng Mỗi phương pháp dạy học cần đến không phải chỉ một phương tiện dạy học xác định Đặc biệt cần tăng cường sử dụng những phương tiện dạy học tạo môi trường tương tác cho học sinh học tập trong hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo, được thực hiện độc lập hoặc trong giao lưu

1.2.2 Sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông với tư cách là công cụ dạy học

1.2.2.1 Ý đồ sư phạm của việc sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông tin với tư cách là công nghệ hỗ trợ dạy học

Những phần mềm dạy học có khả năng phục vụ những ý đồ sư phạm như sau:

- Tạo môi trường tương tác để người học hoạt động và thích nghi với môi trường Việc dạy học diễn ra trong quá trình hoạt động và thích nghi đó

Trang 19

18

- Tạo điều kiện cho người học hoạt động độc lập tới mức độ cao, tách xa thầy giáo trong những khoảng thời gian dài mà vẫn đảm bảo mối liên hệ ngược trong quá trình dạy học Do đó việc sử dụng những phần mềm dạy học của máy vi tính dẫn đến những kiểu dạy học mới

- Tạo điều kiện thực hiện những ý tưởng lớn trong giáo dục như học mọi nơi, học mọi lúc, học suốt đời

1.2.2.2 Những chức năng sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong quá trình dạy học

Trong quá trình dạy học, công nghệ thông tin và truyền thông giúp thầy giáo thực hiện các chức năng điều hành sau:

- Đảm bảo trình độ xuất phát

- Hướng đích và gợi động cơ

- Làm việc với nội dung mới

- Cũng cố (ôn, đào sâu, luyện tập, ứng dụng hệ thống hóa)

- Kiểm tra, đánh giá

- Hướng dẫn công việc ở nhà

1.2.2.3 Những hình thức sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông nhƣ công cụ dạy học

- Giáo viên trình bày bài dạy có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin

- Học sinh làm việc trực tiếp với công nghệ thông tin và truyền thông dưới sự hướng dẫn giáo viên và sự kiểm soát chặt chẽ của thầy giáo

- Học sinh học tập độc lập nhờ công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt

là nhờ những chương trình máy tính

- Học sinh tra cứu tài liệu và học tập độc lập hoặc trong giao lưu trên mạng cục bộ hay internet

1.2.3 Website dạy học

1.2.3.1 Khái niệm về Website dạy học

WWW (World Wide Web) là một dịch vụ thông tin mới và hấp dẫn nhất trên Internet dựa trên kỹ thuật biểu diễn thông tin có tên gọi là “Siêu văn bản” WWW

Trang 20

19

không phải là một hệ thống cụ thể mà là một tập hợp các công cụ tiện ích và các siêu giao diện giúp người sử dụng có thể tạo ra các siêu văn bản và cung cấp cho những người sử dụng khác trên Internet, ta gọi tắt là công nghệ Web Công nghệ Web cho phép truy cập và sử lí các trang dữ liệu đa phương tiện trên Internet Để xây dựng các trang đa phương tiện như vậy, Web sử dụng một ngôn ngữ gọi là HTML HTML cho phép đọc và liên kết các kiểu dữ liệu khác nhau trên cùng một trang thông tin

Như vậy, trang Web là trang tin trên mạng Internet Nội dụng thông tin được diễn tả một cách sinh động bằng văn bản, đồ họa, ảnh tĩnh, ảnh động, phim, âm thanh, tiếng nói…Mỗi trang Web được đánh dấu bằng một địa chỉ để phân biệt với các trang khác và giúp mọi người tri cập đến Bảng Web là tập hợp các trang Web được liên kết lại với nhau xuất phát từ một trang gốc hay còn gọi là trang xuất phát, trang đầu tiên Mỗi bảng Web có một địa chỉ riêng và đó cũng chính là địa chỉ trang gốc hay trang xuất phát

Xuất phát từ khái niệm Website trên Có thể hiểu Website dạy học là một phương tiện dạy học (dưới dạng phần mềm trên máy tính), được tạo ra bởi các siêu văn bản (là các bài giảng điện tử) trên đó bao gồm một tập hợp các công cụ tiện ích

và các siêu giao diện (trình diễn các thông tin Multimedia: văn bản, âm thanh, hình ảnh), để hỗ trợ việc dạy và học và cung cấp cho những người sử dụng khác trên mạng các máy tính

1.2.3.2 Mã nguồn mở

Mã nguồn mở là phần mềm với mã nguồn được công bố và sử dụng một giấy phép nguồn mở Phổ biến nhất là Giấy Phép công cộng GNU (General Public License)

