1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển năng lực hợp tác nhóm thông qua việc tổ chức các trò chơi trong các tiết dạy chương DÒNG điện KHÔNG đổi

76 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 3,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác dụng của việc tổ chức trò chơi dạy học để phát triển năng lực hợp tác nhóm của HS trong dạy học môn Vật lí ………... Mục đích nghiên cứu Thông qua nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN

TRƯỜNG THPT HOÀNG MAI 2

Đề tài:

Phát triển năng lực hợp tác nhóm thông qua việc tổ chức các trò chơi

trong các tiết dạy chương “DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI”

Vật lí lớp 11 – THPT (Môn: Vật lí)

Họ và tên : Hồ Thị Đức

Tổ : Khoa học tự nhiên Năm học : 2020 – 2021

Điện thoại : 0975149868

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU ……… 1

1 Lí do chọn đề tài ……… 1

2 Mục đích nghiên cứu ……… 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu ………2

4 Phương pháp nghiên cứu ……… 2

5 Kế hoạch nghiên cứu……… 2

6 Đóng góp của đề tài……… 3

PHẦN NỘI DUNG ……… 4

1 CƠ SỞ LÝ LUẬN ……… …… 4

1.1 Năng lực và sự phát triển năng lực HS ……… 4

1.1.1 Năng lực ……… 4

1.1.2 Sự phát triển năng lực HS ……… 5

1.2 Năng lực hợp tác nhóm ……… 5

1.3 Dạy học chủ đề ……… 5

1.4 Trò chơi trong dạy học ……… 6

1.4.1 Trò chơi học tập ……… 6

1.4.2 Ý nghĩa của trò chơi trong dạy học ……… 6

1.4.3 Cấu trúc chung của trò chơi dạy học ……… 6

1.5 Dạy học phát triển năng lực hợp tác nhóm bằng tổ chức các trò chơi ……… 7

1.5.1 Nội dung dạy học phát triển năng lực hợp tác nhóm bằng tổ chức các trò chơi ………7

1.5.2 Lựa chọn nhóm trò chơi cho dạy học phát triển năng lực hợp tác nhóm … 7

1.5.3 Các bước dạy học phát triển năng lực hợp tác nhóm bằng tổ chức các trò chơi ……… 7

1.5.4 Tác dụng của việc tổ chức trò chơi dạy học để phát triển năng lực hợp tác nhóm của HS trong dạy học môn Vật lí ……… 8

2 CƠ SỞ THỰC TIỄN ……… …… 9

2.1 Thực trạng sử dụng trò chơi trong dạy học ở trường THPT ……… 9

2.2 Thực trạng phát triển năng lực hợp tác nhóm cho HS trường THPT…… … 10

2.3 Thuận lợi và khó khăn trong việc áp dụng đề tài ……… …… 11

3 GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ ……….………… 12

Trang 4

3.1 Tổng quan chương II Vật lí lớp 11 – THPT ……… 12

3.1.1 Đặc điểm cấu trúc, vị trí chương II Vật lí lớp 11 – THPT ……… 12

3.1.2 Mục tiêu dạy học của chương II Vật lí lớp 11 – THPT ……… 13

3.2 Vận dụng trò chơi trong dạy học các chủ đề chương II Vật lí lớp 11 – THPT 14 3.2.1 Nguyên tắc lựa chọn trò chơi để dạy học chủ đề ……… 14

3.2.2 Quy trình tổ chức thực hiện các trò chơi trong các chủ đề chương II Vật lí lớp 11 – THPT ……… ……… 14

3.2.3 Sử dụng trò chơi trong các hoạt động học ở các chủ đề chương II Vật lí lớp 11 – THPT ……… ……… 15

3.2.3.1 Hoạt động hình thành kiến thức mới ……… ……… …… 15

3.2.3.2 Hoạt động củng cố, luyện tập ……… … 27

4 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM ……… 41

4.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm ……… ……… 41

4.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm ……… ……… 41

4.3 Đối tượng thực nghiệm ……… ……… 41

4.4 Tiến hành thực nghiệm ……… ……… 41

4.4.1 Chuẩn bị cho TNSP ……… …… 41

4.4.2 Phương pháp thực nghiệm ……… …… 41

4.5 Kết quả thực nghiệm ……….…… 41

PHẦN KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ……… 45

1 Kết luận ……… …… 45

2 Đề xuất ……… ……… 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO ………47

PHỤ LỤC ……….…… 48

Trang 6

ở chỗ HS thi đỗ nhiều hay ít mà là học đã chuẩn bị ra sao để vào đời Dựa trên tiêu chí đó tổ chức giáo dục Unesco đã đưa ra các mục tiêu chung mà các môn học phải hướng tới như: phát triển hiểu biết khoa học, phát triển được tư duy ở trình độ bậc cao như: phân tích, đánh giá, sáng tạo, các kĩ năng sống và làm việc trong xã hội thông tin: giao tiếp, ngôn ngữ, hợp tác, quản lí, tổ chức…

Vật lí học là ngành khoa học nghiên cứu các dạng vận động đơn giản, tổng quát nhất của vật chất và tương tác giữa chúng Ở cấp trung học phổ thông (THPT), Vật lí là môn học thuộc nhóm môn Khoa học tự nhiên, được lựa chọn theo nguyện vọng và định hướng nghề nghiệp của học sinh Những HS có định hướng nghề nghiệp cần vận dụng nhiều kiến thức, kĩ năng vật lí được học thêm các chuyên đề học tập Môn Vật lí giúp học sinh tiếp tục phát triển các phẩm chất, năng lực đã được định hình trong giai đoạn giáo dục cơ bản, tạo điều kiện để học sinh bước đầu nhận biết đúng năng lực, sở trường của bản thân, có thái độ tích cực đối với môn học Trên cơ sở nội dung nền tảng đã trang bị cho học sinh ở giai đoạn giáo dục cơ bản, Chương trình môn Vật lí lựa chọn phát triển những vấn đề cốt lõi thiết thực nhất, đồng thời chú trọng đến các vấn đề mang tính ứng dụng cao là cơ

sở của nhiều ngành kĩ thuật, khoa học và công nghệ

Sáng tạo luôn là yếu tố quyết định trực tiếp đến thành công của con người dù

ở bất kì lĩnh vực, công việc nào Đối với nghề dạy học cũng vậy Điều đó đòi hỏi giáo viên (GV) phải không ngừng sáng tạo trong việc truyền thụ tri thức cho HS Đổi mới phương pháp và hình thức dạy học luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu của nghành giáo dục hiện nay nhằm nâng cao chất lượng dạy học.Trong quá trình dạy học, GV phải kết hợp các phương pháp dạy học, các hình thức tổ chức, các phương tiện dạy học hợp lí sao cho phù hợp với đối tượng HS, với nội dung kiến thức sẽ dạy nhằm đạt được những mục tiêu trên Có nhiều phương tiện dạy học giúp HS phát triển tư duy trong đó trò chơi là một phương tiện đắc lực giúp

HS tập trung, tham gia tích cực, chủ động trong các giờ học nói chung và giờ học Vật lí nói riêng Theo thời gian ta nhận thấy rằng kiến thức vật lí ngày càng nhiều hơn và phức tạp hơn để giải quyết chúng nếu học sinh chỉ làm một mình thì có thể phải tốn nhiều thời gian, công sức hơn có khi HS không tự mình giải quyết được Trong trường hợp này làm việc hợp tác theo nhóm là cần thiết hơn bao giờ hết vì làm việc theo nhóm có thể tập trung những mặt mạnh của từng HS và bổ sung, hoàn thiện cho nhau những điểm yếu giúp rút ngắn thời gian đi đến kết quả Vì

vậy, tôi chọn đề tài “Phát triển năng lực hợp tác nhóm thông qua việc tổ chức các trò chơi trong các tiết dạy chương “DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” Vật lí lớp

