Các phương tiện dạy học hiện đại có ứng dụng công nghệ thông tin với những ưu thế vượt trội đã tạo ra được hiệu quả tích cực cho quá trình dạy học, chỉ thị 29/2001/CT-BGD &ĐT của Bộ trưở
Trang 1SỰ HỖ TRỢ CỦA PHẦN MỀM ADOBE PRESENTER
Sinh viên thực hiện : VÕ THỊ THU HOA
Trang 2Lời đầu tiên, em xin chân thành gửi lời cảm ơn đến tất cả các thầy cô giáo trong khoa Vật lý – trường Đại học Sư Phạm, Đại học Đà Nẵng trong 4 năm qua đã quan tâm, tạo mọi điều kiện giúp đỡ cho em
về mặt kiến thức cũng như các hoạt động khác Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo Phó giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Bảo Hoàng Thanh thời gian qua đã tận tình hướng dẫn em, giúp đỡ và động viên em rất nhiều để em hoàn thành được luận văn này
Bên cạnh đó, em cũng xin chân thành cảm ơn tới sự động viên, khích lệ của gia đình và bạn bè, những người đã luôn sát cánh bên em trong quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Mặc dù đã cố gắng hoàn thành bản luận văn trong phạm vi và khả năng cho phép nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi thiếu sót, kính mong sự chỉ bảo tận tình, góp ý của quý thầy cô giáo và các bạn
Đà Nẵng, ngày 18 tháng 5 năm 2014
SVTH : Võ Thị Thu Hoa
Trang 4MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 6
2 Mục tiêu của đề tài 8
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 8
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
5 Giả thuyết khoa học 8
6 Phương pháp nghiên cứu đề tài 9
7 Đóng góp luận văn 9
8 Cấu trúc và nội dung của luận văn 9
B NỘI DUNG 11
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E-LEARNING ĐỐI VỚI DẠY VÀ HỌC TRỰC TUYẾN MÔN VẬT LÍ 11
1 Sự ra đời của E-Learning 11
2 Cơ sở lý luận của việc tổ chức dạy học E-Learning môn vật lí 12
2.1 Khái niệm E-Learning 13
2.2 Vai trò của E-Learning theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh 14
2.3 Thực trạng việc dạy và học môn Vật lí ở nhà trường phổ thông 16
3 Bài giảng E-Learning 17
3.1 Khái niệm bài giảng E-Learning 17
3.2 Đặc điểm bài giảng E-Learning 18
3.3 Tiêu chuẩn thiết kế bài giảng E-Learning 19
3.4 Các tiêu chí đánh giá bài giảng E-Learning 21
3.4.1 Mục tiêu chính của việc xây dựng các bài giảng điện tử: 21
3.4.2 Kĩ năng trình bày: 21
3.4.3 Kĩ năng thuyết trình: 21
3.4.4 Kĩ năng Multimedia: 21
3.4.4 Soạn các câu hỏi: 22
3.4.5 Có nguồn tư liệu phong phú liên quan đến bài học: 22
3.5 Bài giảng E-Learning trong việc dạy học môn Vật lí THPT 22
Trang 5CHƯƠNG II: THIẾT KẾ BÀI GIẢNG E-LEARNING VỚI SỰ HỔ TRỢ CỦA PHẦN MỀM ADOBE PRESENTER TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG “TỪ
TRƯỜNG”, VẬT LÍ 11 NÂNG CAO 24
1 Khai thác và sử dụng phần mềm Adobe Presenter trong việc hỗ trợ xây dựng bài giảng E-Learning đối với dạy và học chương “Từ trường”, Vật lí 11 nâng cao 24
1.1 Giới thiệu 24
1.2 Công cụ của Adobe Presenter 25
1.3 Tiềm năng của phần mềm Adobe Presenter 26
1.4 Các bước để sử dụng Adobe Presenter 26
1.5 Hướng dẫn sử dụng phần mềm Adobe Presenter 27
1.5.1 Thiết lập ban đầu cho bài giảng E-Learning 27
1.5.2 Xuất bản sản phẩm 28
1.5.3 Tạo câu hỏi trắc nghiệm, tương tác, vấn đáp (quizze) 28
1.5.4 Cài đặt kết quả hiển thị 36
1.5.5 Việt hóa các thông báo, nút lệnh trong bài trình chiếu 37
1.5.6 Chèn multimedia: Tìm một file âm thanh có đuôi wav hoặc mp3 37
1.6 Ứng dụng phần mềm Adobe Presenter vào bài giảng E-Learning trong việc dạy học môn Vật lí THPT 37
2 Nội dung của chương Từ trường, chương trình Vật lí 11 nâng cao 38
2.1 Cấu trúc của chương từ trường 39
2.2 Mục tiêu của chương Từ trường: 40
3 Quá trình thiết kế bài giảng E-Learning trong chương “ Từ trường”, Vật lí 11 nâng cao với sự hỗ trợ của phần mềm Adobe Presenter 41
3.1 Bài 26: TỪ TRƯỜNG 41
3.1.1 Mục tiêu : 41
3.1.2 Chuẩn bị 42
3.1.3 Lập sơ đồ kiến thức của bài học 42
3.1.4 Kịch bản xây dựng bài dạy trên Microsoft Word 45
3.1.5 Nội dung bài giảng với sự hỗ trợ phần mềm Adobe Presenter 54
3.2 Thiết kế bài “Từ trường của một số dòng điện có dạng đơn giản” 68
Trang 63.2.1 Mục tiêu 68
3.2.2 Chuẩn bị 68
3.2.3 Sơ đồ kiến thức bài học 69
3.2.4 Viết kịch bản xây dựng bài dạy trên Microsoft Word 71
3.2.5 Nội dung bài giảng với sự hỗ trợ phần mềm Adobe Presenter 80
C KẾT LUẬN 92
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 7A MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và các phương tiện truyền thông, đặc biệt Internet đã mang lại nhiều chuyển biến cho tất cả các lĩnh vực xã hội Nền kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn kinh tế tri thức, do đó trên thế giới hiện nay việc nâng cao chất lượng nền giáo dục đào tạo cũng được quan tâm đầu tư phát triển mạnh mẽ Mặt khác, giới trẻ ngày nay cũng được tạo điều kiện rất nhiều trong việc tiếp cận các thành tựu khoa học công nghệ
Vì vậy, để nhanh chóng hòa nhập xu thế phát triển chung của thế giới, cũng như đáp ứng các yêu cầu thách thức đã và đang đặt ra hiện nay thì đòi hỏi giáo dục nước ta phải có sự thay đổi trong phương pháp dạy và nâng cao chất lượng dạy và học
Nghị quyết Đại hội XI của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã định hướng phát
triển giáo dục và đào tạo 5 năm 2011-2015: “Phát triển giáo dục là quốc sách
hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, Đổi mới mạnh
mẽ nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp, bậc học”
Trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học thì cần có sự thay đổi trong phương tiện dạy học Các phương tiện dạy học hiện đại có ứng dụng công nghệ thông tin với những ưu thế vượt trội đã tạo ra được hiệu quả tích cực cho quá trình
dạy học, chỉ thị 29/2001/CT-BGD &ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục ghi rõ: “ Đối
với GD&ĐT, CNTT có tác dụng mạnh mẽ làm thay đổi nội dung, phương pháp, phương thức dạy và học Công nghệ thông tin là phương tiện để tiến tới một "xã hội học tập" Trên cơ sở đó, chỉ thị 22/2005/CT-BGDĐT, nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động của nhà trường, nhất là ứng dụng trong giảng dạy, học tập
và quản lý giáo dục; đẩy mạnh chương trình dạy ngoại ngữ và tin học trong các
cơ sở giáo dục, đặc biệt là ở các cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông.”
