1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế bài giảng điện tử hỗ trợ học sinh tự học phần “dao động cơ” – vật lý 12 nâng cao

123 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiết Kế Bài Giảng Điện Tử Hỗ Trợ Học Sinh Tự Học Phần Dao Động Cơ – Vật Lý 12 Nâng Cao
Tác giả Nguyễn Thị Cẩm
Người hướng dẫn TS. Lê Thanh Huy
Trường học Đại Học Sư Phạm - Đại Học Đà Nẵng
Chuyên ngành Vật Lý
Thể loại Khóa Luận
Năm xuất bản 2014
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 7,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tích cực trong học tập Biểu hiện của tính tích cực trong quá trình học tập là chuẩn bị bài kĩ trước khi đến lớp, trong giờ học phải hăng hái suy nghĩ, phát biểu xây dựng bài, mạnh dạn

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Người hướng dẫn khoa học

TS LÊ THANH HUY

Trang 2

Tôi xin bài tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến TS Lê Thanh Huy người thầy đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt và chỉ bảo tôi trong quá trình thực hiện khóa luận này

Để thực hiện tốt thực nghiệm của luận án, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy

cô giáo, các em học sinh trường THPT Thái Phiên, Thành phố Đà Nẵng đã giúp đỡ tôi trả lời đúng thực tế các câu hỏi điều tra, khảo sát

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn bạn bè, thầy cô và đặc biệt là bố mẹ đã động viên, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận này

Đà Nẵng, ngày 16 tháng 05 năm 2014 Sinh viên

Nguyễn Thị Cẩm

Trang 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu đề tài 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Phạm vi nghiên cứu 3

6 Đối tượng nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 3

8 Những đóng góp của đề tài 4

9 Cấu trúc của đề tài 4

NỘI DUNG 5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ HỖ TRỢ HỌC SINH TỰ HỌC BẰNG PHẦN MỀM MICROSOFT POWERPOINT 5

1.1 Một số vấn đề về dạy học 5

1.1.1 Bản chất của quá trình dạy học 5

1.1.2 Lý luận cơ bản về dạy học tích cực 5

1.1.2.1 Tính tích cực 5

1.1.2.2 Tích cực trong học tập 5

1.1.2.3 Phương pháp dạy học tích cực 6

1.1.2.4 Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực 6

1.1.2.5 Một số hình thức tổ chức dạy học tích cực phổ biến hiện nay 8

1.2 Cơ sở lí luận của bài giảng điện tử 10

1.2.1 Bài giảng điện tử 10

1.2.1.1 Khái niệm bài giảng điện tử 10

1.2.1.2 Cấu trúc, chức năng của bài giảng điện tử 11

1.3 Cơ sở lí luận của quá trình tự học 14

1.3.1 Khái niệm quá trình tự học 14

1.3.2 Bản chất của quá trình tự học 15

1.3.3 Các hình thức tự học 15

Trang 5

1.3.4 Vị trí vai trò của tự học 16

1.3.5 Nội dung của quá trình tự học 17

1.3.5.1 Xây dựng động cơ học tập 18

1.3.5.2 Xây dựng kế hoạch học tập 19

1.3.5.3 Tự mình nắm vững nội dung tri thức 19

1.3.5.4 Tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập 21

1.4 Cơ sở lý luận của việc thiết kế bài giảng điện tử trong dạy học Vật lý ở trường THPT 21

1.4.1 Các nguyên tắc dạy học Vật lý 21

1.4.2 Vai trò của bài giảng điện tử trong dạy học Vật lý ở trường THPT 22

1.4.3 Quy trình tổ chức tự học Vật lý cho học sinh với bài giảng điện tử 22

Cấu trúc của chương trình tự học của học sinh với bài giảng điện tử 22

1.4.4 Ưu điểm của phương pháp tự học đối với môn Vật lý ở trường THPT 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26

Chương 2 XÂY DỰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ VÀ TỔ CHỨC TỰ HỌC PHẦN DAO ĐỘNG CƠ - VẬT LÝ 12 NÂNG CAO BẰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ TƯƠNG TÁC 28

2.1 Khái quát kiến thức chương Dao động cơ – Vật lý 12 Nâng cao 28

2.2 Những định hướng sư phạm của việc thiết kế bài giảng 28

2.3 Tiến trình thiết kế bài giảng điện tử hỗ trợ học sinh tự học 29

2.3.1 Giới thiệu tổng quan bài giảng điện tử 29

2.3.2 Nội dung cơ bản của bài giảng điện tử 29

2.3.3 Tiến trình sử dụng bài giảng điện tử hỗ trợ học sinh tự học chương Dao động cơ – Vật lý 12 Nâng cao 31

Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 51

3.1 Mục đích, nội dung thực nghiệm sư phạm 51

3.1.1 Mục đích 51

3.1.2 Nhiệm vụ 51

3.2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm 51

3.2.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 51

Trang 6

3.3.1 Chọn mẫu thực nghiệm 52

3.3.2 Tiến hành điều tra, thu thập số liệu và xử lý kết quả 52

3.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 53

3.4.1 Thái độ của học sinh đối với việc học bằng bài giảng điện tử 53

3.4.2 Thực trạng sử dụng bài giảng điện tử trong dạy học Vật lý hiện nay ở trường THPT 54

3.4.3 Nguyện vọng của học sinh khi được học bằng bài giảng điện tử 56

KẾT LUẬN 59

TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

PHỤ LỤC 62

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Để tạo được nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu của xã hội hiện nay, trách

nhiệm của ngành giáo dục (GD) là vô cùng quan trọng Báo cáo của Ban chấp hành

Trung ương Đảng khoá IX về các Văn kiện Đại hội X của Đảng đã nhấn mạnh về

vấn đề đổi mới trong GD: “Đổi mới cơ cấu tổ chức, nội dung, phương pháp dạy và học theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá Phát huy trí sáng tạo, khả năng vận dụng, thực hành của người học”[1] Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã nêu rõ “Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của

xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời”[2]

Trong mấy thập niên gần đây, đổi mới giáo dục đào tạo đã trở thành xu thế toàn cầu Khoa học và công nghệ trên thế giới phát triển như vũ bão, tạo ra những bước tiến nhảy vọt, đặc biệt trong các lĩnh vực điện tử - viễn thông, tin học và công nghệ thông tin (CNTT)

Tại Việt Nam, ứng dụng những thành tựu mới nhất về khoa học và công nghệ,

cụ thể là CNTT vào công cuộc dạy và học, nhằm thích ứng với sự phát triển của giáo dục thời đại trong bối cảnh kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ như hiện nay đang trở thành một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu

Vật lý học là một môn khoa học thực nghiệm, kiến thức chủ yếu được hình thành, xây dựng và kiểm tra qua thực nghiệm Tuy nhiên, vì nhiều lí do khác nhau không phải thí nghiệm nào cũng có thể thực hiện được (như những hiện tượng Vật

lý trừu tượng, không thể quan sát bằng mắt thường, những thí nghiệm mà hiện tượng xảy ra nhanh, khó qua sát, những thí nghiệm nguy hiểm, không thể hoặc không có điều kiện để thực hiện) Vì vậy giáo viên (GV) phải có kĩ thuật thay thế

Trang 8

một sự lựa chọn đúng đắn và bài giảng điện tử (BGĐT) là một công cụ đắc lực để thể hiện trực quan đó

Mặt khác, đa số GV đều thiết kế BGĐT bằng phần mềm trình chiếu PowerPoint với các hiệu ứng, hoạt cảnh và các thành phần multimedia như hình ảnh, âm thanh… người học chỉ tiếp nhận thông tin một chiều: nghe và tiếp nhận chứ không có sự tương tác giữa bài giảng với GV và học sinh (HS) Dùng ngôn ngữ lập trình Visual basic for Application (VBA) được tích hợp trong PowerPoint ta có thể tạo ra bài giảng tương tác (bài trình chiếu tác động lên người dùng – người dùng tác động lên bài trình chiếu thì bài trình chiếu trả về cho người dùng các kết quả khác nhau)

Từ những lý do trên tôi chọn đề tài “Thiết kế bài giảng điện tử hỗ trợ học

sinh tự học – Phần Dao động cơ – Vật lý 12 Nâng cao”

2 Mục tiêu đề tài

- Làm rõ hơn cơ sở lý luận khoa học của phương pháp hỗ trợ HS tự học bằng BGĐT được thiết kế trên phần mềm Microsoft PowerPoint 2010

- Hình thành được quy trình và phương thức tổ chức tự học cho HS, cũng như

tự ôn luyện kiến thức thi đại học theo BGĐT được thiết kế trên phần mềm Microsoft PowerPoint

- Xây dựng được tiến trình sử dụng BGĐT dùng để hỗ trợ HS tự học có thể vừa nghe, vừa nhìn như được dạy bằng phấn bảng, có thể tương tác được với bài giảng; đồng thời kết hợp video, hình ảnh, thí nghiệm ảo, flash mô phỏng… giảng trên phần mềm Microsoft PowerPoint

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận khoa học của phương pháp hỗ trợ HS tự học, từ đó

đề xuất hình thức hỗ trợ tự học, các nguyên tắc và phương pháp thực hiện

- Nghiên cứu nội dung chương trình phần Dao động cơ – Vật lý 12 Nâng cao

- Tổ chức điều tra ý kiến HS và GV trung học phổ thông (THPT) về việc sử dụng, chất lượng cũng như yêu cầu đối với BGĐT hiện nay

- Xây dựng BGĐT dùng để hỗ trợ HS tự học phần Dao động cơ – Vật lý 12 Nâng cao trên phần mềm Microsoft PowerPoint có sử dụng ngôn ngữ lập trình VBA

Trang 9

- Tổ chức thực nghiệm sư phạm và xử lí số liệu để đánh giá hiệu quả của việc

sử dụng BGĐT hỗ trợ HS tự học

4 Giả thuyết khoa học

Hiện nay BGĐT đa phần mới chỉ được khai thác ở khía cạnh hỗ trợ GV dạy học Nếu xây dựng được hệ thống BGĐT như trong đề tài sẽ hỗ trợ tốt HS tự học, chủ động về thời gian đồng thời cung cấp một bài giảng hoàn thiện để nâng cao chất lượng dạy học bằng BGĐT phần Dao động cơ – Vật lý 12 Nâng cao ở trường

THPT

5 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu thiết kế BGĐT phần Dao động cơ – Vật lý 12 Nâng cao