Trang 7

2

11 - THPT” với mong muốn giúp việc dạy và học môn Vật lí ở trường THPT

Hoàng Mai 2 nói riêng, các trường THPT nói chung đạt hiệu quả cao hơn

2 Mục đích nghiên cứu

Thông qua nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức các trò chơi nhằm tổ chức các trò chơi dạy học phát triển năng lực hợp tác nhóm của HS trong

dạy học các tiết chương “DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” Vật lí lớp 11 – THPT để

góp phần nâng cao chất lượng học tập môn Vật lí cho học sinh THPT

Nhằm đổi mới dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh Giúp cho GV

có kĩ năng tốt nhất trong việc tổ chức các hoạt động trò chơi học tập để dạy HS trong môn Vật lí ở trường THPT cho phù hợp với nội dung

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài: Nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa Vật lí 11 THPT hiện hành, nghiên cứu chương trình GDPT mới và nghiên cứu các tài liệu về tổ chức trò chơi dạy học phát triển năng lực

- Nghiên cứu thực trạng sử dụng trò chơi trong dạy học ở trường THPT và thực trạng phát triển năng lực hợp tác nhóm cho HS trường THPT

- Nghiên cứu nội dung các tiết chương “DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” Vật lí lớp 11 – THPT Lựa chọn và sử dụng trò chơi dạy học trong các tiết chương

“DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” Vật lí lớp 11 – THPT vào tiết dạy

- Xây dựng hệ thống, tiến trình tổ chức các trò chơi dạy học theo nhóm trong dạy học chương “DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” Vật lí lớp 11 – THPT

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm để kiểm tra, đánh giá tính khả thi và tính hiệu quả của các trò chơi dạy học đã xây dựng

4 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của phương pháp dạy học sử dụng hình thức trò chơi trong nhà trường

- Nghiên cứu tài liệu, sách giáo khoa, sách tham khảo, có liên quan

- Khảo sát thực trạng ở trường phổ thông, các phương pháp hỗ trợ, thăm dò ý kiến giáo viên,

- Thực nghiệm sư phạm

- Phương pháp thống kê toán học, xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm

5 Kế hoạch nghiên cứu

STT Thời

1 Tháng - Tìm hiểu thực trạng và chọn - Bản đề cương chi tiết của

Trang 8

số liệu năm trước

- Trao đổi với đồng nghiệp và

đề xuất sáng kiến kinh nghiệm

- Tập hợp lý thuyết của đề tài

- Xử lý số liệu khảo sát được

- Tổng hợp ý kiến của đồng nghiệp

4 Tháng

12/2020

- Viết sơ lược sáng kiến

- Xin ý kiến của đồng nghiệp

- Bản thảo sáng kiến

- Tập hợp đóng góp của đồng nghiệp

Hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm nộp Sở

6 Đóng góp của đề tài

Về mặt lí luận: Góp phần hoàn thiện và đóng góp vào thực tiễn dạy học Vật lí

ở lớp 11 nói riêng và ở trường THPT nói chung, đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục THPT mới

Về mặt thực tiễn: Bổ sung vào ngân hàng hệ thống tổ chức trò chơi học tập trong dạy học chương “DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” Vật lý 11 ở trường THPT để phát triển năng lực hợp tác nhóm cho HS, nâng cao hiệu quả dạy học

Trang 9

Theo Chương trình Giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018, “năng lực” được định nghĩa “là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức,

kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” Và theo Chương trình Giáo dục phổ thông mới này, giáo dục cần hình thành và phát triển cho HS 5 phẩm chất và 10 năng lực

Trang 10

5

1.1.2 Sự phát triển năng lực HS

Phát triển là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của một sự vật Quá trình vận động đó diễn ra vừa dần dần, vừa nhảy vọt để đưa tới sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ

Sự phát triển là kết quả của quá trình thay đổi dần về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất, quá trình diễn ra theo đường xoắn ốc và hết mỗi chu kỳ sự vật lặp lại dường như sự vật ban đầu nhưng ở mức (cấp độ) cao hơn

Phát triển NL là quá trình biến đổi, tăng tiến các NL của HS từ mức độ thấp đến mức độ cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện làm cho việc học tập trở nên có hiệu quả Phát triển NL biểu hiện sự tiến bộ trong nhận thức, thái độ, hành động và

kỹ thuật học tập của HS trong nhóm, làm cho việc học tập ngày càng hoàn thiện có kết quả tốt hơn Phát triển NL là kết quả quá trình HS thường xuyên học tập với nhau, có ý thức về nhiệm vụ của mình, của nhóm để hỗ trợ nhau, cộng tác với nhau, tương tác lẫn nhau, tạo ra tính tích cực, hứng thú học tập đưa đến kết quả ngày càng cao Quá trình dạy học có mục tiêu hình thành năng lực hoạt động cho

HS, trong đó phát triển NL là một hướng đi tích cực, hoàn toàn phù hợp với xu thế dạy học hiện đại

1.2 Năng lực hợp tác nhóm

Theo tác giả Lương Việt Thái (2012) NL hợp tác là “khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, biết cam kết và biết cách cùng làm việc, lắng nghe và quan tâm tới các quan điểm khác nhau; hiểu biết và quan tâm tới nhau; giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau, phát huy thế mạnh của mỗi thành viên trong một công việc, một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung có hiệu quả với những thành viên khác trong nhóm Trong dạy học, năng lực hợp tác được biểu hiện ở chỗ HS chủ động hoạt động nhóm để giải quyết các vấn đề học tập, lựa chọn hình thức làm việc nhóm với quy

mô phù hợp yêu cầu, nhiệm vụ học tập, phân tích các công việc cần thực hiện để hoàn thành nhiệm vụ, đánh giá khả năng của mình có thể đóng góp vào hoạt động của nhóm; theo dõi tiến độ hoàn thành công việc của từng thành viên và cả nhóm

để điều chỉnh các hoạt động phối hợp; chủ động và gương mẫu và hoàn thành nhiệm vụ được giao, góp ý điều chỉnh thúc đẩy hoạt động chung; chia sẻ, học hỏi các thành viên khác; căn cứ vào mục đích hoạt động của nhóm để tổng kết kết quả đạt được; đánh giá mức độ đạt mục đích cá nhân và nhóm; rút kinh nghiệm cho bản thân và góp ý cho từng thành viên trong nhóm

1.3 Dạy học chủ đề

Theo Nguyễn Kỳ Loan (2016, tr 37), “Chủ đề là một đơn vị nội dung kiến thức mà khi tổ chức HS tìm hiểu, khám phá sẽ giải quyết được một vấn đề lí luận hay thực tiễn, do đó vừa lĩnh hội được kiến thức khoa học, vừa rèn luyện, hình thành được các năng lực cơ bản như giải quyết vấn đề, sử dụng ngôn ngữ, tính toán, sáng tạo, tư duy phê phán, tự học” Theo Lê Đình Trung và Nguyễn Thị Minh Nguyệt (2017, tr 48), “Chủ đề là vấn đề mang tính cốt lõi, là phương diện

Trang 11

6

chính mang tính định hướng vận động của đối tượng và mối liên hệ đa chiều của

nó với các đối tượng khác trong tự nhiên Có thể nói, dạy học theo chủ đề có bản chất dạy học tích hợp, đưa nhận thức con người gắn với hiện thực khách quan Trong dạy học, chủ đề là một đơn vị kiến thức tương đối trọn vẹn và khi kết thúc một chủ đề, HS có được kiến thức và kĩ năng giải quyết được các vấn đề thực tiễn liên quan hoặc giải quyết được các vấn đề trong bối cảnh mới” Như vậy, mặc dù

có các quan niệm khác nhau về “chủ đề”, nhưng những quan niệm này đều có điểm chung thống nhất là: bản thân chủ đề chứa đựng những tri thức lí luận và thực tiễn mang tính hệ thống, tích hợp, tức là mỗi chủ đề đều tồn tại như một hệ thống logic các đơn vị nội dung Mỗi đơn vị nội dung đó có thể lại là một chủ đề nhỏ (tiểu chủ đề) Trong mỗi hệ thống (chủ đề), có một vài chủ đề có ý nghĩa trung tâm (chủ đề lớn) và những chủ đề có ý nghĩa bộ phận góp phần bổ sung, làm nổi bật chủ đề chính (chủ đề nhỏ) và mỗi chủ đề có ý nghĩa và giá trị khác nhau

Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu: Dạy học theo chủ đề là quá trình tổ chức cho HS khám phá vấn đề học tập để lĩnh hội và vận dụng kĩ năng, kiến thức vào giải quyết tình huống nhận thức hay thực tiễn Dạy học theo chủ đề

là sự kết hợp giữa mô hình dạy học truyền thống và hiện đại, ở đó GV không dạy học chỉ bằng tổ chức HS tiếp thu những kiến thức rời rạc mà chủ yếu là hướng dẫn

họ tự lực tìm kiếm thông tin, sử dụng kiến thức, kĩ năng ở phạm vi rộng vào giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn

1.4 Trò chơi trong dạy học

1.4.1 Trò chơi học tập

Bản chất của phương pháp sử dụng trò chơi học tập là dạy học thông qua việc

tổ chức hoạt động cho HS Dưới sự hướng dẫn của GV, HS được hoạt động bằng cách tự chơi trò chơi trong đó mục đích của trò chơi chuyển tải mục tiêu của bài học Luật chơi (cách chơi) thể hiện nội dung và phương pháp học, đặc biệt là phương pháp học tập có sự hợp tác và sự tự đánh giá

1.4.2 Ý nghĩa của trò chơi trong dạy học

Học trong quá trình vui chơi, là quá trình lĩnh hội tri thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên không gò bó phù hợp với đặc điểm tâm lí sinh học ở HS Học tập bằng trò chơi sẽ khơi dậy hứng thú tự nguyện, làm giảm thiểu sự căng thẳng thần kinh ở các em Trong lúc chơi tinh thần của HS thường rất thoải mái nên khả năng tiếp thu kiến thức trong lúc chơi sẽ tốt hơn, hoặc sau khi chơi cũng sẽ tốt hơn Trò chơi dạy học giúp xua đi nỗi lo âu nặng nề của việc học cho HS, giúp gắn kết tình cảm giữa HS với HS và giữa HS với GV

1.4.3 Cấu trúc chung của trò chơi dạy học

Trò chơi dạy học có mọi đặc điểm của trò chơi thông thường, nhưng về cấu trúc nó kết hợp các yếu tố chơi và các yếu tố sư phạm trong một tổ hợp hoạt động

và quan hệ hiện thực Đó là cấu trúc phức tạp, gồm những thành tố sau:

Trang 12

7

- Mục đích chơi

- Các hành động chơi

- Luật chơi hay quy tắc chơi

- Đối tượng hoạt động và giao tiếp

- Các quá trình, tình huống và quan hệ

1.5 Dạy học phát triển năng lực hợp tác nhóm bằng tổ chức các trò chơi 1.5.1 Nội dung dạy học phát triển năng lực hợp tác nhóm bằng tổ chức các trò chơi

Tổ chức hoạt động nhóm theo mô hình trò chơi: Tổ chức nhóm theo mô hình trò chơi sẽ tạo điều kiện cho HS được làm việc nhiều hơn, khơi dậy tính tích cực, chủ động của HS trong quá trình học tập Giờ học biến thành cuộc so tài giữa các đội chơi, vì thế các em sẽ hăng hái tham gia, nỗ lực tư duy để tìm ra câu trả lời đúng, ghi điểm cho đội mình Có như thế, giờ học sẽ đạt kết quả cao hơn nhiều so với các giờ học thông thường

1.5.2 Lựa chọn nhóm trò chơi cho dạy học phát triển năng lực hợp tác nhóm

Trong dạy học chương “DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” Vật lí lớp 11, dựa vào

mục đích của trò chơi dạy học theo nhóm, tôi chia ra làm 2 nhóm trò chơi, cụ thể:

- Nhóm 1: Nhóm trò chơi tìm hiểu kiến thức mới

Mục đích để HS tích cực tìm tòi, phát hiện kiến thức của bài, HS chủ động tham gia vào bài học, phát triển các kĩ năng xử lí tình huống, mạnh dạn, tự tin trước đám đông, các năng lực hợp tác, giải quyết vấn đề, xử lí tình huống… (mảnh ghép, đối đáp nhanh…)

- Nhóm 2: Nhóm trò chơi ôn tập và củng cố kiến thức

Tạo sân chơi học tập, giúp HS củng cố lại kiến thức bài học nhưng không căng thẳng và mệt mỏi sau khi học xong bài học, rèn trí nhớ và khả năng tư duy giúp các

em khắc sâu kiến thức (trò chơi sơ đồ tư duy, thủ lĩnh thẻ bài, bingo )

1.5.3 Các bước dạy học phát triển năng lực hợp tác nhóm bằng tổ chức các trò chơi

Từ nghiên cứu cơ sở lý luận của dạy học hợp tác, trò chơi dạy học, chương trình dạy học môn Vật lí, tôi xây dựng các bước dạy học phát triển năng lực hợp tác nhóm bằng tổ chức các trò chơi theo các bước sau:

Bước 1: Chia nhóm

- Tùy theo mục đích và thời gian của trò chơi mà GV chia lớp thành nhóm nhỏ hay nhóm lớn Mỗi nhóm là một đội chơi, được đặt tên và đánh số thứ tự cho các thành viên

Trang 13

8

- GV bố trí chỗ ngồi hợp lí cho các đội chơi sao cho đảm bảo đủ vị trí, trao đổi trực diện, đồng thời việc di chuyển phải thuận tiện, không làm mất thời gian hoạt động của nhóm hay mất trật tự lớp học

Bước 2: GV phổ biến luật chơi và hướng dẫn HS cách thức hoạt động nhóm

- Mỗi trò chơi có cách thức tổ chức khác nhau, có luật chơi khác nhau Việc

tổ chức và điều khiển hoạt động của các nhóm như thế nào tùy thuộc vào sự sáng tạo của GV

- GV cần cử thư kí cho mỗi nhóm để ghi và tổng kết điểm

Bước 3: HS tham gia vào trò chơi học tập

- Nội dung học tập là các câu hỏi, bài tập liên quan đến các vấn đề cần ôn tập

- Các nhóm HS cùng nhau thảo luận để hoàn thành nhiệm vụ theo luật chơi đã

đề ra

Bước 4: Nhận xét, đánh giá kết quả hoạt động nhóm

- Kết quả hoạt động của nhóm được đánh giá bằng kết quả thi đua giữa các đội chơi, cuộc so tài nhỏ giữa các thành viên cùng số ở các nhóm

- Sau khi kết thúc trò chơi, GV cần nhận xét, rút kinh nghiệm và chọn 2 đội

có số điểm cao nhất để khen thưởng trước lớp nhằm khuyến khích HS học tập tốt hơn

1.5.4 Tác dụng của việc tổ chức trò chơi dạy học để phát triển năng lực hợp tác nhóm của HS trong dạy học môn Vật lí

Trong quá trình dạy học môn Vật lí, các trò chơi nếu được sử dụng hợp lý sẽ thúc đẩy một cách tự nhiên tính năng động và tính tích cực tham gia học tập của