Với thời buổi công nghệ thông tin bùng nổ thì hiện nay có rất nhiều các phần mềm được ứng dụng, sử dụng để thiết kế bài giảng điện tử như Violet, Lecture
Trang 8maker, Adobe captivate, Ispring, Adobe Presenter Mỗi phần mềm đều có những
ưu điểm và thế mạnh riêng, dựa vào từng ưu điểm và thế mạnh của nó mà người ta
đã ứng dụng thích hợp các phần mềm đó vào việc thiết kế bài giảng điện tử
E-Learning thuộc mô hình giáo dục “tri thức”, là mô hình giáo dục hiện đại nhất Mô hình này đã tạo ra những yếu tố thay đổi sâu sắc trong giáo dục: yếu tố thời gian và không gian sẽ không bị ràng buộc chặt chẽ Người học có thể học bất
cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, với bất cứ ai, học những vấn đề bản thân quan tâm, phù hợp với năng lực và sở thích, phù hợp với yêu cầu công việc… mà chỉ cần có phương tiện là máy tính và mạng Internet Phương thức học tập này mang tính tương tác cao, sẽ hỗ trợ bổ sung cho các phương thức đào tạo truyền thống góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy
Learning đang là xu thế chung của giáo dục thế giới Việc triển khai Learning trong giáo dục đào tạo là hướng đi tất yếu nhằm đưa giáo dục Việt Nam tiếp cận nền giáo dục thế giới
E-Đối với môn Vật lí nói riêng, là một môn khoa học thực nghiệm, những hình ảnh, lý thuyết trong SGK chưa thể hiện hết bản chất hiện tượng vật lý, và chưa thể phát huy được tính tích cực, tư duy, sáng tạo của học sinh Chương “Từ trường” là một chương của phần Điện học Điện từ học của Vật lí 11 nâng cao nghiên cứu về phương, chiều, độ lớn của lực từ và xác định chiều của các đường sức từ trong các trường hợp Kiến thức chương “Từ trường” khá là trừu tượng đối với học sinh và trong chương này có nhiều hiện tượng, khái niệm vật lí, thí nghiệm rất khó thể hiện cho học sinh thấy rõ ràng nếu sử dụng phương pháp dạy truyền thống Khắc phục tình trạng này chúng ta có thể sử dụng phần mềm mô phỏng thí nghiệm ảo trên máy tính cung cấp Với sự hỗ trợ của phần mềm Adobe Presenter, giáo viên
có thể tạo được các bài giảng trực tiếp sinh động có tính tương tác cao hơn, giúp cho người học trực tuyến có thể chủ động hơn trong quá trình tiếp thu kiến thức, phát huy tính tự học tích cực của người học Và phần mềm còn xây dựng được một hệ thống câu hỏi trắc nghiệm, tương tác, vấn đáp, phong phú giúp học sinh cũng cố kiến thức
Trang 9Từ những điều trên, tôi chọn đề tài: “Thiết kế bài giảng điện tử E-Learning trong dạy học chương Từ trường, Vật lí 11 nâng cao với sự hỗ trợ của phần mềm Adobe Presenter”
2 Mục tiêu của đề tài
- Bổ sung cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về việc dạy và học trực tuyến trong dạy và học bộ môn Vật lí ở trường THPT
- Nhằm nâng cao hiệu quả dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động tìm tòi, tự học của học sinh
- Thiết kế được bài giảng điện tử với sự hỗ trợ của phần mềm Adobe Presenter chương Từ trường, Vật lí 11 nâng cao
- Biên soạn được tài liệu hướng dẫn sử dụng bài giảng điện tử trong việc dạy
và học trực tuyến chương Từ trường, Vật lí 11 nâng cao
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Chương trình E-Learning chương “Từ trường”,
Vật lí 11 nâng cao
3.2 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu khai thác và sử dụng phần mềm Adobe
Presenter trong việc dạy và học trực tuyến chương “Từ trường”, Vật lí 11 nâng cao
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về E-Learning và về đổi mới phương pháp dạy học
- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn về việc dạy và học trực tuyến trong dạy và học
5 Giả thuyết khoa học
Nếu sử dụng kết hợp E-learning với phương pháp dạy học truyền thống một cách có hiệu quả sẽ giúp học sinh tiếp cận với phương pháp học tập hiện đại, góp phần nâng cao chất lượng học tập môn Vật lí ở trường THPT
Trang 106 Phương pháp nghiên cứu đề tài
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Nghiên cứu văn kiện của Đảng, Nhà nước và Bộ giáo dục, Luật Giáo dục
về việc nâng cao chất lượng dạy và học
- Nghiên cứu về lí luận dạy học dựa trên CNTT và TT, nghiên cứu tài liệu
về thách thức, phương pháp xây dựng chương trình E-Learning
- Nghiên cứu các luận văn có liên quan đến đề tài nghiên cứu, phương pháp
dạy học Vật lí,
- Nghiên cứu nội dung, chương trình SGK chương “Từ trường”, Vật lí 11
nâng cao
6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra: phiếu điều tra thăm dò, đàm thoại, phỏng vấn
7 Đóng góp luận văn
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc khai thác và sử dụng phần mềm Adobe
Presenter trong việc trợ xây dựng bài giảng điện tử đối với dạy và học trực tuyến môn Vật lí
- Xây dựng được các bài giảng E-Learning đối với dạy và học trực tuyến
chương “Từ trường”, Vật lí 11 nâng cao Cung cấp thêm các tài liệu hữu ích cho việc dạy và học trực tuyến hiện nay
- Rút ra những ưu khuyết điểm trong quá trình xây dựng bài giảng E-Learing
bằng MS Powerpoint kết hợp với phần mềm hỗ trợ Adobe Presenter Từ đó góp ý những thiếu sót để hoàn chỉnh và làm phong phú thêm cho phương pháp dạy học E-Learning
8 Cấu trúc và nội dung của luận văn
- Phần mở đầu
- Phần nội dung
+ Chương I : Cơ sở lý luận của việc xây dựng bài giảng E-Learning đối với
dạy học trực tuyến môn Vật lí
+ Chương II : Thiết kế bài giảng E-Learning với sự hỗ trợ của phần mềm
Adobe Presenter trong dạy học chương “Từ trường”, Vật lí 11 nâng cao
Trang 11- Phần kết luận
- Tài liệu tham khảo
- Mục lục
Trang 12A NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG BÀI GIẢNG E- LEARNING ĐỐI VỚI DẠY VÀ HỌC TRỰC TUYẾN MÔN VẬT LÍ
1 Sự ra đời của E-Learning
E-Learning chia làm 4 giai đoạn như sau:
Trước năm 1983: Kỷ nguyên GV làm trung tâm Trước khi máy tính được sử dụng rộng rãi, quan điểm giáo dục “Lấy GV làm trung tâm” là phương pháp phổ biến nhất trong các trường học Học sinh chỉ
có thể trao đổi tập trung quanh GV và các bạn học
Giai đoạn 1984-1993: Kỷ nguyên đa phương tiện