1.2.3.3 Mã nguồn mở NukeViet

Nukeviet là một hệ quản trị nội dung (Content Management System - CMS) cho phép bạn quản lý các cổng thông tin điện tử trên Internet Nói đơn giản, NukeViet giống như một phần mềm giúp bạn xây dựng và vận hành các trang web của mình một cách dễ dàng nhất Website bạn đang xem - trang nukeviet.vn này - được tạo ra

Trang 21

20

và vận hành bởi phần mềm NukeViet NukeViet là một phần mềm mã nguồn mở,

do đó việc sử dụng hoàn toàn miễn phí, bạn có thể tải NukeViet về bất cứ lúc nào tại website chính thức của NukeViet là nukeviet.vn Bạn có thể cài NukeViet lên hosting để sử dụng hoặc cũng có thể thử nghiệm bằng cách cài ngay lên máy tính cá nhân NukeViet cho phép xây dựng một website động, đa chức năng, hiện đại một cách nhanh chóng mà người vận hành nó thậm chí không cần phải biết một tí gì về lập trình bởi tất cả các tác vụ quản lý phức tạp đều được tự động hóa ở mức cao NukeViet đặc biệt dễ dàng sử dụng vì hoàn toàn bằng tiếng Việt và được thiết kế phù hợp nhất với thói quen sử dụng mạng của người Việt Nam Bằng việc sử dụng các công nghệ web mới nhất hiện nay, thiết kế hệ thống uyển chuyển và sở hữu những tính năng độc đáo, NukeViet sẽ giúp bạn triển khai các ứng dụng web từ nhỏ đến lớn một cách nhanh chóng và tiết kiệm: từ các website cá nhân cho tới các cổng thông tin điện tử; từ các gian hàng trực tuyến cho tới các mạng xã hội NukeViet là CMS mã nguồn mở đầu tiên của Việt Nam có quá trình phát triển lâu dài nhất, có lượng người sử dụng đông nhất Hiện NukeViet cũng là một trong những mã nguồn

mở chuyên nghiệp đầu tiên của Việt Nam, cơ quan chủ quản của NukeViet là VINADES, JSC - đơn vị chịu trách nhiệm phát triển NukeViet và triển khai NukeViet thành các ứng dụng cụ thể cho doanh nghiệp

Nói tóm lại, nếu bạn cần xây dựng một website, dù là website cá nhân hay là một website ngân hàng, một đại công ty, một hệ thống bán hàng trực tuyến, một hệ thống viễn thông, một trường học online,…bạn hãy dùng NukeViet!.NukeViet!có thể làm được mọi thứ liên quan đến web

1.2.3.4 Một số nguyên tắc cơ bản trong việc xây dựng Website dạy học

Muốn đưa một Website trở thành phương tiện dạy học, khi xây dựng cần tuân theo một số nguyên tắc cơ bản sau:

 Đảm bảo tính sƣ phạm: Xây dựng Website dạy học trước tiên cần phải xuất

phát từ những ý đồ sư phạm đối với các hoạt động dạy học trên lớp, chứ không phải chỉ xuất phát từ khả năng của máy vi tính trong việc lưu trữ, xử lí và truy xuất thông tin Sự hấp dẫn người sử dụng khi truy cập các Website trên mạng là ở khả năng

Trang 22

21

trình diễn các thông tin Multimedia rất sinh động Tuy nhiên, nếu lạm dụng nó trong thiết kế thì có khi sẽ phản tác dụng trong dạy học Trình tự xuất hiện của các thông tin, sử dụng các hiệu ứng, các hình ảnh động, phim ảnh, màu sắc…đều phải được cân nhắc một cách kỹ lưỡng tuân theo những nguyên tắc sư phạm trong quá trình dạy học.Như vậy, muốn xây dựng Website cần phải xây dựng trước cấu trúc mang tính chất kịch bản cho quá trình trình diễn thông tin

 Đảm bảo tính hiệu quả: Các hoạt động dạy học rất đa dạng và phong phú

bao gồm cả những hoạt động chân tay và hoạt động trí óc Website với tư cách là một phần mềm, cùng với máy tính phải hỗ trợ được nhiều mặt trong quá trình dạy học Giải phóng người dạy thoát khỏi những lao động phổ thông để có nhiều thời gian đầu tư cho việc tổ chức, thiết kế, điều khiển, giám sát và điều chỉnh hoạt động nhận thức của người học Đồng thời phải tạo được những điều kiện tốt để hoạt động nhận thức của học sinh được diễn ra một cách tích cực, độc lập, chủ động và sáng tạo