6 Đối tượng nghiên cứu

Hiệu quả của việc tự học phần Dao động cơ – Vật lý 12 Nâng cao với sự hỗ trợ của BGĐT được thiết kế trên phần mềm Microsoft PowerPoint

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận

- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, các tạp chí Giáo dục, các tài liệu về lí luận dạy học, tâm lý học, các webside BGĐT trên mạng internet…

- Nghiên cứu các tài liệu về phần mềm Microsoft PowerPoint

- Nghiên cứu nội dung, chương trình phần Dao động cơ – Vật lý 12 Nâng cao

- Nghiên cứu một số đề tài nghiên cứu khác liên quan đến vấn đề nghiên cứu

7.2 Phương pháp chuyên gia

- Tham khảo ý kiến góp ý của các thầy cô ở trường THPT, các thầy cô ở trường đại học trước và trong quá trình nghiên cứu

Trang 10

- Điều tra tình hình sử dụng BGĐT trong trường THPT

7.5 Phương pháp thống kê

- Dựa vào số liệu thu được thống kê, phân tích và xử lí kết quả

8 Những đóng góp của đề tài

Nghiên cứu sâu về thực trạng tự học của HS THPT và đưa ra phương pháp

tổ chức dạy học hỗ trợ HS tự học phần Dao động cơ – Vật lý 12 Nâng cao

Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu về phần Dao động cơ – Vật lý 12 Nâng cao giúp cho HS và GV trong việc dạy, học và kiểm tra đánh giá theo hướng phát huy tính tự học của HS

9 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục phần nội dung của đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận của việc xây dựng BGĐT hỗ trợ HS tự học bằng

phần mềm Microsoft PowerPoint

Chương 2: Xây dựng bài giảng điện tử và tổ chức tự học phần Dao động cơ

- Vật lý 12 nâng cao bằng bài giảng điện tử tương tác

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 11

NỘI DUNG

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC XÂY DỰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ

HỖ TRỢ HỌC SINH TỰ HỌC BẰNG PHẦN MỀM

MICROSOFT POWERPOINT 1.1 Một số vấn đề về dạy học

1.1.1 Bản chất của quá trình dạy học

Dạy học là một hoạt động đặc trưng nhất, cơ bản nhất của quá trình GD, trong việc truyền thụ, tìm hiểu, phát triển các vốn tri thức, kinh nghiệm trong xã hội loài người Nó tuân theo quy luật chung nhất cho bất kì hoạt động nào của con người: có động cơ, quá trình thực hiện và có tính mục đích Quá trình dạy học (QTDH) là sự thống nhất giữa mục đích (cái cần đạt), nội dung (kiến thức chuyên môn), phương pháp (cách thực hiện) và hình thức tổ chức dạy học do nhiệm vụ và tính chất của nhà trường, xã hội quy định GD THPT giúp HS phát triển trí tuệ, lĩnh hội tri thức, dần dần hoàn thiện nhân cách [5]

Dạy học tăng cường phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo thông qua quá trình tổ chức thực hiện các hoạt động học tập cho HS, góp phần GD con người năng động, sáng tạo phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

1.1.2 Lý luận cơ bản về dạy học tích cực

1.1.2.1 Tính tích cực

Tích cực là hoạt động hết khả năng của bản thân trong học tập cũng như trong công việc Tính tích cực rất cần thiết, quan trọng quyết định đến kết quả học tập và công việc của mỗi người Vì vậy hình thành và pháp triển được đức tính tích cực trong HS là nhiệm vụ cần thiết của GD Nó là điều kiện và cũng là kết quả của

sự phát triển nhân cách của HS trong GD

1.1.2.2 Tích cực trong học tập

Biểu hiện của tính tích cực trong quá trình học tập là chuẩn bị bài kĩ trước khi đến lớp, trong giờ học phải hăng hái suy nghĩ, phát biểu xây dựng bài, mạnh dạn đưa ra ý kiến của bản thân về các vấn đề trong học tập, yêu cầu giải thích cặn kẽ những điều còn thắc mắc chưa tự giải quyết được hoặc chưa thỏa mãn với cách giải quyết của bạn, của GV Tính tích cực được thể hiện qua các cấp độ:

Trang 12

Tìm tòi: tìm cách giải quyết vấn đề một cách độc lập, tìm nhiều cách giải

quyết cho một vấn đề, sau đó có sự so sánh kết quả để lựa chọn cách giải quyết tối

ưu nhất

Sáng tạo: tìm ra cách giải quyết mới, hữu hiệu cho vấn đề cần giải quyết

hoặc đã được giải quyết theo cách khác

1.1.2.3 Phương pháp dạy học tích cực

Phương pháp dạy học (PPDH) tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động học tập chủ động của HS trái với không hoạt động - thụ động PPDH tích cực hướng tới việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS nghĩa là phát huy tính tích cực, chủ động của người học trong hoạt động học tập với sự hướng dẫn, hỗ trợ của

GV GV là người hướng dẫn, HS là người tự lực tìm hiểu, chiếm lĩnh tri thức trên

cơ sở cách thức, phương pháp mà GV hướng dẫn

PPDH tích cực tạo điều kiện thuận lợi giúp HS hình thành tính tự giác, chủ động, tích cực, sáng tạo trong quá trình học tập Từ đó rèn luyện thói quen và kĩ năng tự học trong học tập cũng như trong hoạt động GD

Muốn đổi mới cách học phải đổi mới tư duy của HS, chuyển từ cách học thụ động sang cách học chủ động, tích cực, sáng tạo trong hoạt động học Để đạt được điều này GV phải đổi mới cách dạy, đổi mới cách thức truyền đạt để đáp ứng được nhu cầu đổi mới cách học của HS

1.1.2.4 Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực

Dạy học tăng cường phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo cho HS: trong

quá trình học thì HS - đối tượng của hoạt động dạy và là chủ thể của hoạt động học chủ động, tích cực tham gia vào hoạt động học tập do GV tổ chức và hướng dẫn Muốn HS chủ động, tích cực thì phương pháp và cách thức tổ chức hoạt động học tập phải lôi cuốn, hấp dẫn HS, thông qua hoạt động học tập HS tự khám phá kiến thức chứ không phải thụ động tiếp thu kiến thức mà GV truyền đạt

Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp và phát huy năng lực tự học cho HS: muốn vậy, trong QTDH cần rèn luyện cho HS phương pháp, kĩ năng và ý thức

tự học Qua đó tạo cho HS niềm say mê, yêu thích khoa học, từ đó khơi dậy lòng ham học hỏi và phát huy hết tiềm năng vốn có của bản thân để đạt được kết quả cao

trong học tập

Trang 13

Dạy học phân hóa kết hợp và học tập hợp tác: theo cách thức này HS không

những giao tiếp với GV mà còn có sự giao tiếp qua lại giữa HS - HS, trong quá trình giao tiếp này HS có cơ hội để nói lên quan điểm, ý kiến của mình về vấn đề đang học, khi bản thân HS tự thảo luận, tự phát biểu một vấn đề trước tập thể lớp thì

HS sẽ tự tin hơn, dù ý kiến đó được khẳng định hay bác bỏ thì HS sẽ nâng mình lên được một trình độ mới Kiến thức tự HS nói ra HS sẽ nhớ rất lâu và hệ thống nó một cách logic, chặt chẽ Qua đó, người học cũng được tiếp cận nhiều quan điểm khác nhau của cùng một vấn đề, có cái nhìn khách quan về một vấn đề

Kết hợp đánh giá của thầy và tự đánh giá của trò: trong dạy học tích cực, lấy

HS làm trung tâm thì HS được tự đánh giá kết quả học tập của mình từ đó có trách nhiệm với kết quả học tập của bản thân HS không những đánh giá bản thân mà còn được tham gia đánh giá lẫn nhau HS tự đánh giá được kết quả của mình và bạn từ

đó sẽ tự điều chỉnh được cách học của bản thân để phù hợp với năng lực bản thân và tiến trình chung của lớp Vì vậy, GV cần chú trọng hình thành và phát triển kĩ năng đánh giá và tự đánh giá cho HS Việc kiểm tra, đánh giá không đơn thuần chỉ là sự tái hiện kiến thức mà cần phát huy khả năng vận dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đề liên quan trong học tập và thực tiễn; vận dụng kĩ năng giải quyết vấn

đề trong cuộc sống hằng ngày như các vấn đề của gia đình, bạn bè, xã hội Việc ứng dụng các phương tiện kĩ thuật sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong việc thiết kế chương trình, tăng nhịp độ kiểm tra cả về thời gian lẫn số lượng, giúp HS có thể thường xuyên tự kiểm tra, giúp GV có thể thường xuyên kiểm tra trình độ kiến thức và kĩ năng của HS

Đem lại niềm vui, tạo hứng thú học tập cho HS: HS cảm nhận được niềm vui

và hứng thú trong học tập thì sẽ hoạt động học tập với tinh thần tích cực, chủ động

từ đó đạt được hiệu quả cao trong học tập và GD

Tóm lại, từ dạy học thụ động sang dạy học tích cực GV không còn là người truyền đạt kiến thức cho HS mà trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn quá trình học tập của HS HS không còn đơn thuần là người lĩnh hội khiến thức từ GV

mà là người tự tìm tòi, tự chiếm lĩnh kiến thức theo yêu cầu nội dung bài học và sáng tạo trong quá trình học GV thực hiện QTDH với vai trò là người hướng dẫn,

Trang 14

1.1.2.5 Một số hình thức tổ chức dạy học tích cực phổ biến hiện nay

- Dạy học vấn đáp

PPDH vấn đáp là phương pháp đàm thoại, trong đó GV chuẩn bị hệ thống câu hỏi liên quan đến nội dung bài học ở nhà và tổ chức quá trình học theo PPDH vấn đáp Câu hỏi GV đưa ra có thể là câu hỏi dùng để đặt vấn đề vào bài mới, cũng

có thể là hệ thống câu hỏi mà sau khi trả lời xong HS lĩnh hội được kiến thức, có thể

là những câu hỏi giúp HS hiểu sâu hơn vấn đề, hoặc những câu hỏi bổ khuyết hoặc

là tất cả các câu trên GV nêu câu hỏi để HS tranh luận và trả lời, GV đóng vai trò là người hướng dẫn, trọng tài Sau khi tranh luận HS lĩnh hội được nội dung bài học

Có các loại phương pháp vấn đáp sau:

Vấn đáp tái hiện: câu hỏi của GV chỉ yêu cầu HS nhớ lại kiến thức, kĩ năng

đã học và trả lời Nó được dùng để liên hệ kiến thức vừa học với kiến thức tiếp theo trong cùng một bài học

Vấn đáp giải thích - minh họa: mục đích làm sáng tỏ một vấn đề nào đó Với

phương pháp này, GV đưa hình ảnh minh họa cho vấn đề và những câu hỏi gợi mở hướng HS đến vấn đề cần làm sáng tỏ, qua đó giải thích được những khía cạnh của vấn đề từ đó HS dễ hiểu, dễ nhớ vấn đề Phương pháp này sẽ phát huy tối đa ưu điểm khi sử dụng phương tiện nghe – nhìn vì phương tiện nghe – nhìn giúp minh họa vấn đề rõ ràng hơn

Vấn đáp tìm tòi: hệ thống câu hỏi của GV là sự dẫn dắt HS đi tìm tri thức Hệ

thống câu hỏi này phải được sắp xếp logic, tuần tự để quá trình tìm tri thức diễn ra theo từng bước chặt chẽ, nhanh gọn và hiệu quả nhất Trong vấn đáp tìm tòi, GV là người hướng dẫn cách tìm, HS là người tự tìm tòi kiến thức vì thế tạo được niềm vui, hướng thú trong học tập cho HS

- Dạy học đặt và giải quyết vấn đề

Tâm lí học cho rằng, con người chỉ phát huy hết khả năng tư duy sáng tạo khi họ rơi vào một hoàn cảnh có vấn đề mà vấn đề đó không thể giải quyết theo tư duy và kiến thức cũ Sự kiện này góp phần thôi thúc con người tìm hướng giải quyết mới, từ nhiều sự kiện tương tự trên con người hình thành lí thuyết dạy học nêu vấn

đề và giải quyết vấn đề

Dạy học theo phương pháp nêu vấn đề và giải quyết vấn đề là một PPDH mà

GV tạo các tình huống có vấn đề đưa HS vào tình huống đó và hướng dẫn HS tự

Trang 15

lực, chủ động sáng tạo tìm cách giải quyết vấn đề, HS giải quyết được vấn đề tức là

đã hiểu được kiến thức

Đặc trưng của PPDH nêu vấn đề và giải quyết vấn đề là GV phải tạo ra được tình huống có vấn đề, được HS chấp nhận và tìm cách giải quyết Nghệ thuật của mỗi GV thể hiện ở kĩ năng tạo tình huống có vấn đề Các tình huống có vấn đề [6]:

+ Tình huống bất ngờ: là tình huống mà kết quả của sự kiện phát hiện chưa

thấy trong thực tế hoặc có thấy nhưng HS chưa thể giải thích được

+ Tình huống không phù hợp: là tình huống mà sự kiện trái với suy nghĩ

thông thường hoặc không dùng kinh nghiệm cũ để giải thích được

+ Tình huống đột biến: là tình huống mà để giải quyết nó cần kiến thức và

cách tư duy mới, dùng tư duy và kiến thức cũ không thể giải quyết được

+ Tình huống xung đột: là tình huống phải dùng phương pháp phản chứng để

chứng minh và bác bỏ luận điểm không đúng nào đó

+ Tình huống lựa chọn: là tình huống mà phương án đã có sẵn, chỉ cần suy

nghĩ để chọn phương án tối ưu nhất trong các phương án đã cho

+ Tình huống giả thuyết: là tình huống nêu giả định của một vấn đề, tìm cách

chứng minh giả định đó, giả định nào giải quyết thỏa đáng nhất vấn đề đó thì giả định đó là kiến thức cần lĩnh hội

Trong học tập cũng như trong cuộc sống luôn nảy sinh những vấn đề cần phải giải quyết Vì vậy, rèn luyện cho HS kĩ năng biết phát hiện vấn đề, đặt ra và giải quyết nó một cách tốt nhất những vấn đề gặp phải trong học tập và cuộc sống là một điều rất cần thiết Nó vừa có ý nghĩa về mặt PPDH vừa có ý nghĩa về mặt GD

- Dạy học theo phương pháp hoạt động nhóm

Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người Tùy mục đích, yêu cầu của vấn đề học tập mà các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hay có chủ định Dạy học theo phương pháp này giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm bản thân, cùng nhau xây dựng và chiếm lĩnh tri thức mới

Mục tiêu của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong nhóm Khi làm việc theo nhóm mỗi người được phân công một nhiệm vụ

rõ ràng và chịu trách nhiệm trước nhóm về nhiệm vụ được giao Vì vậy, làm việc

Trang 16

Phương pháp hoạt động nhóm có thể tiến hành:

+ Cử đại diện trình bày kết quả của nhóm

1.2 Cơ sở lí luận của bài giảng điện tử

1.2.1 Bài giảng điện tử

1.2.1.1 Khái niệm bài giảng điện tử

BGĐT được hiểu là toàn bộ kế hoạch hoạt động của GV được viết thành một chương trình trong máy vi tính thông qua multimedia hóa do máy vi tính tạo ra Nó

là sự tích hợp một cách hài hòa giữa kiến thức, hình ảnh minh họa, video clip, flash… phục vụ cho một bài học Vì vậy, BGĐT không đơn thuần là nội dung kiến thức HS cần ghi nhớ, cũng không phải là công cụ thay thế cho bảng trong dạy học truyền thống mà nó đóng vai trò rất quan trọng đó là định hướng các hoạt động dạy học của thầy và trò Thông qua chương trình cài đặt trong máy vi tính thầy tổ chức hoạt động dạy học theo trình tự trong BGĐT hoặc HS tự học với BGĐT

Trang 17

1.2.1.2 Cấu trúc, chức năng của bài giảng điện tử

a) Cấu trúc bài giảng điện tử

Về mặt hình thức, cấu trúc của một BGĐT được minh họa như sau:

Theo cấu trúc trên, BGĐT cũng có những nét tương tự như bài học truyền thống Tuy nhiên, BGĐT có khả năng thể hiện phần minh họa và thực hiện được quá trình kiểm tra từng vấn đề nhỏ khi học xong lí thuyết của vấn đề đó Điều này rất khó thực hiện đối với bài học truyền thống

Thông qua cấu trúc trên, BGĐT thể hiện được:

Tính đa phương tiện: là sự kết hợp hài hòa các phương tiện dạy học (PTDH)

(máy vi tính, máy chiếu), tư liệu dạy học (nội dung kiến thức, hình ảnh, âm thanh, flash, video clip, các phần mềm dạy học) dùng để trình bày thông tin nhằm thu hút người học, làm cho bài học hấp dẫn, sinh động

Tính tương tác: thông qua sự trợ giúp của PTDH cho phép GV và HS khai

thác tính tương tác qua đối thoại, khám phá vấn đề, kiểm tra, đánh giá, củng cố, bổ khuyết Cho phép người học tương tác với chương trình học, phục vụ quá trình tự học

b) Các yêu cầu đối với một bài giảng điện tử

Nội dung: cần trình bày nội dung lí thuyết cô đọng, xây dựng nội dung lí

thuyết qua hình ảnh, video clip để minh họa, mô phỏng làm cho bài học trở nên sinh

Hình 1.1: Sơ đồ cấu trúc của bài giảng điện tử

Mục 2

Bài học

Kiểm tra Củng cố, bổ khuyết Nâng cao

……

Câu hỏi

Mục I Mục 1 Lí thuyết

Hệ thống câu hỏi Minh họa Nội dung kiến thức

Kiểm tra cuối bài Mục II

……

Trang 18

học trên, phải thể hiện được các phương pháp sư phạm và kĩ năng tin học để thực hiện các minh họa, mô phỏng và các liên kết trong bài giảng

Hệ thống câu hỏi: câu hỏi đưa ra trong bài giảng phải có mục đích sau: giới

thiệu, dẫn dắt vấn đề mới; kiểm tra người học có hiểu được nội dung kiến thức, kĩ năng vừa trình bày không; củng cố, bổ khuyết kiến thức, kĩ năng vừa học Câu hỏi được thiết kế sử dụng tính đa phương tiện để kích thích HS tự lực, chủ động, sáng tạo tìm câu trả lời Đáp án của phần câu hỏi cũng được phản hồi ngay sau đó để giúp HS biết và sửa sai kịp thời

Yêu cầu khi thiết kế:

- Đầy đủ: có đầy đủ nội dung bài học;

- Chính xác: đảm bảo thông tin chính xác;

- Trực quan: hình ảnh, flash, video clip trực quan, sinh động hấp dẫn, thu hút người học

c) Chức năng hỗ trợ của bài giảng điện tử đối với hoạt động dạy – học

Nội dung bài giảng bao gồm nội dung kiến thức, các câu hỏi gợi mở, củng

cố, bổ khuyết, đáp án, hình ảnh, flash về các hiện tượng, thí nghiệm Vật lý, các đồ thị… nó sẽ được lần lượt xuất hiện theo tiến trình dạy học nhờ các thao tác đơn giản trên máy vi tính Mỗi một thao tác trên máy tính gắn với một hoạt động học tập của

HS Nhờ vậy, GV không mất thời gian ghi bảng, trình bày hình ảnh, vẽ đồ thị Như vậy, thời gian giành cho tiết học giờ đây được hoàn toàn sử dụng vào việc tổ chức, điều khiển, giám sát, giải thích vấn đề mà HS thắc mắc, nêu thêm câu hỏi phụ để

mở rộng hay đào sâu hoặc củng cố vấn đề, quan sát chặt chẽ hoạt động của từng nhóm, từng cá thể góp phần thúc đẩy HS tích cực, tự giác tham gia hoạt động học tập

Cá biệt hóa HS trong QTDH là một yêu cầu hết sức quan trọng nhằm hướng đến mục đích GD cao hơn: mỗi người được học tập và phát triển theo khả năng, năng lực riêng của bản thân Đối với dạy học truyền thống, việc này rất khó thực hiện, GV thường căn cứ vào trình độ của đa số HS để quyết định cách thức tổ chức, PPDH tương ứng Sử dụng BGĐT trên máy vi tính với Multimedia có thể giúp GV thực hiện quá trình cá biệt hóa HS Chương trình cài đặt trong máy vi tính sẽ giúp

HS điều khiển và tự điều khiển quá trình học Bài kiểm tra chung cuối bài giúp GV kiểm tra, đánh giá trình độ lĩnh hội kiến thức của HS

