- Đề tài đưa ra các biện pháp để thiết kế nên giờ dạy học, hoạt động của giáo viên hoạt động của học sinh tăng dần về cấp độ tư duy đồng thời tạo ra được môi trường học tập tích cực, chủ
Trang 1sự phát triển toàn diện về nhân cách, chú trọng xây dựng một môi trường dạy và học thân thiện tích cực Cụ thể là cần phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; Phát huy tính tích cực chủ động phải phù hợp với từng lớp học, môn học, đồng thời bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng tự làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh (theo luật giáo dục số 38/2005/QH11, điều 28 về phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của sinh)
Căn cứ chỉ thị số 40/2008/CT-BGD ĐT ngày 27/7/2008 của Bộ giáo dục; Nghị định số 80/2017/NĐ-CP ngày 17/7/2017 của chính phủ và quyết định số 5886/QĐ-BGD ĐT ngày 28/12/2017 của BGD-ĐT về vấn đề xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực và chống bạo lực học đường Phong trào này được phát triển rộng khắp ở các trường học, từ bậc mầm non đến bậc trung học phổ thông, mang lại hiệu quả thiết thực cho ngành giáo dục và xã hội Muốn xây dựng được ngôi trường thân thiện, học sinh tích cực thì mỗi giáo viên cần xây dựng tốt mỗi tiết dạy học là một giờ học thân thiện, tích cực nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động sáng tạo của các học sinh
Môn Toán là một trong những môn học ở trường phổ thông hỗ trợ cho rất nhiều môn học khác, vì vậy việc nâng cao chất lượng dạy và học môn Toán tại Trường THPT là một nhiệm vụ cần thiết và cấp bách hơn bao giờ hết Xây dựng mỗi giờ dạy môn Toán nhằm nâng cao phẩm chất năng lực của học sinh là cách xây dựng giờ học đầy thân thiện, cởi mở phát huy tối đa tính sáng tạo của mỗi học sinh đồng thời mang đến cho các em những điều thú vị, mới mẻ không chỉ trong kiến thức toán học mà còn đưa đến cho các em những điều thích hợp trong cuộc sống, góp phần hình thành kỹ năng sống cho các em
Hiện nay, tình trạng học sinh thờ ơ với việc học nói chung và e ngại trước
bộ môn toán nói riêng ngày càng nhiều Bên cạnh đó tình trạng xuống cấp về đạo đức, hành vi, thái độ ứng xử của học sinh với bạn bè , thầy cô gia đình và xã hội ngày càng rõ nét Chính vì những điều đó, trong những năm học vừa qua bản thân
Trang 2cuốn người nghe, người đọc…Bởi vậy, tôi xin chia sẻ “Một số biện pháp xây dựng giờ học môn Toán thân thiện tích cực nhằm nâng cao chất lượng và phát huy phẩm chất, năng lực của học sinh tại Trường THPT Tây Hiếu” Bản thân
tôi cho rằng đây là vấn đề thực sự có tính mới mẻ, tính cấp thiết, thiết thực , tính khả thi cao và có ý nghĩa thực tiễn rất lớn
II Tính mới của đề tài:
- Đây là đề tài nghiên cứu đầu tiên đề cập đến vấn đề xây dựng giờ học môn Toán nhằm nâng cao chất lượng và phát huy phẩm chất năng lực của học sinh tại
trường THPT Tây Hiếu
- Đề tài đưa ra các biện pháp để thiết kế nên giờ dạy học, hoạt động của giáo viên hoạt động của học sinh tăng dần về cấp độ tư duy đồng thời tạo ra được môi trường học tập tích cực, chủ động, tạo được niềm vui cho người dạy và người học
- Xây dựng giờ học Toán thân thiện, tích cực đề tài đã đưa ra một số biện pháp để góp phần hình thành kỹ năng sống cho các em học sinh, trong đó đặc biệt chú trọng kỹ năng trình bày, kỹ năng nói, bản lĩnh tự tin của mỗi cá nhân
III Kế hoạch nghiên cứu :
- Năm học 2018-2019 đến năm học 2020-2021
IV Đối tượng nghiên cứu:
Giáo viên và học sinh trường THPT Tây Hiếu
V Phương pháp nghiên cứu:
- Biện pháp xây dựng giờ dạy và học phù hợp với đối tượng học sinh nhăm nâng cao chất lượng
- Biện pháp xây dựng giờ học môn Toán tạo được môi trường để các em học tập và hình thành các kỹ năng sống cần thiết cho bản thân nhằm nâng cao phẩm chất đạo đức cho các em học sinh đang độ tuổi trưởng thành
Trang 3
3
PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I Cơ sở lí luận
1 Trường học thân thiện, học sinh tích cực
Cùng với các cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” và “Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, để tiếp tục tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác giáo dục toàn diện cho học sinh, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phát động phong trào thi đua
“Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008-2013 Các cơ sở giáo dục phổ thông phải bám sát mục tiêu: Huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong và ngoài nhà trường để xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, hiệu quả, phù hợp với điều kiện của địa phương và đáp ứng nhu cầu xã hội Đồng thời phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học sinh trong học tập và các hoạt động xã hội một cách phù hợp và hiệu quả
Bên cạnh đó các cơ sở giáo dục phải chú trọng đến công tác tập trung các nguồn lực để giải quyết dứt điểm những yếu kém về cơ sở vật chất, thiết bị trường học, tạo điều kiện cho học sinh khi đến trường được an toàn, thân thiện, vui vẻ Phát huy sự chủ động, sáng tạo của thầy, cô giáo đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục trong điều kiện hội nhập quốc tế Huy động và tạo điều kiện
để có sự tham gia hoạt động đa dạng và phong phú của các tổ chức, cá nhân trong việc giáo dục văn hóa, truyền thống lịch sử, cách mạng cho học sinh
Phong trào thi đua phải đảm bảo tính tự giác, không gây áp lực quá tải trong công việc của nhà trường, sát với điều kiện ở cơ sở Nội dung cụ thể của phong trào là do cơ sở tự chọn, phù hợp với điều kiện của nhà trường, làm cho chất lượng giáo dục được nâng lên và có dấu ấn của địa phương một cách mạnh mẽ
Để thực hiện tốt phong trào theo tinh thần của chỉ thị Số: 40/2008/CT-BGDĐT mỗi cá nhân, mỗi lớp học sẽ là nhân tố quyết định cho mọi thành công đã đề ra Nội dung của chỉ thị đã được cơ sở giáo dục Trường THPT Tây hiếu thực hiện như sau:
Thứ nhất là: Xây dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn
- Bảo đảm trường an toàn, sạch sẽ, có cây xanh, thoáng mát và ngày càng đẹp hơn, lớp học đủ ánh sáng, bàn ghế hợp lứa tuổi học sinh
- Tổ chức để học sinh trồng cây vào dịp đầu xuân và chăm sóc cây thường xuyên
- Có đủ nhà vệ sinh được đặt ở vị trí phù hợp với cảnh quan trường học, được giữ gìn vệ sinh sạch sẽ
- Học sinh tích cực tham gia bảo vệ cảnh quan môi trường, giữ vệ sinh các công trình công cộng, nhà trường, lớp học và cá nhân
Trang 44
Thứ hai là: Dạy và học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh
ở mỗi địa phương, giúp các em tự tin trong học tập
- Thầy, cô giáo tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm khuyến khích sự chuyên cần, tích cực, chủ động, sáng tạo và ý thức vươn lên, rèn luyện khả năng tự học của học sinh
Thứ ba là:Rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh
- Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc sống, thói quen
và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm
- Rèn luyện sức khỏe và ý thức bảo vệ sức khỏe, kỹ năng phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai nạn thương tích khác
- Rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội
Thứ tư là: Tổ chức các hoạt động tập thể vui tươi, lành mạnh
- Tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể thao một cách thiết thực, khuyến khích sự tham gia chủ động, tự giác của học sinh
- Tổ chức các trò chơi dân gian và các hoạt động vui chơi giải trí tích cực khác phù hợp với lứa tuổi của học sinh
Thứ năm là: Học sinh tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng ở địa phương
2 Phẩm chất và năng lực của học sinh
Chương trình giáo dục phổ thông mới với mục tiêu giáo dục học sinh phổ thông để rèn luyện tốt 5 phẩm chất và 10 năng lực Theo đó 5 phẩm chất chủ yếu cần có ở học sinh là:
Thứ nhất là yêu nước: Yêu thiên nhiên, yêu con người, tự hào về truyền thống
Việt Nam; sẵn sàng bảo vệ đất nước khi cần
Thứ hai là, nhân ái: Yêu quý mọi người; Tôn trọng sự khác biệt giữa mọi
người
Thứ ba là, chăm chỉ: Ham học; Chăm làm
Thứ tư là, trung thực: Tôn trọng lẽ phải, thật thà ngay thẳng, lên án cái xấu Thứ năm là, trách nhiệm: Có trách nhiệm với bản thân; Có trách nhiệm với
gia đình; Có trách nhiệm với nhà trường và xã hội; Có trách nhiệm với môi trường sống
Trang 55
Đồng thời, học sinh cần được phát triển 10 năng lực cốt lõi gồm:
- Năng lực tự chủ và tự học: Tự lực; Tự khẳng định và bảo vệ quyền, nhu cầu chính đáng; Tự kiểm soát tình cảm, thái độ, hành vi của mình; Tự định hướng; Tự học, tự hoàn thiện
- Năng lực giao tiếp và hợp tác: Xác định mục đích, nội dung, phương tiện và
thái độ giao tiếp; Thiết lập, phát triển các quan hệ xã hội, điều chỉnh và hóa giải các mâu thuẫn; Xác định mục đích và phương thức hợp tác; Xác định trách nhiệm
và hoạt động của bản thân; Xác định nhu cầu và khả năng của người hợp tác;
- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Nhận ra ý tưởng mới; Phát hiện và làm
rõ vấn đề; Hình thành và triển khai ý tưởng mới; Đề xuất, lựa chọn giải pháp;Tư duy độc lập
-Năng lực ngôn ngữ: Sử dụng Tiếng Việt; Sử dụng ngoại ngữ
- Năng lực tính toán: Hiểu biết kiến thức toán học phổ thông cơ bản; Biết cách
vận dụng các thao tác tư duy, suy luận, tính toán, ước lượng, sử dụng các công cụ tính toán và dụng cụ đo,…; đọc hiểu, diễn giải, phân tích, đánh giá tình huống có ý nghĩa toán học
- Năng lực khoa học:
Tìm hiểu tự nhiên: Hiểu biết kiến thức khoa học; Tìm tòi và khám phá thế giới tự
nhiên; Vận dụng kiến thức vào thực tiễn, ứng xử với tự nhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ môi trường
Tìm hiểu xã hội: Nắm được những tri thức cơ bản về đối tượng của các khoa học
xã hội; Hiểu và vận dụng được những cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học xã hội; Nắm được những tri thức cơ bản về xã hội loài người; Vận dụng được những tri thức về xã hội và văn hóa vào cuộc sống
- Năng lực Công nghệ: Thiết kế; Sử dụng; Giao tiếp; Đánh giá
Trang 66
- Năng lực Tin học: Sử dụng và quản lý các phương tiện, công cụ, các hệ thống tự
động hóa của công nghệ thông tin và truyền thông; Hiểu biết và ứng xử phù hợp chuẩn mực đạo đức, văn hóa và pháp luật trong xã hội thông tin và nền kinh tế tri thứ c
- Năng lực thẩm mỹ: Nhận biết các yếu tố thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài, cái
chân, cái thiện, cái cao cả); Phân tích, đánh giá các yếu tố thẩm mỹ; Tái hiện, sáng tạo và ứng dụng các yếu tố thẩm mỹ
- Năng lực thể chất: Sống thích ứng và hài hòa với môi trường; Nhận biết và có