 Đảm bảo tính mở và tính phổ dụng: Trong một Website thường có sự liên

kết của nhiều Site, mỗi một Site sẽ đảm nhận hỗ trợ một số chức năng nào đó Xây dựng cấu trúc của Website cũng tức là thực hiện việc phân nhóm các chức năng mà Website có thể hỗ trợ Đồng thời Website phải được viết dưới dạng một phần mềm công cụ để có thể sử dụng cho mọi môn học bất kỳ khi thay đổi cơ sở dữ liệu tương ứng

 Đảm bảo tính tối ƣu của cấu trúc cơ sở dữ liệu: Khi thiết kế một Website,

việc xây dựng cơ sở dữ liệu rất quan trọng Dự liệu ấy phải được cập nhập dễ dàng

và thuận lợi, yêu cầu kích thước lưu trữ phải tối thiểu, truy cập nhanh chóng khi cần, dễ dàng chia sẻ, dùng chung hay trao đổi giữa nhiều người dùng Đặc biệt với dạy học, cấu trúc cơ sở dữ liệu phải hướng tới việc hình thành những thư viện điện

tử trong tương lai, như thư viện các bài tập, đề thi; thư viện tranh ảnh, các phim học tập; thư viện các tài liệu giáo khoa,…Cùng với việc xây dựng Website, cần xây dựng các công cụ nhập dữ liệu một cách thuận tiện, đơn giản để mọi người có thể tham gia bổ sung dữ liệu

Trang 23

22

 Đảm bảo tính thân thiện trong sử dụng: Xu hướng xây dựng các phần

mềm hiện nay là chương trình phải có giao diện hết sức thân thiện đối với mọi người theo nghĩa dễ tìm hiểu, dễ tiếp cận, dễ thao tác, dễ sử dụng, tận dụng được các thói quen có sẵn Việc sử dụng quá nhiều phím chức năng, giao tiếp người máy qua nhiều menu, hộp thoại, trình bày thông tin ngược với những tư duy thông thường, sử dụng màu sắc, độ tương phản không phù hợp với tâm lí thị giác sẽ là những cản trở lớn đối với người sử dụng đến với Website

1.2.3.5 Vai trò của Website trong dạy học

Website có thể chứa một dung lượng lớn các kiểu dữ liệu khác nhau phục vụ đắc lực cho mọi chức năng của quá trình dạy học Sử dụng website dạy học mang lại các hiệu quả sau:

- Rèn luyện phương pháp tự học, tự nghiên cứu, tự tìm kiếm tri thức

- Làm tăng tính trực quan sinh động của bài giảng tạo kích thích hứng thú, phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh

- Là diễn đàn trao đổi thông tin của nhiều người

1.2.4 Website dạy học vật lý

1.2.4.1 Cơ sở lí luận của việc xây dựng Website trong dạy học vật lý

 Xây dựng trang Web đảm bảo trình độ xuất phát

Xây dựng trang Web giúp học sinh tái hiện những tri thức và tái tạo kỹ năng cần thiết Việc tái hiện hoặc tái tạo có thể thực hiện theo hai cách:

- Minh họa các hiện tượng vật lý, những câu hỏi để ôn tập những kỹ năng cần thiết một cách tường minh trước khi dạy nội dung bài mới Tái hiện hoặc tái tạo kiểu này gọi là tái hiện hoặc tái tạo tường minh

- Nêu và minh họa các hiện tượng vật lý ở những lúc thích hợp trong mối liên quan từng nội dung mới chứ không thành một pha tách biệt Tái hiện hoặc tái tạo kiểu này gọi là tái hiện hoặc tái tạo ẩn tàng

 Xây dựng trang Web hỗ trợ học sinh làm việc với nội dung mới

Các phần mềm mô phỏng, minh họa các hiện tượng vật lý, hình ảnh tĩnh, hình ảnh động, videoclip có tác dụng rất lớn cho học sinh khai thác và đi tìm nguồn tri

Trang 24

23

thức mới một cách chủ động và sáng tạo Phần này thể hiện rõ trong cách thiết kế site bài giảng điện tử

 Xây dựng trang Web cũng cố tri thức và kỹ năng

Việc cũng cố tri thức, kỹ năng một cách có định hướng và có hệ thống có một ý nghĩa to lớn trong dạy học

- Luyện tập: Xây dựng trang Web nhằm mục tiêu rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo của học sinh Khi xây dựng nội dung của site này cần phân bậc hoạt động nghĩa là cần xây dựng những mạch bài tập phân bậc để điều khiển quá trình dạy học phù hợp với các đối tượng học sinh

- Hệ thống hóa kiến thức: Nhằm vào việc so sánh, đối chiếu những tri thức đạt được, nghiên cứu những điểm giống nhau và khác nhau làm nỗi rõ những mối quan

hệ giữa chúng Nhờ đó mà người học đạt được không phải chỉ là những tri thức riêng lẻ mà là một hệ thống tri thức