Hệ điều hành Windows 3.1, máy tính Macintosh, phần mềm trình diễn Powerpoint đây là các công nghệ cơ bản trong kỷ nguyên đa phương tiện Nó cho phép tạo ra các bài giảng tích hợp hình ảnh và âm thanh học trên máy tính T phân phối qua đĩa CD-ROM hoặc đĩa mềm vào bất kỳ thời gian nào, ở đâu, người học cũng có thể mua và học Tuy nhiên sự hướng dẫn của giáo viên là rất hạn chế
Giai đoạn 1994-1999: Làn sóng E-Learning thứ nhất Khi công nghệ Web được phát minh ra, các nhà cung cấp dịch vụ đào tạo bắt đầu nghiên cứu cách thức cải tiếp phương pháp giáo dục bằng công nghệ này Người thầy thông thái đã dần lộ rõ thông qua các phương tiện: E- mail qua Intranet với text và hình ảnh đơn giản, đào tạo bằng công nghệ web với hình ảnh chuyển động tốc độ thấp đã được triển khai trên diện rộng
Giai đoạn 2000-2005: Làn sóng E-learning thứ hai Các công nghệ tiên tiến bao gồm Java và các ứng dụng mạng IP, công nghệ truy nhập mạng và bằng thông tin Internet được nâng cao, các công nghệ thiết
kế web tiên tiến đã trở thành một cuộc cách mạng trong giáo dục đào tạo Ngày nay, thông qua web giáo viên có thể kết hợp hướng dẫn trực tuyến (hình ảnh, âm thanh, các công cụ trình diễn) tới mọi người học, nâng cao hơn chất lượng dịch
vụ đào tạo Ngày qua ngày công nghệ web đã chứng tỏ có khả năng mang lại hiệu quả cao trong giáo dục đào tạo, cho phép đa dạng hoá các môi trường học tập Tất cả những điều đó tạo ra một cuộc cách mạng trong đào tạo với giá
Trang 13thành rẻ, chất lượng và hiệu quả Đó chính là làn sóng thứ hai của E-learning
2 Cơ sở lý luận của việc tổ chức dạy học E-Learning môn vật lí
Việc nâng cao hiệu quả, chất lượng giáo dục đào tạo là một trong những nhân tố quyết định sự tồn tại, phát triển của đất nước và cá nhân E-Learning sẽ là một phương thức dạy và học rất phù hợp trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu xã hội Mô hình này đã tạo ra những yếu tố thay đổi sâu sắc trong giáo dục, yếu tố thời gian và không gian sẽ không còn bị ràng buộc chặt chẽ, người học tham gia học tập mà không cần đến trường Sự chuyển giao tri thức không còn chiếm vị trí hàng đầu của giáo dục, người học phải học cách truy tìm thông tin bản thân cần, đánh giá và xử lí thông tin để biến thành tri thức qua giao tiếp
Thuật ngữ E-Learing đã trở nên quen thuộc trên thế giới trong một vài thập
kỉ gần đây Cùng với sự phát triển của tin học và truyền thông, các phương thức giáo dục ngày càng được cải tiến nâng cao chất lượng, tiết kiệm thời gian và tiền bạc cho người học Ngay từ khi mới ra đời, E-Learning đã xâm nhập vào hầu hết các hoạt động huấn luyện và đào tạo của các nước trên thế giới, được chứng minh qua sự thành công của hệ thống giáo dục hiện đại có sử dụng phương pháp E-Learning của nhiều quốc gia như Mĩ, Anh, Nhật…
Hiện nay, E-Learning phát triển không đồng đều tại các khu vực trên thế giới Phát triển mạnh nhất ở khu vực Bắc Mỹ, ở châu Âu E-Learning cũng rất có triển vọng, trong khi đó châu Á lại là khu vực ứng dụng công nghệ này còn nhiều bất cập
Trong hai năm 2003-2004, việc nghiên cứu E-Learning ở Việt Nam đã được nhiều đơn vị quan tâm hơn Gần đây các hội nghị, hội thảo về công nghệ thông tin và giáo dục đều có đề cập nhiều đến vấn đề E-Learning và khả năng áp dụng vào môi trường đào tạo ở Việt Nam như: Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 2/2003; Hội thảo khoa học quốc gia lần II về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 9/2004 và Hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-Learning” do Viện Công nghệ - Thông tin (Đại
Trang 14học Quốc gia Hà Nội) và Khoa Công nghệ - Thông tin (Đại học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là Hội thảo khoa học về E-Learning đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam
2.1 Khái niệm E-Learning
E-Learning (Electronic learning: Học điện tử) là:
Hiện nay, theo các quan điểm và dưới các hình thức khác nhau có rất nhiều cách hiểu về E-Learning
Hiểu theo nghĩa rộng, E-Learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là công nghệ thông tin
Theo quan điểm hiện đại, E-Learning là sự phân phát các nội dung học sử dụng các công cụ điện tử hiện đại như máy tính, mạng vệ tinh, mạng Internet, Intranet,… trong đó nội dung học có thể thu được từ các website, đĩa CD, băng video, audio… thông qua một máy tính hay tivi; người dạy và người học có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức như: thư điện tử, thảo luận trực tuyến, diễn đàn, hội thảo, video…
Tóm lại E-Learning được hiểu một cách chung nhất là quá trình học thông qua các phương tiện điện tử Ngày nay với sự hội tụ của máy tính và truyền thông E-Learning được hiểu một cách trực tiếp hơn là quá trình học thông qua mạng internet và công nghệ web
Tuy các định nghĩa về Learning có khác nhau, nhưng nói chung Learning đều có những điểm chung sau:
+ Dựa trên CNTT & TT: Cụ thể là công nghệ mạng kĩ thuật đồ họa, kĩ thuật mô phỏng, công nghệ tính toán…
+ E-Learning bổ sung rất tốt cho phương pháp học truyền thống do tính tương tác cao dựa trên multimedia, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin
dễ dàng hơn, và cũng đưa ra những nội dung học tập phù hợp với khả năng và sở thích của từng người
Trang 152.2 Vai trò của E-Learning theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh
Lấy người học làm trung tâm
Với hình thức tổ chức dạy học truyền thống có những hạn chế của dạy học lấy người thầy làm trung tâm Trong thời gian gần đây, các giáo viên đã có nhiều nỗ lực nhằm vượt qua những hạn chế này trong hình thức dạy học trực diện (hoạt động theo nhóm nhỏ, diễn kịch .) nhưng hiệu quả vẫn chưa cao và giáo viên vẫn là người có vai trò chủ đạo Tuy vậy, trong E-Learning giáo viên thường là người chủ động lui về phía sau, người học được yêu cầu tự học và hơn nữa là học theo cặp, nhóm và học từ bạn cùng nhóm Trong các cuộc trao đổi nhóm và trên các diễn đàn, người học có cơ hội để giải thích, lập luận, chia