các kỹ năng vận động cơ bản trong cuộc sống; Nhận biết và hình thành các tố chất thể lực cơ bản trong cuộc sống; Nhận biết và tham gia hoạt động thể dục thể thao; Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trình giáo dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt (năng khiếu) của học sinh
3 Môi trường dạy và học thân thiện, tích cực
Thân thiện là có tình cảm tốt, đối xử tử tế và thân thiết với nhau Bản thân khái niệm thân thiện đã hàm chứa sự bình đẳng, dân chủ về pháp lý và sự đùm bọc, cưu mang đầy tình người về đạo đức “Trường học thân thiện” đương nhiên phải thân thiện giữa tập thể sư phạm với học sinh, thân thiện với địa phương, phải thân thiện trong tập thể sư phạm với nhau
+)Trường học thân thiện trước hết là nơi tiếp nhận tất cả trong độ tuổi quy định đến trường và phải tạo điều kiện để thực hiện bình đẳng về quyền học tập và vui chơi cho học sinh
+) Trường học thân thiện là trường học có chất lượng giáo dục toàn diện và hiệu quả giáo dục không ngừng được nâng cao Đôi ngũ giáo viên phải thân thiện trong dạy học, thân thiện trong cách đánh giá kết quả rèn luyện và học tập của trò, đánh giá công bằng, khách quan với lương tâm và trách nhiệm của nhà giáo
+) Trường học thân thiện là trường học có môi trường sống lành mạnh, an toàn, sạch sẽ, là trường học có cơ sở vật chất đảm bảo các quyền tự nhiên thiết yếu cho trò như: Phòng học sạch sẽ, thoáng mát, đủ ánh sáng, có sân chơi bãi tập, có cây xanh, cây cảnh và cây bóng mát…
+) Trường học thân thiện là nơi huy động có hiệu quả sự tham gia của chính quyên, địa phương, các tổ chức đoàn thể trong và ngoài xã, các bậc cha mẹ học sinh, cán bộ giáo viên cùng đồng lòng, đồng sức để xây dựng nhà trường
+) Trường học thân thiện là nơi mà mọi người cảm thấy hạnh phúc, được tôn trọng khi được sống,làm việc và học tập trong chính ngôi trường đó
+) Học sinh tích cực: Là học sinh chủ động, sáng tạo trong học tập và nâng cao dần các thói quen, ý thức tìm tòi, tự đề xuất và giải quyết các vấn đề để nhằm đạt được kết quả học tập cao nhất Trò hăng hái nhận phần việc cụ thể, có tinh thần
Trang 77
trách nhiệm cao trong việc chăm sóc, bảo vệ và làm sạch thêm cảnh quan môi trường ở trường cũng như ở nhà Biết giữ gìn vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường lớp học Nhiệt tình tham gia các hoạt động tập thể, văn nghệ và các trò chơi dân gian
Tại Trường THPT Tây Hiếu phong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực được nhà trường cụ thể hóa bằng những việc làm thiết thực Ai đã từng tới ngôi trường của chúng tôi sẽ thấy được sự sạch sẽ, thoáng mát, với rất nhiều cây xanh Cô giáo Nguyễn Thị Bích Hạnh, Hiệu phó cùng với Ban giám hiệu nhà trường đã có nhiều giải pháp để giúp ngôi trường có một cảnh quan xanh, sạch, đẹp, an toàn như: Thường xuyên nhắc nhở, tổ chức cho học sinh tham gia bảo vệ, giữ gìn vệ sinh công cộng, vệ sinh trường lớp, đặc biệt là khu nhà vệ sinh của HS Các khối lớp thường xuyên thay phiên nhau quét dọn sân trường, lớp học, thu gom rác thải Ngay tại sân trường, học sinh còn tham gia trồng, chăm sóc các loại cây trồng và hoa Vì thế, cảnh quan trường học rất thân thiện,lành mạnh, an toàn, cơ sở vật chất tương đối đảm bảo để dạy và học Quang cảnh nhà trường luôn xanh, sạch, đẹp, con người thân thiện, đồng lòng xây dựng, hội cha mẹ phụ huynh quan tâm chia sẻ…
4 Giờ học thân thiện
+) Giờ học thân thiện là ở giờ học đó tạo được niềm hứng khởi cho cả người dạy và người học
+) Giờ học thân thiện là ở đó có sự tôn trọng giữa thầy và trò, giữa trò và trò +) Giờ học thân thiên là ở đó mọi sự việc được đối xử công bằng, bình đẳng, có
sự cởi mở của cả thầy và của trò
+) Giờ học thân thiện là ở đó có lời nói mộc mạc, một cử chỉ chân thành, một
nụ cười thân thiện, một ánh mắt trìu mến, sự ứng xử khéo léo… của người thầy sẽ tạo tính tích cực cho người học
II Cơ sở thực tiễn
1 Thực trạng chung
1.1 Từ xã hội:
Bộ môn Toán là bộ môn công cụ để giúp học sinh có những kiến thức cơ bản ban đầu để học tốt các bộ môn khác và trang bị những hành trang cần thiết bước vào đời
Từ trước đến nay khi nói về Toán học thì tất cả mọi người đều quan niệm rằng đó là môn học của những con số nên rất khô khan, trừu tượng, khó hiểu Sách giáo khoa thì rơi vào tình trạng nặng về kiến thức, lý thuyết nhiều,thiếu thực tiễn hoặc thực tiễn còn quá ít Bên cạnh đó các loại sách tham khảo thì quá tràn lan, học sinh không có kinh nghiệm trong việc lựa chọn cho mình những bộ sách tham khảo
Trang 88
phù hợp.Thời gian gần đây, vì tình hình diễn biến phúc tạp của đại dịch COVID-19
mà phong trào học Oline phát triển mạnh, các trung tâm đã có sự chuẩn bị công phu, đa dạng, thời gian học thì thuận tiện
1.2 Từ giáo viên:
Trong nhưng năm qua, Bộ giáo dục đã thay đổi hình thức kiểm tra đánh giá cuối cấp THPT cho bộ môn Toán, từ hình thức thi tự luận truyền thống chuyển sang hình thức thi trắc nghiệm Đây là sự chuyển biến lớn trong cách dạy và học của giáo viên và học sinh.Trong thời gian này, đội ngũ giáo viên nói chung, đội ngũ giáo viên bộ môn Toán nói riêng đã tích cực học hỏi, đổi mới phương pháp, hình thức dạy học để kích thích tư duy sáng tạo cho học sinh và bước đầu có những chuyển biến tích cực Tuy nhiên sự thay đổi theo hướng tích cực còn nhỏ giọt, chưa có hệ thống, đang tập trung vào các giáo viên ở các trường trọng điểm, hoặc các giáo viên cốt cán Theo tôi có những nguyên nhân sau:
- Đội ngũ giáo viên hiện nay chủ yếu được đào tạo đơn môn, chưa thực sự được trang bị một cách đầy đủ, có hệ thống, có chiều sâu về cơ sở lý luận dạy học nhất
là về tâm lý học lứa tuổi một cách chính thống, khoa học, hiện đại và thấu đáo Khi thực hiện chủ yếu giáo viên tự mày mò, tìm hiểuvà tiến hành thực hiện theo cảm tính, chủ quan
- Cách xác định mục tiêu bài dạy chưa thực sự chú trọng, đồng thời chưa thực
sự chú ý đến các mức độ nhận thức tư duy cần đạt để rèn luyện cho học sinh nhằm nâng cao phẩm chất năng lực học sinh
- Các hoạt động trong giờ học chủ yếu dựa vào sự tương tác giữa giáo viên với học sinh chua chú trọng đến quá trình tương tác giữa học sinh với học sinh.bên cạnh đó khi vào giờ học giáo viên mới chỉ chú trọng đến truyền đạt kiến thức, hình thức, phương pháp giảng dạy mà chưa thực sự quan tâm đến môi trường học tập , thái độ và cách hành xử của mọi thành viên tham gia vào các hoạt động học tập
- Giáo viên chưa được trang bị kỹ về lý luận và phương pháp dạy học toán hiện đại, nhiều giáo viên còn mơ hồ trước những lý luận về phương pháp dạy học nên kết quả đạt được là chưa cao
- Một số giáo viên chưa nhận thức đúng đắn về vấn đề đổi mới giáo dục phổ thông nên chưa có sự đầu tư, tìm tòi, sáng tạo, chưa thực sự thoát khỏi sự ràng buộc của SGK khi thiết kế bài dạy
- Giáo viên còn thiếu kiên trì với cái mới,vì dạy học theo lối truyền thống có phần nhẹ nhàng đơn giản, ít cần động não, đổ công sức Còn dạy học theo phương pháp mới thì giáo viền phải tốn nhiều thời gian, phải sáng tạo trong thiết kế bài dạy, sử dụng nhiều phương pháp, tình huống để từ đó dẫn dắt học sinh tìm tòi, khám phá, và xây dựng kiến thức
Trang 99
- Công tác đổi mới phương pháp ở các trường thiếu sự giám sát, nhắc nhở từ
lãnh đạo, bởi vậy giáo viên thực hiện công cuộc đổi mới theo hình thức đối phó và
được thực hiện trong các tiết dạy thao giảng, có giáo viên dự giờ
- Công tác dạy học của đại đa số giáo viên mới chỉ chú ý tới truyền thụ kiến
thức, chưa thực sự quan tâm việc rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết vấn
đề thực tiễn cho các em học sinh
- Bên cạnh đó đội ngũ giáo viên đa phần là giáo viên lâu năm nên khả năng
tiếp cận khoa học công nghệ vào giảng dạy chưa cao sẽ gặp khó khăn trong cách
thức dạy theo phương pháp mới, dẫn đến chất lượng thấp
1.3 Từ phía học sinh:
Trong thời đại ngày nay, các em học sinh đã có sự thay đổi nhiều về nhận
thức, khả năng nắm bắt nhịp điệu sống, cách thức tư duy sáng tạo hơn Đồng thời
việc tiếp nhận các tệ nạn xã hội cũng nhanh hơn Bên cạnh đó, học sinh ngày càng
lười suy nghĩ và xuống dốc về đạo đức ngày càng nhanh
Nhưng bộ môn toán là môn học cần rất nhiều đến khả năng tư duy và sáng tạo
trong quá trình học, mà đại đa số học sinh lười suy nghĩ chỉ mong may mắn trong
cách chọn bừa đáp án, mặt khác phải học rất nhiều môn nên học sinh bị phân tán
rất nhiều thời gian Việc học sinh tự tìm hiểu, đọc thêm tài liệu tham khảo chưa
thực sự được quan tâm, chú trọng một cách đúng đắn
2 Thực trạng riêng ở Trường THPT Tây Hiếu
Không ngoại trừ tình trạng chung của bộ phận giáo viên cả nước đã nêu ở trên,
thì tại trường THPT Tây Hiếu còn có các ưu điểm, hạn chế như sau:
- Ưu điểm
+) Trường THPT Tây Hiếu là trường học được đóng trên địa bàn thị xã Thái
Hòa Trường có đội ngũ giáo viên bộ môn Toán trẻ, đạt chuẩn
+) Đội ngũ lãnh đạo của trường trẻ, năng động, nhiệt tình, chú trọng vào công
tác đổi mới dạy và học ở giáo viên và học sinh Luôn nêu cao tiêu chí xây dựng
trường học thân thiện, học sinh tích cực
+) Đội ngũ giáo viên đoàn kết,nhiệt tình, có chất lượng chuyên môn, nghệp vụ
sư phạm, có tinh thần chia sẻ hợp tác với đồng nghiệp Có tinh thần cầu thị
+) Học sinh chủ yếu là con em nông thôn, thật thà, chất phác, sống giản dị có ý
chí vươn lên trong học tập
- Hạn chế:
+) Phần lớn giáo viên vẫn có sức ỳ lớn, ngại đổi mới, ngại tìm hiểu,khám phá
các phương pháp dạy học mới Đặc biệt chưa thật sự chú trọng đến việc xây dựng
một giờ dạy học có môi trường thân thiện, tích cực, nếu có thì mới vận dụng một
cách cảm tính, chủ quan chưa chú ý đến hướng phát huy phẩm chất năng lực của
Trang 10+) Chất lượng đầu vào còn thấp, thái độ ,ý thức,động cơ học tập và rèn luyện của đại đa số học sinh không cao Gia đình học sinh đại đa số là khó khăn,thiếu thốn về điều kiện vật chất, bên cạnh đó một bộ phận học sinh có bố, mẹ đi làm ăn
xa nên không thường xuyên quan tâm đến việc học của con em mình.Vì thế việc nhận thức về trách nhiệm, mục tiêu phân đấu, nỗ lực trong học tập chưa cao Nhiều
em còn rụt rè, chưa dám thể hiện chính kiến của bản thân, chưa chủ động trong các hoạt động chung và các hoạt động học tập
+) Cơ sở vật chất của nhà trường còn chưa hiện đại, việc đầu tư mỗi phòng học đầy đủ như máy chiếu, ti vi là không có Cả trường hiện tại mới có được 2 phòng máy chiếu
+) Bên cạnh đó việc học bộ môn toán ở THPT đòi hỏi các các em học sinh cần có sự đầu tư về cơ sở vật chất như: máy tính cầm tay, máy tính bàn, máy in, các loại tài liệu tham khảo,…ngoài ra học sinh đầu tư về mặt thời gian còn ít Đặc biệt tâm lý ngại khó, sợ môn Toán chiếm đại đa số học sinhTrường THPT Tây Hiếu
