1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một vài phương pháp dạy học văn thuyết minh ở lớp 10 theo hướng phát triển năng lực học sinh

52 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một vài phương pháp dạy học văn thuyết minh ở lớp 10 theo hướng phát triển năng lực học sinh
Tác giả Hoàng Thị Dung, Trịnh Thị Thanh Hải, An Thị Quế, Mai Thị Hồng Quế, Lê Thị Loan, Nguyễn Thị Phương
Trường học Trường THPT Đông Hiếu
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2019
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để làm được điều này, đòi hỏi khả năng nhiều mặt của người dạy trong việc giúpngười học khám phá thế giới văn học bao la, rộng lớn; lĩnh hội và tạo lập được tất cả các thể loại văn bản,

Trang 1

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Việc dạy học môn Ngữ Văn ở trường phổ thông luôn luôn thu hút sự quantâm lớn của xã hội Ngữ Văn là một trong những môn học chiếm vị trí quan trọngtrong chương trình giáo dục quốc dân và phát triển dân trí nước nhà Tuy vậy, thực

tế dạy học, chất lượng của bộ môn, chất lượng thi cử hiện nay vẫn còn nhiều điềuđáng quan tâm Không ít giáo viên còn bỡ ngỡ, lúng túng khi đối diện với việc đổimới phương pháp giảng dạy, đổi mới ra đề, kiểm tra đánh giá

Bộ môn văn học vừa là khoa học vừa là nghệ thuật, là lĩnh vực để con ngườihóa thân và thăng hoa cảm xúc Khi tiếp nhận văn học tức là đọc hiểu để biến vănbản thành một thế giới hình tượng sinh động và nắm bắt được ý nghĩa của nó Họcsinh không những hiểu mà còn cảm được văn chương, nhất là những văn bản nghệthuật có giá trị thẩm mĩ cao đã được tuyển chọn đưa vào giảng dạy ở chương trìnhNgữ Văn THPT Bên cạnh đó, học sinh còn biết vận dụng những kiến thức đã học

để xử lí các tình huống thực tế đời sống vô cùng phong phú, đa dạng và phức tạp

Để làm được điều này, đòi hỏi khả năng nhiều mặt của người dạy trong việc giúpngười học khám phá thế giới văn học bao la, rộng lớn; lĩnh hội và tạo lập được tất

cả các thể loại văn bản, trong đó có văn thuyết minh

Việc đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng sáng tạo, đem lại sự tíchcực và tạo hứng thú cho học sinh là phù hợp với một trong những nguyên tắc của

lý luận dạy học hiện đại: Học theo cách khám phá Giáo viên phải tạo được nhữnggiờ dạy thú vị, đem lại sự hứng thú cho học sinh không chỉ trong những giờ về vănhọc sử, đọc hiểu, tiếng Việt mà ngay cả giờ Tập làm văn

Ở trong chương trình lớp 10, ngoài văn nghị luận thường gặp, có một kiểubài nữa là văn thuyết minh Văn thuyết minh là loại văn bản có nhiều ứng dụngtrong thực tiễn cuộc sống hàng ngày Hiểu một văn bản thuyết minh để rồi từ đóhình thành kĩ năng tạo lập một văn bản tương tự là điều mà người giáo viên cầnthiết phải định hướng cho học sinh làm được Tuy vậy, kiểu bài này cả giáo viên vàhọc sinh đều gặp không ít sự khó khăn khi trình bày mặc dù bài học đã có một số

tiết dạy khá kỹ như: Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh; lập dàn ý bài văn thuyết minh Để tìm hiểu một văn bản thuyết minh hay làm tốt một bài văn

thuyết minh đòi hỏi học sinh cần phải có một sự hiểu biết nhất định, phải có sự tìm

tòi thông tin, thống kê số liệu và sự kiện một cách khách quan, cụ thể Hơn nữa, từ

bài thuyết minh theo cách viết đến bài thuyết minh nói được trình bày trước tập thểcũng là một khó khăn không nhỏ

Chính vì vậy, tôi chọn đề tài “Một vài phương pháp dạy học văn thuyết minh ở lớp 10 theo hướng phát triển năng lực học sinh” nhằm góp một phần nhỏ

mở ra những con đường tiếp cận kiểu bài văn thuyết minh ở trường THPT

II LỊCH SỬ ĐỀ TÀI

Trang 2

- Hoàng Thị Dung - Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn thuyết minh cho học sinh lớp

10 - Trường THPT Yên Định 3 - Thanh Hóa.

- Trịnh Thị Thanh Hải - Phương pháp dạy học văn thuyết minh cho học sinh lớp

10 THPT - THPT Bỉm Sơn - Thanh Hóa.

- An Thị Quế, Mai Thị Hồng Quế, Lê Thị Loan - Hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong văn thuyết minh với chủ đề giới thiệu về địa phương Yên Mô - THPT Yên

Mô 3

- Nguyễn Thị Phương - Để dạy - học tốt văn thuyết minh - THCS Cao Viên.