HS

Sử dụng trò chơi trong dạy học môn Vật lí sẽ tạo được môi trường, không khí học tập vui vẻ và cho chúng ta thấy học tập không khô khan, tẻ nhạt mà cũng khá

lý thú Học tập của HS không chỉ là quá trình tiếp thu kiến thức, nó liên quan đến

thực hành, hợp tác, làm việc tập thể theo tổ nhóm hơn là ganh đua cá nhân

Trò chơi được sử dụng hợp lý sẽ giúp cho HS lĩnh hội tri thức trong tất cả các khâu của quá trình dạy học, gây hứng thú học tập đối với môn Vật lí, làm cho những kiến thức HS tự chiếm lĩnh ngày càng sâu sắc hơn Đặc biệt thông qua trò chơi HS có thể tự tìm tòi, nghiên cứu, rèn luyện tri thức trong quá trình học tập ngoài giờ lên lớp Nếu nhóm học sinh nào đó quen với không khí trầm, các em có thể ít hào hứng, hoặc tỏ ra miễn cưỡng lúc đầu Nhưng trò chơi bao giờ cũng mang bản chất lôi cuốn hấp dẫn với mọi đối tượng, nó khuyến khích mức độ tập trung công việc thực sự cũng như kích thích niềm ham mê đối với bài học

Trò chơi có tác dụng hoà đồng sâu rộng và thu hút mức độ tập trung của HS Hơn thế nữa, mối quan tâm và hoạt động của HS thể hiện qua các tiết học có trò

Trang 14

9

chơi làm nảy sinh tình cảm của các em đối với môn học Do vậy chúng ta hãy mạnh dạn và cố gắng áp dụng trò chơi trong quá trình dạy học môn Vật lí

2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.1 Thực trạng sử dụng trò chơi trong dạy học ở trường THPT

Kết quả thăm dò 30 GV dạy môn Vật lý của 3 trường THPT (THPT Hoàng Mai, THPT Hoàng Mai 2, THPT Quỳnh Lưu 2) trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu và thị xã Hoàng Mai tôi thấy:

- Về mức độ sử dụng trò chơi, đa số GV đều “Thỉnh thoảng” hoặc “Rất ít khi” sử dụng trò chơi trong dạy học ở trường THPT

- Về việc lựa chọn hoạt động để tổ chức trò chơi, đa số GV lựa chọn sử dụng trò chơi trong hoạt động khởi động, ít GV lựa chọn sử dụng trò chơi trong hoạt động hình thành kiến thức và luyện tập hay tìm tòi mở rộng

Thường xuyên Thỉnh thoảng Rất ít khi

Không bao giờ

73.33 16.67

Trang 15

GV sử dụng trò chơi trong dạy học ở trường THPT thì hầu hết HS lựa chọn

“Thích” hoặc “Rất thích”, cũng có một số ít HS lựa chọn “Bình thường”

Như vậy, tuy việc tổ chức hoạt động dạy học theo phương pháp trò chơi cho học sinh còn rất hạn chế, nếu có thì cũng chủ yếu là các trò chơi đơn giản, khoảng thời gian ngắn trong hoạt động khởi động nhưng việc sử dụng trò chơi trong dạy học được HS đón nhận một cách hứng thú

2.2 Thực trạng phát triển năng lực hợp tác nhóm cho HS trường THPT

Kết quả thăm dò 30 GV dạy môn Vật lý của 3 trường THPT (THPT Hoàng Mai, THPT Hoàng Mai 2, THPT Quỳnh Lưu 2) trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu và thị xã Hoàng Mai tôi thấy:

- Về mức độ quan trọng của các năng lực cần phát triển cho HS THPT, đa số

GV đều cho rằng các NL đều cần phát triển cho HS, trong đó có năng lực hợp tác nhóm

Mức độ yêu thích phương pháp dạy học có sử dụng

trò chơi của HS

73.81 19.05

Trang 16

nhiều thời gian

Như vậy, GV luôn ý thức được tầm quan trọng của việc phát triển năng lực hợp tác cho HS Tuy nhiên các GV cho rằng dạy học theo nhóm tốn nhiều thời gian, gây ồn ào, phương tiện vật chất, lớp học chưa đáp ứng nhu cầu học nhóm…

Do đó, NL học tập hợp tác của HS ở các trường THPT vẫn còn ít được GV phát triển trong quá trình dạy học

2.3 Thuận lợi và khó khăn trong việc áp dụng đề tài

Các GV luôn quan tâm đến vấn đề tích cực hóa trong dạy học, cũng như nghiên cứu các biện pháp, kỹ thuật dạy học để nâng cao hiệu quả dạy học Các GV đều nhận thức đúng đắn về sự cần thiết của việc xây dựng và sử dụng trò chơi trong dạy học môn Vật lí

Cơ sở vật chất phục vụ đổi mới phương pháp dạy học những năm qua đã được đặc biệt chú trọng Nhiều dự án của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã và đang được triển khai thực hiện trên phạm vi cả nước đã từng bước cải thiện điều kiện dạy học

và áp dụng công nghệ thông tin - truyền thông ở các trường trung học, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đổi mới phương pháp dạy học Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của nhà trường phổ thông ngày được trang bị ngày càng đầy đủ, đáp ứng được yêu cầu giảng dạy cho GV Trường THPT Hoàng Mai 2, tuy mới thành lập nhưng cũng đảm bảo cơ sở vật chất để thực hiện phương pháp Phương pháp dạy học có sử dụng trò chơi học tập đòi hỏi sự tham gia nhiều của công nghệ thông tin, trường có 25 ti vi và máy chiếu trang bị cho 25 lớp học

Tốn nhiều thời gian Lớp ồn ào, khó quản lí

Một số học sinh không hoạt động

Cơ sở vật chất khó đáp ứng yêu cầu bài dạy

Trang 17

12

2.3.2 Khó khăn

Hoạt động đổi mới phương pháp dạy học chưa mang lại hiệu quả cao Đa số GV hiện nay khi dạy học vẫn còn áp dụng theo hình thức cũ chưa phát huy được năng lực hợp tác của HS Số GV thường xuyên chủ động, sáng tạo trong việc phối hợp các phương pháp dạy học cũng như sử dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của HS còn chưa nhiều Dạy học vẫn nặng về truyền thụ kiến thức lí thuyết Việc rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết các tình huống thực tiễn cho HS thông qua khả năng vận dụng tri thức tổng hợp chưa thực sự được quan tâm Việc ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông, sử dụng các phương tiện dạy học chưa được thực hiện rộng rãi

Số lượng HS thụ động trong học tập còn rất nhiều, không khí học tập chưa tốt, bên cạnh đó vẫn còn hiện tượng HS học “đối phó”

Hiện nay sĩ số học sinh trong lớp khá đông, không gian hoạt động chật hẹp dẫn đến việc tổ chức các trò chơi học tập cũng như trong quá trình chơi của HS bị hạn chế, dễ dẫn tới lớp ồn ào ảnh hưởng đến các lớp khác, việc bao quát lớp của

GV là rất khó nên số lượng trò chơi được tổ chức còn rất ít

GV vẫn chưa đầu tư nhiều vào việc thiết kế các loại trò chơi dạy học cho HS THPT Vì tài liệu thiết kế các loại trò chơi dạy học chủ yếu là dành cho độ tuổi mầm non, tiểu học rất nhiều còn đối tượng là HS THPT thì rất ít đầu sách tham khảo Các loại trò chơi được thiết kế còn đơn điệu, hình thức tổ chức trò chơi chưa hấp dẫn nên đôi khi chưa thu hút được tất cả HS cùng chơi

Ngoài ra, việc tổ chức trò chơi dạy học có thu hút được HS hay không? Có tạo nên hứng thú cho HS không? Điều này còn phụ thuộc vào trình độ, năng lực tổ chức các trò chơi của GV

Kiến thức trong chương “DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” là một phần kiến thức

trong phần Điện học – Điện từ học của chương trình vật lí phổ thông Các nội dung kiến thức trong chương không quá mới mẻ với HS Trong phần Điện học – Điện từ