Trước thực trạng đó bản thân tôi đã từng bước nghiên cứu và tìm hướng để xây dựng nên một giờ học nói chung, giờ học Toán nói riêng tại Trường THPT Tây Hiếu trở nên thân thiện, tích cực nhằm nâng cao chất lượng và phát huy phẩm chất năng lực của học sinh
III Các biện pháp đề xuất
1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp
+) Phải đáp ứng yêu cầu phát triển nhân cách của học sinh
Nhân cách con người được xem là một chỉnh thể thống nhất giữa hai mặt
phẩm chất và năng lực Vì thế, trong quá trình dạy học phát triển phẩm chất, năng lực của người học là mục đích hướng người học tiếp cận gần hơn tới sự phát triển nhân cách của mình Trong quá trình áp dụng các giải pháp giáo dục, tôi nhận thấy cần áp dụng các giải pháp phát huy được cao nhất các yếu tố hình thành, phát triển nhân cách của học sinh, đảm bảo tính tự nhiên trong phát triển con người và nâng cao năng lực tự chủ của mỗi cá nhân,tôn trọng thế mạnh, đặc điểm riêng biệt của
từng học sinh
+) Phải đảm bảo quan điểm giáo dục theo phương pháp sư phạm Theo Thông tư 13/2012/TT-BGD ĐT đã chỉ ra rằng tiêu chuẩn về hoạt động giáo dục học sinh: Giáo dục kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tự nhận thức,kỹ năng ra quyết định,
Trang 1111
kỹ năng suy xét và giải quyết vấn đề kỹ năng đặt ra mục tiêu, kỹ năng ứng phó, kiềm chế, kỹ năng hợp tác và kỹ năng làm việc theo hóm cho học sinh Đồng thời giáo dục rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh thông qua giáo dục ý thức chấp hành luật ATGT, cách phòng chống tai nạn đuối nước, và các tai nạn thương tâm khác Thông qua việc thực hiện các quy định về vấn đề ứng xử có văn hóa, đoàn kết, nhân ái, giúp đỡ lẫn nhau, giáo dục về sức khỏe, thể chất và tinh thần, giáo dục về giới tính, tình yêu, hôn nhân, gia đình phù hợp với tâm lý lứa tuổi học sinh
+) Phải đảm bảo mục tiêu của môn học THPT : Thực hiện chương trình hợp lý nhằm đảm bảo cho học sinh có học vấn phổ thông, cơ bản theo một chuẩn thống nhất, đồng thời tạo điều kiện cho mỗi học sinh phát huy phẩm chất năng lực, giúp học sinh có đầy đủ phẩm chất của một công dân có ích, có những hiểu biết nhất định về kỹ thuật,chú trọng hướng nghiệp tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân luồng sau THPT để học sinh chọn ngành nghề học tiếp sau khi tốt nghiệp
+) Phải đảm bảo việc thiết kế giáo án dạy học xác định rõ mục tiêu bài học và phải xác định rõ các cấp độ theo thang tư duy Bloom để thiết kế hệ thống câu hỏi, bài tập theo mức độ phù hợp với năng lực giúp học sinh phát huy tối đa khả năng học tập của bản thân
+) Phải đảm bảo việc dạy học và kiểm tra đánh giá trong mỗi giờ học môn Toán cần dựa trên cơ sở: Đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực học sinh của Bộ Giáo dục, chú trọng vào khâu vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau
+) Phải đảm bảo vận dụng tốt các quy tắc tâm lý học sư phạm, đặc biệt là quan tâm đến các thành phần khác nhau của hạnh phúc tinh thần, khả năng tự tin,
kỹ năng đối mặt với cảm xúc…
+) Phải đảm bảo tính hoạt động thực tiễn giáo dục tại Trường THPT Tây Hiếu Các giải pháp phải phù hợp với điều kiện của nhà trường, đặc điểm tâm lý học sinh và đặc biệt đảm bảo tính thiết thực, hài hòa, phù hợp về nội dung, phương
pháp để tạo điều kiện tốt nhất cho học sinh phát triển hết phẩm chất năng lực
2 Một số biện pháp đề xuất
2.1 Biện pháp: Giáo viên cần phải đổi mới:
Để xây dựng nên giờ học thân thiện thì giáo viên cần phải đổi mới về mọi mặt Đổi mới về tư tưởng, phong cách Đổi mới về phương pháp dạy học Đổi mới
về cách kiểm tra đánh giá học sinh Đồng thời giáo viên cần phải chịu khó, cần mẫn, và có kỹ năng xử lý tình huống tốt Bên cạnh đó bản thân mỗi giáo viên cần tích cực tự giác nâng cao trình độ chuyên môn, luôn có ý thức trách nhiệm nghề nghiệp cao Công tác này được thể hiện qua việc mỗi cá nhân không ngừng học hỏi, trao đổi kinh nghiệm cũng như thường xuyên tham gia các cuộc thi giáo viên dạy giỏi, tham gia ôn thi học sinh giỏi cấp trường, cấp tỉnh, tham gia vào các
Trang 1212
nhóm, các diễn đàn của giáo viên về bộ môn Toán để từ đó học hỏi thêm về kinh nghiệm giảng dạy Đặc biệt các giáo viên cần tích cực dự giờ thăm lớp các đồng nghiệp trong và ngoài tổ, trong và ngoài nhà trường để trau dồi kỹ năng đứng lớp, theo tôi mỗi giáo viên cần đổi mới các vấn đề sau
* Thứ nhất: Giáo viên cần phải thay đổi phong cách giảng dạy
Có nhiều lúc chúng ta quan niệm rằng, nguyên nhân của các vấn
đề về hành vi là do người học Nhưng thực sự, rất nhiều vấn đề đến từ chính phương pháp giảng dạy của giáo viên Học sinh thường mất hứng thú khi các bài học được tiến hành một đơn điệu, nhàm chán Sự nhàm chán này sẽ kéo theo các vấn đề về hành vi như nói chuyện riêng, không ghi chép bài, không lắng nghe giáo viên giảng, không muốn thực hiện nhiệm vụ… Vì thế, cách tốt nhất là thay đổi phong cách giảng dạy Nếu như đứa trẻ không thể học theo cách mà chúng ta đã dạy, nên chăng, chúng ta nên thay đổi phương pháp giảng dạy để học sinh có thể học Mỗi giáo viên nên tìm hiểu đối tượng học sinh mà mình trực tiếp giảng dạy Đây là một trong những điều quan trọng nhất mà bản thân chúng ta phải làm để phân hóa , nắm rõ các đặc điểm tâm lý của từng đối tượng để từ đó lên kế hoạch thúc đẩy sự phát triển tích cực nhất cho mỗi cá nhân học sinh Cụ thể : Tìm hiểu học sinh qua lý lịch để nắm bắt được hoàn cảnh gia đình, môi trường sống, tìm hiểu sự quan tâm, kỳ vọng của gia đình vào các em như thế nào, đồng thời tìm hiểu được sở thích, mục tiêu học tập, kỹ năng làm việc, kỹ năng hợp tác của từng cá nhân học sinh
Từ việc tìm hiểu đối tượng học tập, người giáo viên điều chỉnh phong cách làm việc của mình sao cho phù hợp với học sinh, lớp học Thông thường giáo viên lâu năm thường sử dụng lại giáo án,tuy nhiên đây lại là yếu tố khiến cho bản thân giáo viên cũng cảm thấy nhàm chán dẫn đến giờ dạy kém hấp dẫn Do đó giáo viên cần xây dựng kế hoạch và thiết kế giáo án mới hoặc một phần trong giáo án sẽ có nhiều lợi ích trong dạy học
* Thứ hai: Giáo viên cần thay đổi về cách sử dụng thiết bị dạy học để phục
vụ cho bài dạy hiệu quả hơn
Cụ thể: Giáo viên phải vận dụng linh hoạt các thiết bị dạy học như: tranh ảnh, bảng phụ, máy chiếu, đặc biệt phải có kỹ năng dùng máy tính bỏ túi để giải toán, đồng thời mỗi giáo viên chúng ta cần biết kết hợp tốt các kỹ thuật dạy học hiện đại Nếu giáo viên bộ môn Toán trong giai đoạn hiện nay mà không sử dụng được các thiết bị dạy học như trên thì tiết học nhàm chán, đồng thời hạn chế rất nhiều đến sự phát triển năng lực của học sinh
* Thứ ba: Giáo viên cần đổi mới cách quản lý lớp học
Trang 13Do đó, nếu giáo viên bước vào lớp biết quan sát vị trí ngồi của các em, quan sát đến thái độ của học sinh, biết nắm bắt diễn biến tâm lý của học sinh để từ đó có các cách ứng xử khéo léo lôi cuốn học sinh vào bài học
* Thứ tư: Giáo viên cần chú trọng trong công tác kiểm tra đánh giá
Giáo viên cần biết lập kế hoạch kiểm tra, đánh giá theo chủ đề, bài dạy môn Toán theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS.Tức là giáo viên phải nắm được kiểm tra, đánh giá trong dạy học theo một bài dạy phù hợp với hình thức đánh giá thường xuyên, có mục đích cung cấp thông tin phản hồi cho GV và HS để kịp thời điều chỉnh quá trình dạy học, hỗ trợ thúc đẩy sự tiến bộ của HS theo mục tiêu giáo dục
2 2 Biện pháp xây dựng giờ học thân thiện
Như chúng ta đã nắm bắt được giờ học thân thiện là giờ học đảm bảo cho người dạy và người học cảm thấy thoải mái, vui vẻ, hạnh phúc, hiệu quả thu được
là cao nhất Để đảm bảo được giờ học như thế thì cần thực hiện các giải pháp như sau:
* Đối với học sinh:
+) Cần giữ vệ sinh lớp học sạch sẽ ngăn nắp,học sinh ăn mặc gọn gàng đúng quy định
+) Đồ dùng học tập đầy đủ, chuẩn bị bài tập chu đáo
+) Thái độ nghiêm túc, tâm lý học thoải mái, có ý thức vươn lên trong học tập
* Đối với giáo viên:
+) Giúp học sinh có hứng thú trong học tập, thu hút được tất cả học sinh vào quá trình học Học sinh chủ động, tích cực học tập, ghi nhớ kiến thức sâu hơn, kĩ hơn, tiết học không nặng nề, đơn điệu Tiết học diễn ra nhẹ nhàng, thân thiện nhưng vẫn đảm bảo được việc giáo dục toàn diện cho học sinh về thái độ, tình cảm, thẩm mĩ Cập nhật được những vấn đề xung quanh gắn với đời sống thực tế của học sinh Phát huy được tính năng động, sáng tạo trong các em
+) Giáo viên phải có thái độ nghiêm túc và trách nhiệm cao trong công tác dạy học, luôn tận tâm, tận lực cho sự nghiệp
+) Giáo viên cần nắm vững tâm lý học lứa tuổi và có kỹ năng xử lý tình huống thật khéo léo và nhân ái Luôn đặt ra nội quy nhưng không được quá nghiêm khắc
Trang 14+) Luôn phải giữ bình tĩnh trong mọi trường hợp Để quản lý lớp học hiệu quả, điều quan trọng là phải kiểm soát được cảm xúc của bản thân Một giáo viên mất bình tĩnh và la mắng học sinh sẽ là một giáo viên thất bại Nếu một học sinh trở nên “mất kiểm soát” có hành vi ngang ngược, hay phản ứng lại giáo viên, hãy thử đứng trong im lặng và nhìn thẳng vào học sinh Điều này sẽ cảnh báo chúng về sự thay đổi trong thái độ và sẽ khiến chúng nhận ra những hành vi không đúng (có thể
không phải ngay lập tức) Đối phó với các học sinh có hành vi sai trái cần yêu cầu
những học sinh có vấn đề về hành vi nói chuyện trực tiếp với giáo viên Trong quá trình đối thoại hãy giữ thái độ bình tĩnh và tôn trọng học sinh nhưng cũng thể hiện
sự kiên định đối với những hành vi không thể chấp nhận Hãy nhớ rằng, nếu bạn
bỏ qua một hành vi xấu dù là nhỏ, nghĩa là bạn đã nuôi dưỡng mầm mống của sự hỗn loạn sau này Cùng với đó, hãy cố gắng tìm hiểu những nguyên nhân đằng sau các hành vi sai trái của người học Từ đó, giáo viên có thể giải quyết tận gốc các hành vi không mong đợi
+) Xây dựng mối quan hệ tích cực với học sinh Để giúp một học sinh có hành
vi đúng, điều quan trọng là GV phải đặt mình vào vị trí của chúng và cùng đồng hành với những suy nghĩ, trải nghiệm của chúng Điều này sẽ giúp GV nhìn mọi thứ từ góc nhìn của học sinh và đồng cảm với những vấn đề mà chúng gặp phải