Các bài nghiên cứu đã đi sâu vào mục đích cụ thể của cách viết đoạn vănthuyết minh hoặc thuyết minh về một nội dung cụ thể, chưa có cái nhìn bao quát,toàn diện về các giải pháp, chưa định hướng cụ thể các cách để học sinh tiếp cận

và làm bài văn thuyết minh

III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

- Đối tượng nghiên cứu: Học sinh lớp 10C2, 10C3 năm học 2018 - 2019 và lớp10C4, 10C6 năm học 2019 - 2020 tại Trường THPT Đông Hiếu, Thị xã Thái Hòa,tỉnh Nghệ An

- Mục đích nghiên cứu: Xây dựng cơ sở lí luận cho việc dạy học kiểu văn bảnthuyết minh ở lớp 10 theo định hướng phát triển năng lực để việc dạy học Tập làmvăn có nội dung và đạt kết quả cao Rút ra những bài học kinh nghiệm cho bảnthân trong quá trình giảng dạy Vận dụng vào thực tế giảng dạy ở THPT

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện đề tài này tôi sử dụng các phương pháp sau đây:

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

Đề tài được thực hiện theo cấu trúc gồm có ba phần:

- Phần đặt vấn đề, thực hiện những nội dung mở đầu cho đề tài nghiên cứu

- Phần nội dung nghiên cứu triển khai cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

- Để từ đó thiết kế giáo án Từ kết quả thu được của đề tài để khẳng định đóng gópcủa đề tài

- Phần kết luận thực hiện tóm tắt những nội dung đã làm và những đề xuất đối vớigiáo viên và học sinh

VI ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài được thực hiện với việc phân tích, giảng dạy trực tiếp phần văn thuyếtminh ở lớp 10 trong các năm học 2018 - 2019 và năm học 2019 - 2020 tại trường

THPT Đông Hiếu, Thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An Viết đề tài này, bản thântôi mong muốn hướng dẫn học sinh làm bài văn thuyết minh đạt hiệu quả bằng

Trang 3

cách hình thành các kĩ năng tiếp nhận lý thuyết, cách thu thập tài liệu qua mạngInternet, cách tiếp cận kiến thức thực tế thông qua hoạt động trải nghiệm hay cách

để các em luyện nói trong giờ học văn thuyết minh

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

I THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ

1 Thuận lợi

Hiện nay, phương pháp đổi mới cách học theo hướng học sinh phải tích cực,phải làm việc là một phương pháp tốt Nó giúp cho học sinh tìm tòi sáng tạo đểnắm vững kiến thức Chính vì vậy, phương pháp này đã được sự ủng hộ của nhiềungười

Trang 4

Một bài viết có thể do cá nhân thực hiện nhưng cũng có khi là cả tổ hoặc nhómcùng làm việc Điều này không chỉ giúp học sinh tự tin, năng động, thắt chặt tìnhđoàn kết trong tổ, lớp mà còn giúp học sinh có quen dần với cách làm việc tập thể Văn thuyết minh giúp học sinh có điều kiện được rèn luyện các kĩ năng thực tếtrong đó có kĩ năng giao tiếp Một kĩ năng quan trọng để ứng dụng trong thực tếcuộc sống ngày nay.

Cùng với loại bài văn nghị luận, bài văn thuyết minh cũng gần gũi với các emtrong ứng dụng thực tế Nó có thể giúp các em giới thiệu một cảnh đẹp, một sảnphẩm của quê hương mình cùng bạn bè hay khách tham quan, trình bày ý kiến,quan điểm trước những vấn đề xã hội đang diễn ra trong cuộc sống hoặc tác gia,tác phẩm văn học

Như đã nêu trên, với cấp THPT thì đây là kiểu bài mới (So với chương trìnhhọc cũ) nhưng kiểu bài này cũng đã được dạy ở cấp II và ở cấp III cũng có nhiềubài hướng dẫn Vì vậy, các em cũng đã có kiến thức cơ bản về thể văn này

2 Khó khăn

Tài liệu hướng dẫn làm bài văn thuyết minh chưa nhiều, điều kiện của một

số học sinh để tiếp cận các thông tin, tài liệu còn hạn chế

Làm việc theo nhóm, tổ và chủ động trong việc sưu tầm tài liệu, biên soạnvăn bản thuyết minh là một trong những công việc còn mới lạ đối với các em Cóthể các em chưa định hướng nội dung và phương pháp nên thực hành còn khókhăn

Khi viết một văn bản thuyết minh, các em còn lúng túng trong phương phápviết, chưa hiểu bài thuyết minh khác với bài nghị luận như thế nào nên bài viết cóthể rơi vào phân tích là chủ yếu