Trang 19

d) Các bước thiết kế bài giảng điện tử [6]

Bước 1: Tìm hiểu nội dung, xác định mục tiêu: trong bước này phải xác định

rõ khi học xong bài này HS đạt được cái gì Muốn xác định được mục tiêu rõ ràng, chính xác cần phải tham khảo chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình, đọc kĩ

Hoạt động dạy

Kiểm tra, đánh giá

HSĐiều khiển QTDH

Bài giảng điện tử

Nâng cao hiệu quả tiếp thu bài

học

Rèn luyện tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập

Điều khiển hoạt động học

Kiểm tra, củng cố, bổ khuyết kiến thức, kĩ năng

Trang 20

Bước 2: Viết kịch bản sư phạm dựa trên các kiến thức cơ bản: kịch bản sư

phạm là kịch bản chỉ rõ trong từng hoạt động GV làm gì, HS làm gì để đạt được kiến thức theo yêu cầu của chương trình Hoạt động của GV và HS phải có sự thống nhất, liên kết và có tính hợp tác giữa GV – HS, HS – HS

Bước 3: Multimedia hóa kiến thức: đây là một bước quan trọng trong việc

thiết kế BGĐT, là nét đặc trưng của BGĐT Nó bao gồm các bước: dữ liệu hóa thông tin kiến thức, kiến thức nào nên trình bày dưới dạng văn bản, biểu đồ, ảnh tĩnh, phim, flash hoặc hệ thống câu hỏi dưới dạng chương trình; liên kết các phần trên thành một bài giảng logic, thống nhất

Bước 4: Xây dựng thư viện tư liệu: đây là bước tìm tòi, thiết kế (qua power

point, flash…) các tư liệu cần cho bài giảng và sắp xếp các tư liệu theo ý đồ của mình để tiện tìm kiếm và giữ được các liên kết trong bài giảng trong quá trình trình chiếu cũng như sao chép

Bước 5: Thể hiện kịch bản trên máy tính: các kịch bản đã được biên soạn và các

tư liệu đã được multimedia hóa được viết thành một chương trình trên máy vi tính

Bước 6: Chạy thử chương trình: sau khi các bước trên đã hoàn thành ta cần

chạy thử chương trình để phát hiện các sai sót, lỗi liên kết trong quá trình thiết kế từ

đó tiến hành sửa chữa và hoàn thiện bài giảng

1.3 Cơ sở lí luận của quá trình tự học

1.3.1 Khái niệm quá trình tự học

Trong tập bài giảng chuyên đề Dạy tự học cho học sinh trong các nhà trường trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học GS – TSKH Thái Duy Tuyên viết:

“Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành

sở hữu của chính bản thân người học”

Tác giả Nguyễn Kỳ ở Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 7/ 1998 cũng bàn về

khái niệm tự học: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lí các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp… Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”

Trang 21

Trong bài phát biểu tại hội thảo Nâng cao chất lượng dạy học tổ chức vào tháng 11 năm 2005 tại Đại học Huế, GS Trần Phương cho rằng: “Học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế

hệ của nhân loại thành kiến thức của mình, tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện cho mình kĩ năng thực hành những tri thức ấy”

Từ những quan niệm trên đây có thể nhận thấy rằng, khái niệm tự học luôn

đi cùng, gắn bó chặt chẽ với khái niệm tự thân Tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng của

mỗi cá nhân chỉ được hình thành bền vững và phát huy hiệu quả thông qua các hoạt động tự thân ấy Để có được, đạt tới sự hoàn thiện thì mỗi HS phải tự thân tiếp nhận tri thức từ nhiều nguồn; tự thân rèn luyện các kĩ năng; tự thân bồi dưỡng tâm hồn của mình ở mọi nơi mọi lúc

Tự học có thể diễn ra dưới sự chỉ đạo trực tiếp của GV và ngay cả khi không

có sự hướng dẫn trực tiếp của GV

1.3.2 Bản chất của quá trình tự học

Bản chất của tự học là quá trình chủ thể người học cá nhân hóa việc học nhằm thỏa mãn các nhu cầu học tập, tự giác tiến hành các hành động học tập (nhận thức, phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, các hoạt động giao tiếp, các hoạt động thực hành, các hoạt động kiểm tra đánh giá…) để thực hiện có hiệu quả mục đích và

nhiệm vụ học tập đề ra Hay nói cách khác là tự học là học với sự tự giác cao và tích cực ở mức độ cao

Giữa học và tự học có mối quan hệ với nhau, học chỉ có hiệu quả khi có sự tự học, tự học là kết quả cuối cùng của học

1.3.3 Các hình thức tự học

qua tìm hiểu thực tế, học kinh nghiệm của người khác HS gặp nhiều khó khăn do

có nhiều lỗ hổng kiến thức, HS khó thu xếp tiến độ, kế hoạch tự học, không tự đánh giá được kết quả tự học của mình Từ đó HS dễ chán nản và không tiếp tục tự học

như học bài hay làm bài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của HS phổ thông Để giúp HS có thể tự học ở nhà, GV cần tăng cường kiểm

Trang 22

Hình thức 3: Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa): HS được

nghe GV giảng giải minh họa, nhưng không được tiếp xúc với GV, không được hỏi han, không nhận được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn Với hình thức tự học này, HS cũng không đánh giá được kết quả học tập của mình

nội dung, cách xây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu, bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được (thí dụ học theo các phần mềm trên máy vi tính) Song nếu chỉ dùng tài liệu tự học HS cũng có thể gặp khó khăn và không biết hỏi ai

chặt chẽ của giáo viên ở lớp

GV giao nhiệm vụ cho HS, yêu cầu HS thực hiện trong một khoảng thời gian nào đó, có thể ngắn hoặc dài Sau đó, HS báo cáo kết quả cho GV (nộp bài), GV đánh giá kết quả, nhật xét đánh giá Hình thức tự học này được áp dụng nhiều và có hiệu quả HS tích cực tự học để hoàn thành nhiệm vụ mà GV đưa ra

1.3.4 Vị trí vai trò của tự học

- Tự học là mục tiêu cơ bản của quá trình dạy học Từ lâu các nhà sư phạm

đã nhận thức rõ ý nghĩa của phương pháp dạy tự học Trong quá trình hoạt động dạy học GV không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những tri thức có sẵn, chỉ cần yêu cầu ghi nhớ mà quan trọng hơn là phải định hướng, tổ chức cho HS tự mình khám phá

ra những quy luật, thuộc tính mới của các vấn đề khoa học Giúp HS không chỉ nắm bắt được tri thức mà còn biết cách tìm đến những tri thức ấy Thực tiễn cũng như phương pháp dạy học hiện đại còn xác định rõ: càng học lên cao thì tự học càng cần được coi trọng, nói tới phương pháp dạy học thì cốt lõi chính là dạy tự học Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học Bởi vì bước vào thời đại kinh tế tri thức, HS ngày nay không chỉ thụ động tiếp thu kiến thức mà phải tìm kiếm, nghiên cứu những cái mới Muốn thành công trên bước đường học tập và nghiên cứu thì phải có khả năng phát hiện và tự giải quyết những vấn đề mà cuộc sống, khoa học đặt ra

- Bồi dưỡng năng lực tự học là phương cách tốt nhất để tạo ra động lực mạnh mẽ cho quá trình học tập Một trong những phẩm chất quan trọng của mỗi cá

nhân là tính tích cực, sự chủ động sáng tạo trong mọi hoàn cảnh Và một trong

Trang 23

những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục là hình thành phẩm chất đó cho người học Bởi từ đó nền giáo dục mới mong đào tạo ra những lớp người năng động, sáng tạo, thích ứng với mọi thị trường lao động, góp phần phát triển cộng đồng Có thể xem tính tích cực (hình thành từ năng lực tự học) như một điều kiện, kết quả của sự phát triển nhân cách thế hệ trẻ trong xã hội hiện đại Trong đó hoạt động tự học là những biểu hiện sự gắng sức cao về nhiều mặt của từng cá nhân người học trong quá trình nhận thức thông qua sự hưng phấn tích cực Mà hưng phấn chính là tiền đề cho mọi hứng thú trong học tập Có hứng thú người học mới có được sự tự giác say mê tìm tòi nghiên cứu khám phá Hứng thú là động lực dẫn tới tự giác Tính tích cực của con người chỉ được hình thành trên cơ sở sự phối hợp ngẫu nhiên giữa hứng thú với

tự giác Nó bảo đảm cho sự định hình tính độc lập trong học tập

- Tự học giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời, học tập để

khẳng định năng lực phẩm chất và để cống hiến Tự học giúp con người thích ứng với mọi biến cố của sự phát triển kinh tế - xã hội Bằng con đường tự học mỗi cá nhân sẽ không cảm thấy bị lạc hậu so với thời cuộc, thích ứng và bắt nhịp nhanh với những tình huống mới lạ mà cuộc sống hiện đại mang đến, kể cả những thách thức

to lớn từ môi trường nghề nghiệp Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng tự học, biết linh hoạt vận dụng những điều đã học vào thực tiễn thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, nhờ đó kết quả học tập sẽ ngày càng được nâng cao Với những lí do nêu trên có thể nhận thấy, nếu xây dựng được phương pháp

tự học, đặc biệt là sự tự giác, ý chí tích cực chủ động sáng tạo sẽ khơi dậy năng lực tiềm tàng, tạo ra động lực nội sinh to lớn cho người học

1.3.5 Nội dung của quá trình tự học

Bàn về hoạt động tự học và phương pháp tổ chức cho HS tự học như thế nào

để có hiệu quả thiết thực là một vấn đề hoàn toàn không đơn giản Ngoài việc tìm hiểu khái niệm, những vấn đề liên quan đến động cơ, thói quen học tập của HS thì mỗi GV rất cần đến quá trình nghiên cứu nhằm tìm ra nội dung cơ bản, các phương cách tối ưu rèn luyện phương pháp tự học cho HS Đặc biệt là việc nhận diện xem những phương pháp đó ngoài sự thích ứng chung cho mọi HS có đáp ứng được cho từng nhóm đối tượng trong những giai đoạn và điều kiện, hoàn cảnh khác nhau

Trang 24

Để đáp ứng yêu cầu nêu trên cần xác định rõ những yêu cầu cơ bản của hoạt động tự học như: nội dung của hoạt động tự học gồm mấy vấn đề, để tiếp cận nó phải tuân thủ theo quy trình nào, điều kiện để áp dụng có hiệu quả các yêu cầu ra sao… từ đó xây dựng những biện pháp dạy tự học tích cực tương ứng