Hỗ trợ học sinh bằng cách khuyến khích, động viên không chỉ trong học tập mà còn với các hoạt động ngoại khóa Điều này sẽ giúp xây dựng một mối quan hệ giáo viên – học sinh đáng tin cậy và trung thực. Kiểm soát cảm xúc của bản thân, luôn tích cực Hãy chắc chắn rằng bạn đã để hành lý cảm xúc của mình bên ngoài lớp học Nếu bạn đang có những cảm xúc tiêu cực như giận dữ, buồn chán, thất vọng hay mệt mỏi…, hãy chắc chắn rằng bạn không thể hiện điều đó với học sinh của mình Một cảm xúc tồi tệ có thể lây lan nhanh như dịch Covid-19, và học sinh
là những đối tượng rất dễ bị lây nhiễm Là một giáo viên, bạn cần vượt qua điều đó
để cảm thấy hạnh phúc, luôn hào hứng và nhiệt tình với mỗi bài học, mỗi giờ lên lớp +) Cần tương tác và thân thiện: Tương tác với học sinh bằng cách nói chuyện hoặc sử dụng các cử chỉ, ngôn ngữ cơ thể (đôi khi đơn giản chỉ là gật đầu hay nở nụ cười) Trong trường hợp phải nói chuyện với học sinh, hãy sử dụng những thuật ngữ đơn giản để giúp chúng thoải mái hơn trong lớp học Tránh thuyết trình hay giảng đạo quá nhiều, đừng sử dụng những bài học đạo đức khô cứng và giáo điều vì chúng không hề có hiệu quả Giao tiếp và thu hút học sinh trong các
Trang 1515
cuộc trò chuyện sẽ thúc đẩy sự tự tin và hứng thú từ đó dẫn đến những thay đổi về hành vi trong lớp học
2.3 Biện pháp xây dựng giờ học Toán theo hướng phát triển năng lực
2.3.1: Mục tiêu dạy học Toán:
Mục tiêu dạy học của giờ học là mô tả các bước trung gian trên con đường lâu dài của phát triển năng lực Bằng cách phấn đấu để đạt tới kết quả nhất định, rất cụ thể và có thể kiểm tra được, mỗi một giờ học đóng góp cho sự hỗ trợ lâu dài đối với việc hình thành và phát triển năng lực tức là: Trong việc lập kế hoạch dạy học chi tiết, chúng ta cần mô tả các mục tiêu một cách rõ ràng sao cho:
+)Phải đạt được MTDH trong phạm vi khoảng thời gian xác định,Chẳng hạn trong một tiết học, một chủ đề dạy học là có thể kiểm tra được
+) Phải phát biểu rõ ràng mức độ gia tăng về kiến thức được hướng tới và những kỹ năng hoàn toàn cụ thể
+) Phải làm rõ trình tự, có hệ thống từng bước thực hiện
Mức độ trừu tượng hóa của MTDH Toán sẽ cho biết một mục tiêu được trình bày trừu tượng hay cụ thể tùy theo mục tiêu giáo dục chung của quốc gia, cấp học, năm học, mục tiêu của chương hay của một bài cụ thể Theo mức độ trừu tượng thì mục tiêu được chia thành các loại sau:
- Mục tiêu định hướng: Là MTDH rất khái quát và trừu tượng, không kiểm tra được
- Mục tiêu thô: Khái quát và trừu tượng
- Mục tiêu tinh: Đặc trung và cụ thể, dễ kiểm tra
- Đối với mục tiêu Tinh: Vận dụng được các thao tác, phương pháp, cách thức phân tích và tổng hợp kiến thức vào việc giải quyết một bài tập hoặc một đề thi Toán
Đồng thời giáo viên cần phải biết phân bậc trình độ trong mục tiêu dạy học Mức độ khó dễ của MTDH còn được gọi và thể hiện như các bậc của MTDH Trong mỗi bậc MTDH đều cần thực hiện những thao tác tư duy khác nhau
Nhận biết Trích dẫn, biểu diễn, đọc thuộc lòng, liệt kê ra, nêu tên, mô tả,
Trang 1616
Vận dụng cao Kết luận, đánh giá, phân tích lập luận, ra quyết định, lập kế
hoạch Đồng thời khi dạy học theo phương án phối hợp thì chúng ta cần thực hiện như sau:
Làm theo Làm theo mẫu tùng bước hành động
Luyện tập Tự luyện tập từng bước hành động
Phối hợp
Độc lập phối hợp các bước của hành động: sắp xếp, xác định mối quan hệ giữa các hành động, đôc lập thực hiện chuẩn xác các hành động
Giải quyết vấn đề: Độc lập hành động trong những tình huống khác nhau
Đối với đối tượng thấp hơn giáo viên có thể vận dụng cách thức phân bậc MTDH chúng ta chỉ có thể dạy đến 3 mức đầu tiên trong mỗi phân bậc MTDH
2.3.2: Dạy học theo phát triển năng lưc
Chương trình dạy học truyền thống
Chương trình dạy học truyền thống có thể gọi là chương trình giáo dục định hướng nội dung hay dạy học định hướng đầu vào.Đặc điểm của chương trình này
là chú trọng vào việc truyền thụ kiến thức, hệ thống tri tức khoa học theo các môn học đã được quy định trong chương trình dạy học.chú trọng trang bị cho người học
hệ thống tri thức khoa học khách quan về nhiều lĩnh vực khác nhau Tuy nhiên chuong trình dạy học truyền thống chưa chú trọng đầy đủ đến chủ thể người học cũng như chua chú ý đến khả năng ứng dụng tri thức vào thực tiễn MTDH thì đưa
ra một cách chung chung, không chi tiết, không nhất thiết phải quan sát, đánh giá không cụ thể nên không đảm bảo được chất lượng dạy học theo mục tiêu đề ra.Phương pháp dạy học thì bị động, việc quy định cứng nhắc những nội dung chi tiết trong chương trình sẽ không còn phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội cà khả năng tiếp nhận thông tin của các em học sinh
Chương trình dạy học theo định hướng năng lực:
Chương trình giáo dục định hướng năng lực hay dạy học định hướng kết quả đầu
ra là xu thế giáo dục quốc tế nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học Giáo dục theo định hướng hát triến nawg lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất, nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho người học năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Khác với chương trình dạy học truyền thống chương trình dạy học theo hướng phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả năng lực đầu ra Chương trình không quy định những nội dung dạy học chi tiết mà quy định những kết quả cuối cùng của học sinh Phương pháp dạy học được giáo viên sử dụng linh hoạt, chú trọng các quan điểm, phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực.Trong qua trình dạy học
Trang 1717
giáo viên chủ yếu là người tổ chức, hỗ trợ học sinh tự lực, tích cực lĩnh hội tri thức chú trọng năng lực giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp….Các hình thức tổ chức dạy học đa dạng, chú trọng vào các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, việc kiểm tra đánh giá có tính đến sự tiến bộ của học sinh trong suốt quá trình học tập, chú trọng khả năng ứng dụng thực tiễn
2.4 Một số biện pháp thiết kế dạy học môn Toán theo hướng phát triển năng lực người học đã được vận dụng trong thời gian qua tại Trường THPT Tây Hiếu
1 Quy trình chuẩn bị một giờ học:
Hoạt động chuẩn bị cho một giờ dạy học đối với GV thường được thể hiện qua việc chuẩn bị giáo án Đây là hoạt động xây dựng kế hoạch dạy học cho một bài học cụ thể, thể hiện mối quan hệ tương tác giữa GV với HS, giữa HS với HS nhằm đạt được những mục tiêu của bài học
Căn cứ trên giáo án, có thể vừa đánh giá được trình độ chuyên môn và tay nghề sư phạm của GV vừa thấy rõ quan niệm, nhận thứcâ của họ về các vấn đề giáo dục như: MTGD, nội dung giáo dục, cách sử dụng PPDH, thiết bị DH, hình thức tổ chức dạy học và cách đánh giá kết quả học tập của HS trong mối quan hệ với các yếu tố có tính chất tương đối ổn định như: Kế hoạch, thời gian, cơ sở vật chất và đối tượng học sinh Chính vì thế, hoạt động chuẩn bị cho một giờ học có vai trò và ý nghĩa rất quan trọng, quyết định nhiều tới chất lượng và hiệu quả giờ dạy
Từ thực tiễn dạy học, bản thân tôi có thể nêu thành quy trình chuẩn bị một giờ học với các bước thiết kế một giáo án và khung cấu trúc của một giáo án cụ thể như sau:
a Các bước thiết kế một giáo án theo định hướng phát triển năng lực
- Bước 1: Xác định mục tiêu của bài học căn cứ vào chuẩn kiến thức (KT), kĩ
năng (KN) và yêu cầu về thái độ trong chương trình Bước này được đặt ra bởi việc xác định mục tiêu của bài học là một khâu rất quan trọng, đóng vai trò thứ nhất, không thể thiếu của mỗi giáo án Mục tiêu vừa là cái đích hướng tới, vừa là yêu cầu cần đạt của giờ học; hay nói khác đi đó là thước đo kết quả quá trình dạy học
Nó giúp GV xác định rõ các nhiệm vụ sẽ phải làm (dẫn dắt HS tìm hiểu, vận dụng những KT, KN nào; phạm vi, mức độ đến đâu; qua đó giáo dục cho HS những bài học gì)
- Bước 2: Nghiên cứu SGK và các tài liệu liên quan để: hiểu chính xác, đầy đủ
những nội dung của bài học; xác định những KT, KN, thái độ cơ bản cần hình thành và phát triển ở HS; xác định trình tự logic của bài học
Bước này được đặt ra bởi nội dung bài học ngoài phần được trình bày trong SGK còn có thể đã được trình bày trong các tài liệu khác Kinh nghiệm cho thấy:
Trang 1818
trước hết nên đọc kĩ nội dung bài học và hướng dẫn tìm hiểu bài trong SGK để hiểu, đánh giá đúng nội dung bài học rồi mới chọn đọc thêm tư liệu để hiểu sâu, hiểu rộng nội dung bài học Mỗi GV không chỉ có KN tìm đúng, tìm trúng tư liệu cần đọc mà cần có KN định hướng cách chọn, đọc tư liệu cho HS GV nên chọn những tư liệu đã qua thẩm định, được đông đảo các nhà chuyên môn và GV tin cậy Việc đọc SGK, tài liệu phục vụ cho việc soạn giáo án có thể chia thành 3 cấp
- Bước 3: Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của HS, gồm:
xác định những KT, KN mà HS đã có và cần có; dự kiến những khó khăn, những tình huống có thể nảy sinh và các phương án giải quyết
Bước này được đặt ra bởi trong giờ học theo định hướng đổi mới PPDH, GV không những phải nắm vững nội dung bài học mà còn phải hiểu HS để lựa chọn PPDH, phương tiện dạy học, các hình thức tổ chức dạy học và đánh giá cho phù hợp Như vậy, trước khi soạn giáo án cho giờ học mới, GV phải lường trước các tình huống, các cách giải quyết nhiệm vụ học tập của HS Nói cách khác, tính khả thi của giáo án phụ thuộc vào trình độ, năng lực học tập của HS, được xuất phát
từ : những KT, KN mà HS đã có một cách chắc chắn, vững bền; những KT, KN
mà HS chưa có hoặc có thể quên; những khó khăn có thể nảy sinh trong quá trình học tập của HS Bước này chỉ là sự dự kiến; nhưng trong thực tiễn, có nhiều giờ học do không dự kiến trước, GV đã lúng túng trước những ý kiến không đồng nhất của HS với những biểu hiện rất đa dạng Do vậy, dù mất công nhưng mỗi GV nên dành thời gian để xem qua bài soạn của HS trước giờ học kết hợp với kiểm tra đánh giá thường xuyên để có thể dự kiến trước khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức cũng như phát huy tích cực vốn KT, KN đã có của HS
Trang 1919
- Bước 4: Lựa chọn PPDH, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học và
cách thức đánh giá thích hợp nhằm giúp HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo Bước này được đặt ra bởi trong giờ học theo định hướng đổi mới PPDH, GV phải quan tâm tới việc phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, KN vận dụng KT vào những tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn; tác động đến tư tưởng và tình cảm để đem lại niềm vui, hứng thú trong học tập cho HS Trong thực tiễn dạy học hiện nay, các GV vẫn quen với lối dạy học đồng loạt với những nhiệm vụ học tập không có tính phân hoá, ít chú ý tới năng lực học tập của từng đối tượng HS Đổi mới PPDH sẽ chú trọng cải tiến thực tiễn này, phát huy thế mạnh tổng hợp của các PPDH, PTDH, hình thức tổ chức dạy học và cách thức đánh giá nhằm tăng cường