Trong chương trình Ngữ văn 10, các em được viết 1 bài bài văn thuyết minh(bài viết số 5 về nhà) nhưng nếu có điều kiện hoặc ở một sinh hoạt cộng đồng,hoặc sinh hoạt ngoại khóa nào đó, có thể các em phải chuyển từ văn bản viết sangtrình bày nói trước đám đông thì còn lúng túng vì không mạnh dạn, thiếu tự tin nênthất bại

II CƠ SỞ CỦA ĐỀ TÀI

1 Cơ sở lý luận

Năm học 2017 - 2018 là năm học thứ tư thực hiện Nghị quyết số29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa XI về “Đổi mới căn bản,toàn diện Giáo dục - Đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trongđiều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”

Việc đổi mới giáo dục trung học được dựa trên những đường lối, quan điểmchỉ đạo giáo dục của Đảng, đó là những định hướng quan trọng về chính sách vàquan điểm trong việc phát triển và đổi mới giáo dục

Trang 5

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện

Giáo dục và Đào tạo xác định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng, phát triển năng lực.”

Như vậy, giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từchương trình giáo dục “tiếp cận nội dung” sang “tiếp cận năng lực” của người học

Để thực hiện được điều này đòi hỏi phải chuyển đổi từ phương pháp dạy học theolối “truyền thụ một chiều” truyền thống sang lối dạy học tích cực, dạy cách vậndụng kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành năng lực và phẩm chất cho học sinh

Đó là sự phát triển tinh thần của Luật giáo dục phổ thông Điều 28.2, Luật

giáo dục phổ thông qui định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh.” Còn ở Điều 27.1, xác định rõ:

“Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Như vậy, quan điểm, đường lối lãnh đạo của Đảng về giáo dục là đã rõ ràng,trở thành kim chỉ nam để định hướng đổi mới giáo dục toàn diện, trong đó, mônNgữ Văn góp phần không nhỏ trong việc hình thành nhân cách, trí tuệ, đạo đức vàtài năng cho học sinh Môn Ngữ Văn nói chung, Ngữ Văn 10 nói riêng trên tinhthần đổi mới sẽ tiếp tục mở ra hướng giáo dục theo đánh giá năng lực, phát huytính sáng tạo của học sinh Một trong những nội dung không kém phần quan trọngthuộc Ngữ Văn 10 là kiểu bài văn thuyết minh, góp phần thực hiện việc đưa vănhọc gắn liền với đời sống vô cùng phong phú và sinh động

Theo tài liệu Dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng

lực học sinh của Vụ Giáo dục Trung học, một số phẩm chất, năng lực cần được cần

hình thành, phát triển ở học sinh THPT, đó là:

* Về phẩm chất:

1 Yêu gia đình, quê hương, đất nước

2 Nhân ái, khoan dung

3 Trung thực, tự trọng, chí công vô tư

4 Tự lập, tự tin, tự chủ và có tinh thần vượt khó

5 Có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước, nhân loại và môi trường

tự nhiên

* Về năng lực:

1 Năng lực tự học

Trang 6

2 Năng lực giải quyết vấn đề

Sau đây là ý kiến của người trực tiếp tham gia viết SGK Ngữ Văn 10 phân

ban :“Chương trình Làm văn hiện hành nặng về lí thuyết các kiểu bài, nghiêng nhiều về nghị luận văn học, thực hành nói và viết ít Chương trình Ngữ Văn mới, ngoài việc bám sát các văn bản làm ngữ liệu, coi trọng việc hình thành và rèn

luyện cho học sinh kĩ năng hình thành ý, sinh ý, các thao tác lập luận… đưa thêm vào loại văn thuyết minh, một loại văn có giá trị ứng dụng cao trong đời sống nhưng không được chú ý trong chương trình hiện hành…”(TÌM HIỂU

CHƯƠNG TRÌNH VÀ SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔTHÔNG -TS Đỗ Ngọc Thống - NXB Giáo dục 2006 - trang 13)

Như vậy, văn thuyết minh đã được xem là thể loại văn gắn liền với đời sốngthực tế nhiều nhất Tuy nhiên, giáo viên Văn THPT từ bấy lâu nay theo SGK hợpnhất năm 2000 chỉ dạy làm văn theo các kiểu bài Nghị luận xã hội, nghị luận vănhọc, nay chương trình mới đưa vào văn thuyết minh nên không tránh khỏi lúngtúng trong việc hướng dẫn học sinh học lý thuyết và thực hành kiểu bài này

Hơn nữa, trong phân phối chương trình Ngữ Văn 10 phân ban, thời lượngthực hành luyện nói và luyện viết cho học sinh còn quá ít Việc giảm tải chươngtrình kéo theo giảm luôn thời gian luyện tập khiến không ít học sinh không có điềukiện trình bày hiểu biết của mình qua kiểu bài văn thuyết minh Trong khi đó, kiểubài này yêu cầu phải “thuyết” (nói) thế nào để cho “minh” (trong sáng, rõ ràng) đạthiệu quả

2.Cơ sở thực tiễn

2.1 Đối với người dạy

a Thuận lợi

Trang 7

Học sinh đã được học kiểu bài văn thuyết minh ở chương trình lớp 8 nênviệc hướng dẫn học sinh học kiểu bài này không còn mới mẻ, xa lạ.