1.3.5.1 Xây dựng động cơ học tập

Khơi gợi hứng thú học tập để trên cơ sở đó ý thức tốt về nhu cầu học tập

Người học tự xây dựng cho mình động cơ học tập đúng đắn là việc cần làm đầu tiên Bởi vì, thành công không bao giờ là kết quả của một quá trình ngẫu hứng tùy

tiện thiếu tính toán, kể cả trong học tập lẫn nghiên cứu Nhu cầu xã hội và thị trường lao động hiện tại đặt ra cho mỗi người những tố chất cần thiết chứ không phải là những điểm số đẹp, những chứng chỉ như vật trang sức vào đời mà không có thực lực vì động cơ học tập lệch lạc Có động cơ học tập tốt khiến cho người ta luôn

tự giác say mê, học tập với những mục tiêu cụ thể rõ ràng với một niềm vui sáng tạo bất tận

Trong rất nhiều động cơ học tập của HS, có thể khuôn tách thành hai nhóm

cơ bản:

- Các động cơ hứng thú nhận thức

- Các động cơ trách nhiệm trong học tập

Thông thường các động cơ hứng thú nhận thức hình thành và đến được với người học một cách tự nhiên khi bài học có nội dung mới lạ, thú vị, bất ngờ, động

và chứa nhiều những yếu tố nghịch lí, gợi sự tò mò Động cơ này sẽ xuất hiện thường xuyên khi GV biết tăng cường tổ chức các trò chơi nhận thức, các cuộc thảo luận hay các biện pháp kích thích tính tự giác tích cực từ người học

Động cơ nhiệm vụ và trách nhiệm thì bắt buộc người học phải liên hệ với ý thức

về ý nghĩa xã hội của sự học Giống như nghĩa vụ đối với Tổ quốc, trách nhiệm đối với gia đình, thầy cô, uy tín danh dự trước bạn bè… Từ đó các em mới có ý thức kỉ luật trong học tập, nghiêm túc tự giác thực hiện mọi nhiệm vụ học tập, những yêu cầu từ

GV, phụ huynh, tôn trọng mọi chế định của xã hội và sự điều chỉnh của dư luận

Cả hai động cơ trên không phải là một quá trình hình thành tự phát, cũng chẳng được đem lại từ bên ngoài mà nó hình thành và phát triển một cách tự giác thầm lặng từ bên trong Do vậy người GV phải tùy đặc điểm môn học, tùy đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi của đối tượng để tìm ra những biện pháp thích hợp nhằm khơi

Trang 25

dậy hứng thú học tập và năng lực tiềm tàng nơi HS Và, điều quan trọng hơn là tạo

mọi điều kiện để các em tự kích thích động cơ học tập của mình

Đối với phần đông những người trẻ, việc tạm gác những thú vui, những trò giải trí hấp dẫn nhất thời để toàn tâm toàn sức cho việc học là hai điều có ranh giới vô cùng mỏng manh Nó đòi hỏi sự quyết tâm cao và một ý chí mạnh mẽ cùng nghi lực

đủ để chiến thắng chính bản thân mình Đối với người trưởng thành, khi mục đích cuộc đời đã rõ, ý thức trách nhiệm đối với công việc đã được xác định và sự học đã trở thành niềm vui thì việc xác định động cơ thái độ học tập nói chung không khó khăn như thế hệ trẻ Tuy nhiên không phải là hoàn toàn không có Vì suy cho cùng ai cũng có những nhu cầu riêng và từ đó có những hứng thú khác nhau Vấn đề là phải biết kết hợp biện chứng giữa nội sinh và ngoại sinh, tức là hứng thú nhận thức, hứng thú trách nhiệm được đánh thức, khơi dậy trên cơ sở những điều kiện tốt từ bên ngoài Trong đó người thầy đóng vai trò chủ đạo

1.3.5.2 Xây dựng kế hoạch học tập

Đối với bất kì ai muốn việc học thật sự có hiệu quả thì mục đích, nhiệm vụ và

kế hoạch học tập phải được xây dựng cụ thể, rõ ràng Trong đó kế hoạch phải được xác định với tính hướng đích cao Tức là kế hoạch ngắn hạn, dài hơi thậm chí từng môn, từng phần phải được tạo lập thật rõ ràng, nhất quán cho từng thời điểm từng giai đoạn

cụ thể sao cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của mình Vấn đề kế tiếp là phải chọn đúng trọng tâm, cái gì là cốt lõi là quan trọng để ưu tiên tác động trực tiếp và dành thời gian công sức cho nó Nếu việc học dàn trải thiếu tập trung thì chắc chắn hiệu quả sẽ không cao Sau khi đã xác định được trọng tâm, phải sắp xếp các phần việc một cách hợp lí logic về cả nội dung lẫn thời gian, đặc biệt cần tập trung hoàn thành dứt điểm từng phần, từng hạng mục theo thứ tự được thể hiện chi tiết trong kế hoạch Điều đó sẽ giúp quá trình tiến hành việc học được trôi chảy thuận lợi

1.3.5.3 Tự mình nắm vững nội dung tri thức

Đây là giai đoạn quyết định và chiếm nhiều thời gian công sức nhất Khối lượng kiến thức và các kĩ năng được hình thành nhanh hay chậm, nắm bắt vấn đề nông hay sâu, rộng hay hẹp, có bề vững không… tùy thuộc vào nội lực của chính bản thân người học trong bước mang tính đột phá này Nó bao gồm các hoạt động:

Trang 26

giảng, xem truyền hình, tra cứu từ Internet, cemina, hội thảo, làm thí nghiệm, quan sát, điều tra… Trong hoạt động này rất cần có sự tỉnh táo để chọn lọc thông tin một cách thông minh và linh hoạt Xã hội hiện đại đang khiến phần lớn HS rời xa sách

và chỉ quan tâm đến các phương tiện nghe nhìn khác Đơn giản vì nó thỏa mãn trí tò

mò, giúp cho tai nghe mắt thấy tức thời Đó là chưa kể đến sự nhiễu loạn thông tin

mà nếu không vững vàng thì giới trẻ sẽ rất dễ sa vào những cạm bẫy thiếu lành mạnh, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển nhân cách, tâm hồn Trong lúc từ cổ chí kim, muốn làm chủ tri thức nhân loại thì con đường tốt nhất của mọi người là đọc sách Đọc sách là phương pháp tự học rẻ tiền và hiệu quả nhất Khi làm việc với sách ta phải sử dụng năng lực tổng hợp toàn diện và có sự xuất hiện của hoạt động của trí não, một hoạt động tối ưu trong quá trình tự học Do vậy, rèn luyện thói quen đọc sách là một công việc không thể tách rời trong yêu cầu tự học Ngoài việc tiếp nhận tri thức còn phải biết đối thoại, gợi mở, thắc mắc hay đề xuất những vấn đề cần lưu ý sau khi đọc sách, hoặc chí ít là học cách viết, lối diễn đạt từ những cuốn sách hay Đó là cách đọc sáng tạo Khác với sự giải trí đơn giản hay cảm nhận thông thường

- Xử lí thông tin: Việc xử lí thông tin trong quá trình tự học không bao giờ diễn ra trong vô thức mà cần có sự gia công, xử lí mới có thể sử dụng được Quá trình này có thể được tiến hành thông qua việc phân tích, đánh giá, tóm lược, tổng hợp, so sánh…

- Vận dụng tri thức, thông tin: Trong việc vận dụng thông tin tri thức khoa học để giải quyết các vấn đề liên quan như thực hành bài tập, thảo luận, xử lí các tình huống, viết bài thu hoạch, báo cáo khoa học, tổng thuật… HS thường gặp rất nhiều khó khăn Có lúc tìm được một khối lượng lớn tư liệu nhưng việc tập hợp phân loại nội dung để kiến giải một vấn đề lại không thực hiện được Trong trường hợp này cần khoanh vùng vấn đề trong một giới hạn đừng quá rộng Chỉ cần tập trung đào sâu một vấn đề nào đó nhằm phát hiện ra cái mới có giá trị thực tiễn là đáp ứng yêu cầu Trong khâu này việc lựa chọn và thay đổi hình thức tư duy để tìm

ra cách thức tối ưu nhất cho đối tượng nghiên cứu cũng rất cần thiết

- Trao đổi, phổ biến thông tin: Việc trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin tri thức hay diễn ngôn theo yêu cầu thông qua các hình thức: hội thảo, báo cáo khoa học, thảo luận, thuyết trình, tranh luận… là công việc cuối cùng của quá trình tiếp

Trang 27

nhận tri thức Hoạt động này giúp người học có thể hình thành và phát triển kĩ năng trình bày (bằng lời nói hay văn bản) cho người học Giúp người học chủ động, tự tin trong giao tiếp ứng xử, phát triển năng lực hợp tác và làm việc nhóm tốt

1.3.5.4 Tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập

Việc nhìn nhận kết quả học tập được thực hiện bằng nhiều hình thức: Dùng các thang đo mức độ đáp ứng yêu cầu của GV, bản thân tự đánh giá, sự đánh giá nhận xét của tập thể thông qua thảo luận, tự đối chiếu so sánh với mục tiêu đặt ra ban đầu… Tất cả đều mang một ý nghĩa tích cực, cần được quan tâm thường xuyên Thông qua nó người học tự đối thoại để thẩm định mình, hiểu được cái gì làm được, điều gì chưa thỏa mãn nhu cầu học tập nghiên cứu để từ đó có hướng khắc phục hay phát huy

Vấn đề tự học rõ ràng không hề đơn giản Muốn hoạt động học tập có hiệu quả nhất thiết HS phải chủ động tự giác học tập bất cứ lúc nào có thể bằng chính nội lực của bản thân Vì nội lực mới chính là nhân tố quyết định cho sự phát triển Ngoài ra, rất cần tới vai trò của người thầy với tư cách là ngoại lực trong việc trang

bị cho HS một hệ thống tri thức, kĩ năng, thái độ cùng với phương pháp tự học cụ thể, khoa học Nhờ đó hoạt động tự học tự đào tạo của HS mới đi vào chiều sâu thực chất

1.4 Cơ sở lý luận của việc thiết kế bài giảng điện tử trong dạy học Vật lý ở trường THPT

1.4.1 Các nguyên tắc dạy học Vật lý

- Tính khoa học thể hiện ở nội dung và phương pháp dạy học, trong đó tính giáo dục là một thuộc tính căn bản của QTDH