- Đào sâu: Đào sâu trước hết nhằm vào việc phát hiện và giải quyết những vấn

đề liên quan đến những phương diện khác nhau, những khía cạnh khác nhau của tri thức Site câu hỏi sẽ có chức năng giúp học sinh bổ sung, mở rộng và hoàn chỉnh tri thức

 Xây dựng trang Web kiểm tra, đánh giá kiến thức, kỹ năng

Đây là ưu điểm lớn của Website Giáo viên xây dựng những câu trắc nghiệm để học sinh sử dụng vào mục đích kiểm tra kiến thức của mình ngay, sau bài học hoặc

ôn luyện sau từng phần, từng chương Chương trình sẽ tiến hành đánh giá và phản hồi kết quả, qua đó giúp học sinh tự đánh giá khả năng của mình và giáo viên có thể đánh giá năng lực của từng học sinh

1.2.4.2 Vai trò của Website trong dạy học vật lý

Sử dụng web để làm công cụ hỗ trợ hoạt động dạy của giáo viên

- Website dùng cho giáo viên dạy tại lớp học

- Website là nguồn tài liệu để giáo viên tham khảo và chia sẽ thông tin:

Với hệ thống bài học được thiết kế công phu, hỗ trợ cho giáo viên hướng dẫn học sinh làm việc với nội dung bài mới đạt hiệu quả cao

Trang 25

Sử dụng website để làm công cụ hỗ trợ hoạt động học tập của học sinh

Với Website đã xây dựng học sinh có thể tự học thông qua Web với một trình

tự đã được lập sẵn theo ý đồ thiết kế của giáo viên hoặc học sinh có thể tự học với nhịp độ phù hợp khả năng của mỗi cá nhân

Thông qua việc tự học trên website học sinh rèn luyện khả năng độc lập tự chủ trong học tập: tự nghiên cứu bài mới, tự ôn tập, tự cũng cố kiến thức, tự tìm kiếm thông tin trên mạng internet và đặc biệt là tự kiểm tra đánh giá một cách nhanh chóng và chính xác

1.3 Kết luận chương 1

Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học thì phương tiện dạy học đóng vai trò hết sức quan trọng Thiết kế và sử dụng Website dạy học trên cơ sở lí luận dạy học hiện đại là một hướng đi phù hợp với xu thế dạy học hiện đại ngày nay

Website dạy học phát huy vai trò của người thầy trong quá trình dạy học Thầy giáo phải lập kế hoạch cho những hoạt động của mình trước, trong và sau khi học sinh học tập Website dạy học sẽ tạo ra khả năng để giáo viên trình bày bài giảng sinh động hơn, dễ dàng cập nhập và thích nghi với sự thay đổi nhanh chóng của khoa học hiện đại

Wesite dạy học là công cụ hỗ trợ cho học sinh học tập theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh Học sinh có thể học trước, trong và sau bài dạy của giáo viên; có thể học ở nhà, ở trên phòng máy của trường, trên internet Có nghĩa là học mọi lúc, mọi nơi sao cho phù hợp với hoàn cảnh của từng học sinh Thông qua học tập bằng website học sinh được trải nghiệm với những ứng dụng của tin học , điều đó có tác dụng gợi động cơ cho việc học tập những nội dung tin học

Trang 26

25

Website dạy học vật lý với nguồn tri thức được khai thác từ internet giúp giáo viên và học sinh có cái nhìn rộng hơn về thế giới bên ngoài và bước đầu hình thành thói quen khai thác và sử dụng thông tin vô tận để tự học và học tập suốt đời

CHƯƠNG II: XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG WEBSITE HỖ TRỢ HOẠT ĐỘNG

TỰ GIẢI BÀI TẬP KHI HỌC CHƯƠNG “ĐỊNH LUẬT BẢO TOÀN” VẬT

LÝ 10 NÂNG CAO

2.1 Tổng quan về cấu trúc nội dung và kiến thức trong chương “Các định luật bảo toàn”

2.1.1 Cấu trúc nội dung chương các định luật bảo toàn vật lý 10

Số tiết phân phối chương trình trên một tuần đối với Vật Lý 10 nâng cao là 2,5 tiết/tuần, còn Vật Lý 10 cơ bản là 2 tiết/tuần Số tiết phân phối trong chương “Các định luật bảo toàn” đối với Vật lý 10 nâng cao là 13 tiết (trong đó 10 tiết lý thuyết, 3 tiết bài tập), còn Vật lý 10 cơ bản 10 tiết (trong đó 8 tiết lý thuyết, 2 tiết bài tập) Qua đó, ta thấy giữa chương trình Vật lý 10 nâng cao và 10 cơ bản về thời lượng chênh lệch với nhau không nhiều, nhưng có sự chênh lệch về yêu cầu Xét về mặt nội dung, ta thấy chương trình Vật Lý 10 nâng cao được yêu cầu cao hơn so với chương trình Vật lý 10 cơ bản về kiến thức cũng như kĩ năng Vì vậy, nội dung các bài học được giới thiệu trong website hỗ trợ cho việc tự học được xây dựng dựa theo chương trình Vật Lý 10 nâng cao, nhằm giúp học sinh phát huy được tính tích cực tự học của mình