Nhiều kênh thông tin hiện đại tạo điều kiện giúp giáo viên dễ dàng chọn lọckiến thức làm tư liệu để giờ dạy trở nên phong phú, sinh động

Học sinh có nhiều nguồn thông tin (Tài liệu nghiên cứu, sách báo, mạngInternet, trải nghiệm thực tế )

b Khó khăn

Thứ nhất, phân phối chương trình còn nặng về lí thuyết, ít giờ thực hànhluyện tập Trong phân phối chương trình (kể cả giảm tải), phần văn thuyết minhchủ yếu tập trung ở học kỳ II gồm 5 tiết vừa lí thuyết vừa luyện tập, cụ thể:

HỌC KỲ II

20 55 Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh

56 Lập dàn ý bài văn thuyết minh

57 Tính chuẩn xác, hấp dẫn của văn bản thuyết minh

59 Luyện tập viết đoạn văn thuyết minh Kiểm tra 15

phút, bài số 4 - Tự luận

60 Tóm tắt văn bản thuyết minh

23 61 Khái quát lịch sử Tiếng Việt Bài làm văn số 5 (HS làm ở

nhà): Viết bài văn thuyết minh

62 Những yêu cầu về sử dụng Tiếng Việt

63 Những yêu cầu về sử dụng Tiếng Việt

Thứ hai, muốn làm tốt bài văn thuyết minh, học sinh phải được trải nghiệmsáng tạo, tức là được tham quan tìm hiểu thực tế Thế nhưng trong tình hình trườngđông lớp, học sinh nhiều thì không đủ điều kiện kinh phí để tổ chức cho tất cả các

em đi tham quan dã ngoại, gắn liền với thực tế cuộc sống để có thêm vốn sống, vốnhiểu biết

2.2 Đối với người học

Mặc dù đã được làm quen với kiểu bài văn thuyết minh từ năm học lớp 8cấp THCS nhưng các em vẫn còn nhiều lúng túng vì đã trải qua một năm học lớp

9, lên lớp 10 đã có độ lùi thời gian, nhiều em đã quên kiến thức, thậm chí khôngbiết đã học hay chưa Nếu biết, các em chỉ biết tên gọi là văn thuyết minh, còn nộidung, phương pháp thì lại không còn nhớ

Trang 8

Một số em viết bài văn thuyết minh chỉ là đối phó mà không có hiểu biếtthấu đáo kiến thức về văn thuyết minh nên hiệu quả bài làm chưa cao.

2.3 Đối với thi cử, kiểm tra đánh giá

Về kiểm tra định kì: chỉ có một bài viết số 5, được làm ở nhà Tuy các em có

thời gian để làm bài nhưng dễ tạo điều kiện cho các em sao chép lẫn nhau, saochép trên mạng, thiếu tính sáng tạo, trải nghiệm

Về thi HSG, Đại học, cao đẳng: trong cấu trúc đề thi, kiểu bài văn thuyết

minh càng hiếm có vì chủ yếu là các dạng đề Cảm nhận hoặc phân tích tác phẩmvăn học, nếu có ra đề thì phần văn thuyết minh chỉ được hỏi trong phần Đọc hiểu,dạng đề nhận biết phương thức biểu đạt Vì thế, dễ dẫn đến thái độ ỷ lại, chủ quan,

lơ là trong học tập của học sinh (vì không thi nên không chú trọng việc học)

Từ những thực tế trên mà chất lượng bài văn thuyết minh nói riêng và viếtbài văn nghị luận nói chung ở học sinh lớp 10 còn nhiều lúng túng, hạn chế và kếtquả bài viết của các em chưa cao

Tiến hành khảo sát chất lượng 2 lớp 10C2 và 10C3 năm học 2018 - 2019 tạiTrường THPT Đông Hiếu - Thị xã Thái Hòa - tỉnh Nghệ An, chúng tôi thu đượckết quả như sau:

Từ thực trạng trên, tôi nhận thức rằng: văn bản thuyết minh được sử dụngrất rộng rãi, gắn bó với đời sống và ngành nghề nào cũng cần đến Do vậy, việc rènluyện kĩ năng, cách viết văn thuyết minh cho học sinh lớp 10 là vấn đề quan trọng

và cần thiết để các em đạt hiệu quả cao trong học tập bộ môn Ngữ Văn và vậndụng vào thực tế cuộc sống

III TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP

1 Vấn đề thuật ngữ văn thuyết minh

Thuyết minh là loại văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằmcung cấp những tri thức khách quan về những sự vật, hiện tượng… Phương pháp