sẻ, nhận xét, phê bình và chính mình tham gia tự sáng tạo các nội dung sư phạm với một cách thức khó thấy được trong lớp học truyền thống
Tương tác và hỗ trợ theo nhu cầu
Trong môn học trực tuyến, có khi chỉ cần nhấp chuột là đã gửi được lời đề nghị giúp đỡ Giáo viên có thể cung cấp nhiều công cụ học tập tương tác khác nhau (bài tập có phản hồi tức thời, trình chiếu Powerpoint, các phương tiện
Điều quan trọng nữa là các hệ thống trực tuyến có khả năng cung cấp nhiều dịch vụ tiện lợi khác cho học sinh như đăng kí, các tài liệu hướng dẫn hỗ trợ, truy cập cơ sở dữ liệu …
Đáp ứng và phản hồi tức thời
Dù không có sự tiếp xúc cơ học với giáo viên, học sinh trực tuyến vẫn có khả năng tiếp cận với giáo viên cao hơn Trong lớp học truyền thống, học sinh ít khi dồn đến hỏi hay thắc mắc với giáo viên và chờ đợi những câu trả lời vừa ý nhưng trong học trực tuyến thì có thể hỏi vô số vấn đề qua điện thư hay diễn đàn,
Trang 16tạo nên một cách đối thoại hiệu quả
Thảo luận tương tác cao độ
Trong lớp học trực diện, việc trao đổi thảo luận thường chỉ giới hạn giữa giáo viên và một vài học sinh có tính hướng ngoại cao
Trong các môi trường trao đổi trực tuyến, các diễn đàn và phòng chat
mở rộng biên độ của các cuộc thảo luận này, kể cả về cường độ, chất lượng và độ sâu Khi mở một diễn đàn, tất cả người học đều được tham gia hết mức có thể và bao nhiêu lần tùy ý
Rất nhiều học sinh đã cho biết rằng trong học tập trực diện học sinh chưa bao giờ có được nhiều cơ hội để phát biểu như vậy Giáo viên thì đánh giá cao cả chất lượng lẫn tính độc đáo của những học sinh hướng nội vốn im lặng trong hầu hết các lớp học trực diện Người ta cũng đã nhận thấy cách thức trao đổi khuyết danh đã cho phép những học sinh “bên lề” như phụ nữ, người khuyết tật, người nước ngoài cất lên tiếng nói của mình như thế nào Trên các diễn đàn trực tuyến, những người này hoàn toàn thoát khỏi những dấu ấn hình thức vốn hay khiến họ bị lâm vào trạng thái ức chế…
Tính mềm dẻo cao
Học tập trực tuyến mở ra cơ hội cho mỗi người, giúp họ có thể bố trí thời gian học sao cho phù hợp với thời gian biểu vốn đã quá bận rộn với những việc không thuộc về trường lớp
Chuẩn bị cho quá trình học tập suốt đời
Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của người dạy học đó là khắc sâu tinh thần tự học cho học sinh Điều đó sẽ giúp họ tự chủ trong quá trình tìm kiếm, đánh giá và khai thác những thông tin mới mẻ theo nhu cầu của mình
E-Learning tạo điều kiện cho tính tự chủ phát huy, thúc đẩy động cơ tự thân nhằm học tập suốt đời và có thể tạo nên một nền tảng vững chắc để giúp họ nâng cao tinh thần đó cũng như là duy trì quá trình tự học
Sáng tạo nội dung sư phạm phong phú
CNTT cho phép đưa lên mạng nhiều loại tài liệu giảng dạy khác nhau, rất phong phú và đa dạng
Trang 17Bài tập tương tác, mô phỏng, hình ảnh động, phân chia không gian làm việc ảo là những ví dụ điển hình về việc đưa các nguồn tài nguyên vào môi trường học tập trực tuyến một cách dễ dàng, giúp người học tự do khai thác và sử dụng theo nhu cầu và nhịp điệu làm việc của mình
Các môi trường làm việc này còn cho phép giáo viên giải quyết được những khó khăn về không gian, thời gian và số lượng học sinh thường gặp trong giảng dạy trực diện, nhờ đó mà tăng cường hiệu quả sư phạm của hoạt động giảng dạy
Do đó, khi đến với E-Learning, mọi thành phần, không phân biệt trình độ, giới tính, tuổi tác đều có thể tìm cho mình một hướng tiếp cận khác nhau với vấn
đề mà không bị ràng buộc trong một khuôn khổ cụ thể nào
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích mà E-Learning đem lại thì vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định như:
+ Sự giao tiếp cần thiết giữa người dạy và người học bị phá vỡ Người học
sẽ không được rèn kĩ năng giao tiếp xã hội
+ Đối với những môn học mang tính thực nghiệm, E-Learning không thể đáp ứng yêu cầu môn học, không rèn được cho người học thao tác thực hành thí nghiệm, kĩ năng nghiên cứu thực nghiệm
Vậy nên hiện nay, E-Learning chưa có thể thay thế hoàn toàn phương pháp giảng dạy truyền thống, phương pháp dạy học truyền thống vẫn là phương thức chủ yếu và phổ biến nhất E-Learning hiện nay và tương lai gần vẫn chưa thể thay thế hoàn toàn cách học truyền thống, mà cần phải có sự kết hợp với nhau để đem lại kết quả tốt nhất cho quá trình dạy – học
2.3 Thực trạng việc dạy và học môn Vật lí ở nhà trường phổ thông
Xét tình hình chung của việc dạy và học môn Vật lí ở các trường THPT hiện nay ở nước ta còn gặp rất nhiều khó khăn Đầu tiên phải nói đến là đó là cơ sở vật chất ở nhiều trường còn nghèo nàn, hầu như chưa có sự đầu tư cho việc xây dựng các phòng thí nghiệm, các thiết bị còn ít so với yêu cầu và cũng đã bị hư hỏng khá nhiều do không sử dụng thường xuyên Và việc áp dụng CNTT vào công tác giảng dạy còn rất hạn chế do có qua ít phòng máy hoặc thiếu công cụ, thiết bị hỗ trợ, hoặc kĩ năng áp dụng CNTT của giáo viên còn khá yếu và chưa cập nhật được
Trang 18thông tin về các phần mềm hỗ trợ cho công tác dạy học Môn Vật lí là một môn học đòi hỏi khả năng tư duy cao tuy nhiên các phương pháp giảng dạy trên lớp của giáo viên chưa truyền tải hết lượng kiến thức cho học sinh nếu chỉ giới hạn trong thời gian lên lớp Mà ở phía người học thì các em tiếp thu kiến thức còn thụ động, chủ yếu là nghe và ghi chép, các em chỉ tiếp thu lượng kiến thức có sẵn trong sách giáo khoa chưa chủ động tìm kiếm kiến thức để mở rộng tầm kiến thức của bản thân Ngoài ra các em cảm thấy môn Vật lí rất khó tiếp thu, các em thường không tìm được phương pháp học thích hợp dẫn tới bỏ bê đào sâu tìm hiểu kiến thức Chính điều này làm cho các em mất căn bản dần dần về môn Vật lí và không còn hứng thú khi học môn Vật lí