Chương các định luật bảo toàn, HS được học thêm nhiều khái niệm mới và được

bổ sung những kiến thức sâu hơn, định lượng hơn so với chương trình THCS Đó là các khái niệm động lượng, công, công suất, động năng, thế năng, lực thế

Các định luật bảo toàn được trình bày trong chương này gồm định luật bảo toàn động lượng, định luật bảo toàn cơ năng Trong đó, bài “Thế năng Thế năng trọng trường” được học riêng sau bài “Động năng Định lý động năng” và bài mới là “ Thế năng đàn hồi” được phân bố học riêng, không giống bên chương trình cơ bản

Ở chương này, có một bài riêng về va chạm như một vận dụng của cả hai định luật

Trang 27

2.1.2 Mục tiêu dạy học của chương “Các định luật bảo toàn”

Trong dạy học, việc xác định mục tiêu dạy học của từng bộ môn nói chung và mục tiêu dạy học của từng chương, từng bài học nói riêng đóng vai trò rất quan trọng, nó quyết định hiệu quả của quá trình dạy học Việc làm rõ các mục tiêu dạy học ở chương “ các định luật bảo toàn” của SGK Vật Lý 10 sẽ giúp cho GV bộ môn Vật Lý xác định được mục tiêu dạy học; và nó cũng góp phần định hướng cho việc thiết kế website dạy học, hỗ trợ cho tự học dựa trên mã nguồn NukeViet được tốt hơn, phù hợp với mục tiêu dạy học

Vậy khi dạy học chương “ Các định luật bảo toàn” Vật Lý 10 nâng cao cần phải đạt được các mục tiêu sau:

* Về kiến thức:

- Viết được công thức tính động lượng và nêu được đơn vị đo động lượng

- Phát biểu và viết được hệ thức của định luật bảo toàn động lượng đối với hệ hai vật

- Nêu được nguyên tắc chuyển động bằng phản lực

- Phát biểu được định nghĩa và viết được công thức tính công

- Phát biểu được định nghĩa và viết được công thức tính động năng Nêu được đơn vị đo động năng

- Phát biểu được định nghĩa thế năng trọng trường của một vật và viết được công thức tính thế năng Nêu được đơn vị đo thế năng

- Viết được công thức tính thế năng đàn hồi

- Phát biểu được định nghĩa cơ năng và viết được công thức tính cơ năng

- Phát biểu được định luật bảo toàn cơ năng và viết được hệ thức của định luật này

Trang 28

- Sự hứng thú học tập môn Vật Lý, lòng yêu thích khoa học

- Ý thức sẵn sàng áp dụng những hiểu biết của mình vào những hoạt động trong gia đình và xã hội để cải thiện điều kiện sống và bảo vệ môi trường

- Tác phong làm việc khoa học, cẩn thận, tỉ mỉ

- Tính trung thực trong khoa học

- Tinh thần nỗ lực phấn đấu cá nhân, kết hợp chặt chẽ với tinh thần hợp tác trong học tập và nghiên cứu Ý thức tự học cũng như học hỏi người khác

2.1.3 Các bài trong chương “Định luật bảo toàn”

Bài 31: Định luật bảo toàn động lượng

Bài 32: Chuyển động bằng phản lực Bài tập về định luật bảo toàn động lượng Bài 33: Công và công suất

Bài 34: Động năng định lí động năng

Bài 35: Thế năng Thế năng trọng trường

Bài 36: Thế năng đàn hồi

Bài 37: Định luật bảo toàn cơ năng

Bài 38: Va chạm đàn hồi và không đàn hồi

Bài 39: Bài tập về định luật bảo toàn

Bài 40: Các định luật Kê-ple Chuyển động của vệ tinh

2.2 Thực trạng ứng dụng CNTT trong dạy học cũng như tự học Vật Lý 10 nâng cao

Trang 29

28

2.2.1 Mục đích khảo sát

Khảo sát nhằm đánh giá việc ứng dụng CNTT trong hỗ trợ dạy và học của chương “Các định luật bảo toàn” Vật lý 10 THPT Qua đó ta có các cơ sở để xây dựng website một cách hợp lí