Trang 9

thuyết minh giúp người đọc, người nghe hiểu rõ những đặc điểm, tính chất … củađối tượng thuyết minh Mỗi đối tượng có đặc điểm, cấu tạo, đặc trưng riêng đểngười thuyết minh có những cách trình bày, thuyết minh riêng Văn thuyết minhvừa phải thỏa mãn yêu cầu của văn bản nói chung như: chính xác, nhất quán, mạchlạc, liên kết chặt chẽ; vừa có những đặc điểm, tính khách quan, tính chính xác, tínhhấp dẫn

Văn bản thuyết minh cần đạt được các yêu cầu: tri thức cung cấp phải kháchquan, xác thực và hữu ích đối với con người; trình bày chính xác, rõ ràng, chặt chẽ

và hấp dẫn

Người viết văn thuyết minh phải cung cấp cho người đọc những tri thức cóthực về đối tượng Người viết không vì tình cảm riêng, lợi ích riêng mà hư cấu, bịađặt, tưởng tượng ra những điều không có ở đối tượng được giới thiệu Ngôn ngữbài thuyết minh phải chính xác, giản dị, gần gũi với đời sống và phù hợp với ngườiđọc cũng như đối tượng được giới thiệu

2 Một số giải pháp thực hiện đề tài

2.1 Giải pháp 1: Nhóm giải pháp dạy lý thuyết

2.1.1.Xây dựng tính chuẩn xác cho văn bản thuyết minh

a Mục đích yêu cầu: Yêu cầu đầu tiên giáo viên đặt ra với học sinh là tính chuẩnxác Bởi vì, thuyết minh không chuẩn xác chẳng những vô ích mà còn có hại chonhận thức của con người Muốn thế, giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh tìmđọc tài liệu, biết quan sát sự vật, hiện tượng cuộc sống, biết hệ thống hoá kiến thức

để tập trung chủ đề thuyết minh

b Năng lực, phẩm chất cần đạt:

- Năng lực: Năng lực tự học, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng công nghệ thôngtin và truyền thông, năng lực sử dụng ngôn ngữ

- Phẩm chất: Yêu gia đình, yêu quê hương, đất nước, trung thực, tự trọng, tự lập,

tự tin, tinh thần vượt khó, có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước

xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An - mảnh đất miền Trung đầy nắng gió.

Từ thành phố Vinh đi theo quốc lộ 46 khoảng 15km là tới làng Sen, quê Bác Cũng chính nơi đây, hơn nửa thế kỷ trôi qua, không biết có bao nhiêu bước chân của những người con quê hương Việt Nam tìm đến với niềm thành kính và sự xúc động

Trang 10

sâu xa trong tâm hồn mình Đây cũng chính là 1 trong 4 di tích quan trọng bậc nhất cả nước về vị chủ tích kinh yêu của dân tộc và cũng là niềm tự hào của người dân xứ Nghệ để đưa vào bài văn một cách hợp lý Kiến thức đó hoàn toàn không

có trong sách giáo khoa Ngữ Văn 10, mà lại có từ trong lịch sử, trong thực tế quanhững lần các em đi tham quan, ghi chép ngay trên quê hương mình

Tính chuẩn xác của văn thuyết minh còn thể hiện cả ở hình thức diễn đạt

Từ ngữ, câu cú phải rõ nghĩa, đúng chuẩn mực, để lời không hai ý và người đọc cóthể tiếp thu chính xác nội dung

Đặc biệt, khi luyện nói trước tập thể để thuyết minh một đề tài nào đó, giáoviên yêu cầu học sinh phải chuẩn bị trước về bố cục, dẫn dắt người nghe đi từ dễđến khó, từ quen đến lạ, từ gần đến xa hơn, từ chỗ người nghe chưa biết đến chongười nghe biết, hiểu

Nói chung, giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh tự rèn luyện về ngôn ngữ

để đảm bảo dùng từ chính xác, đúng nghĩa, đúng tình cảm; đồng thời cần phải thuthập tài liệu thông qua ghi chép, quan sát thực tế; sử dụng số liệu, sử liệu hợp lý đểthuyết phục người đọc, người nghe

2.1.2 Tạo cho văn bản thuyết minh sự hấp dẫn

a Mục đích yêu cầu: Nếu chỉ dừng lại ở tính chính xác, khoa học thì bài văn thuyếtminh sẽ trở nên khô khan, buồn tẻ Chính vì thế, để thu hút được người đọc, ngườinghe, giáo viên hướng dẫn cho học sinh làm cho bài văn thuyết minh không chỉđúng, rõ mà còn hay

như: ước mơ của em; về tình bạn - tình yêu tuổi học trò; về một môn học mà em thích nhất Hướng cho học sinh viết những câu văn có sử dụng các biện pháp tu

từ như so sánh, ẩn dụ, nhân hoá hoặc kể một câu chuyện thay cho những lời thuyết

minh khô khan, trừu tượng Ví dụ, khi giới thiệu về Lễ hội Làng Vạc (xã Nghĩa Hòa, Thị xã Thái, tỉnh Nghệ An) chắc chắn người đọc sẽ được lôi cuốn nếu học

sinh biết lồng vào trong bài viết (thuyết minh) bởi câu chuyện truyền thuyết về tên

gọi Làng Vạc …

Đền làng Vạc uy nghi, linh thiêng bên triền đồi mở hướng về phía đập Hòn Sường, đầm làng Vạc nơi còn lưu giữ truyền thuyết rằng: một đêm nọ, thần