ở chương trình vật lí lớp 9, HS đã được nghiên cứu những kiến thức cơ bản về mạch điện và những vấn đề liên quan đến mạch điện

Về vị trí, chương “DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” được bố trí ngay sau chương

“Điện tích Điện trường” Các kiến thức ở chương “Điện tích Điện trường” làm nền tảng cho việc nghiên cứu các nội dung của chương “DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” Đây là những điều kiện thuận lợi để GV đạt được mục tiêu và hiệu quả cao khi giảng dạy nội dung kiến thức chương này

Trang 18

13

Trong SGK Vật lí 11 - THPT, chương này gồm các bài sau:

Bài 7 Dòng điện không đổi Nguồn điện

Bài 8 Điện năng Công suất điện

Bài 9 Định luật ôm đối với toàn mạch

Bài 10 Ghép các nguồn điện thành bộ

Bài 11 Phương pháp giải một số bài toán về toàn mạch

Bài 12 Thực hành: Xác định suất điện động và điện trở trong của một pin điện hoá

Nội dung kiến thức cơ bản của chương được chia làm bốn chủ đề:

- Chủ đề: Dòng điện không đổi Nguồn điện

- Chủ đề: Điện năng Công suất điện

- Chủ đề: Định luật ôm đối với toàn mạch

- Chủ đề: Thực hành: Xác định suất điện động và điện trở trong của một pin điện hoá

Do chương này là chương thứ hai nằm trong phần một - Điện học – Điện từ học của chương trình vật lí 11 THPT nên việc vận dụng kiến thức của các chương trước vào là không nhiều Các kiến thức được sử dụng vào quá trình hình thành kiến thức trong chương này bao gồm: kiến thức về điện tích, điện trường ở chương trước và các kiến thức về mạch điện ở chương trình vật lí lớp 9

3.1.2 Mục tiêu dạy học của chương “DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” Vật lí lớp 11 – THPT

3.1.2.1 Về kiến thức

- Nêu được dòng điện không đổi là gì

- Nêu được suất điện động của nguồn điện là gì

- Viết được công thức tính công của nguồn điện

- Viết được công thức tính công suất của nguồn điện

- Phát biểu được định luật Ôm đối với toàn mạch

- Viết được công thức tính suất điện động và điện trở trong của bộ nguồn mắc nối tiếp, mắc song song

R + r

Trang 19

14

- Nhận biết được, trên sơ đồ và trong thực tế, bộ nguồn mắc nối tiếp hoặc mắc song song

- Tính được suất điện động và điện trở trong của các loại bộ nguồn mắc nối

tiếp hoặc mắc song song

- Tiến hành được thí nghiệm đo suất điện động và xác định điện trở trong của một pin

3.1.2.3 Về thái độ

- HS có hứng thú học tập vật lý, yêu thích, tìm tòi khoa học, có thái độ khách quan trung thực, tác phong tỉ mỉ, cẩn thận, chính xác, có ý thức vận dụng những hiểu biết vật lý vào đời sống

3.2 Vận dụng trò chơi trong dạy học chương “DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” Vật lí lớp 11 - THPT

3.2.1 Nguyên tắc lựa chọn trò chơi để dạy học

Việc lựa chọn trò chơi phải đáp ứng mục đích, yêu cầu, nội dung của bài học,

giúp HS lĩnh hội nội dung kiến thức bài học, tạo hứng thú giúp các em tích cực tham gia xây dựng bài và khắc sâu kiến thức; lựa chọn trò chơi cũng phải phù hợp với dung lượng kiến thức bài học, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, vừa sức với HS

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn đã nêu Tôi lựa chọn các trò chơi

để dạy học dựa trên một số nguyên tắc sau:

- Đảm bảo tính giáo dục

- Đảm bảo tính mục tiêu

- Đảm bảo tính vừa sức

- Đảm bảo tính khả thi

- Đảm bảo tính hiệu quả

- Đảm bảo tính khoa học và sư phạm

3.2.2 Quy trình tổ chức thực hiện các trò chơi trong chương “DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” Vật lí lớp 11 – THPT

Việc tổ chức trò chơi học tập cho HS để hình thành kiến thức, kỹ năng mới,

để củng cố kiến thức, kỹ năng là rất cần để tạo hứng thú học tập cho HS

Quy trình tổ chức thực hiện các trò chơi gồm:

- Bước 1: Giáo viên giới thiệu tên, mục đích của trò chơi

- Bước 2: Hướng dẫn chơi Bước này bao gồm những việc làm sau:

Tổ chức HS tham gia trò chơi: Số HS tham gia, số đội tham gia, trọng tài Các dụng cụ dùng để chơi

Cách chơi: Từng việc làm cụ thể đội chơi, thời gian chơi, …

Trang 20

15

Cách xác nhận kết quả và cách tính điểm chơi, giải của cuộc chơi

- Bước 3: Thực hiện trò chơi

- Bước 4: Nhận xét sau cuộc chơi Bước này bao gồm những việc làm sau:

GV nhận xét về thái độ tham gia trò chơi của từng đội, những việc làm chưa tốt của các đội để rút kinh nghiệm

GV công bố kết quả chơi của từng đội và trao phần thưởng cho đội đoạt giải Một số học sinh nêu kiến thức, kỹ năng trong bài học mà trò chơi đã thể hiện

3.2.3 Sử dụng trò chơi trong các hoạt động học ở các tiết học chương

“DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI” Vật lí lớp 11 - THPT

3.2.3.1 Hoạt động hình thành kiến thức mới

3.2.3.1.1 TRÒ CHƠI “MẢNH GHÉP 1”

Sử dụng trò chơi ở hoạt động hình thành kiến thức mới khi dạy chủ đề:

“DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI NGUỒN ĐIỆN” (tiết SUẤT ĐIỆN ĐỘNG CỦA NGUỒN ĐIỆN)

Thiết kế trò chơi:

- Mục đích: để HS tích cực tìm tòi; phát hiện kiến thức về tác dụng của lực điện

và tác dụng của lực lạ, công của nguồn điện, định nghĩa, biểu thức, đơn vị của suất điện động của nguồn điện; HS chủ động tham gia vào bài học; phát triển các kĩ năng

xử lí tình huống, mạnh dạn, tự tin trước đám đông, các năng lực hợp tác, giải quyết vấn đề, xử lí tình huống…

- Nội dung: thuộc mục SUẤT ĐIỆN ĐỘNG CỦA NGUỒN ĐIỆN của chủ đề

“DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI NGUỒN ĐIỆN”

- Chuẩn bị:

GV thiết kế bộ các miếng ghép trên phần mềm powerpoint, hình mẫu Sau đó

in trên giấy A4 để phát cho 6 đội chơi (6 bộ giống nhau)

Trang 21

Tổ chức làm việc nhóm: phân công nhóm

trưởng, thư kí, phân công công việc, kế

Nhóm không báo cáo:

+ Lắng nghe và chú ý các nhóm báo cáo

+ Đưa ra được các câu hỏi xác hợp cho nhóm

báo cáo, GV

10

Trang 22

- GV giới thiệu tên trò chơi là “MẢNH GHÉP 1”

GV nêu mục đích của trò chơi: để phát hiện kiến thức về tác dụng của lực điện

và tác dụng của lực lạ, công của nguồn điện, định nghĩa, biểu thức, đơn vị của suất điện động của nguồn điện

- Hướng dẫn chơi:

GV chia lớp thành 6 đội chơi (đội 1, đội 2, đội 3, đội 4, đội 5, đội 6), mỗi đội

6 - 8 HS (2 bàn lập thành 1 đội)

GV nêu các dụng cụ dùng để chơi: bộ các miếng ghép và hình mẫu

GV hướng dẫn cách chơi, phổ biến luật chơi: Mỗi đội được phát một bộ các miếng ghép và một hình mẫu, nhiệm vụ của các đội chơi là ghép các mảnh ghép