2.2.2 Đối tượng khảo sát

Học sinh lớp 10 của 3 trường THPT

Trường THPT Lương Thế Vinh: 130 HS

Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền: 128 HS

Trường THPT Hoàng Hoa Thám: 131 HS

2.2.3 Nội dung khảo sát

Thực trạng ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học Vật lý 10 nâng cao Thực trạng về vấn đề tự học của học sinh THPT ở một số trường

Thực trạng ứng dụng CNTT trong hoạt động tự học Vật lý của HS THPT Những khó khăn mà HS gặp phải trong quá trình tự học, và những nguyện vọng của HS trong quá trình tự học

2.2.4 Phương pháp khảo sát

Sử dụng phiếu khảo sát để lấy ý kiến của một số HS với sự cho phép của BGH cũng như tổ trưởng bộ môn Vật lý tại trường THPT đó Đối với các trường THPT xa hơn có thể nhờ các thầy cô giáo cũ hoặc quen biết để các thầy cô giúp khảo sát

Trang 31

30

Đọc báo mạng 145 37,28 Chơi game trực tuyến 283 72,75

- Những khó khăn HS gặp phải trong quá trình học môn Vật Lý

Không biết cách tự học 168 43,18 Không có thời gian tự học 235 60,41 Hiểu phần lí thuyết nhưng không làm được bài tập 155 39,85 Làm được bài tập nhưng không nắm rõ được bản chất của

Có phần tổng hợp kiến thức cho chương 317 81,49

Có hướng dẫn rõ ràng cho phần bài tập SGK và SBT 323 83,03 Bài tập mẫu cho một số dạng bài tập của mỗi chương 279 71,72

Có người để hỏi bài khi gặp khó khăn 328 84,32

Trang 32

31

HS chưa phân bổ thời gian trong một ngày một cách hợp lí Ngày nay đã số nhà nào cũng có Internet, thế nhưng thời gian rãnh các em ít khi lên mạng tìm tòi các bài báo khoa học hay tham khảo các phương pháp học tập tích cực mà đa số các

em lên mạng để giải trí là chủ yếu, như các em lên mạng để lướt facebook xem tình hình của bạn bè, tỉ lệ HS lướt facebook là 100%, hay như tỉ lệ HS lên mạng để xem phim, nghe nhạc chiếm đến 67,35%, một số em thì hay lên mạng chơi game, hay có thể nói là các em nghiện game, tỉ lệ này cũng khá cao chiếm đến 53,98% và tập trung chủ yếu là các em nam

Một số HS thì làm được bài tập nhưng không hiếu được bản chất của bài học, lí do là các em đi học thêm, được các thầy cô dạy giải bài tập và trở thành phản

xạ, đôi lúc các em chỉ biết lấy công thức áp dụng, chứ không biết cách thiết lập cho

ra công thức hay phương trình Cũng tương tự một số em không có thời gian để tự học 60,41% vì các em đi học thêm quá nhiều, theo thực tế cho thấy có em đi học thêm 5 môn/1 tuần, mỗi môn từ 2-3 buổi/ 1 tuần, với cách học như trên thì còn đâu thời gian cho các em tự học

Các em chưa biết khai thác Internet trong học tập, các em chủ yếu lên mạng

để giải trí, nghe nhạc, chơi game,… chủ yếu là để giải trí, các em không biết làm việc theo nhóm, chủ yếu là học theo cách cá nhân, vì vậy lúc gặp khó khăn, bản thân một mình không giải quyết được thì thường đâm ra chán nản

Ngoài ra một số HS không tạo cho mình thói quen học tập mà chỉ khi nào gần kiểm tra các em mới lao vào học, các em học một cách đối phó, học hình thức

vì vậy sau khi kiểm tra hoặc thi xong thì phần kiến thức cũ đó các em quên ngay Hay một số HS có ý thức tự học nhưng lúc gặp khó khăn lại không có ai để hỏi dẫn đến chán nản và việc tự học không duy trì được

2.3 Xây dựng website học tập cho chương “Định luật bảo toàn” dựa trên mã nguồn mở NukeViet

2.3.1 Tổng quan về phần mềm NukeViet

Từ lâu, tạo web đã trở thành sở thích, niềm đam mê của nhiều người Cùng với

sự phát triển phong phú của phần mềm thiết kế web, sự giảm giá đồng loạt của dịch

Trang 33

NukeViet là một phần mềm mã nguồn mở, do đó việc sử dụng hoàn toàn miễn phí, bạn có thể tải NukeViet về bất cứ lúc nào tại website chính thức của NukeViet

là nukeviet.vn Bạn có thể cài NukeViet lên hosting để sử dụng hoặc cũng có thể thử nghiệm bằng cách cài lên máy tính cá nhân