Trang 11

linh báo mộng cho trưởng làng tập trung dân làng bên đầm, Ngài sẽ trao báu vật của trời để làng tổ chức lễ hội Sáng ra, khi dân làng đã tụ hội đông đủ bỗng thấy giữa đầm nổi lên chiếc Vạc to như một gian nhà, trong vạc to có 10 vạc nhỏ và rất nhiều âu đĩa trong đó Dân làng tưng bừng tổ chức lễ hội Sau 3 ngày mở tiệc, mở hội dân làng làm lễ tạ ơn và trả báo vật về cho thần linh, đang sụp lạy thì Vạc đồng từ từ trôi ra giữa đầm rồi chìm xuống.

Từ đó, làng đặt tên là đầm Vạc, và đặt tên làng là làng Vạc Truyền thuyết

về làng Vạc kết nối với truyền thuyết về chuyện con gái già làng Xiêng Lằm tên là

Y La, đã hiến thân, huy sinh tính mạng cao cả để cứu dân làng khỏi họa xâm lăng tàn ác của lũ giặc Máu của nàng Y La, đã đổ tạo thành những vùng đất đỏ Phủ Quỳ giờ Cả chuyện truyền thuyết Vạc đồng cũng như nàng Y La là cách diễn giải truyền miệng của người dân để nói về vùng đất linh thiêng, cùng như chiều sâu văn hóa lịch sử nhưng đối với làng Vạc giá trị lịch sử hiện hữu quan trọng nhất đó

là kết quả của 5 lần khai quật đã phát hiện 347 ngôi mộ đã thu được 1.228 hiện vật, trong đó đồ đồng là 665 chiếc (Nguồn Báo Nghệ An)

2.1.3.Vận dụng tổng hợp các phương thức biểu đạt

a Mục đích yêu cầu: Một bài văn thuyết minh cần vận dụng tổng hợp các phươngthức biểu đạt sẽ giúp người đọc, người nghe hiểu chi tiết, cụ thể vấn đề cần đềcập.Văn thuyết minh sinh ra chủ yếu để cung cấp những tri thức khoa học, kháchquan về con người, sự vật hay hiện tượng Để con người, sự vật hay hiện tượnghiện lên trước mắt người đọc (người nghe) một cách rõ ràng, chính xác, ngườithuyết minh phải dùng nhiều yếu tố khác

b Năng lực, phẩm chất cần đạt

- Năng lực: Năng lực tự học, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực sử dụng côngnghệ thông tin, năng lực sáng tạo, năng lực giao tiếp, năng lực giải quyết vấn đề,năng lực tư duy

- Phẩm chất: Tự lập, tự tin, tự chủ và có tinh thần vượt khó, nhân ái, khoan dung,yêu gia đình, quê hương, đất nước, có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đấtnước, nhân loại và môi trường tự nhiên

c Biện pháp thực hiện

- Hướng dẫn học sinh vận dụng tổng hợp các phương thức biểu đạt: tự sự, miêu tả,biểu cảm, nghị luận và lấy phương thức thuyết minh làm phương thức đóng vai tròchủ đạo trong bài văn thuyết minh

- Tự sự nhằm làm rõ những tri thức về con người, địa điểm, sự vật, hiện tượng, đểngười đọc hiểu rõ hơn về thời đại, nhân vật hay cảnh vật

- Dùng yếu tố miêu tả để cung cấp các tri thức cần thiết nhằm hiểu rõ đối tượngmiêu tả hơn

Trang 12

- Để văn thuyết minh hấp dẫn, người thuyết minh còn sử dụng yếu tố biểu cảm đểgiới thiệu rõ một tri thức nào đấy trong số những điều đã làm cho con người xúcđộng.