Từ thực trạng đó cho thấy, với phương pháp truyền thống và những thiếu kém về trang thiết bị hỗ trợ cho quá trình dạy học thì học sinh không thể phát huy được tính tích cực trong quá trình ghi nhận kiến thức môn Vật lí nói riêng và các môn học khác nói chung Vì vậy cần đầu tư trang thiết bị hỗ trợ dạy học và quan trọng nhất là đổi mới phương pháp dạy học Phương pháp dạy học có sự hỗ trợ của CNTT sẽ giúp phát huy được sự tích cực thu nhận kiến thức của học sinh, đồng thời bổ trợ cho phương pháp dạy học truyền thống nhằm nâng cao chất lượng dạy và học
3 Bài giảng E-Learning
3.1 Khái niệm bài giảng E-Learning
Bài giảng E-Learning là sản phẩm được tạo ra từ các công cụ tạo bài giảng (authoring tools), có khả năng tích hợp đa phương tiện (multimedia) gồm phim (video), hình ảnh, đồ họa, hoạt hình, âm thanh, ., và tuân thủ một trong các chuẩn, AICC (Còn chuẩn SCORM, AICC là gì thì không cần tìm hiểu sâu, nếu
“siêng” bạn có thể tham khảo thêm tại http://vi.wikipedia.org/wiki/SCORM.) Bài giảng E-Learning khác hoàn toàn với các khái niệm: giáo án điện tử, bài trình chiếu hoặc bài giảng điện tử (Powerpoint) thường gọi
Từ trước đến nay bạn soạn bài giảng bằng PowerPoint thì bạn phải trực tiếp
sử dụng nó, còn bài giảng R-Learning thì là một bài giảng hoàn toàn phụ thuộc vào tác động của người học Bài giảng E-Learning có thể dùng để học ngoại tuyến
Trang 19(off-line) hoặc trực tuyến (online) và có khả năng tương tác với người học, giúp người học có thể tự học mà không cần đến thầy dạy, không cần đến trường – lớp
Do đó, để soạn một bài giảng E-Learning bạn phải dự kiến các tình huống xảy ra khi người học tác động vào bài giảng để có phương án xử lý thích hợp Có thể nói E-Learning là bài giảng của giáo viên được soạn thảo trên nền web Nếu bạn thành thạo trong việc soạn thảo, lập trình trên trang web có thể dễ dàng thiết kế một bài giảng trên mạng
Để giúp cho người thầy tạo một bài giảng E-Learning được dễ dàng hơn mà không cần có kiến thức chuyên sâu về lập trình mạng, một số đơn vị làm phần mềm đã tạo ra các chương trình để tạo một bài giảng E-Learning
3.2 Đặc điểm bài giảng E-Learning
Có thể nói bài giảng E-Learning là bài giảng của giáo viên được soạn thảo trên nền web Các bài giảng E-Learning cho phép học sinh có thể học với tốc độ hiệu quả nhanh nhất có thể Loại hình đào tạo E-Learning tự học giúp cho học sinh ghi nhớ kiến thức nhanh hơn thông qua tính tương tác của nó, cho phép học sinh tăng tốc độ học thông qua các công cụ học tập mà họ đã quen thuộc và tiếp nhận những công cụ học tập mà họ ít sử dụng nhất Các bài giảng E-Learning thường có các đặc điểm nổi bật sau:
Dễ sử dụng: Bạn chỉ cần có bộ trình duyệt Internet; có định dạng
HTML và được thiết kế để tải về nhanh và giúp bạn tiến hành việc học một cách nhanh chóng; giao diện thiết kế đào tạo trực tuyến đã được kiểm nghiệm và chứng minh với hướng dẫn từng bước và dễ dàng Các đặc điểm bao gồm: Công
cụ bookmark (đánh dấu) chỉ cho bạn biết phần mình đang học vì thế bạn có thể quay trở lại một cách dễ dàng; Mục lục chủ đề để tìm kiếm thông tin về tất cả các phần của khóa
Phần trợ giúp hữu ích và hiệu quả: Rất nhiều thông tin trợ giúp có
trong các khóa học trực tuyến, hoặc do đội ngũ nhân viên của chúng tôi cung cấp Học trong khóa học khi bạn đang tham gia một khóa học - dễ dàng di chuyển từ một phần của một khóa học đến một một phần cụ thể khác cũng thuộc khóa học đó
Trang 20 Tương tác: Các bài tập mô phỏng cho phép học viên thực hành những
kiến thức mà mình đang học, giúp cho học viên ghi nhớ được khối lượng kiến thức nhiều hơn; cung cấp các phương pháp học khác nhau thông qua các bài tập bằng phương tiện nghe nói, biểu đồ hiển thị, các bài kiểm tra và các bài tập có thể in ra được với các file định dạng PDF có thể tải xuống để luyện tập thêm
Tự học và thuận tiện: Học với tốc độ tùy chọn, nhanh chóng và tiết
kiệm thời gian Bạn có thể bỏ qua những kiến thức bạn đã biết hoặc không cần biết hoặc không cần thiết hoặc các phần lặp lại Bạn luôn luôn kiểm soát được không gian, thời gian và phương pháp học với cách tiếp cận không hạn chế 24 giờ/ngày, 7 ngày/tuần Các bài học hoàn chỉnh: Học chuyên sâu các môn học, các bảng tra thuật ngữ khóa học được cung cấp, không cần đến từ điển; được xây dựng trên các ghi chú, thủ thuật học, tham khảo nhanh, các đường link cụ thể và các bài tập mô phỏng; với các bài tập và các file luyện tập giúp tăng khả năng ghi nhớ của bạn và nâng cao mức độ sử dụng các công cụ học tập cũng như luôn cập nhật các công cụ học tập này
Các bài kiểm tra đánh giá kỹ năng trước và sau khóa đào tạo để kiểm
tra tiến độ học tập của bạn: Có thể sử dụng trước trong hoặc sau khi kết thúc
khóa học Kiểm tra thử lần đầu, kiểm tra thử đạt kết quả cao nhất và trình độ khóa đào tạo trực tuyến đều được theo dõi Nếu qua được các bài kiểm tra, biểu tượng đánh dấu đã qua màu xanh sẽ xuất hiện, thể hiện bạn “đã hoàn thành khóa học ” Trang lưu kết quả có những đường link trực tiếp đến từng đơn vị học trình,
vì thế nếu học sinh không qua một đơn vị học trình, họ có thể truy cập trực tiếp
để làm lại bài kiểm tra của đơn vị học trình đó
Tương thích với nhiều hệ điều hành: Học viên có thể sử dụng hệ điều
hành Windows, Mac và Unix để truy cập vào khóa đào tạo trực tuyến
3.3 Tiêu chuẩn thiết kế bài giảng E-Learning
ISO định nghĩa như sau: "Các thoả thuận trên văn bản chứa các đặc tả kỹ
thuật hoặc các tiêu chí chính xác khác được sử dụng một cách thống nhất như các luật, các chỉ dẫn, hoặc các định nghĩa của các đặc trưng, để đảm bảo rằng các vật liệu, sản phẩm, quá trình, và dịch vụ phù hợp với mục đích của chúng"
Trang 21Trong hệ thống E-Learning cũng có các chuẩn và trong lĩnh vực này chuẩn rất quan trọng Nhờ các chuẩn toàn bộ thị trường E-Learning ( người bán công cụ, khách hàng, người phát triển nội dung) sẽ tìm được tiếng nói chung, hợp tác với nhau được cả về mặt kĩ thuật và phương pháp
Các chuẩn của bài giảng E-Learning:
+ AICC (Aviation Industry CBT Committee): AICC có hai chuẩn liên
quan, gọi là AICC Guidelines và Recommendations (AGRs) AGR006 đề cập tới computer-managed instruction (CMI) Nó được áp dụng cho các đào tạo dựa trên Web, mainframe, đĩa AGR010 chỉ tập trung vào đào tạo dựa trên Web