NukeViet cho phép xây dựng một website động, đa chức năng, hiện đại một cách nhanh chóng mà người vận hành nó thậm chí không cần phải biết một tí gì về lập trình bởi tất cả các tác vụ quản lý đều được tự động hóa ở mức cao NukeViet đặc biệt dễ dàng sử dụng vì hoàn toàn bằng tiếng Việt và được thiết kế phù hợp nhất với thói quen sử dụng mạng của người Việt Nam NukeViet là CMS mã nguồn mở đầu tiên của Việt Nam có quá trình phát triển lâu dài nhất, có lượng người sử dụng đông nhất Hiện NukeViet cũng là một trong những mã nguồn mở chuyên nghiệp đầu tiên của Việt Nam, cơ quan chủ quản của NukeViet là VINADES.,JSC – đơn vị chịu trách nhiệm phát triển NukeViet và triển khai NukeViet thành các ứng dụng cụ thể cho doanh nghiệp

NukeViet 3.0 là thế hệ CMS hoàn toàn mới do người Việt phát triển Đúc kết từ NukeViet 2.0 NukeViet 3.0 được viết mới hoàn toàn trên nền tảng kĩ thuật tiên tiến nhất hiện nay cho phép xây dựng các nền tảng ứng dụng trực tuyến lớn như các cổng thông tin điện tử, các tòa soạn báo điện tử, các mạng xã hội và các hệ thống trực tuyến mà vẫn giữ được các ưu điểm : nhanh, nhẹ và dễ vận hành

NukeViet 3.0 lấy người sử dụng làm trọng tâm, những tính năng của NukeViet tạo nên chuẩn mực trong việc sử dụng và quản trị Vì thế, NukeViet 3.0 tốt cho cả người sử dụng lẫn người phát triển Với người sử dụng cá nhân, NukeViet 3.0 cho phép tùy biến dễ dàng và sử dụng ngay mà không cần can thiệp vào hệ thống Với

Trang 34

Bước 2 : Kiểm tra việc CHMOD

Hình 1.2 : Kiểm tra việc CHMOD

Trang 35

34

Nếu tất cả các thông số đều đạt yêu cầu như hình 2, bạn có thể chuyển qua bước

kế tiếp bằng cách nhấn nút “ Bước tiếp theo”

Nếu xảy ra lỗi ( hình 3), hệ thống sẽ yêu cầu bạn phải CHMOD lại thư mục hoặc tập tin cần thiết Bạn cũng có thể điền thông tin tài khoản FPT máy chủ của bạn vào

ô “ Cấu hình FPT” nếu máy chủ của bạn hỗ trợ việc CHMOD thông qua PHP thì hệ thống sẽ tự động CHMOD những thư mục và tập tin cần thiết sau khi bạn điền đầy

đủ thông tin cấu hình FTP và nhấn nút “ Bước thực hiện” Còn không, bạn cũng sẽ phải tự CHMOD bằng tay

Hình 1.3 : Lỗi không ghi được ở Forder Sau khi hoàn thành quá trình CHMOD bạn có thể nhấn nút “ Bước kế tiếp” để chuyển qua bước tiếp theo

Bước 3 : Bản quyền

Hình 1.4 : Thông báo về bản quyền

Trang 36

35

Phần mềm sẽ hiển thị thông tin bản quyền về phần mềm nguồn mở theo giấy phép GNU/GPL và giải thích các điều khoản bạn được phép và không được phép Bạn nhấn nút bước kế tiếp để chuyển sang bước tiếp theo

Bước 4: Kiểm tra máy chủ

Để hệ thống NukeViet3.0 có thể chạy được thì yêu cầu máy chủ bắt buộc phải trợ Phiên bản PHP từ 52.0 và MySOL 5.02 trở lên Nếu hai điều kiện này không thỏa mãn thì quá trình cài đặt không thể tiếp tục Ngoài ra hệ thống còn đưa ra những khuyến cáo về những tính năng khác của máy chủ Nếu những yêu cầu không thỏa mãn bạn vẫn có thể cài đặt NukeViet nhưng hệ thống sẽ mất đi một số chức năng tiện ích

Khi các yêu cầu thỏa đáng bạn nhấn vào nút “ Bước kế tiếp”