Ví dụ, nếu học sinh thuyết minh về Lễ hội Làng Vạc, giáo viên hướng dẫn

cho các em miêu tả về cảnh quan, không gian, thời gian diễn ra lễ hội… và bộc lộcảm xúc của mình khi đứng trước khung cảnh này Cụ thể:

Cứ mỗi độ xuân về, Thị Xã Thái Hòa lại tổ chức lễ hội Làng Vạc để nhân dân trong vùng và du khách muôn phương về dâng hương tưởng nhớ công đức của các bậc tiền nhân khai dân lập ấp từ thuở hồng hoang, khai sinh ra vùng đất Phủ Quỳ Năm nay, Lễ hội Làng Vạc được tổ chức trong 3 ngày (11 đến 13/3) Hàng ngàn người các dân tộc trên địa bàn và các vùng lân cận đã về tham gia lễ hội Trong phần lễ, có lễ rước Vạc đồng Hội rước đông vui, trống dong cờ mở, đồng bào các dân tộc mặc những trang phục truyền thống dân tộc mình bằng vải thổ cẩm hoa văn rực rỡ Những cô gái Thổ, Thái, Thanh xúng xính trong những trang phục rực rỡ sắc màu, những cô gái Kinh thướt tha tà áo dài tham gia Hội rước Vạc đồng, đây là nét độc đáo của lễ hội làng Vạc Sau lễ rước là lễ tế tại đền được

tổ chức tôn nghiêm, thành kính theo lễ nghi truyền thống được các cụ cao niên trong làng thực hiện, cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, nhân dân được ấm no, hạnh phúc và ngày càng phát triển Phần hội náo động, tấp nập Sau

ba hồi trống khai hội của Chủ tịch UBND Thị xã Thái Hòa Lê Phúc Ân, các trò chơi dân gian như đẩy gậy, kéo co, chọi gà, đấu võ, cờ thẻ, cờ bàn, hội vật,… được

mở ra rộn ràng với đông đảo mọi tầng lớp nhân dân tham gia Các cuộc thi đặc sắc như: thi hội cồng chiêng, thi người đẹp làng Vạc, thi kéo co, đẩy gậy nam, nữ, đấu võ, thi vật, bóng chuyền nam, nữ, cắm trại… Sau đó mọi người cùng vui vẻ bên chóe rượu cần Lễ hội Làng Vạc còn có hội diễn văn nghệ quần chúng với các tiết mục tự biên tự diễn độc đáo của các bản làng, phường xã như: múa cồng chiêng, khắc luống, các tiết mục múa hát truyền thống, hiện đại ca ngợi quê hương đất nước, thể hiện rõ bản sắc văn hóa đặc trưng vùng Phủ Quỳ, một đô thị trẻ năng động trên miền tây đang chuyển mình vươn lên Hơn 10 năm phục dựng và tổ chức, lễ hội Làng Vạc càng phong phú đa dạng, thu hút ngày càng nhiều du khách, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa, tâm linh của nhân dân trong vùng và trở thành điểm hội tụ của các cộng đồng dân tộc Đặc biệt năm nay khu đền đã được xây dựng khang trang, có thêm khu trưng bày hiện vật cổ làng Vạc, đã có nhiều người dân trong vùng đã tự nguyện đem hiện vật sưu tầm được đến trưng bày tại đền.(Nguồn trích: Khoa học.Viet Jack.com)

2.1.4 Hướng dẫn cho học sinh chú ý nắm được các hình thức kết cấu và các phương thức thuyết minh

a Có 5 dạng kết cấu sau

- Kết cấu theo trình tự thời gian: Năm tháng, mùa, buổi, lúc Ví dụ thuyết minh vềNguyễn Du, có thể sử dụng theo trình tự năm tháng, dựa vào những mốc chính

Trang 13

trong cuộc đời nhà thơ hoặc thuyết minh về một vị danh nhân nào đó cũng có thể

sử dụng theo kiểu kết cấu này để thuyết minh về quá trình sinh ra, lớn lên vànhững hoạt động của danh nhân đó

- Kết cấu theo trình tự không gian: trên - dưới, phải - trái, trong - ngoài…Ví dụ :Thuyết minh về Thành Cổ Loa, về Chùa Hương, về Chùa Một Cột;

- Kết cấu theo trình tự nhận thức: từ xa tới gần, từ bên ngoài vào bên trong, từ lạđến quen, từ hiện tượng tới bản chất, từ cụ thể đến trừu tượng Ví dụ thuyết minh

về Vẻ đẹp của Nữ sinh Việt Nam: từ vẻ đẹp truyền thống đến vẻ đẹp hiện đại,thuyết minh về một ngôi chùa là thuyết minh từ cấu trúc, không gian

- Kết cấu theo trình tự tổng hợp - phân tích: giới thiệu chung về đối tượng thuyếtminh trước, thuyết minh riêng từng mặt, từng góc độ khác nhau.Thuyết minh vềNguyễn Du, có thể thuyết minh chung về cuộc đời - sự nghiệp của ông, sau đó đivào cụ thể thuyết minh đóng góp của ông với nền văn hoá dân tộc … nhất là thuyết

minh về chủ nghĩa nhân đạo của Nguyễn Du qua Truyện Kiều và thơ chữ Hán;

thuyết minh về thành công nghệ thuật của nhà thơ

- Kết cấu theo trình tự chủ yếu - thứ yếu : trình bày cái chính, cái chủ yếu trước;cái phụ, cái thứ yếu sau hoặc ngược lại.Thuyết minh về Nguyễn Du, tập trung vềcon người, về chủ nghĩa nhân đạo qua thơ văn của ông (chủ yếu) hay thuyết minh

về Bưởi Phúc Trạch, tập trung miêu tả giá trị sử dụng (chủ yếu)

b Có nhiều phương pháp thuyết minh, trong đó thường được sử dụng hơn cả là :