sự tích cực học tập của các đối tượng HS trong giờ học
- Bước 5: Thiết kế giáo án
Đây là bước người GV bắt tay vào soạn giáo án - thiết kế nội dung, nhiệm vụ, cách thức hoạt động, thời gian và yêu cầu cần đạt cho từng hoạt động dạy của GV
và hoạt động học tập của HS
Trong thực tế, có nhiều GV khi soạn bài thường chỉ đọc SGK, sách GV và bắt tay ngay vào hoạt động thiết kế giáo án; thậm chí, có GV chỉ căn cứ vào những gợi ý của sách GV để thiết kế giáo án bỏ qua các khâu xác định mục tiêu bài học, xác định khả năng đáp ứng nhiệm vụ học tập của HS, nghiên cứu nội dung dạy học, lựa chọn các PPDH, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học và cách thức đánh giá thích hợp nhằm giúp HS học tập tích cực, chủ động, sáng tạo Cách làm như vậy không thể giúp GV có được một giáo án tốt và có những điều kiện để thực hiện một giờ dạy học tốt Về nguyên tắc, cần phải thực hiện qua các bước 1, 2, 3, 4 trên đây rồi hãy bắt tay vào soạn giáo án cụ thể
b Cấu trúc của một giáo án được thể hiện ở các nội dung sau:
- Mục tiêu bài học:
+ Nêu rõ yêu cầu HS cần đạt về KT, KN, thái độ;
+ Các mục tiêu được biểu đạt bằng động từ cụ thể, có thể lượng hóa được
- Chuẩn bị về phương pháp và phương tiện dạy học:
+ GV chuẩn bị các thiết bị dạy học (tranh ảnh, mô hình, hiện vật, hoá chất ), các phương tiện dạy học (máy chiếu, TV, đầu video, máy tính, máy projector ) và tài liệu dạy học cần thiết;
+ Hướng dẫn HS chuẩn bị bài học (soạn bài, làm bài tập, chuẩn bị tài liệu và đồ dùng học tập cần thiết)
- Tổ chức các hoạt động dạy học: Trình bày rõ cách thức triển khai các hoạt động dạy- học cụ thể Với mỗi hoạt động cần chỉ rõ:
+ Tên hoạt động;
Trang 2020
+ Mục tiêu của hoạt động;
+ Cách tiến hành hoạt động;
+ Thời lượng để thực hiện hoạt động;
+ Kết luận của GV về: những KT, KN, thái độ HS cần có sau hoạt động; những tình huống thực tiễn có thể vận dụng KT, KN, thái độ đã học để giải quyết; những sai sót thường gặp; những hậu quả có thể xảy ra nếu không có cách giải quyết phù hợp;
- Hướng dẫn các hoạt động tiếp nối: xác định những việc HS cần phải tiếp tục thực hiện sau giờ học để củng cố, khắc sâu, mở rộng bài cũ hoặc để chuẩn bị cho việc học bài mới
2 Phương án thực hiện giờ dạy học
Một giờ dạy học nên được thực hiện theo các bước cơ bản sau:
a Kiểm tra sự chuẩn bị của HS
- Kiểm tra tình hình nắm vững bài học cũ và những KT, KN đã học có liên quan đến bài mới
- Kiểm tra tình hình chuẩn bị bài mới (soạn bài, làm bài tập, chuẩn bị tài liệu và
đồ dùng học tập cần thiết))
Lưu ý: Việc kiểm tra sự chuẩn bị của HS có thể thực hiện đầu giờ học hoặc có thể đan xen trong quá trình dạy bài mới
b Tổ chức dạy và học bài mới
- GV giới thiệu bài mới: nêu nhiệm vụ học tập và cách thức thực hiện để đạt được mục tiêu bài học; tạo động cơ học tập cho HS
- GV tổ chức, hướng dẫn HS suy nghĩ, tìm hiểu, khám phá và lĩnh hội nội dung bài học, nhằm đạt được mục tiêu bài học với sự vận dụng PPDH phù hợp
c Luyện tập, củng cố:
GV hướng dẫn HS củng cố, khắc sâu những KT, KN, thái độ đã có thông qua hoạt động thực hành luyện tập có tính tổng hợp, nâng cao theo những hình thức khác nhau
d Đánh giá
- Trên cơ sở đối chiếu với mục tiêu bài học, GV dự kiến một số câu hỏi, bài tập
và tổ chức cho HS tự đánh giá về kết quả học tập của bản thân và của bạn
- GV đánh giá, tổng kết về kết quả giờ học
e Hướng dẫn HS học bài, làm việc ở nhà
- GV hướng dẫn HS luyện tập, củng cố bài cũ (thông qua làm bài tập, thực hành, thí nghiệm, hướng dẫn HS chuẩn bị bài học mới
Sự thành công của một giờ dạy theo định hướng đổi mới PPDH phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố trong đó quan trọng nhất là sự chủ động, linh hoạt, sáng tạo của cả người dạy và cả người học Những phần trình bày trên đây chỉ là những kinh
Trang 2121
nghiệm được đúc kết từ thực tiễn đổi mới PPDH trong nhiều năm qua ở trườngmà bản thân tôi đã thực hiện Dù ở điều kiện và hoàn cảnh nào, sự chuẩn bị chu đáo theo quy trình trên đều đem lại những giờ học có hiệu quả, bổ ích và hứng thú đối với cả người dạy, người học
Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa công tác chuẩn bi giáo án và quá trình vận dụng các phương pháp dạy học , kỹ thuật dạy học phù hợp với đối tượng HS, phù hợp với nội dung bài dạy phù hợp với cơ sở vật chấtt tại trường học sẽ đem đến cho học sinh những giờ học lý thú, hứng khởi và đầy sự sáng tạo
- Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp (có nhiều chủ đề)
- Kích thích sự tham gia tích cực của HS:
- Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (Không chỉ hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 1 mà còn phải truyền đạt lại kết quả vòng 1 và hoàn thành nhiệm
+ Mỗi cá nhân làm việc độc lập trong khoảng vài phút, suy nghĩ về câu hỏi, chủ
đề và ghi lại những ý kiến của mình
+ khi thảo luận nhóm phải đảm bảo mỗi thành viên trong từng nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao và trở thành “chuyên gia” của lĩnh vực đã tìm hiểu và có khả năng trình bày lại câu trả lời của nhóm ở vòng 2
Trang 22 Các nhóm mới thực hiện nhiệm vụ, trình bày và chia sẻ kết quả
Nhận xét: Khi vận dụng kỹ thuật trên có ưu điểm và nhược điểm như sau
1) Ưu điểm: Thể hiện được quan điểm , chiến lược học hợp tác và phân hóa,
củ thể là:
+) Học sinh đạt được mục tiêu học tập cá nhân cũng như làm việc cùng nhau
để đạt được mục tiêu chung của nhóm
+) Sự phối hợp theo nhóm nhỏ giúp tạo cơ hội nhiều hơn cho học tập có sự phân hóa
+) Tăng cường sự hợp tác, giao tiếp, học cách chia sẽ kinh nghiệm và tôn trọng lẫn nhau
2) Hạn chế:
+) Cần có đủ thời gian để thực hiện vòng 1, vòng 2
+) Đòi hỏi GV có kinh nghiệm tổ chức và chia nhóm tránh mất thời gian và lộn xộn khi học sinh di chuyển
Vận dụng kỹ thuật trên vào bài dạy: Xác định Tâm và bán kính mặt cầu ngoại tiếp hình chóp
Trang 23Phát phiếu học tập cho học sinh Trên phiếu học tập theo màu có đánh số từ 1 đến 15 Thông báo cho học sinh thời gian làm việc cá nhân và theo nhóm
- Vòng 2
Giáo viên thông báo chia thành 12 nhóm mới : mỗi nhóm 1 bàn (mỗi nhóm
có từ 3 đến 6 học sinh): nhóm 1 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 1,2; nhóm 2 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 3,4; nhóm 3 gồm các học sinh
có phiếu học tập mang số 5; nhóm 4 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 6;
… nhóm 12 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 14,15 Giáo viên thông báo thời gian làm việc nhóm mới
Các chuyên gia sẽ trình bày ý kiến của của nhóm mình ở vòng 1
Giao nhiệm vụ mới: Khi nào thì hình chóp có mặt cầu ngoại tiếp, khi đó hãy nêu cách xác định tâm và bán kính của nó
Ví dụ 2: Vận dụng vào bài dạy:Xây dựng công thức lượng giác (lớp 10)
cos(α-β)=cosαcosβ+sinαsinβ Vòng 1
Câu 1 Tính và so sánh các giá trị sau: 𝑐𝑜𝑠𝜋
(15 phiếu màu xanh đánh số từ 1 đến 15)
Câu 3.Cho hai góc lượng giác α và β hãy xác định tính đúng sai của mệnh đề: 𝑐𝑜𝑠𝛼 𝑐𝑜𝑠𝛽 + 𝑠𝑖𝑛𝛼𝑠𝑖𝑛𝛽 = cos(𝛼 − 𝛽)
(15 phiếu màu vàng đánh số từ 1 đến 15)
Lớp có 40 học sinh, có 12 bàn học
Giáo viên có thể chia thành 6 nhóm: mỗi nhóm gồm học sinh 2 bàn ghép lại (mỗi nhóm có 7 hoặc 8 học sinh) Giao nhiệm vụ: nhóm 1,2 nhận Câu 1 , nhóm 3,4 nhận Câu 2, nhóm 5,6 nhận Câu 3
Phát phiếu học tập cho học sinh Trên phiếu học tập theo màu có đánh số từ 1 đến
15 Thông báo cho học sinh thời gian làm việc cá nhân và theo nhóm
Trang 2424
- Vòng 2
Giáo viên thông báo chia thành 12 nhóm mới : mỗi nhóm 1 bàn (mỗi nhóm có
từ 3 đến 6 học sinh): nhóm 1 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 1,2; nhóm 2 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 3,4; nhóm 3 gồm các học sinh
có phiếu học tập mang số 5; nhóm 4 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 6;
… nhóm 12 gồm các học sinh có phiếu học tập mang số 14,15 Giáo viên thông báo thời gian làm việc nhóm mới
Các chuyên gia sẽ trình bày ý kiến của của nhóm mình ở vòng 1
Giao nhiệm vụ mới: Hãy chứng minh mệnh đề: 𝑐𝑜𝑠𝛼 𝑐𝑜𝑠𝛽 + 𝑠𝑖𝑛𝛼𝑠𝑖𝑛𝛽 =cos(𝛼 − 𝛽) với mọi 𝜶; 𝜷
a Kỹ thuật dạy học: MÔ HÌNH HÓA BÀI TOÁN THỰC TIỄN
Quá trình mô hình hóa toán học của PISA được gọi tên là toán học hóa Trong phần này, thuật ngữ toán học hóa được sử dụng trong PISA được hiểu theo nghĩa tương đương với mô hình hóa toán học Toán học hóa là một quá trình cơ bản mà
các HS dùng để giải quyết các vấn đề thực tế
CÁC QUY TRÌNH MÔ HÌNH HÓA TOÁN HỌC
Sau đây là ba quy trình mô hình hóa toán học được sử dụng nhiều trong những
thập niên vừa qua
Quy trình 1: Quy trình mô hình hóa toán học được Kaiser và Blum (2011) đề xuất như sau:
Hình 4.1 Quy trình mô hình hóa toán học 1
Trong đó:
(a) Xây dựng mô hình thực tế từ một tình huống thực tế;
(b) Xây đựng mô hình toán học từ mô hình thực tế;
(c) Giải quyết bài toán theo mô hình toán học đã chọn;
(d) Lý giải kết quả toán học theo tình huống thực tế
Trong quy trình này, chúng ta chấp nhận có nhiều mô hình toán học được xây
dựng để giải quyết tình huống thực tế
Để dễ hình dung khái niệm toán học hóa một cách cụ thể, ta xem xét thông qua vấn đề sau đây
Vấn đề: Nhà hàng nhật cần làm tường rào bao quanh mảnh đất với diện tích
600 m để làm bãi đỗ xe Biết rằng ba cạnh của khu đất được rào bằng loại thép lưới B40 chi phí là 20000 đ/m, mặt thứ 4 của mảnh đất do tiếp giáp với nhà hàng nên
(d)
Trang 25B2: Giải quyết bài toán trong toán học
Gọi các cạnh của mảnh đất là x, y
Theo giả thiết S=xy=450m
Chi phí để thực hiện công việc là : T=2x.20000+(y-5).20000+y.300000
=(2x+16y-5).20000 ≥4700000 Dấu bằng xảy ra khi và chỉ khi x=3√150 y=√150
Chu vi mảnh đất là 92,98m
B3 : Trả lời vấn đề đặt ra trong thực tiễn
Vậy số tiền mà nhà hàng Nhật cần bỏ ra ít nhất là 4700000
Qua đây ta có thể phát triễn các năng lực sau cho học sinh
1) Năng lực mô hình hóa
2) Năng lực giải quyết vấn đề
3) Năng lực tư duy và lập luận
4) Năng lực ngôn ngữ
5) Nằng lực sử dụng công cụ phương tiện
Bài 2 Công ty Vinamilk có hai dòng sản phẩm sữa tươi với bao bì là hộp giấy,
loại và loại Để sản xuất bao bì hộp giấy cho hai loại đó, công
ty Vinamilkđã đặt hàng hai công ty khác, một là Combibloc ở Đức và một là Tetra Pak ở Thụy Điển Hai công ty này đã thiết kế các hộp có kiểu dáng và kích thước khác nhau như hình ảnh dưới đây
Trang 2626
a) Công ty nào đã sử dụng ít nguyên vật liệu hơn với từng loại hộp
b) Giá sản phẩm của công ty nào rẻ hơn?