+ IMS Global Consortium: Ngược lại, đặc tả IMS Content and Packaging
đơn giản hơn và chặt chẽ hơn Đặc tả này được cộng đồng E-Learning chấp nhận
và thực thi rất nhiều Một số phần mềm như Microsoft LRN Toolkit hỗ trợ thực thi đặc tả này
+ SCORM(Sharable Content Object Reference Model): Đặc tả ADL
SCORM bao gồm Runtime Environment (RTE) quy định sự trao đổi giữa hệ thống quản lý đào tạo và các SCO (Sharable Content Object - Đối tượng nội dung
có thể chia sẻ được) tương ứng với một module Thực ra thì SCORM dùng các đặc tả mới nhất của AICC SCORM kết hợp nhiều đặc tả khác nhau trong đó có IMS Content and Packaging Trong SCORM 2004, ADL (hãng đưa ra SCORM)
có đưa thêm Simple Sequencing 1.0 của IMS Hiện tại đa số các sản phẩm Learning đều hỗ trợ SCORM SCORM có lẽ là đặc tả được mọi người để ý nhất
Trang 22E-+ Test Questions: Đây là chuẩn về các câu hỏi kiểm tra Các câu hỏi được
phát triển trong một LMS, LCMS hoặc các hệ thống trường học ảo thường không thể di chuyển được sang các hệ thống khác Đặc tả IMS Question and Test Interoperabililty cố gắng tìm các cách chung để các bài kiểm tra, câu hỏi có thể dùng được trong nhiều hệ thống khác nhau
3.4 Các tiêu chí đánh giá bài giảng E-Learning
3.4.1 Mục tiêu chính của việc xây dựng các bài giảng điện tử:
- Giúp người học hiểu bài dễ hơn, chính xác hơn
- Đề cao tính có thể tự học nhờ bài giảng điện tử, đáp ứng tính cá thể trong học tập
- Giúp người học có thể tự học ở mọi nơi, mọi lúc
3.4.2 Kĩ năng trình bày:
- Màu sắc không lòe loẹt,
- Không có âm thanh ồn ào, nhạc nổi lên lia lịa
- Chữ đủ to, rõ, không bé quá
- Không ghi nhiều chữ chi chít
- Mỗi slide nên có tile chủ đề
- Có slide ngăn cách khi chuyển chủ đề lớn
3.4.3 Kĩ năng thuyết trình:
- Tránh không thao thao bất tuyệt từ đầu đến cuối,
- Hãy đặt câu hỏi trao đổi, khuyến khích người học phát biểu
- Trước khi đi thuyết trình, giảng bài, cần tìm hiểu đối tượng nghe giảng là ai? Tâm lý và mong muốn của họ? Cố gắng hãy nói cái họ cần hơn là nói cái mình
Trang 23- Có hình ảnh, video clip minh họa về chủ đề bài giảng
- Công nghệ: Chuẩn SCORM, AICC, công cụ dễ dùng, có thể online hay offline… (Giải quyết vấn đề mọi lúc, mọi nơi)
3.4.4 Soạn các câu hỏi:
Các câu hỏi ở đây không phải là để thi cử, lấy điểm Các câu hỏi được xây dựng nhằm kích thích tính động não của người học, thực hiện phương châm lấy người học làm trung tâm, chú trọng tính chủ động Có những nội dung không nên giảng luôn, mà chuyển sang thảo luận, trả lời câu hỏi gợi ý
3.4.5 Có nguồn tư liệu phong phú liên quan đến bài học:
Tài liệu, website tham khảo để người học tự chủ đọc thêm Tuy nhiên cũng nên tránh việc trích dẫn tràn lan
3.5 Bài giảng E-Learning trong việc dạy học môn Vật lí THPT
Ngày nay, việc sử dụng các phương tiện kĩ thuật dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học hóa học đã trở nên phổ biến rộng rãi Trong
đó, công nghệ đa phương tiện (multimedia), bao gồm các công cụ hỗ trợ việc trình diễn, sự mô phỏng nhờ máy tính và các lớp học ảo, học tập điện tử (E-learning) đã dần dần quen thuộc với người học Với E-Learning thực hiện theo một quan điểm rộng nhất về việc học – các giải pháp học tập không còn bị ràng buộc bởi các mô hình đào tạo truyền thống E-Learning là một dạng của học tập từ xa nhưng học tập từ xa không phải là E-Learning Việc chuẩn bị cho phương hướng này không chỉ ở hạ tầng internet và các trang bị kĩ thuật khác mà còn ở công nghệ dạy và học, đánh giá tương ứng với loại hình dạy và học đó Trong xã hội toàn cầu hóa ngày nay, học tập là việc cần làm trong suốt cuộc đời không chỉ để đứng vững trong thị trường việc làm đầy cạnh tranh mà còn giúp nâng cao kiến thức văn hóa và xã hội của mỗi con người Chúng ta cần học những
kĩ năng mới, đồng thời bồi dưỡng nâng cao những kỹ năng sẵn có và tìm ra những cách thức mới và nhanh hơn để học những kỹ năng này
E–Learning là một phương pháp hiệu quả và khả thi, tận dụng tiến bộ của phương tiện điện tử, internet để truyền tải các kiến thức và kĩ năng đến những người học là cá nhân và tổ chức ở bất kì nơi nào trên thế giới tại bất kì điểm nào
Trang 24Với các công cụ đào tạo truyền thông phong phú, cộng đồng người học online và các buổi thảo luận trực tuyến, E–Learning giúp mọi người mở rộng cơ hội tiếp cận với các khóa học và đào tạo nhưng lại giúp giảm chi phí
Bài giảng E–Learning là một bài giảng có tương tác multimedia phù hợp với đặc thù của môn Vật lý, giáo viên có thể sử dụng các multimedia để tạo các mô phỏng thí nghiệm hay đưa ra các hiện tượng Vật lý dưới dạng flash hoặc video để học sinh có thể thấy và đưa ra những nhận xét khách quan nhất Ngoài ra các bài giảng E-Learning còn có hệ thống bài tập áp dụng rất phong phú và sinh động kích thích sự tích cực tìm hiểu kiến thức của học sinh Điều này cho thấy phương pháp này đề cao tính tự học nhờ bài giảng điện tử, đáp ứng tính cá thể trong học tập Bài giảng E–Learning xây dựng cho môn Vật lý đáp ứng các yếu tố của một phương pháp dạy học tích cực đó là :
+ Thể hiện rõ vai trò của nguồn thông tin và các nguồn lực sẵn có
+ Thể hiện rõ được các thí nghiệm, mô phỏng mà giáo viên không có điều kiện thực hiện hoặc các thí nghiệm phức tạp, yêu cầu thời gian trong các đoạn video, flash hay các hiệu ứng powerpoint, tạo điều kiện cho học sinh nhìn nhận kiến thức một cách sinh động và dễ hiểu nhất
+ Bố cục trình bày trong bài giảng đơn giản, có điểm nhấn mạnh, tạo cho học sinh tâm lý thoải mái khi tiếp nhận kiến thức và nắm được trọng tâm bài học Thể hiện rõ được bản chất và mức độ kiến thức cần huy động
Trang 25CHƯƠNG II: THIẾT KẾ BÀI GIẢNG E-LEARNING VỚI SỰ HỔ TRỢ CỦA PHẦN MỀM ADOBE PRESENTER TRONG DẠY HỌC CHƯƠNG
“TỪ TRƯỜNG”, VẬT LÍ 11 NÂNG CAO
1 Khai thác và sử dụng phần mềm Adobe Presenter trong việc hỗ trợ xây dựng bài giảng E-Learning đối với dạy và học chương “Từ trường”, Vật lí 11 nâng cao