Hình 1.5 : Kiểm tra môi trường máy chủ

Bước 5 : Cấu hình cơ sở dữ liệu

Hình 1.6 : Cấu hình cơ sở dữ liệu

Trang 37

36

Bạn phải điền đầy đủ các thông tin về thông số database của bạn sau đó nhấn

vào nút “Thực hiện” Thông số Username và mật khẩu do phần mềm AppServ

quản lý

Nếu hệ thống nhập sai sẽ thông báo lỗi và không hiển thị nút “Bước kế tiếp” để

bạn có thể tiếp tục quá trình cài đặt Khi bạn điền chính xác thông tin và việc kết nối tới cơ sở dữ liệu thành công, hệ thống sẽ chuyển bạn sang bước kế tiếp

Bước 6 : Thông tin website

Hình 1.7 : Khai báo thông tin website

Ở bước này các bạn phải điền đầy đủ thông tin vào những ô được đánh dấu(*), bên cạnh là cột ghi chú giúp bạn có thể hiểu rõ hơn quá trình nhập thông tin Sau khi nhập xong thông tin bạn nhấn nút “Thực hiện” để hoàn tất

Bước 7 : Kết thúc

Hình 1.8 : Thông báo cài đặt thành công

Trang 38

2.3.3 Nội dung cơ bản của website học tập cho chương “Động học chất điểm” dựa trên mã nguồn mở NukeViet

Website học tập cho chương “Động học chất điểm” dựa trên mã nguồn mở NukeViet được xây dựng gồm có các nội dung chính sau:

* Trang nhất: khi vào mục này ta sẽ có giao diện chính của website

* Giới thiệu: cho ta một số thông tin về trường ĐH Sư Phạm, khoa Vật Lý cũng như mã nguồn NukeViet

* Tài nguyên: vào mục này ta sẽ có 4 mục nhỏ sau:

- Tin tức: cập nhật các thông tin về các ngành khoa học

- Phân dạng bài tập: phân loại bài tập cho chương “ Định luật bảo toàn”

- Tóm tắt nội dung chương: tóm tắt nội dung chương “Định luật bảo toàn”

- Vật lý vui: các hình ảnh, câu chuyện vui về Vật Lý

- Sách giáo khoa, giáo án: SGK vật lý và các bài giáo án của chương định luật bảo toàn

* Thành viên: vào mục này ta sẽ có 2 mục nhỏ sau

+ Danh sách thành viên: thông tin về các thành viên như họ và tên, giới tính, mail,…

+ Đổi mật khẩu: cho phép thành viên thay đổi mật khẩu của mình

* Liên hệ: cho phép mọi người gửi thư đến quản lí của website kèm theo một

số thông tin như họ tên người gửi, mail của người gửi, điện thoại liên hệ,…

* Thống kê: số lượng người truy cập hằng ngày, hằng tháng,…

* Nhà khoa học: giới thiệu cho ta về một số nhà khoa học Vật Lý

* Học trực tuyến: các bài học trực tuyến của chương “Định luật bảo toàn”

* Đề kiểm tra: các đề kiểm tra 15 phút, 1 tiết, đề kiểm tra học kì,…

Trang 39

KT trực tuyến Phần bên trái chứa các liên kết với các trang website về Vật Lý khác như thư viện Vật Lý, thư viện Violet, phần đăng nhập…Bên phải có chứa các bài mới nhất của phần tin tức, bảng tra cứu hằng số Vật Lý và giới thiệu một số nhà Vật

Lý học trên thế giới

- Giới thiệu

Phần giới thiệu sẽ cho ta biết một số thông tin về Đại Học Sư phạm Đà Nẵng, nhiệm vụ của trang website tự học Vật Lý, về mã nguồn Nuke Viet,… phần này ngoài việc cung cấp cho HS một số thông tin về trường ĐH Sư phạm Đà Nẵng

nó còn cung cấp nội dung chính của trang website đó là hỗ trợ chủ yếu cho chương

“Định luật bảo toàn” Vật Lý 10 nâng cao

- Tài nguyên

Trang 40

39

Đây là một trong những nội dung chính của trang website, khi vào phần tài nguyên ta thấy có dấu mũi tên, khi để con chuột vào phần này ta thấy sẽ có 4 phần nhở đó là: tin tức, Vật Lý vui, sách giáo khoa và giáo án, phân loại bài tập

+ Với phần tin tức cung cấp cho chúng ta các tin tức khoa học trong ngày, tin tức khoa học này không chỉ chuyển ngành Vật Lý mà bao gồm tất cả các ngành khoa học khác nhau, cung cấp cho HS các tri thức mới về khoa học, tạo nên lòng đam mê khoa học cho HS và cung cấp cho HS các tri thức mới về khoa học để kiến thức không bị lạc hậu lỗi thời

+ Với phần tóm tắt nội dung chương ta có nội dung của hai chương là “Định luật bảo toàn” và “ Động học chất điểm” bảo gồm các khái niệm và các công thức chính của chương

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w