- Dạy học giáo dục nhân cách toàn diện của người học

- Người GV trong quá trình dạy học phải tuân theo tính khoa học lẫn tính GD trong sự thống nhất chung

- Đây là nguyên tắc quan trọng dạy học phải tuân theo, làm nền tảng cho toàn

bộ QTDH, nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo của nhà trường và mục đích GD của cả

xã hội

* Các yêu cầu và biện pháp thực hiện:

Trang 28

- Nội dung dạy phải phát triển năng lực nhận thức và tư duy kỹ thuật cho HS

- Nội dung dạy phải chú trọng đến các mặt giáo dục về phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, tác phong công nghiệp cho HS

1.4.2 Vai trò của bài giảng điện tử trong dạy học Vật lý ở trường THPT

Vật lý học là môn khoa học thực nghiệm Chính vì vậy, để một tiết học Vật

lý thực sự có hiệu quả thì cần phải xây dựng, kiểm tra lí thuyết bằng thực nghiệm Trong khuôn khổ của một tiết học với sự hạn chế về mặt thời gian, dụng cụ thí nghiệm và nhiều thí nghiệm Vật lý khó quan sát được bằng mắt thường thì việc dùng thí nghiệm ảo, flash, video clip, hình ảnh được tích hợp trong BGĐT mang lại rất nhiều hiệu quả cho dạy học Vật lý ở trường THPT

Cùng với sự phát triển vượt bậc của CNTT thì việc ứng dụng CNTT trong dạy học các môn học nói chung và môn Vật lý nói riêng trong trường THPT ngày càng trở nên khá phổ biến nhờ tính năng vượt trội trong việc cung cấp chia sẻ nguồn

tư liệu phong phú như: giáo án điện tử, SGK điện tử, BGĐT, flash Mặc dù là môi trường ảo nhưng nó thể hiện được các hình ảnh trực quan mà các PTDH khác khó

có thể đạt được Tuy nhiên, chính sự phong phú về nguồn tư liệu, một yêu cầu cấp thiết đặt ra cho GV là sử dụng như thế nào cho phù hợp nội dung bài học; hình thành kĩ năng tìm kiếm và xử lí tư liệu là nhiệm vụ cấp bách của GV THPT

Vậy BGĐT có vai trò rất quan trọng trong dạy học Vật lý, cùng với sự phát triển của CNTT, BGĐT tích hợp những tư liệu bổ ích, cần thiết để phục vụ tốt nhất cho tiết học mang lại hiệu quả dạy học cao

1.4.3 Quy trình tổ chức tự học Vật lý cho học sinh với bài giảng điện tử

Cấu trúc của chương trình tự học của học sinh với bài giảng điện tử

Để lĩnh hội được nội dung kiến thức, kĩ năng cần có hệ thống các câu hỏi dẫn dắt (Qi), dùng để thiết lập nội dung kiến thức, kĩ năng (Ni); hệ thống câu hỏi kiểm tra kiến thức, kĩ năng (Qi’); củng cố, bổ khuyết kiến thức, kĩ năng (Qi’’); nâng cao hoặc các bài tập vận dụng ( '

Trang 29

Kết quả phản ứng phải được thể hiện ngay sau đó để người học xác định được kết quả đúng hay sai dựa trên nguyên tắc: nếu đúng thì bước đến tìm hiểu đơn

vị kiến thức tiếp theo hoặc vào phần nâng cao, bài tập vận dụng, nếu sai thì được quay trở về để được củng cố, sửa sai kiến thức đó; tiếp tục phần học khác

Mỗi phần gồm các bước

Bước 1: Các câu hỏi định hướng, dẫn dắt người học tiếp cận kiến thức, kĩ

năng mới kí hiệu Q i Trong bước này chương trình sẽ đưa ra câu hỏi, người học trả lời và đối chiếu kết quả của chương trình, sau khi trả lời một loạt các câu hỏi trên với phần đáp án được phản hồi ngay thì người học tiếp cận được tri thức mới

thông báo kiến thức, kĩ năng HS vừa tìm hiểu qua chương trình, HS tiếp nhận qua chương trình học

i

Q HS hoạt động dưới sự dẫn dắt của chương trình và hoàn toàn độc lập, tự lực tìm hiểu đáp án cho câu hỏi, mỗi câu trả lời của HS sẽ đưa HS đến phần nâng cao kiến thức hay bổ khuyết hoặc có thể phải quay trở lại học phần lí thuyết trên, từ đó giúp HS củng cố, kiểm tra được kiến thức vừa học

i

Q (tức là HS cơ bản đã nắm được kiến thức, kĩ năng Ni) người học đến phần mới hoặc vào bước nâng cao kiến thức, bài tập vận dụng (kí hiệu '

i

Q) (phụ thuộc yêu cầu, mong muốn, tiến độ học tập của từng HS); nếu trả lời sai (tức là chưa nắm vững kiến thức, kĩ năng Ni hoặc những kiến cũ liên quan đến kiến thức, kĩ năng Ni) thì vào hệ thống câu hỏi phụ "

i

Q để củng cố, bổ khuyết lại những kiến thức, kĩ năng hoặc quay lại học lí thuyết Sau bước này chương trình sẽ dẫn HS đến bước 3 của phần kiến thức này, tiếp tục bài học Với hệ thống câu hỏi "

i

Q trong phạm vi nào đó có thể sửa sai và phản hồi đáp án ngay khi

HS trả lời câu hỏi đó

- Sơ đồ cấu trúc chương trình tự học của một phần:

Trang 30

Chương trình tự học một bài bao gồm các phần trên, được sắp xếp theo tuần

tự logic, chặt chẽ từ trên xuống Bắt đầu từ phần đầu tiên cho đến phần cuối cùng, trong mỗi phần các bước đi đều tương tự như nhau và như sơ đồ trên hình 1.4 Sau khi kết thúc phần cuối cùng, HS được vào hệ thống câu hỏi mang tính chất kiểm tra kiến thức, kĩ năng chính của bài học Trong phần này, HS làm và gửi bài cho GV qua file Word hoặc PDF, qua đó GV đánh giá kiến thức, kĩ năng HS đạt được

- Sơ đồ cấu trúc tổ chức tự học cho HS với BGĐT

Q

' 1

Hình 1.4: Sơ đồ cấu trúc tổ chức tự học của một phần

Nội dung kiến thức, kĩ năng Ni

Trang 31

Giải thích sơ đồ:

Chương trình dạy học do GV soạn thảo trên cơ sở xác định mục tiêu về kiến thức, kĩ năng của bài học; nội dung kiến thức, phương tiện và điều kiện dạy học, từ

đó soạn thảo, cài đặt thành một chương trình dạy học hoàn chỉnh

Các nội dung, kiến thức nằm trên đường thẳng giữa GV và HS là các câu hỏi định hướng nhằm dẫn dắt, trực quan hóa nội dung kiến thức, kĩ năng cần tìm hiểu

Các nội dung dưới đường thẳng, nằm về phía HS là những nội dung xoay quanh vấn đề kiểm tra, củng cố, bổ khuyết kiến thức mà HS cần lĩnh hội; các phần nâng cao kiến thức hoặc các bài tập vận dụng Hệ thống kiểm tra, củng cố ngay sau mỗi phần lí thuyết giúp HS nắm vững kiến thức vừa học, từ đó tạo niềm tin cho HS trong quá trình học Hệ thống này được thiết lập nhiều nhánh sao cho phân hóa được từng đối tượng HS, tạo niềm tin cho đối tượng HS yếu, trung bình; tạo khả năng tư duy, sáng tạo, phát huy hết tiềm năng của HS khá giỏi Mặt khác với tính năng đã cài đặt trong chương trình, khả năng phản hồi kết quả rất nhanh chóng, rút ngắn được rất nhiều thời gian cho quá trình kiểm tra, củng cố, bổ khuyết Trong giai đoạn này, HS phải tích cực, độc lập, chủ động, sáng tạo trong suốt quá trình điều khiển và tự điều khiển dưới sự hướng dẫn của chương trình học để lĩnh hội tri thức, kĩ năng và tiến độ học tập của mỗi HS nhanh hay chậm phụ thuộc vào năng lực của mỗi cá nhân HS

Sau khi học xong phần cuối cùng, HS được tự kiểm tra, đánh giá và GV kiểm tra, đánh giá quá trình học tập của HS thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập trắc nghiệm (tất cả các bài của các phần trên) nhằm kiểm tra kết quả lĩnh hội tri thức của

HS, qua đó một lần nữa củng cố, bổ khuyết kiến thức cho HS, giúp tất cả các HS có thể lĩnh hội được nội dung kiến thức, kĩ năng theo yêu cầu của bài học

Vậy trong chương trình tự học này, GV là người thiết kế chương trình dạy học thông qua việc xác định mục tiêu về kiến thức, kĩ năng thái độ của bài học, thông qua nội dung bài học, phương tiện và điều kiện dạy học, lựa chọn PPDH và thiết kế một chương trình dạy học hoàn chỉnh Còn quá trình lĩnh hội, kiểm tra, củng cố, bổ khuyết, nâng cao… là HS phải tự học dưới sự hướng dẫn của chương trình học

Trang 32

1.4.4 Ưu điểm của phương pháp tự học đối với môn Vật lý ở trường THPT

Vật lý học là một môn khoa học thực nghiệm nhưng kiến thức Vật lý ở phổ thông hầu như HS không thiết lập lại mà gần như là sự ghi nhận các định luật, các khái niệm trừu tượng, mới mẻ Chính vì vậy, với tâm sinh lí HS THPT việc hiểu các khía cạnh của khái niệm, định luật Vật lý là một điều rất khó khăn Vậy nên để đơn giản hóa quá trình nhận thức cái mới của HS cần chia nhỏ nội dung kiến thức thành những phần độc lập tương đối để trong phạm vi kiến thức nhỏ đó HS dễ hình dung,

dễ tìm tòi, dễ thiết lập từ đó tạo được hứng thú trong học tập dẫn đến HS tích cực, chủ động tiếp cận, lĩnh hội tri thức