1.1 Giới thiệu
Adobe Presenter 7 là một dạng add-in của phần mềm trình chiếu quen thuộc Microsoft PowerPoint, giúp người dùng biến những buổi trình chiếu thường nhàm chán trở nên sinh động, có tính tương tác cao hơn dưới dạng phim flash đầy hấp dẫn Kết quả cuối cùng còn có thể chia sẻ giống như một trang web thông thường, một tập tin PDF hay thậm chí là sử dụng trên điện thoại di động có hỗ trợ Flash như của Nokia hoặc có hệ điều hành Windows Mobile
Adobe Presenter, vốn được biết đến với cái tên Macromedia Breeze, đó là thời điểm trước khi người khổng lồ Adobe mua lại Macromedia Mặc dù Adobe Presenter hiện chỉ hỗ trợ cho PowerPoint trên hệ điều hành Windows, nhưng các sản phẩm đầu cuối của nó mà người dùng tạo ra hoàn toàn có thể sử dụng tốt trên bất kì trình duyệt, máy tính nào có chương trình Flash Player, bao gồm Mac, Linux hoặc ngay cả Unix (Solaris)
Ngoài những hiệu ứng về slide như ban đầu, người dùng có thể thêm vào các chuyện kể từ tập tin âm thanh, ghi video từ webcam hoặc nhập vào những clip video có sẵn Chương trình hỗ trợ hầu như tất cả các định dạng video, từ MOV tới AVI, 3GB và chuyển mã sang video dạng flash bằng cách sử dụng chức năng On2 FLV Đồng thời, còn có 1 công cụ chỉnh sửa video giúp người dùng có thể thêm vào những hiệu ứng cơ bản ngay bên trong PowerPoint Khi thử nghiệm nhập vào một video clip của Windows Media có dung lượng 3MB thì khi kiểm tra lại tập tin trình chiếu cuối cùng, dung lượng toàn bộ chỉ dưới 2 MB mà chất lượng video vẫn đảm bảo tương đối Adobe Presenter giúp chuyển đổi các bài trình chiếu Powerpoint sang dạng tương tác multimedia, có lời thuyết minh (narration), có thể câu hỏi tương tác (quizze) và khảo sát (surveys), tạo hoạt động điều khiển dẫn dắt chương
Trang 26 Xuất kết quả bài giảng
Quản lý các slide
Thiết lập phần trình chiếu
Ghi âm trực tiếp
Chèn file âm thanh đã có sẵn
Đồng bộ âm thanh với hoạt động trên slide
Biên tập âm thanh (cắt bớt)
Ghi hình trực tiếp
Chèn file video đã có sẵn
Biên tập video (chèn hiệu ứng)
Chèn file flash (có phần mở rộng swf)
Quản lý file flash (có phần mở rộng swf)
Quản lý câu hỏi tương tác
Chèn câu hỏi tương tác (đã tạo với Presenter 5 hoặc 6)
Thêm câu hỏi tương tác mới
Ưa thích
Trợ giúp
trình (animation), và tạo mô phỏng (simulation) một cách chuyên nghiệp
Điều khẳng định là Adobe Presenter tạo ra bài giảng điện tử tương thích với chuẩn quốc tế về E-Learning là AICC, SCORM 1.2, and SCORM 2004
1.2 Công cụ của Adobe Presenter
Adobe Presenter được phát triển như một add-in (phần thêm vào) của MS
PowerPoint Do đó, nếu mở MS PowerPoint và quan sát kỹ trên thanh công cụ, sẽ thấy menu của Adobe Presenter 7
Adobe Presenter trên thanh công cụ của MS PowerPoint 2007 và 2003
Làm quen với thanh công cụ của Adobe Presenter
Trang 271.3 Tiềm năng của phần mềm Adobe Presenter
Là một phần mềm công cụ phục vụ cho giáo dục, Adobe Presenter có đầy đủ các tính năng của phần mềm công cụ soạn thảo bài giảng điện tử Đặc điểm nổi bật Adobe Presenter là sử dụng khả năng mạnh mẽ của Ms PowerPoint để soạn thảo nội
dung
- Ghi âm thanh, hình ảnh và lồng ghép âm thanh, hình ảnh vào các nội
dung trình chiếu trong bài giảng
- Chèn các câu hỏi tương tác (interactive questions) lên bài giảng
- Đồng bộ âm thanh và hiệu ứng văn bản
- Đóng gói và xuất bản bài giảng ra nhiều loại định dạng khác nhau (flash,
website), tuân thủ các tiêu chuẩn về E-Learning phổ biến (như là AICC, SCORM 1.2 và SCORM 2004) Bài giảng có thể được đưa lên mạng Internet phục vụ việc dạy - học trực tuyến, đáp ứng nhu cầu học bất kỳ lúc nào, bất kỳ ở đâu
1.4 Các bước để sử dụng Adobe Presenter
Bước 1: Tạo bài trình chiếu bằng Powerpoint, tận dụng các bài Powerpoint
nên tiết kiệm thời gian Có thể cần một vài thay đổi, cải thiện: Đưa logo của trường vào, tạo mục lục các slide, đưa ảnh vào, chỉnh trang lại màu sắc cho không bị lòe loẹt quá …
Bước 2: Biên tập Đưa multimedia vào bài giảng: cụ thể là đưa video và âm
thanh vào, thí dụ âm thanh thuyết minh bài giảng; đưa các tệp flash; đưa câu hỏi tương tác (quizze), câu hỏi khảo sát và có thể ghép tệp âm thanh đã ghi sẵn sao cho
phù hợp với đúng
Bước 3: Công bố trên mạng
Có nhiều cách:
- Có thể xem lại bài giảng qua phần Publish của Adobe Presenter
- Bản thân Presenter đã được tích hợp vào hệ thống phần mềm họp và học ảo Adobe Connect, với phần mềm Captivate, các tệp Flash video (FLV) Nghĩa là nếu
có một phòng trong Adobe Connect, thí dụ như http://hop.edu.net.vn/hoithao do Cục CNTT cung cấp,chỉ upload nội dung được tạo ra bằng Powerpoint + Adobe Presenter, thế là thành bài giảng E-Learning trực tuyến
Trang 28- Có thể đưa bài giảng điện tử E-Learning soạn bằng Adobe Presenter vào các hệ thống quản lý học tập Learning Management Systems (LMS) vì Adobe Presenter tạo ra nội dung theo chuẩn SCORM và AICC Ở Việt Nam, hiện nay
LMS nổi tiếng là Moodle, phần mềm mã nguồn mở và miễn phí (Xem tại
http://el.edu.net.vn) Mỗi nhà trường, mỗi giáo viên có thể có một trang web được tạo ra bằng Moodle riêng (Hiện đã có phiên bản 1.9)
1.5 Hướng dẫn sử dụng phần mềm Adobe Presenter
1.5.1 Thiết lập ban đầu cho bài giảng E-Learning
Mục đích : Thiết lập bản quyền bài
trình chiếu bằng cách đưa logo của
trường, hay của riêng bạn
- Adobe Presenter > Presentation
Thẻ Playback : Nên thiết lập như sau
Thời gian chạy của slide nếu không có âm thanh hoặc
Trang 29Thiết lập ban đầu của giáo viên, báo cáo viên, người trình bày
- Adobe Presenter > Preferences > Thẻ Presenters > chọn nút Add
- Tiến hành điền các thông tin như hướng dẫn
1.5.2 Xuất bản sản phẩm
Xuất bản sản phẩm ra định dạng web – chạy trên trình duyệt web
- Lưu ý: file được xuất bản sang định dạng web là thư mục SANPHAM_1 con của
thư mục SANPHAM
- Thao tác :
Adobe Presenter > Publish > My Computer > Choose > Địa chỉ ta cần lưu > Publish
1.5.3 Tạo câu hỏi trắc nghiệm, tương tác, vấn đáp (quizze)
Từ menu của Adobe Presenter, nháy chọn mục Manager