Trang 23

GV trình chiếu đáp án lên màn hình để các đội chơi tự đánh giá, cô đánh giá

và cho điểm các đội chơi theo phiếu chấm điểm đội chơi (phiếu 1)

GV yêu cầu 6 đội chơi theo dõi đáp án trò chơi GV trình chiếu, từng đội ghi nội dung bài học ra giấy theo mục:

IV – SUẤT ĐIỆN ĐỘNG CỦA NGUỒN ĐIỆN

1 Công của nguồn điện

2 Suất điện động của nguồn điện

và đại diện thuyết trình

GV hoàn thành việc cho điểm các đội chơi theo phiếu chấm điểm đội chơi (phiếu 1)

- Nhận xét sau cuộc chơi:

GV nhận xét về thái độ tham gia trò chơi của từng đội, những việc làm chưa tốt của các đội để rút kinh nghiệm

GV công bố kết quả chơi của từng đội và trao phần thưởng cho đội đoạt giải

Kinh nghiệm của bản thân sau khi tổ chức trò chơi này cho HS:

Trò chơi này đòi hỏi sự nhanh tay nhanh mắt, các nhóm HS phải biết cách tự đọc SGK rút ra kiến thức bài học theo mạch logic Do đó khi thấy các nhóm HS gặp khó khăn có thể gợi ý hãy tìm hiểu SGK theo tuần tự mục SGK để sắp xếp hình

Thời gian chơi là ngắn đòi hỏi sự hợp tác của cả nhóm mới hoàn thành kịp thời gian Do đó GV phải quan sát tất cả HS ở các nhóm để kịp thời nhắc nhở

Trang 24

19

GV dùng điện thoại thông minh chụp lại sản phẩm mảnh ghép của các đội chơi để chấm điểm, tránh tình trạng GV đang chấm điểm đội này thì đội khác vẫn tiếp tục trò chơi thì mất công bằng giữa các đội chơi

3.2.3.1.2 TRÒ CHƠI “MẢNH GHÉP 2”

Sử dụng trò chơi ở hoạt động hình thành kiến thức mới khi dạy chủ đề:

“ĐỊNH LUẬT ÔM ĐỐI VỚI TOÀN MẠCH” (tiết ĐỊNH LUẬT ÔM ĐỐI VỚI TOÀN MẠCH – Hiện tượng đoản mạch)

- Nội dung trò chơi: thuộc mục ĐỊNH LUẬT ÔM ĐỐI VỚI TOÀN MẠCH

và mục Hiện tượng đoản mạch của chủ đề: “ĐỊNH LUẬT ÔM ĐỐI VỚI TOÀN MẠCH”

- Chuẩn bị:

GV thiết kế bộ các miếng ghép trên phần mềm powerpoint, trên mỗi mảnh ghép có các câu hỏi in đậm và câu trả lời in mờ và một hình cho sẵn Sau đó in trên giấy A4 cứng cho 6 đội chơi (6 bộ giống nhau)

Trang 25

20

Phiếu chấm điểm đội chơi: (phiếu 2)

Đội chơi:………… Lớp:

1 Số lượng thành viên tham gia trò chơi đầy đủ 5

2

Tổ chức làm việc nhóm: phân công nhóm

trưởng, thư kí, phân công công việc, kế

Nhóm không báo cáo:

+ Lắng nghe và chú ý các nhóm báo cáo

+ Đưa ra được các câu hỏi xác hợp cho nhóm

Trang 26

21

GV chuẩn bị đáp án trò chơi trên phần mềm powerpoint

* Cách tiến hành tổ chức trò chơi:

- GV giới thiệu tên trò chơi là “MẢNH GHÉP 2”

GV nêu mục đích của trò chơi: để phát hiện kiến thức về định luật ôm đối với toàn mạch, hiện tượng đoản mạch

- Hướng dẫn chơi:

Vòng 1: Nhóm chuyên gia

Hình thành 6 nhóm chuyên gia theo 2 cụm: Cụm 1 (nhóm 1, 2, 3), Cụm 2 (nhóm 4, 5, 6); Phát giấy màu cho từng thành viên trong nhóm để hình thành nhóm

ghép và để ghi điểm đánh giá chuyên gia

Nhóm 1, 4: Tìm hiểu về định luật ôm đối với toàn mạch

Nhóm 2, 5: Tìm hiểu về hiện tượng đoản mạch

Nhóm 3, 6: Tìm hiểu về vai trò hiện tượng đoản mạch trong đời sống Sau thời gian 7 phút, Các nhóm chuyên gia tìm hiểu xong nội dung yêu cầu

Trang 27

22

Vòng 2: Nhóm các mảnh ghép

Các thành viên trong cùng cụm sẽ di chuyển theo quy định của GV để tạo thành nhóm ghép Mỗi học sinh trong từng nhóm sẽ được phát 1 tờ giấy màu (xanh, đỏ, vàng) Các HS có giấy cùng màu trong cùng cụm sẽ lập thành 1 nhóm ghép, đảm bảo trong mỗi nhóm đều có ít nhất một chuyên gia về nội dung

Bắt đầu là nhóm màu vàng sẽ do chuyên gia về định luật ôm đối với toàn mạch; Nhóm màu xanh do chuyên gia về hiện tượng đoản mạch; Nhóm màu hồng

do chuyên gia về vai trò hiện tượng đoản mạch trong đời sống thuyết trình nội dung trong vòng 5 phút; Các HS khác không phải chuyên gia sẽ lắng nghe, sau đó

có 2 phút để phản biện theo nguyên tắc: 3 khen, 2 góp ý, 1 hỏi và cuối cùng là 1 phút đánh giá chuyên gia vào tờ giấy màu theo tiêu chí: Nội dung (4đ) + Hình thức(2đ) + Thuyết trình(2đ) + Phản biện (2đ)

Sau 8 phút thì kết thúc vòng chuyên gia thứ nhất Các nhóm sẽ di chuyển trong cùng cụm để đổi nội dung

Sau khi kết thúc vòng “nhóm các mảnh ghép” thì HS các nhóm chuyên gia trở

về vị trí ban đầu Thống nhất tính điểm trung bình cho các nhóm và ghi vào phiếu chấm điểm

Cụm 1 Điểm Thành phần (Do từng HS đánh giá

chuyên gia trong tờ giấy màu) Điểm trung bình Nhóm 1

Nhóm 2

Nhóm 3

Trang 28

23

Cụm 2 Điểm Thành phần (Do từng HS đánh giá

chuyên gia trong tờ giấy màu) Điểm trung bình Nhóm 4

Các đội chơi tiến hành trò chơi, GV giám sát các đội chơi và cho điểm vào phiếu chấm điểm đội chơi (phiếu 2) một số mục

Hết thời gian 8 phút, GV yêu cầu các đội chơi dừng trò chơi để chấm điểm

GV dùng điện thoại thông minh chụp lại sản phẩm mảnh ghép của các đội chơi, cử

1 HS làm thư kí để ghi chép điểm mức độ hoàn thành trò chơi của các đội chơi

GV nhận xét quá trình hoạt động nhóm ở hoạt động 1 và hoạt động 2, nhận xét một số cá nhân Thu phiếu chấm điểm chuyên gia ở hoạt động 1 của các nhóm

GV trình chiếu đáp án lên màn hình để các đội chơi tự đánh giá, cô đánh giá

và cho điểm các đội chơi theo phiếu chấm điểm đội chơi ở hoạt động 2 (phiếu 2) Mỗi mảnh ghép đúng được 5 điểm

GV yêu cầu 6 đội chơi theo dõi đáp án trò chơi GV trình chiếu, từng đội ghi nội dung bài học ra giấy theo mục: I TOÀN MẠCH