c) Thiết kế tình huống dạy học khái niệm toán học theo định hướng phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề có sự hỗ trợ của Công nghệ
Trang 2727
Bước 1: Tạo tình huống gợi vấn đề
Khi dạy học khái niệm, giáo viên (GV) cần biết cách tổ chức các hoạt động mang tính chất gợi vấn đề: có thể là vấn đề xuất phát từ đời sống thực tế hoặc xuất phát từ những mâu thuẫn nội bộ toán học, hoặc những vấn đề tương tự Đây chính
là hoạt động gợi động cơ mở đầu trong quá trình dạy học khái niệm Tuy nhiên không phải khái niệm nào cũng cần thiết tạo tình huống gợi vấn đề Có thể tuỳ theo Chuẩn kiến thức kĩ năng (KTKN) của từng loại khái niệm mà GV điều chỉnh sao cho đạt được Chuẩn KTKN mong muốn
Chẳng hạn khi dạy học khái niệm véctơ trong không gian, đối với khái niệm này chuẩn chỉ cần HS biết được các véctơ này có các đặc điểm giống với các véctơ trong mặt phẳng Do đó, trong quá trình dạy học GV tổ chức hoạt động kích thích
HS nhớ lại các khái niệm, tính chất véctơ trong mặt phẳng từ đó đi tới khái niệm véctơ trong không gian mà không hề có sự gò bó trong việc phát biểu định nghĩa
và không đi quá sâu vào các định nghĩa, tính chất Đồng thời giúp HS phân biệt được những điểm giống và khác nhau giữa hai khái niệm véctơ
Đối với khái niệm và tính chất của véctơ GV có thể tổ chức hoạt động làm việc theo nhóm trong lớp Hoạt động bàn luận và bổ sung lẫn nhau trong cùng một nhóm có những tác dụng nhất định
Nhưng dù hoạt động gợi động cơ mở đầu xuất phát từ thực tế hay từ nội bộ toán học thì đều có mục đích là đưa HS vào những tình huống gợi vấn đề hoặc những vấn đề xảy ra trong hiện thực khách quan cần câu trả lời, kích thích trí tò mò và tạo niềm tin cho HS rằng mình có thể giải đáp vấn đề đó
Ngoài ra khi dạy học khái niệm, việc gợi động cơ mở đầu xuất phát từ vấn đề thực tế có một ý nghĩa rất quan trọng Dạy học hình học không gian không có nghĩa
là dạy cho HS biết cách giải toán, biết các khái niệm mà còn cần làm cho HS hiểu được nó ứng dụng ở đâu trong thực tế và giải quyết các vấn đề dựa vào khái niệm nào, chính điều đó tạo nên hứng thú học tập cho HS
Tuy nhiên trong quá trình dạy học hình học không gian, không phải bao giờ việc gợi động cơ cho một vấn đề nào cũng có thể thực hiện được một cách dễ dàng,
nó gặp khá nhiều khó khăn bởi hình học không gian nằm trong không gian 3 chiều trong khi chúng ta lại biểu diễn nó trong không gian hai chiều Các mô hình, hình
Trình bày cách giải quyết và hình thành khái niệm mới
Vận dụng khái niệm: Giải quyết một vấn đề dựa vào khái niệm vừa học
Trang 28Vậy nếu xem cây cột là một đường thẳng, mặt phẳng đất là một mặt phẳng thì ta sẽ
có thể nói “đường thẳng vuông góc với mặt phẳng đáy” Vậy thế nào là “Đường thẳng vuông góc với mặt phẳng”? Ta xét bài toán sau :
“Trong mặt phẳng (P) cho hai đường thẳng cắt nhau b và c Chứng minh rằng nếu đường thẳng a vuông góc với cả b và c thì nó vuông góc với mọi đường thẳng nằm trong (P)”
Bước 2: Tìm thông tin về vấn đề
Khoảng thời gian trên lớp quá ít để có thể cho HS tìm hiểu thông tin về vấn đề đối với những vấn đề đòi hỏi nhiều thông tin thức tế Vì vậy có thể yêu cầu HS về nhà tìm hiểu những thông tin mà bạn cho là cần thiết cho buổi học hôm sau Ngoài tác dụng làm cho HS hình thành dần khả năng tự tìm hiểu vấn đề còn tập cho HS cách thức tìm kiếm, chắt lọc thông tin cũng như tận dụng hết các kỹ thuật hiện đại Bên cạnh đó những thông tin này khi được trao đổi với nhau qua bạn bè sẽ được lưu giữ lâu hơn, và việc trình bày thông tin cho người khác nảy sinh ý tưởng mới Chẳng hạn, đối với việc hình thành khái niệm “Đường thẳng vuông góc với mặt phẳng” HS cần áp dụng cách chứng minh đường thẳng a vuông góc với đường thẳng b Khi đó HS cần có những thông tin về cách chứng minh hai đường thẳng vuông góc, do đó trước khi học bài mới, GV có thể yêu cầu HS về nhà tìm các cách chứng minh hai đường thẳng vuông góc
Bước 3 : Phát hiện vấn đề
Ở giai đoạn phát hiện vấn đề, HS cần phân tích vấn đề và tự mình đặt ra các câu hỏi về vấn đề Hoạt động phát hiện vấn đề của HS tùy thuộc vào trình độ của
Trang 2929
HS và vấn đề đưa ra mà ta có thể để HS độc lập hoặc hợp tác làm việc với nhau theo nhóm làm việc hoặc làm việc dưới sự hướng dẫn của GV Có thể là trả lời vấn đáp phát hiện vấn đề … Tuy nhiên, dù ở hình thức nào thì ở giai đoạn này GV cần hình thành cho HS khả năng phát hiện ra mấu chốt của vấn đề, khả năng thiết lập các mối quan hệ giữa vấn đề với các đối tượng đã biết, GV là người hướng dẫn HS
tự đặt câu hỏi cho bản thân chứ không phải người trả lời câu hỏi cho HS Trong giai đoạn này, hoạt động gợi động cơ trung gian là rất cần thiết Những cách thường dùng để gợi động cơ trung gian đó là:
(1) Hướng đích: Hướng HS vào những mục tiêu đặt ra, vào hiệu quả dự kiến
của những hoạt động của họ nhằm đạt được những mục tiêu đó;
(2) Quy lạ về quen;
(3) Xét tương tự;
(4) Khái quát hoá;
(5) Xét sự biến thiên và phụ thuộc
Tuỳ theo từng nội dung dạy học khái niệm của từng bài, từng tình huống cụ thể mà GV lựa chọn cách gợi động cơ trung gian sao cho phù hợp
Bước 4: Giải quyết vấn đề
Sau quá trình phân tích, thiết lập các mối quan hệ giữa vấn đề với kiến thức đã biết, HS trình bày cách giải quyết của mình Ở bước này GV cần thực hiện một hoạt động không thể thiếu đó là hoạt động đánh giá lẫn nhau và đánh giá phản hồi đối với giải pháp HS đưa ra Hoạt động đánh giá của HS giúp HS hình thành được
tư duy phê phán, hay khả năng đánh giá ý tưởng của người khác và giải pháp của chính bản thân họ
Tuy nhiên cần lưu ý trong giai đoạn này không thể bỏ qua đánh giá phản hồi của
GV, GV không chỉ là người chính xác hóa lại nội dung kiến thức mà còn là người kết luận cuối cùng tính ngắn gọn, tính ưu việt của giải pháp
Khi bước vào phân tích một vấn đề HS đã được kích thích tò mò, dẫn đến một động lực phải làm rõ được vấn đề Do vậy, GV cần hướng dẫn HS bằng cách đưa
ra những câu hỏi hợp lí mang tính chất gợi mở Qua những lần như vậy những câu hỏi của GV sẽ trở thành vũ khí lợi hại cho HS đi tìm ra vấn đề Đặc biệt ở giai đoạn này nhiệm vụ của GV không hề bị mất đi mà nó có vai trò quan trọng hơn đó
là điều chỉnh định hướng cho HS khi lệch hướng vấn đề hoặc đánh giá sai về vấn
đề
Ví dụ : Hình thành khái niệm “Góc giữa đường thẳng và mặt phẳng”
GV yêu cầu HS cho biết góc của đường thẳng vuông góc với mặt phẳng ? Giải thích?
HS trả lời ngay góc của đường thẳng và mặt phẳng đó là 900, nhưng HS không
có câu giải thích thoả đáng bởi vì hình chiếu của đường thẳng vuông góc mặt
Trang 30Trong giai đoạn này GV có thể gợi mở vấn đề cho HS bằng các câu hỏi sau: GV: Các cách xác định góc giữa hai đường thẳng ?
HS: Xác định trực tiếp bằng cách đưa nó vào một tam giác nếu hai đường thẳng đó đồng phẳng;
Nếu hai đường thẳng không đồng phẳng, xác định góc giữa đường thẳng đó với đưòng thẳng song song với đường thẳng còn lại;
Xác định góc giữa hai đường thẳng dựa vào phương pháp vectơ, góc giữa hai đường thẳng bằng hoặc bù với góc giữa hai véctơ chỉ phương của hai đường thẳng đó
GV: Trong trường hợp này, góc giữa đường thẳng và điểm đó có thể quy về góc giữa hai véctơ nào?