Kiến thức Vật lý ở THPT mà HS được giảng dạy trên lớp còn chưa nhiều, chưa đáp ứng được nhu cầu học tập của HS, quá trình kiểm tra đánh giá của GV Mặt khác, môi trường THPT là nơi chuẩn bị cho HS cả kiến thức, kĩ năng và thái độ làm việc trước khi chuyển lên đại học hoặc học nghề,… Vậy nên việc định hướng,

tổ chức cho HS một phương pháp tự học tích cực là một điều cần thiết

Tạo tiền đề cho việc khai thác và sử dụng các TBDH, PTDH và nguồn tư liệu Vật lý rất phong phú trên Internet

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương này tôi đã nghiên cứu:

Cơ sở lí luận của quá trình tự học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS

Cơ sở lí luận của việc thiết kế BGĐT

Các định hướng cơ bản của việc đổi mới PPDH hiện nay: rèn luyện tính tích cực trong hoạt động học tập của HS, tạo niềm tin, hướng thú trong học tập và phát triển tư duy sáng tạo, phát huy hết tiềm năng vốn có của HS

Đổi mới PPDH hiện đang là một vấn đề cốt lõi để nâng cao chất lượng GD đồng thời là mục tiêu quan trọng trong cải cách GD nước ta hiện nay

Các tiêu chí quan trọng để lựa chọn PPDH phổ thông hiện nay: nội dung bao quát là PPDH rèn luyện kĩ năng tự học, tự GD Phẩm chất cần phát huy: tính tích cực chủ động của HS Biện pháp cần khai thác triệt để là ứng dụng CNTT

Qua việc phân tích một số vấn đề trên tôi rút ra một số kết luận sau:

Trang 33

Quá trình tổ chức tự học giúp cho GV nâng cao chất lượng DH thông qua nghiên cứu tài liệu, trao đổi với chuyên gia cùng với việc sử dụng các TBDH, PTDH và nguồn tư liệu phong phú từ Internet để từ đó xây dựng được bài giảng tốt Quá trình tự học giúp HS rèn luyện tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình học tự học, tạo tâm lí tự tin, thoải mái trong quá trình tiếp cận, lĩnh hội tri thức nhân loại

Mục tiêu của việc ứng dụng CNTT trong dạy học là nhằm nâng cao chất lượng học tập, tạo môi trường học tập mang tính tương tác cao chứ không đơn thuần theo một chiều như PPDH truyền thống Tạo điều kiện để HS phát huy hết khả năng tư duy sáng tạo, tiềm năng trí tuệ

Với sự hỗ trợ của CNTT, quá trình tổ chức tự học này giúp GV và HS khai thác các ưu điểm của phương pháp và tính năng của CNTT để phục vụ cho tự học

GV có thể hướng dẫn HS tự học, khuyến khích HS trao đổi, thảo luận những vấn đề gặp phải trong quá trình học HS trở nên chủ động, tích cực, tự tin trong quá trình

tiếp cận và chiếm lĩnh tri thức, quá trình trên đã chuyển từ “lấy GV làm trung tâm” sang “lấy HS làm trung tâm”

Tóm lại, qua sự phân tích cơ sở lí luận của việc thiết kế BGĐT hỗ trợ HS tự học, tôi nhận thấy việc áp dụng quy trình tổ chức tự học với bài giảng điện tử tương tác cho HS là một hướng đi phù hợp trong việc đổi mới PPDH trong giai đoạn hiện nay và trong giai đoạn tiếp theo

Trang 34

Chương 2 XÂY DỰNG BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ VÀ TỔ CHỨC TỰ HỌC

PHẦN DAO ĐỘNG CƠ - VẬT LÝ 12 NÂNG CAO BẰNG

BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ TƯƠNG TÁC 2.1 Khái quát kiến thức chương Dao động cơ – Vật lý 12 Nâng cao

Vật lý học là một ngành của khoa học tự nhiên nghiên cứu vật chất và chuyển động trong không gian và thời gian, cùng với những khái niệm liên hệ như năng lượng và lực Một cách rộng hơn nó phân tích tổng quát về tự nhiên, với mục đích hiểu được vũ trụ hoạt động như thế nào Vật lý học bao gồm 4 phần chính là

Cơ - Quang - Nhiệt - Điện Trong đó Cơ học là phần đầu của Vật lý học cổ điển Dao động cơ là một phần nghiên cứu của Cơ học

Nội dung kiến tức khái quát mà HS 12 tìm hiểu trong phần Dao động cơ bao gồm:

Chương Dao động cơ khảo sát dao động nói chung Chương này đi sâu vào tìm hiểu các loại dao động cụ thể như dao động điều hòa, dao động tuần hoàn, dao động tự do, dao động duy trì, dao động cưỡng bức; mối liên hệ giữa các loại dao động; tìm hiểu về hệ dao động Xây dựng các khái niệm và đại lượng liên quan đến các loại dao động như li độ, biên độ, tần số góc, chu kỳ, tần số, vận tốc, gia tốc, động năng, thế năng, cơ năng, Nghiên cứu các dao động của con lắc đơn, con lắc

lò xo, con lắc vật lý Quá trình tổng hợp các dao động Đồng thời cũng tìm hiểu về ứng dụng của các loại dao động trong thực tế…

2.2 Những định hướng sư phạm của việc thiết kế bài giảng

Khi thiết kế BGĐT hỗ trợ HS tự học tôi quan tâm khai thác các mặt sau: Thông qua BGĐT này nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, cá biệt hóa quá trình hoạt động học tập của HS Dẫn dắt HS tham gia vào hoạt động học tập với một tinh thần chủ động sáng tạo, thái độ tự tin, hứng thú trong học tập Mỗi cá nhân phải điều khiển và tự điều khiển hoạt động học tập của bản thân dưới

sự hướng dẫn của chương trình học Học xong lí thuyết của một phần, HS sẽ đi vào phần kiểm tra lí thuyết đó, việc HS chuyển đến phần tiếp theo hoặc và phần nâng cao, vận dụng hoặc bổ khuyết kiến thức, kĩ năng vừa học tùy thuộc vào năng lực, khả năng tư duy của mỗi cá nhân HS Với hệ thống câu hỏi kiểm tra cuối bài sẽ giúp

HS củng cố, bổ khuyết nội dung, kiến thức toàn bài Qua đó HS tự kiểm tra và đánh giá đúng năng lực của bản thân để có hướng rèn luyện và điều chỉnh phù hợp GV

Trang 35

kiểm tra, đánh giá được mức độ lĩnh hội kiến thức của từng HS, từ đó giúp quản lí

và đánh giá HS một cách chính xác

Khả năng trình diễn thông tin sinh động và ấn tượng, các nội dung kiến thức được trình bày dưới dạng văn bản, hình ảnh, video clip, flash… có khả năng hỗ trợ tốt cho nhận thức của HS Nó thuận lợi cho GV khi dùng thí nghiệm ảo để mô phỏng các hiện tượng Vật lý, thay thế các thí nghiệm thực không thể hoặc không có điều kiện để thực hiện Việc thiết kế BGĐT môn Vật lý phần Dao động cơ dựa trên

cơ sở:

- Đặc điểm nội dung kiến thức của SGK Vật lý 12 nâng cao THPT;

- Vốn kiến thức, kinh nghiệm sẵn có và trình độ của HS;

- Khả năng ứng dụng CNTT vào dạy và học của GV và HS;

- Mục đích sư phạm cần đạt sau khi dạy học;

- Tình hình trang thiết bị, máy vi tính ở trường phổ thông

Qua phân tích trên cho thấy việc thiết kế BGĐT hỗ trợ HS tự học không quá phức tạp Dạy và học với BGĐT giúp HS sử dụng máy vi tính vào hoạt động tích cực, chủ động, và cá biệt hóa quá trình học của HS, giúp HS rèn luyện khả năng tự học, tự GD

2.3 Tiến trình thiết kế bài giảng điện tử hỗ trợ học sinh tự học

2.3.1 Giới thiệu tổng quan bài giảng điện tử

BGĐT dùng để dạy học phần Dao động cơ được thiết kế với mục đích hỗ trợ quá trình tự học của HS Các nội dung trong bài giảng chính xác, khoa học, bám sát mục tiêu, chương trình SGK, phù hợp với kiến thức và trình độ của người học Bên cạnh đó các nội dung được trình bày súc tích, ngắn gọn, hấp dẫn người học, dễ dàng chuyển đổi nội dung nhờ chức năng liên kết trong bài giảng Bài giảng tạo điều kiện thuận lợi cho HS điều khiển và tự điều khiển hoạt động tìm hiểu, kiểm tra, củng cố,

bổ khuyết kiến thức trong quá trình học, tạo được niềm tin, hứng thú học tập từ đó phát huy hết tiềm năng trí tuệ của HS

2.3.2 Nội dung cơ bản của bài giảng điện tử

Dựa trên những lí luận dạy học đã nêu ở chương 1, chúng tôi đề xuất bài học gồm các phần sau: tiêu đề bài học, kiểm tra bài cũ, nội dung bài học, kiểm tra đánh

Trang 36

b) Kiểm tra bài cũ

Trước khi vào học bài mới HS phải qua bước kiểm tra bài cũ Việc kiểm tra bài cũ nhằm mục đích giúp HS ôn tập lại kiến thức đã học hoặc những kiến thức cũ liên quan đến bài mới Ở lớp học truyền thống thường chỉ kiểm tra được một, hai hoặc ba HS Trong khi đối với phương pháp mới này kiểm tra được đồng thời tất cả

HS Tạo thói quen học bài cũ trước khi học bài mới

c) Nội dung bài học

Trong quá trình học bài mới với những câu hỏi mang tính chất gợi mở vấn đề

sẽ giúp HS tiếp cận kiến thức một cách dễ dàng và hiệu quả nhất Mặt khác cùng với hệ thống câu hỏi kiểm tra, bổ khuyết, nâng cao kiến thức giúp HS nắm vững kiến thức của từng mục, từng phần và toàn bài học

Trong bài giảng, sự tích hợp hài hòa giữa hình ảnh, flash, video clip và nội dung kiến thức thành chương trình dạy học hoàn chỉnh, với các nút tiện ích, các liên kết trong bài giảng giúp HS điều khiển và tự điều khiển quá trình học của bản thân thông qua chương trình học Với hình thức phân nhánh trong quá trình kiểm tra, củng cố, bổ khuyết kiến thức của từng phần, mỗi HS sẽ hoàn thành bài học của mình theo con dường dài hay ngắn phụ thuộc hoàn toàn vào năng lực của mỗi HS