II ĐỊNH LUẬT ÔM ĐỐI VỚI TOÀN MẠCH III NHẬN XÉT

1 Hiện tượng đoản mạch

và đại diện thuyết trình

GV hoàn thành việc cho điểm các đội chơi theo phiếu chấm điểm đội chơi (phiếu 2)

- Nhận xét sau cuộc chơi:

GV nhận xét về thái độ tham gia trò chơi của từng đội, những việc làm chưa tốt của các đội để rút kinh nghiệm

Trang 29

24

GV công bố kết quả chơi của từng đội và trao phần thưởng cho đội đoạt giải

 Kinh nghiệm của bản thân sau khi tổ chức trò chơi này cho HS:

Trò chơi này GV dễ dàng thiết kế các mảnh ghép với nhiều hình ghép nhưng phải tùy thuộc thời gian và nội dung để lựa chọn hình và số mảnh ghép cho phù hợp

Trò chơi này đòi hỏi GV phải linh hoạt, hướng dẫn cho HS chơi một cách

cụ thể mới đạt kết quả mong muốn

GV dùng điện thoại thông minh chụp lại sản phẩm mảnh ghép của các đội chơi để chấm điểm, tránh tình trạng GV đang chấm điểm đội này thì đội khác vẫn tiếp tục trò chơi thì mất công bằng giữa các đội chơi

3.2.3.1 3 TRÒ CHƠI “ĐỐI ĐÁP NHANH”

Sử dụng trò chơi ở hoạt động hình thành kiến thức mới khi dạy chủ đề:

“ĐỊNH LUẬT ÔM ĐỐI VỚI TOÀN MẠCH” (tiết GHÉP CÁC NGUỒN ĐIỆN THÀNH BỘ)

Thiết kế trò chơi:

- Mục đích: để HS tích cực tìm tòi; phát hiện kiến thức về các loại bộ nguồn nối tiếp, song song; HS chủ động tham gia vào bài học; phát triển các kĩ năng xử lí tình huống, mạnh dạn, tự tin trước đám đông, các năng lực hợp tác, giải quyết vấn đề, xử

Câu 2 Nêu cách ghép bộ nguồn nối tiếp?

Câu 3 Nêu cách ghép bộ nguồn song song?

Câu 4 Mối liên hệ giữa hiệu điện thế giữa hai cực và suất điện động của

nguồn điện khi mạch ngoài hở?

Câu 5 Công thức tính suất điện động và điện trở trong của bộ nguồn nối

tiếp?

Câu 6 Công thức tính suất điện động và điện trở trong của bộ nguồn song

song?

Câu 7 Nếu có n nguồn điện giống nhau mắc nối tiếp thì suất điện động và

điện trở trong của bộ nguồn được tính như thế nào?

Trang 30

25

Câu 8 Cách ghép bộ nguồn song song cần lưu ý gì?

Câu 9 Có 3 nguồn giống nhau (3V - 2) ghép nối tiếp thì suất điện động và điện trở trong của bộ nguồn bằng bao nhiêu?

Câu 10 Có 4 nguồn giống nhau (3V - 2) ghép song song thì suất điện động

và điện trở trong của bộ nguồn bằng bao nhiêu?

Câu 11 Khi nào ta cần ghép nối tiếp các nguồn?

Câu 12 Khi nào ta cần ghép song song các nguồn?

GV chuẩn bị đáp án trò chơi trên phần mềm powerpoint

Phiếu chấm điểm đội chơi: (phiếu 3)

Đội chơi:………… Lớp:

1 Số lượng thành viên tham gia trò chơi đầy đủ 5

2

Tổ chức làm việc nhóm: phân công nhóm

trưởng, thư kí, phân công công việc, kế hoạch

Trang 31

26

Nhóm không báo cáo:

+ Lắng nghe và chú ý các nhóm báo cáo

+ Đưa ra được các câu hỏi xác hợp cho nhóm báo

- GV giới thiệu tên trò chơi là “ĐỐI ĐÁP NHANH”

GV nêu mục đích của trò chơi: để phát hiện kiến thức về các loại bộ nguồn nối tiếp, song song

- Hướng dẫn chơi:

GV chia lớp học làm 12 nhóm (Nhóm 1, 2, 3,4, 5, 6 thuộc dãy A; Nhóm 7, 8,

9, 10, 11, 12 thuộc dãy B của lớp học - 1 bàn 1 nhóm)

GV phát cho 12 nhóm 12 phiếu học tập, yêu cầu các nhóm thảo luận trong 8 phút

Sau 8 phút, GV chọn ra ở mỗi dãy lớp 6 HS (1 bàn chọn 1 HS) để lập 2 đội chơi, đội A và đội B GV chọn ra 2 thư ký tương ứng với 2 đội chơi

Yêu cầu 2 đội xếp thành hàng dọc theo đường lên xuống giữa lớp và quay mặt vào nhau

Sau đó hai hàng cùng đếm số:

Đội A: 1, 2, 3, 4, 5, 6

Đội B: 1, 2, 3, 4, 5, 6

Luật chơi: Mỗi em học sinh ở đội A sẽ nói câu hỏi, thì các em học sinh đội B

sẽ trả lời với nội dung ngắn gọn, súc tích, cơ bản Sau khi thực hiện xong 1 câu,

GV đổi lại cho học sinh ở đội B hỏi, đội A trả lời Và cứ tiếp tục cho đến hết bộ câu hỏi GV chuẩn bị Thời gian cho mỗi câu trả lời là 30’’

GV nêu cách xác nhận kết quả và cách tính điểm chơi, giải của cuộc chơi: Thư kí đội chơi (ghi chép chéo) câu trả lời của đội bạn

Mỗi câu trả lời đúng ghi được 10 điểm

Kết thúc trò chơi, cô sẽ gọi mỗi dãy lớp 1 HS (không thuộc 6 HS của đội chơi), 2 HS được gọi của 2 dãy lớp nhận xét chéo các đáp án của đội bạn (nhận xét tốt sẽ được cộng 10 điểm cho đội chơi của mình)

- Thực hiện trò chơi:

Trang 32

27

Các đội chơi tiến hành trò chơi, GV giám sát các đội chơi và cho điểm vào phiếu chấm điểm đội chơi (phiếu 3) một số mục, thư kí mỗi đội chơi ghi chép câu trả lời của đội bạn

Kết thúc trò chơi, GV gọi mỗi dãy lớp 1 HS (không thuộc 6 HS của đội chơi), 2 HS được gọi của 2 dãy lớp nhận xét chéo các đáp án của đội bạn

GV trình chiếu đáp án trò chơi lên màn hình Yêu cầu 2 đội chơi theo dõi đáp án trò chơi GV trình chiếu và các câu hỏi tương ứng trên phiếu học tập của mỗi đội chơi, từng đội ghi nội dung bài học ra giấy theo mục:

II GHÉP CÁC NGUỒN ĐIỆN THÀNH BỘ

1 Bộ nguồn nối tiếp

2 Bộ nguồn song song

và đại diện thuyết trình

GV hoàn thành việc cho điểm các đội chơi theo phiếu chấm điểm đội chơi (phiếu 3)

- Nhận xét sau cuộc chơi:

GV nhận xét về thái độ tham gia trò chơi của từng đội, những việc làm chưa tốt của các đội để rút kinh nghiệm

GV công bố kết quả chơi của từng đội và trao phần thưởng cho đội đoạt giải

 Kinh nghiệm của bản thân sau khi tổ chức trò chơi này cho HS:

Chọn HS tham gia đội chơi ở từng dãy lớp một cách ngẫu nhiên để tránh sự ỷ

lại, phát huy năng lực hợp tác nhóm

Để sử dụng trò chơi này, GV phải linh hoạt trong quá trình tổ chức vì mỗi em

có sự nhận thức khác nhau

Sau khi tổ chức trò chơi (trước khi GV công bố đáp án), GV gọi mỗi dãy lớp

1 HS, 2 HS của 2 dãy lớp nhận xét chéo câu trả lời của đội bạn, để HS ở dưới (không thuộc đội chơi) phải chú ý mới có thể nhận xét được, tránh tình trạng các đội chơi chơi còn ở dưới không để ý

Sau khi trình chiếu đáp án trò chơi thì GV chỉ định HS bất kì rút ra nội dung kiến thức bài học và lấy điểm để tránh sự ỷ lại, trông chờ bạn khác

Trang 33

28

- Mục đích của trò chơi: Tạo sân chơi học tập, giúp HS củng cố lại kiến thức về điện năng tiêu thụ và công suất điện, công suất toả nhiệt của vật dẫn, công và công suất của nguồn điện của bài học nhưng không căng thẳng và mệt mỏi sau khi học xong bài học, rèn trí nhớ và khả năng tư duy giúp các em khắc sâu kiến thức

- Nội dung trò chơi: thuộc chủ đề: “ĐIỆN NĂNG – CÔNG SUẤT ĐIỆN”

- Chuẩn bị:

GV Thiết kế các quân bài trên phần mềm powerpoint và in ra thành 8 bộ bài

Phiếu đáp án:

PHIẾU ĐÁP ÁN GAME “THỦ LĨNH THẺ BÀI”

Chủ đề: Điện năng Công suất điện

Đội chơi:………Lớp:…………

Trang 34

29

1 Đặt một hiệu điện thế U vào hai đầu một điện trở R thì

dòng điện chạy qua điện trở có cường độ I Các công

thức tính công suất toả nhiệt trên điện trở này là

2 Nhiệt lượng toả ra trên vật dẫn tỉ lệ thuận với

3 Công suất toả nhiệt ở 1 vật dẫn phụ thuộc các yếu tố là

4 Các tác dụng mà dòng điện có thể gây ra là

5 Các công thức tính điện năng tiêu thụ của một đoạn

mạch khi có dòng điện chạy qua là

6 Điện năng tiêu thụ được đo bằng các đơn vị là

7 Các công thức tính nhiệt lượng toả ra ở 1 vật dẫn là

8 Các công thức tính công suất toả nhiệt ở vật dẫn khi có

dòng điện chạy qua là

9 Công suất của nguồn điện

10 Công suất của nguồn điện được xác định theo các

công thức là

11 Điện năng tiêu thụ của đoạn mạch tỉ lệ thuận với

12 Khi có dòng điện chạy qua vật dẫn thì điện năng có

thể chuyển hoá thành các dạng năng lượng là

13 Công suất điện của một đoạn mạch

GV chuẩn bị đáp án trò chơi trên phần mềm powerpoint

Trang 35

30

Phiếu chấm điểm đội chơi: (phiếu 4)

Đội chơi:………… Lớp:

1 Số lượng thành viên tham gia trò chơi đầy đủ 5

Trang 36

31

2

Tổ chức làm việc nhóm: phân công nhóm

trưởng, thư kí, phân công công việc, kế

- GV giới thiệu tên trò chơi là “THỦ LĨNH THẺ BÀI”

GV nêu mục đích của trò chơi: để củng cố lại kiến thức về điện năng tiêu thụ

và công suất điện, công suất toả nhiệt của vật dẫn, công và công suất của nguồn điện của bài học

- Hướng dẫn chơi:

GV chia lớp thành 8 đội chơi, mỗi đội chơi gồm 4 - 6 học sinh chơi và 1 HS ghi lại kết quả chơi

GV nêu các dụng cụ dùng để chơi: bộ bài gồm 52 quân, phiếu đáp án

GV hướng dẫn cách chơi, phổ biến luật chơi:

Mỗi đội chơi được phát bộ bài gồm 52 quân trong đó có 13 câu hỏi tương ứng với chất cơ, 39 quân đáp án tương ứng các chất rô, tép, bích và 1 phiếu đáp

án

Học sinh có quân bài có chứa chữ BẮT ĐẦU sẽ chơi đầu tiên đó tương ứng chất cơ và có câu hỏi - các bạn còn lại tìm xem trong các lá bài của mình có chứa câu trả lời của câu hỏi đó thì đánh ra

Bạn chứa câu trả lời là chất rô sẽ tiếp tục đánh ra câu hỏi (chất cơ) nếu trong bài mình có (Nếu bạn không có quân bài chất cơ nào thì bạn có chất tép vừa rồi sẽ đánh tiếp)

Các đội có thể chơi nhiều lần trên một bộ bài Thời gian chơi là 10 phút

GV nêu cách xác nhận kết quả và cách tính điểm chơi, giải của cuộc chơi: Hết thời gian 10 phút thì tất cả các đội dừng cuộc chơi

Đội chơi chiến thắng là đội hết bài trước, tìm ra được nhiều đáp án đúng nhất trên phiếu trả lời

Trang 37

32

Mỗi đáp án đúng được 2 điểm

Đội chơi cần nộp lại bộ bài đã sắp xếp hoàn chỉnh, và phiếu trả lời đầy đủ

- Thực hiện trò chơi:

Các đội chơi tiến hành trò chơi, GV giám sát các đội chơi

Hết thời gian, GV yêu cầu các đội chơi dừng trò chơi để chấm điểm Thu phiếu đáp án của các đội chơi và phát chéo phiếu đáp án của các đội để chấm chéo

GV trình chiếu đáp án lên màn hình để các đội chơi chấm chéo số đáp án đúng của các đội chơi

GV thu phiếu đáp án của các đội chơi

GV yêu cầu 6 đội chơi theo dõi đáp án trò chơi GV trình chiếu, đại diện đội chơi tóm tắt lại nội dung bài học

GV hoàn thành việc cho điểm các đội chơi theo phiếu chấm điểm đội chơi (phiếu 4)

- Nhận xét sau cuộc chơi:

GV nhận xét về thái độ tham gia trò chơi của từng đội, những việc làm chưa tốt của các đội để rút kinh nghiệm

GV công bố kết quả chơi của từng đội và trao phần thưởng cho đội đoạt giải

 Kinh nghiệm của bản thân sau khi tổ chức trò chơi này cho HS:

Tùy thuộc thời gian và dung lượng kiến thức quyết định số quân bài tương ứng: Nên là một số chia hết cho 4

Nên chia đội chơi theo sự sai lệch về mức độ: có cả giỏi, khá, trung bình, yếu

Trò chơi đòi hỏi HS phải tích cực huy động trí nhớ, tư duy và khả năng phản ứng nhanh của mình mới đạt kết quả mong muốn Do đó GV phải hướng dẫn cách chơi, luật chơi cụ thể

3.2.3.2 2 TRÒ CHƠI “BINGO”

Sử dụng trò chơi ở hoạt động củng cố, luyện tập khi dạy chủ đề: “DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI NGUỒN ĐIỆN” (tiết CƯỜNG ĐỘ DÒNG ĐIỆN DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI)

Thiết kế trò chơi:

- Mục đích trò chơi: Tạo sân chơi học tập, giúp HS củng cố lại kiến thức về cường độ dòng điện, dòng điện không đổi, nguồn điện của bài học nhưng không căng thẳng và mệt mỏi sau khi học xong bài học, rèn trí nhớ và khả năng tư duy giúp các em khắc sâu kiến thức

Trang 38

33

- Nội dung trò chơi: thuộc mục I - DÒNG ĐIỆN; muc: II - CƯỜNG ĐỘ DÒNG ĐIỆN DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI và mục: III – NGUỒN ĐIỆN của chủ đề: “DÒNG ĐIỆN KHÔNG ĐỔI NGUỒN ĐIỆN”

- Chuẩn bị:

Phiếu học tập trên phần mềm powerpoint và đáp án phiếu học tập

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:16

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w