HS: Góc giữa véctơ chỉ phương của đường thẳng đó và véctơ 0
Chú ý: - Trong quá trình này, GV cần lưu ý tới việc sử dụng các phần mềm dạy
học nhằm mục đích giúp HS dự đoán các tính chất, đặc điểm nổi bật của khái niệm
ta đang hướng tới
Ở bước này khi HS lúng túng trong việc giải quyết vấn đề GV cần hướng cho
HS quay trở lại phân tích vấn đề để tìm ra cách giải quyết
Bước 5: Hình thành khái niệm mới
Tất cả mọi tình huống trên đều nhằm mục đích giải quyết một nhiệm vụ đó
là kiến tạo một khái niệm mới cho HS bằng chính những hoạt động của HS Trong bước này cần làm cho HS nhận ra được dấu hiệu bản chất, đặc trưng của khái niệm Tuy nhiên hình thành khái niệm mới không chỉ dừng lại ở việc đưa ra khái niệm
mà cần đưa ra các câu hỏi cũng như tình huống giúp HS liên hệ, so sánh khái niệm này với các khái niệm khác Hoạt động này giúp HS khắc sâu khái niệm và hình thành khả năng so sánh, phân biệt đối với các khái niệm mới
Hoạt động này không những giúp HS hình thành khả năng chuyển đổi ngôn ngữ khái niệm một cách thành thục mà còn có tác dụng trong việc rèn luyện kĩ năng phát hiện vấn đề trong quá trình vận dụng khái niệm giải quyết các bài toán sẽ được trình bày trong bước 6
Bước 6: Vận dụng khái niệm
Dạy học khái niệm không chỉ dừng lại ở việc đưa ra khái niệm về đối tượng
mà còn phải vận dụng khái niệm về đối tượng vào thực tế hoặc các vấn đề có liên quan tới đối tượng đã định nghĩa Đây là một hoạt động không thể thiếu khi dạy
Trang 3131
học khái niệm Nó sẽ đánh giá HS hiểu về đối tượng như thế nào? Hoạt động này cũng chính là hoạt động phản hồi của HS về quá trình hình thành khái niệm vừa học
Bên cạnh đó, có những khái niệm khó hình thành từ thực tế hoặc dẫn dắt tới khái niệm Khi đó việc vận dụng khái niệm vào giải quyết các vấn đề lại là một hoạt dộng đóng vai trò hình thành khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề cho HS Vận dụng một khái niệm được thông qua hai hoạt động đó là nhận dạng một khái niệm và thể hiện một khái niệm Hoạt động nhận dạng và thể hiện một khái niệm chính là hoạt động cuối cùng đánh giá khả năng đạt Chuẩn KTKN của HS về khái niệm đó Do vậy, trong khi ra những bài tập vận dụng khái niệm đã học cần đảm bảo sao cho đánh giá được chính xác mức độ đạt đựơc của các đối tượng đã đạt yêu cầu hay chưa sau đó mới quan tâm tới việc điều chỉnh yêu cầu Chuẩn KTKN với từng đối tượng HS khác nhau
Ví dụ: Đối với hoạt động nhận dạng và thể hiện khái niệm về hai đường thẳng
chéo nhau trong không gian GV có thể ra cho HS bài tập sau:
Hãy chọn mệnh đề đúng trong các mệnh đề sau và giải thích?
(1) Hai đường thẳng không có điểm chung là hai đường thẳng chéo nhau
(2) Hai đường thẳng chéo nhau là hai đường thẳng thuộc cùng một mặt phẳng (3) Hai đường thẳng chéo nhau là hai đường thẳng không đồng phẳng
(4) Hai đường thẳng không song song và không cắt nhau là hai
đường thẳng chéo nhau
Trong hoạt động này, khi HS chọn được mệnh đề đúng tức là HS đã đạt được một tiêu chuẩn trong Chuẩn KTKN đó là “nhớ được khái niệm” Hoạt động yêu cầu HS giải thích chính là một hình thức nâng cao cấp độ yêu cầu về Chuẩn KTKN đối với từng đối tượng HS cần hiểu và phân biệt được bản chất của các khái niệm này mới
có thể giải thích một cách rõ ràng các mệnh đề trên Đối với quá trình này, GV có thể sử dụng phần mềm nhằm rèn luyện kĩ năng phát hiện vấn đề qua mô hình động:
Cho 3 đường thẳng a, b, c; hai đường thẳng nằm trong một mặt phẳng và đường thẳng còn lại không nằm trong mặt phẳng đó Cho một đường thẳng trong mặt phẳng chuyển động để tạo ra các trường hợp mâu thuẫn trong các mệnh đề sai (1), (2), (4)
Trang 3232
Hình 2a Hình 2b
Hình 2a tạo ra mâu thuẫn ở mệnh đề (1): a và b (hay a và c) chéo nhau nên không có điểm chung, b và c song song nên cũng không có điểm chung, do đó hai đường thẳng không có điểm chung chưa chắc đã là hai đường thẳng chéo nhau
Hình 2b tạo ra mâu thuẫn ở mệnh đề (4): a và b (hay a và c) chéo nhau nên không song song và không cắt nhau, b và c trùng nhau nên cũng không song song
và không cắt nhau, do đó hai đường thẳng không song song và không cắt nhau chưa chắc đã là hai đường thẳng chéo nhau
Mệnh đề (3) đúng vì đó là định nghĩa của hai đường thẳng chéo nhau còn mệnh đề (2) sai vì mâu thuẫn với mệnh đề (3)
c) Thiết kế tình huống dạy học định lí toán học theo định hướng phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề có sự hỗ trợ của Công nghệ thông tin
Một quy trình dạy học định lí theo hướng phát hiện và giải quyết vấn đề như sau:
Tạo tình huống gợi vấn đề: Tình huống thực tiễn hoặc nội bộ toán học
- Tìm hướng chứng minh mệnh đề dự đoán
- Trình bày cách giải quyết
Hình thành định lí: Phát biểu nội dung định lí
Củng cố định lí:
- Hoạt động ngôn ngữ
- Nhận dạng và thể hiện định lí
Khai thác các ứng dụng của định lí
Trang 3333
Sau đây chúng ta sẽ phân tích kỹ từng bước trong quy trình trên:
Bước 1: Tạo tình huống gợi vấn đề
Trong dạy học định lí, để khơi dậy nhu cầu nhận thức của HS, giáo viên cần tạo tình huống hàm chứa các đối tượng, các quan hệ, các quy luật chung ẩn chứa trong những trường hợp riêng lấy trong nội bộ toán học hoặc trong thực tiễn Đây chính là hoạt động gợi động cơ mở đầu trong dạy học định lí Tuy nhiên, không phải định lí nào cũng cần thiết tạo tình huống gợi vấn đề, tùy theo từng loại định lí
mà GV có thể tạo tình huống gợi vấn đề theo các cách thông dụng như sau:
Dự đoán nhờ nhận xét trực quan và thực nghiệm (nghiên cứu thực nghiệm qua các ví dụ, các đối tượng cụ thể: số, hình, đồ thị)
- Lật ngược vấn đề
- Xem xét tương tự
- Khái quát hóa
Nhưng dù hoạt động tạo tình huống gợi vấn đề xuất phát từ thực tế hay từ nội bộ toán học thì đều có mục đích chính là đưa HS vào những vấn đề xảy ra trong hiện thực khách quan cần câu trả lời, kích thích trí tò mò và tạo niềm tin cho học sinh rằng mình có thể giải đáp vấn đề đó
Ví dụ 1: Khái quát định lí Pi-ta-go trong tam giác vuông cho tứ diện vuông trong
không gian
GV: Yêu cầu HS phát biểu nội dung định lí Pi-ta-go trong tam giác vuông Từ kết quả của định lí Pi-ta-go trong mặt phẳng hãy mở rộng kết quả trong không gian? Việc mở rộng kết quả của một định lí trong mặt phẳng lên trong không gian là một việc làm tương đối khó với HS Tuy nhiên, nếu có sự hướng dẫn của GV, HS sẽ dần làm quen Ở đây, chúng ta có thể sử dụng CNTT để tạo tình huống gợi vấn đề cho học sinh
GV: Với tam diện ABCD
vuông ở A GV sử dụng công cụ
tính diện tích để xác định diện tích
của các mặt bên và diện tích mặt
đáy, sau đó so sánh S2∆BCD với tổng
của S2∆ABC, S2∆ACD và S2∆ADB
Qua hoạt động này HS sẽ phát hiện và đi đến phát biểu được định lí mở rộng lên không gian của định lí Pi-ta-go
“Cho tứ diện ABCD có tam diện ở đỉnh A vuông.Khi đó, bình phương diện tích mặt đáy bằng tổng bình phương diện tích các mặt bên”
Dạy học hình học không gian mà cụ thể là dạy học định lí trong hình học không gian, không chỉ là dạy cho học sinh nắm được định lí mà cần làm cho HS hiểu được cách vận dụng định lí và giải toán, ứng dụng của nó trong thực tế Tuy
Trang 3434
nhiên, trong quá trình dạy học hình học không gian không phải bao giờ việc gợi động cơ cho một định lí nào cũng có thể làm được một cách dễ dàng, nó gặp khá nhiều khó khăn bởi hình học không gian nằm trong không gian ba chiều trong khi chúng ta chỉ có thể biểu diễn nó trong không gian hai chiều Vì vậy, trong quá trình hình thành định lí cho HS có thể sử dụng sự hỗ trợ của CNTT để tạo các hình ảnh minh họa
Bước 2: HS khảo sát, phát hiện vấn đề
Qua các mô hình trực quan, các ví dụ, bài toán với hoạt động phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, hoạt động biến đổi đối tượng làm bộc lộ các mối liên hệ chung, các quy luật chung từ những tình huống mang những hình thức khác nhau
Ở giai đoạn này, HS cần phân tích vấn đề và tự mình đặt ra các câu hỏi về vấn đề Hoạt động khảo sát, phát hiện vấn đề của HS tùy thuộc vào trình độ của
HS và vấn đề đưa ra mà ta có thể để HS độc lập hoặc hợp tác làm việc với nhau theo nhóm hoặc làm việc dưới sự hướng dẫn của GV Tuy nhiên dù ở hình thức nào thì ở giai đoạn này, GV cần hình thành cho HS khả năng phát hiện mấu chốt của vấn đề, khả năng tìm ra những quy luật chung từ những đối tượng đã biết, qua
đó dự đoán mệnh đề
Trong quá trình này, GV cần lưu ý tới việc sử dụng các phần mềm dạy học nhằm mục đích giúp học sinh dự đoán các tính chất, đặc điểm nổi bật của đối tượng.Có nhiều hình thức để tập cho học sinh dự đoán mệnh đề từ đó hình thành định lí như:
- Dự đoán bằng đặc biệt hóa
- Dự đoán bằng tương tự hóa
- Dự đoán dựa vào những quan sát, phân tích, so sánh
Ví dụ 2: Dạy học định lí về công thức hình chiếu: S’= S.cosα
Trước hết GV đưa ra bài toán: cho hình chóp SABC, Có SA vuông góc với mặt phẳng (ABC), H là hình chiếu của A lên BC, α là góc tạo bởi 2 mặt phẳng (ABC) và (SBC),
Hãy nêu mối liên hệ giữa SABC và SSBC ?