Trang 30Thêm câu hỏi trắc nghiệm với nhiều loại khác nhau
Thêm câu hỏi trắc nghiệm với nhiều loại khác nhau
Trang 31Thuyết minh:
Câu hỏi lựa chọn
Câu hỏi đúng/sai Điền vào chỗ khuyết
Trả lời ngắn
Ghép đôi Điều tra, thăn dò ý kiến
Bổ sung thêm loại câu hỏi và xử lý cách làm bài của học viên
Trang 32Quiz Setting xác lập tên loại câu hỏi, học viên có thể nhảy qua câu hỏi này, phản ứng sau khi học viên trả lời: Lùi lại, hiện thị kết quả…
- Cho phép làm lại
Cho phép xem lại câu hỏi Bao gồm slide hướng dẫn Hiện thị kết quả khi làm xong
Hiện thị câu hỏi trong outline
Trộn câu hỏi
Trộn câu trả lời
Câu hỏi nhiều lựa chọn (Multiple choice)
Định danh: Là loại câu hỏi có nhiều lựa chọn để trả lời, trong đó có thể chỉ
có một lựa chọn được chọn là câu trả lời chính xác hoặc cũng có thể có nhiều lựa chọn chính xác
Trang 33Adobe Presenter còn cung cấp chức năng tương tác ngược lại với người học thông qua thẻ Option Một chức năng vô cùng độc đáo tạo ra sức mạnh đặc trưng cho bài giảng điện tử
Trang 34Để thể hiện tốt tính tương tác thì ngay mỗi lựa chọn trả lời, cần bổ sung những thông tin phản hồi tương ứng Giúp người học nhận ra họ trả lời đúng là vì sao? Trả lời sai cũng vì sao thông qua nút lệnh cho từng câu trả lời
Khi click vào nút lệnh này, một bảng với chức năng tương tự được hiển thị ra
để người soạn câu hỏi có thể phản hồi lại thông tin một cách đầy đủ nhất tới người học
Dưới đây là một ví dụ mình họa với một câu trả lời
Trang 35Câu hỏi dạng đúng – sai (True – False)
Định danh: Là loại câu hỏi đưa ra sự giải quyết nhanh chóng, hoặc đúng hoặc
sai Người học cần cân nhắc để có thể thực hiện chọn một trong hai đáp án
Câu hỏi dạng điền khuyết
Định danh: Là loại câu hỏi mang nội dung điền vào chỗ trống Người học sẽ hoàn thành bài tập này thông qua vấn đề điền được các nội dung thích hợp vào ô lựa chọn do người soạn câu hỏi đặt ra
Phần câu hỏi này thường được thiết lập ở các bộ môn ngoại ngữ,…
Thông tin phản hồi cho người học
Trang 36Sau khi lựa chọn xong một từ (cụm từ), một hộp thoại sau hiện ra, hãy điều chỉnh để đạt kết quả tốt nhất
Câu hỏi dạng ghép đôi (Matching)
Định danh: Là loại câu hỏi có sự ghép giữa hai nhóm đối tượng để cho ra kết quả đúng nhất
Người học sẽ ghép những yếu tố ở cột 1 với cột 2 để cho ra kết quả
Với loại câu hỏi này thường thích hợp cho hầu hết các môn học, đặc biệt với học sinh các khối lớp từ THCS trở xuống
Trang 371.5.4 Cài đặt kết quả hiển thị
Trang 381.5.5 Việt hóa các thông báo, nút lệnh trong bài trình chiếu
1.5.6 Chèn multimedia: Tìm một file âm thanh có đuôi wav hoặc mp3
Bước 1: Adobe Presenter > Import Audio
Bước 2: Chọn slide muốn chèn âm thanh (Ví dụ: slide 2)
Bước 3: Browse > chọn file audio muốn chèn > Open
Bước 4: Adobe Presenter > Edit Audio (để chỉnh sửa nếu cần)
Lưu ý: âm thanh chỉ chạy nền cho slide và chỉ nghe được sau khi Publish (xuất bản)
1.5.7 Chèn và biên tập phim (video): tìm một file video với một trong các đinh
dạng sau: Định dạng file Video được chấp nhận: 3GP, F4V, ASF, AVI, DV, DVI,
MOV, MP4, MPEG, MPG, WMA, WMV, và FLV
Bước 1: Chọn slide muốn chèn video
Bước 2 : Chọn Adobe Presenter > Import Video
Bước 3: Chọn file video muốn chèn
Bước 4: Trong Import Options, chọn chất lượng Quality từ menu
Bước 5: Chọn Slide Video hoặc Sidebar Video
Trang 39có nhiều ứng dụng rộng rãi trong thực tế nên việc sử dụng các phần mềm CNTT để xây dựng bài giảng sinh động, dễ hiểu và làm phong phú thêm nguồn kiến thức cho học sinh, đưa học sinh đến gần với thực tế hơn và thúc đẩy sự tích cực trong qua trình tiếp nhận kiến thức
Bối cảnh hiện tại: Giáo viên đã rất quen và thạo soạn bài trình chiếu (presentation) bằng Powerpoint Nay, muốn chuyển qua công nghệ E-Learning một cách nhanh, tiết kiệm, dễ dàng, hợp chuẩn Câu trả lời: chỉ cần gài bổ sung phần
mềm Adobe Presenter
Adobe Presenter giúp chuyển đổi các bài trình chiếu Powerpoint sang dạng tương tác multimedia, có lời thuyết minh (narration), có thể câu hỏi tương tác (quizze) và khảo sát (surveys), tạo hoạt động điều khiển dẫn dắt chương trình (animation) và tạo mô phỏng (simulation) một cách chuyên nghiệp
Powerpoint thuần túy là để trình chiếu, cần phải có người dẫn chương trình
và thuyết minh (giáo viên, báo cáo viên) Powerpoint rất mạnh và mềm dẻo trong việc soạn thảo Vì vậy cần phải tận dụng Cũng cần nói thêm, trong bộ Open Office cũng có phần mềm Presentation rất mạnh, nhưng hiện Adobe Presenter chưa chạy trên Open Office
Adobe Presenter đã biến Powerpoint thành công cụ soạn bài giảng E-Learning, có thể tạo bài giảng để học sinh tự học, có thể ghi lại lời giảng, hình ảnh bạn giảng bài, chèn các câu hỏi tương tác, chèn các bản flash, chèn các hoạt động ghi lại từ bất cứ phần mềm nào khác qua flash, có thể đưa bài giảng lên giảng trực tuyến …
Bài giảng điện tử E-Learning được đưa trực tiếp vào hệ thống Moodle (mã nguồn mở) quản lý tài nguyên và quản lý học tập Bên cạnh đó xét về giá, nếu có mua thì cũng còn rẻ hơn nhiều lần so với một số phần mềm tạo bài trình chiếu do một số công ty khác trong nước sản xuất (đắt, cứng nhắc, bó hẹp trong một vài ứng dụng, không hợp chuẩn)
2 Nội dung của chương Từ trường, chương trình Vật lí 11 nâng cao
Từ trường là một phần trong Điện học - Điện từ học Vật lí 11, nghiên cứu từ trường về phương diện tác dụng lực Cụ thể, chương này trình bày những vấn đề về lực từ tác dụng lên một đoạn dòng điện thẳng, từ trường tác dụng lên một hạt mang
Trang 40điện chuyển động, quy tắc xác định chiều của lực từ, từ trường của dòng điện thẳng, dòng điện tròn
Chương Từ trường bao gồm những khái niệm và công thức cơ bản, vận dụng kiến thức này để giải quyết các kiến thức chương “ Cảm ứng điện từ” Chương “Từ trường” có hai nhóm kiến thức chính: Các khái niệm, đại lượng đặc trưng của từ trường, và các dạng lực từ, vận dụng chúng để giải quyết các bài toán
2.1 Cấu trúc của chương từ trường
Nội dung chương Từ trường: Từ trường, gồm: 12 bài