BGĐT được trình diễn bằng Powerpoint giao diện đẹp, dễ sử dụng, thu hút, tạo hứng thú học tập cho HS

d) Kiểm tra đánh giá

Bài kiểm tra cuối bài này là tổng hợp tất cả các câu hỏi kiểm tra, bổ khuyết, nâng cao ở tất cả các phần trong bài Nó đạt được hai mục đích đồng thời: củng cố lại kiến thức toàn bài cho HS, giúp HS tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của bản thân từ đó tìm có cách khắc phục kịp thời để nâng cao kết quả học tập Thông qua

đó GV kiểm tra được trình độ và khả năng tự học của HS, quá trình đánh giá chính xác hơn

Trang 37

Bài tập này được soạn dưới hình thức trắc nghiệm khách quan, soạn bằng ngôn ngữ lập trình Visual Basic trong Microsoft Powerpoint

e) Bài tập

Sau khi học xong HS phải làm một số bài tập Bài tập này được ra dưới hình thức tự luận, HS nghiên cứu tự giải và nộp lại cho GV qua mạng bằng Word hoặc PDF Bài tập này góp phần rèn luyện kĩ năng trình bày bài giải cho HS, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức đã học để giải bài tập GV có điều kiện xem xét, đánh giá câu trả lời hoàn chỉnh của HS

f) Ôn tập toàn chương

Sau tất cả các bài học trong chương, cuối chương có phần tổng hợp kiến thức

lý thuyết trọng tâm của chương, những điểm lưu ý HS khi giải bài tập trong chương Đồng thời, đề tài còn tập hợp một số câu hỏi trong các đề thi đại học gần đây, thuộc phạm vi kiến thức của chương HS nếu có nhu cầu có thể tham khảo, bộ câu hỏi này được soạn trên ngôn ngữ lập trình Visual Basic trong Microsoft Powerpoint Mỗi bộ câu hỏi sẽ được tính điểm sau khi làm xong

2.3.3 Tiến trình sử dụng bài giảng điện tử hỗ trợ học sinh tự học chương Dao động cơ – Vật lý 12 Nâng cao

Trong quá trình nghiên cứu lí luận và thiết kế BGĐT hỗ trợ HS tự học Theo tôi, tiến trình sử dụng BGĐT để hỗ trợ HS tự học được thể hiện trong ví dụ sau:

Trang 38

BÀI 6: DAO DỘNG ĐIỀU HÒA

I Mục tiêu

1 Kiến thức

- Phát biểu được khái niệm dao động, dao động điều hòa, dao động tuần hoàn

- Sau khi GV sử dụng phần mềm phân tích video để khảo sát dao động của con lắc lò xo, HS dự đoán được nghiệm của phương trình động lực học của dao động, kiểm nghiệm được dạng nghiệm của dao động của dự đoán

- Phát biểu được ý nghĩa các đại lượng đặc trưng của dao động điều hòa, chu kỳ, tần số

- Xác định được biểu thức của vận tốc, gia tốc của vật dao động điều hòa, biết cách biểu diễn dao động điều hòa bằng vectơ quay

- Viết được điều kiện ban đầu tùy theo các kích thích dao động và từ điều kiện ban đầu suy ra biên độ A và pha ban đầu

2 Kĩ năng

- Rèn luyện cho HS kỹ năng đưa ra các dự đoán có căn cứ

- Rèn luyện kỹ năng logic toán học để khảo sát dao động của con lắc lò xo

- Rèn luyện kỹ năng biểu diễn dao động điều hòa bằng vectơ quay

- Vận dụng được các công thức trong bài để giải bài tập dao động điều hòa

3 Thái độ

- Có niềm đam mê, yêu thích khoa học; hứng thú khám phá, giải thích các hiện tượng trong cuộc sống bằng Vật lý học

- Hứng thú, tích cực và tự giác học tập nghiêm túc

II Kiểm tra bài cũ

Vì đây là bài mở đầu chương nên phần kiểm tra bài cũ không tổ chức

Trang 39

III Nội dung bài học (bài giảng)

Phần 1: Mở đầu

Mục tiêu của slide này là

giới thiệu cho HS một số hình

ảnh về dao động thường gặp

như: dao động của con lắc lò

xo, dao động của con lắc đơn

trong phòng thí nghiệm; dao

động của quả lắc đồng hồ; dao

động của bập bênh; dao động

của lá cây khi có gió

Từ đó dẫn dắt HS đến bài học “ Hằng ngày chúng ta thấy rất nhiều chuyển động khác với các chuyển động mà chúng ta đã học như: chuyển động của chiếc lá cây khi có gió, chuyển động của quả lắc đồng hồ, chuyển động của xích đu, chuyển động của con lắc lò xo trên đệm không khí…

Các chuyển động đó có tuân theo quy luật nào không? Bài học hôm nay sẽ giúp chúng ta trả lời câu hỏi đó.”

Phần 2: Dao động

a) Dao động là gì?

Mục đích của slide này là

đưa ra yêu cầu cho HS hãy quan

sát thí nghiệm và trả lời câu hỏi

(câu hỏi gợi ý)

HS lần lượt quan sát thí

nghiệm 1 mô tả dao động của

con lắc đơn, thí nghiệm 2 mô tả

dao động của con lắc lò xo bằng

cách kích vào nút

Trang 40

Thí nghiệm 1: Mô phỏng dao động của con lắc đơn

Thí nghiệm 2: Mô phỏng dao động của con lắc lò xo

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nông Đức Mạnh, Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về các Văn kiện Đại hội X của Đảng, 2006, trang 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về các Văn kiện Đại hội X của Đảng
[3] Nguyễn Cảnh Hòe – Phạm Huy Thông, Tài liệu Vật lý nâng cao các bài giảng theo chủ đề, Đại học Khoa học tự nhiên – ĐHQG Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Vật lý nâng cao các bài giảng theo chủ đề
[4] PGS. TS Vũ Thanh Khiết (chủ biên), Một số phương pháp chọn lọc Giải các bài toán Vật lý sơ cấp, NXB Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số phương pháp chọn lọc Giải các bài toán Vật lý sơ cấp
Nhà XB: NXB Hà Nội
[5] PGS. TSKH Nguyễn Văn Hộ, Lí luận dạy học, NXB GD, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học
Nhà XB: NXB GD
[6] TS Lê Thanh Huy, Bài giảng phương pháp và công nghệ dạy học (tài liệu lưu hành nội bộ), Đại Học Sư Phạm Đà Nẵng, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng phương pháp và công nghệ dạy học (tài liệu lưu hành nội bộ)
[7] Nguyễn Thế Khôi (tổng chủ biên), Sách GV Vật lí 12 nâng cao, NXB Giáo Dục, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách GV Vật lí 12 nâng cao
Nhà XB: NXB Giáo Dục
[8] Nguyễn Thế Khôi (tổng chủ biên), SGK Vật Lí 12 nâng cao, NXB Giáo Dục, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGK Vật Lí 12 nâng cao
Nhà XB: NXB Giáo Dục
[9] Trần Thúy Hằng – Hà Duyên Tùng, Thiết kế bài giảng Vật lý 12 nâng cao tập 1, NXB Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Vật lý 12 nâng cao tập 1
Nhà XB: NXB Hà Nội
[2] Ban chấp hành TW Đảng Cộng Sản Việt Nam (2011), Báo cáo chính trị Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Sơ đồ cấu trúc của bài giảng điện tử - Thiết kế bài giảng điện tử hỗ trợ học sinh tự học phần “dao động cơ” – vật lý 12 nâng cao
Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc của bài giảng điện tử (Trang 17)
Hình 1.2: Sơ đồ chức năng hỗ trợ của bài giảng điện tử đối với hoạt động - Thiết kế bài giảng điện tử hỗ trợ học sinh tự học phần “dao động cơ” – vật lý 12 nâng cao
Hình 1.2 Sơ đồ chức năng hỗ trợ của bài giảng điện tử đối với hoạt động (Trang 19)
Hình 1.4:  Sơ đồ cấu trúc tổ chức tự học của một phần - Thiết kế bài giảng điện tử hỗ trợ học sinh tự học phần “dao động cơ” – vật lý 12 nâng cao
Hình 1.4 Sơ đồ cấu trúc tổ chức tự học của một phần (Trang 30)
Hình 1.5: Sơ đồ cấu trúc tổ chức tự học cho học sinh với bài giảng điện tử. - Thiết kế bài giảng điện tử hỗ trợ học sinh tự học phần “dao động cơ” – vật lý 12 nâng cao
Hình 1.5 Sơ đồ cấu trúc tổ chức tự học cho học sinh với bài giảng điện tử (Trang 30)
Phần 6: Đồ thị (li độ) của dao động điều hòa. - Thiết kế bài giảng điện tử hỗ trợ học sinh tự học phần “dao động cơ” – vật lý 12 nâng cao
h ần 6: Đồ thị (li độ) của dao động điều hòa (Trang 46)
Đồ thị bên dưới. - Thiết kế bài giảng điện tử hỗ trợ học sinh tự học phần “dao động cơ” – vật lý 12 nâng cao
th ị bên dưới (Trang 46)
Hình động về con lắc đơn (con - Thiết kế bài giảng điện tử hỗ trợ học sinh tự học phần “dao động cơ” – vật lý 12 nâng cao
nh động về con lắc đơn (con (Trang 69)
Hình 8.1 Đường biểu diễn biến đổi thế năng theo thời gian ( ) - Thiết kế bài giảng điện tử hỗ trợ học sinh tự học phần “dao động cơ” – vật lý 12 nâng cao
Hình 8.1 Đường biểu diễn biến đổi thế năng theo thời gian ( ) (Trang 83)
Bảng  so  sánh  giá  trị  động  năng - Thiết kế bài giảng điện tử hỗ trợ học sinh tự học phần “dao động cơ” – vật lý 12 nâng cao
ng so sánh giá trị động năng (Trang 86)
Sơ đồ mối liên hệ giữa các lực, con lắc lò xo và cơ năng của con lắc lò xo dao  động điều hòa được thiết lập - Thiết kế bài giảng điện tử hỗ trợ học sinh tự học phần “dao động cơ” – vật lý 12 nâng cao
Sơ đồ m ối liên hệ giữa các lực, con lắc lò xo và cơ năng của con lắc lò xo dao động điều hòa được thiết lập (Trang 87)
Hình vẽ. - Thiết kế bài giảng điện tử hỗ trợ học sinh tự học phần “dao động cơ” – vật lý 12 nâng cao
Hình v ẽ (Trang 115)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w