Ở đây GV có thể sử dụng CNTT để giúp HS phát hiện vấn đề
GV sử dụng cabri để dựng hình, sử dụng công cụ đo diện tích để đo SABCvà SSBC,
Dùng công cụ đo góc để đo góc giữa hai mặt phẳng (ABC) và (SBC), cho kết quả:
Trang 3535
GV có thể dùng chức năng động thay đổi vị trí của điểm A và điểm S Cho HS quan sát thì thấy cosα thay đổi, SABC và SSBC cũng thay đổi, nhưng luôn thỏa mãn đẳng thức: cos ABC
SBC
S S
hình chiếu
Hoạt động trên có sự hỗ trợ của phần mềm cabri 3D đã giúp HS phát hiện vấn đề và tạo niềm tin để đi chứng minh vấn đề đó
Tuy nhiên việc áp dụng phần mềm có những ưu điểm và nhược điểm riêng của
nó Nếu ta sử dụng phần mềm một cách hợp lý, đúng lúc thì sẽ làm tăng hiệu quả của bài giảng, giúp HS tư duy, biết nhìn nhận bài toán dưới nhiều góc độ, nhất
là dưới góc độ của sự vận động, còn nếu ta lạm dụng những tính năng của phần mềm sẽ làm mất đi trí sáng tạo, tạo ra môi trường lười nhác cho HS Do đó việc sử dụng CNTT phải hợp lý, đúng cách
Bước 3: Giải quyết vấn đề
Sau quá trình biến đổi đối tượng, hoạt động điều ứng, phân tích, thiết lập các mối liên hệ giữa vấn đề với kiến thức đã biết, HS có thể trình bày cách giải quyết Giải thích các quy luật, các mối liên hệ theo quy tắc lôgic
Trong giai đoạn này, không thể bỏ qua đánh giá phản hồi của GV GV không chỉ là người chính xác hóa lại nội dung kiến thức mà còn là người kết luận cuối cùng tính ngắn gọn và ưu việt của giải pháp Một vấn đề có thể có nhiều hướng giải quyết, nhưng cần chọn ra hướng giải quyết tốt nhất cho HS Khi HS lúng túng trong việc giải quyết vấn đề thì GV cần hướng cho HS quay trở lại phân tích vấn đề để tìm ra cách giải quyết
Bước 4: Hình thành định lí
Tất cả mọi hoạt động ở trên đều nhằm mục đích giải quyết một vấn đề và khi vấn
đề được giải quyết là đã hoàn thành nhiệm vụ kiến tạo một định lí mới cho HS bằng những hoạt động của HS Ở bước này, cần làm cho HS nắm vững các điều kiện giả thiết và kết luận suy ra được khi có các giả thiết đó Nội dung của giả thiết phải đầy đủ, chính xác thì kết luận mới đúng
Bước 5: Củng cố định lí
Trang 3636
Việc củng cố tri thức, kỹ năng một cách có định hướng và có hệ thống có một ý nghĩa to lớn trong dạy học toán Củng cố cần được phát biểu thành mục tiêu trong chương trình, tức là không chỉ đối với tri thức mà còn đối với cả kỹ năng, kỹ xảo, thói quen và thái độ Tuy nhiên, việc củng cố ở đây ta chỉ xét ở việc củng cố tri thức
và kỹ năng
Hình thành định lí xong không chỉ dừng lại ở đó mà GV có thể đưa ra các câu hỏi, các tình huống giúp HS liên hệ, so sánh định lí này với các định lí đã được học, xem chúng có mối liên hệ như thế nào không, hoặc có những định lí ở không gian hai chiều thì đúng nhưng lên không gian ba chiều thì không còn đúng nữa Hoạt động này giúp học sinh nắm vững định lí và biết được tình huống đúng đắn của định lí trong từng trường hợp riêng
Khâu này thường được thực hiện bằng các hoạt động sau:
- Nhận dạng và thể hiện định lí
- Hoạt động ngôn ngữ
- Khái quát hóa, đặc biệt hóa và hệ thống hóa những định lí
Hoạt động củng cố định lí là rất cần thiết, qua đây giúp HS nắm được nội dung định lí, biết áp dụng định lí vào giải toán Có thể sử dụng sự hỗ trợ của CNTT để thực hiện hoạt động củng cố định lí
IV Hiệu quả khi sử dụng đề tài
Trong suốt thời gian áp dụng phương pháp xây dựng giờ học thân thiện, tích cực góp phần nâng cao chất lượng và phát huy phẩm chất năng lực của học sinh trong bộ môn Toán tại trường THPT Tây Hiếu Tôi đã thu được các kết quả đáng chú ý như sau:
Thứ nhất bản thân luôn là giáo viên được học sinh và đồng nghiệp tin tưởng vào phương pháp giảng dạy và hiệu quả công việc.như cá nhân đã đạt giáo viên giỏi tỉnh, đã bồi dưỡng được nhiều học sinh giỏi cấp tỉnh và học sinh thi THPT quốc gia đạt điểm cao
Thứ hai, các khóa học sinh mà bản thân tôi trực tiếp giảng dạy luôn có được
kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ứng xử tốt, kỹ năng giải quyết tốt các tình huống xuất phát từ thực tiễn cuộc sống
Thứ ba, đối các học sinh trong nhà trường: Các em sôi nổi, nhiệt tình đoàn kết Biết quan tâm chăm sóc lẫn nhau, Biết đấu tranh phê bình và tự phê bình,Các
em mạnh dạn hơn, tự tin hơn, kết quả học tập cũng tốt hơn
Kết quả thăm dò các học sinh khi giáo viên áp dụng phương pháp: Một số biện pháp xây dựng giờ học môn Toán nhằm nâng cao chất lượng và phát huy phẩm chất năng lực của học sinh
Trang 37Thứ năm,đối với những giáo viên vận dụng linh hoạt các giải pháp đã nêu cho
thấy được chất lượng của giờ dạy được cải tiến rõ nét.Bản thân luôn được học trò tin yêu, đồng nghiệp tín nhiệm Luôn có ý thức học hỏi để nâng cao chất lượng giờ dạy, nâng cao nghiệp vụ của bản thân
Phiếu thăm dò từ tập thể GV khi tham gia dự giờ thăm lớp ở các tiết học vận
dụng Một số biện pháp xây dựng giờ học môn Toán thân thiện, tích cực nhằm nâng cao chất lượng và phát huy phẩm chất năng lực của học sinh
Rất tốt Tốt Bình thường Không khả quan
16/39 41%
3/39 7,8%
0,0 0%
(2019- 2020) 5/39
12,8%
20/39 51,3%
14/39 35,9%
0.0 0%
0.0 0%
4/36 11,2 %
0.0 0%
0,0 0%
(2019- 2020)
12/36 33,3%
23/36 63,9%
1/36 2,8 %
0,0 0%
0,0 0%
Kết quả này cho thấy trong nhận thức cũng như trong thực tế, việc xây dựng giờ học thân thiện – tích cực đã ngày càng tác động tích cực và có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của HS Đây cũng là sự ghi nhận rõ nét cho sự nỗ lực, tìm tòi, áp dụng để đổi mới dạy học hiện nay nói chung, dạy học Tán nói riêng một cách cụ thể, hiện đại, thiết thực và hiệu quả Cụ thể là việc áp dụng các giải pháp mà đề tài nêu trên, có rất nhiều ý nghĩa:
Một là, nâng cao tinh thần học tập của mỗi cá nhân HS Khi được giao nhiệm
vụ, mỗi nhóm HS có cơ hội để tự khẳng định bản thân nên rất phấn chấn và quyết tâm cao để thực hiện và hoàn thành nhiệm vụ
Hai là, nâng cao tinh thần học tập của cả lớp Khi được bạn cùng lớp trình bày
bài giảng, tâm thế của HS thoải mái, việc tiếp nhận kiến thức trở nên nhẹ nhàng, mới lạ và đầy thích thú, hấp dẫn giúp tiết học trở nên sôi nổi và tích cực hơn, lượng kiến thức, kỹ năng lĩnh hội được cũng nhiều hơn
Trang 3838
Ba là, giúp hình thành và phát triển các năng lực toàn diện hơn, Ngoài năng
lực môn Toán được hình thành và phát triển tốt, các năng lực cần thiết khác cũng được phát triển theo để chuẩn bị cho HS sống và làm việc trong thế giới hiện đại
HS luôn biết nỗ lực khắc phục khó khăn, nhìn nhận mọi vấn đề theo chiều hướng lạc quan, tích cực, tiến bộ
Bốn là, đưa một phần hoạt động dạy học ra bên ngoài lớp học và thông qua
hoạt động học tập, rèn luyện cho HS khả năng hoạt động nhóm, khả năng tự học
và ý thức học tập suốt đời, rèn luyện khả năng giải quyết các tình huống khó khăn xuất phát trong thực tiễn cuộc sống HS hết sức chủ động khi tham gia vào tất cả các hoạt động mà các giải pháp trên hướng đến
III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
đề cập đến trong tất cả các tài liệu hiện hành liên quan Giải pháp này giúp tiết kiệm thời gian, nội dung bài giảng trở nên sâu sắc, HS dễ hiểu, dễ nhớ và rèn luyện được tư duy khái quát, tổng hợp, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực trình bày,… Đồng thời, cách thức dạy học này giúp giải quyết tình trạng quá tải, trùng lặp kiến thức, tạo được không khí nhẹ nhàng, sôi nổi, gây được hứng thú cho HS trong giờ học Với đề tài này, HS không chỉ có cách học một cách hiệu quả mà còn rèn luyện trau dồi được
kỹ năng sống, không chỉ phát triển về mặt trí tuệ mà còn có đời sống nội tâm phong phú và phẩm chất HS ngày càng hoàn thiện Hơn nữa, tiết dạy đã lồng ghép được với nội dung giáo dục về ý thức Việc dạy học khai thác tiềm năng của HS để dạy học và tổ chức các hoạt động trong nhà trường phổ thông là một hướng đi mới góp phần đổi mới PPDH nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục toàn diện cho HS Xây dựng giờ học môn Toán thân thiện để phát triển phẩm chất năng lực của của người học là xu thế phát triển của thời đại mới, là nhiệm vụ quan trọng cho mỗi giáo viên dạy Toán nói riêng và các giáo viên khác nói chung Với kỹ năng xây dựng thành công giờ dạy học như thế sẽ mang tới cho chúng ta hiệu quả về chất lượng cao
Trang 3939
Hiệu quả của đề tài tạo được sự chuyển biến tích cực từ học sinh cũng như bản thân, đồng thời chất lượng giờ học được nâng cao, học sinh hứng thú học toán hơn, giờ học sôi nổi tìm kiếm kiến thức mới, và đặc biệt hình thành được cho các
em bản lĩnh tự tin khi trình bày sản phẩm của bản thân, khi biết đấu tranh phê bình và tự phê bình, rèn luyện được cho các em kỹ năng nói và viết logic, lôi cuốn người nghe, người đọc
Đồng thời HS phát triển và hoàn thiện được các năng lực sau: Năng lực tự chủ
và tự học; Năng lực giao tiếp và hợp tác; Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo; Năng lực tính toán; Năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội; Năng lực ngôn ngữ; Năng lực Công nghệ; Năng lực Tin học; Năng lực thẩm mỹ; Năng lực thể chất HS được hình thành và phát triển phẩm chất: nhân ái (yêu bản thân, gia đình, bạn bè, thầy cô, mái trường), trung thực (nhận ra được những ưu nhược điểm, khát vọng của bản thân), trách nhiệm (hiểu đúng, đầy đủ về bản thân, về các bạn trong lớp, về
bố mẹ, về thầy cô), chăm chỉ (tự đặt mục tiêu và tìm ra cách học tập hiệu quả nhất)…
Đối với các giáo viên đề tài đã thực sự góp phần tích cực để đổi mới dạy học môn Toán theo xu hướng giáo dục hiện đại (sử dụng nhiều phương pháp, hình thức
tổ chức, quản lý, chỉ đạo HS một cách tích cực, linh hoạt).Xây dựng giờ dạy Toán thân thiện- tích cực sẽ giúp bản thân GV nâng cao kiến thức tổng hợp của nhiều lĩnh vực chuyên môn và đời sống Từ đó, GV có được kiến thức tổng hợp, khái quát và tư duy đa chiều trong quá trình dạy học
2 Khả năng ứng dụng đề tài vào thực tiễn
Vì đề tài được nghiên cứu và lấy kết quả từ thực tiễn giảng dạy của bản thân nên tính thực tiễn cao, thành công của đề tài phụ thuộc vào sự chịu khó, tính cần mẫn, sự cầu thị và sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa kỹ năng ứng xử , kỹ năng giao tiếp và kỹ năng tâm lý học lứa tuổi Do đó việc ứng dụng đề tài vào thực tế là hợp
lý và sẽ cho kết quả cao
3 Khả năng phát triển mở rộng của đề tài
Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở là phương pháp dạy học nên sẽ là tài liệu tham khảo tin cậy cho các giáo viên dạy môn Toán cũng như GV dạy các bộ môn khác, cho sinh viên, giảng viên, các nhà khoa học vận dụng trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, tiếp xúc để giáo dục HS, góp phần hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực người học
4 Kiến nghị
Nhà trường phải chú ý tập trung đổi mới sinh hoạt của tổ, nhóm chuyên môn
thông qua hoạt động nghiên cứu bài học Tăng cường các hoạt động dự giờ, rút kinh nghiệm để điều chỉnh và góp ý điều chỉnh nội dung dạy học các chủ đề tích hợp liên môn; hoàn thiện từng bước nội dung các chủ đề và kế hoạch môn học, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của