- Phương pháp nêu định nghĩa: Đây là phương pháp chỉ ra bản chất của đối

tượng thuyết minh, vạch ra phương pháp lôgic của thuộc tính sự vật bằng lời lẽ rõràng, chính xác, ngắn gọn Muốn thuyết minh chuẩn xác đối tượng theo cách địnhnghĩa, cần nắm được hai vấn đề: Một là tính chất của đối tượng, nó thuộc loại nào.Hai là đặc điểm riêng của đối tượng, tức là chỗ khác với đối tượng cùng loại Ví

dụ: Nghệ An là vùng đất có truyền thống hiếu học; Giun là động vật có đốt, gồm khoảng 2500 loài, chuyên sống ở vùng đất ẩm; Hát quan họ là một lối hát đối đáp giữa hai bên trai và gái

- Phương pháp chú thích: là nhằm gọi tên, giải thích, làm rõ đặc điểm nào đó ở

đối tượng Ví dụ:

Tên gọi An Giang có thể giải nghĩa là dòng sông an lành, để định cư lâu dài khi mà vua Minh Mạng thực hiện chính sách di dân khẩn hoang lập làng, khuyến khích các cư dân vào vùng đất này khai phá.

- Phương pháp phân loại phân tích

Đối với những loại sự vật đa dạng và có nhiều bộ phận cấu tạo, có nhiềumặt, nhiều khía cạnh người ta thường dùng phương pháp này Đây là cách chia đốitượng ra từng loại, từng mặt để thuyết minh cho rõ

Trang 14

Chẳng hạn, muốn thuyết minh về một thành phố, có thể đi từng mặt: vị tríđịa lí, khí hậu, dân số, lịch sử, con người, sản vật, danh lam thắng cảnh, ẩm thực

- Phương pháp so sánh

Đây là cách đối chiếu hai hoặc hơn hai đối tượng, để làm nổi bật bản chấtcủa đối tượng, cần được thuyết minh Có thể dùng so sánh tương đồng hoặc sosánh khác biệt nhưng mục đích cuối cùng là nhằm để người đọc hình dung rõ hơn

về đối tượng được thuyết minh Sau đây là đoạn văn tiêu biểu cho phương phápnày:

“ Loài cá sống dưới nước, trong đó có nhiều giống biết phát ra âm thanh Tiếng kêu của cá bò như tiếng ong bay qua, âm thanh vù vù… Cá mè bơi thành đàn y như đàn chim nhỏ vậy, tiếng kêu “chíp chíp” Cá nhám thì tiếng kêu như tiếng lá xào xạc”sa, sa…” Cá trích thì ồn ĩ như tiếng sóng vỗ biển trong đêm Cá nóc và cá nhím thì lại kêu “ cù rù, cù rù ”như tiếng trống vậy Còn các bạc má thì tiếng kêu phát ra như cách ta lấy móng tay cạo thật nhanh trên hàng răng lược…”

( Âm thanh của cá - Nguồn Internet)

- Phương pháp nêu ví dụ cụ thể

Đây là phương pháp thuyết minh sự thật bằng cách nêu dẫn chứng thực tế.Dùng cách này ta có thể thuyết minh, giải thích rơ ràng hơn, tạo ấn tượng cụ thểcho người đọc

- Phương pháp liệt kê.

Đây là phương pháp lần lượt chỉ ra các đặc điểm, tính chất của đối tượngtheo một trật tự nào đó

- Phương pháp giải thích nguyên nhân - kết quả

Đây là phương pháp mà người thuyết minh trình bày nguyên nhân, sau đó nêu

lên kết quả của vấn đề trong thuyết minh Phương pháp này giúp người đọc cóđược những hiểu biết về cả một quá trình hình thành vấn đề

- Phương pháp dùng số liệu

Đây là phương pháp dẫn con số cụ thể để thuyết minh về đối tượng Bài vănthuyết minh càng có thêm tính khoa học chính là nhờ vào phương pháp này Đoạnvăn thuyết minh về hoa quân tử lan là dùng phương pháp này

“ Ta chỉ cần chăm sóc đúng cách, từ khi trồng đến khi đơm hoa chỉ khoảng

3 năm Năm nào cây giống đâm chồi lá thì năm sau sẽ được 5 đến 6 lá, hai năm sau là 8 đến 10 lá, ba năm sau là 15 đến 20 lá Lúc này sẽ đơm hoa Nếu ta chăm sóc không đúng cách thì giống quý sẽ bị kém đi, không đơm hoa được”

(Nguồn Internet)

- Phương pháp dùng hình thức tự thuật

Trang 15

Một trong những biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong văn thuyết minh

2.2 Giải pháp 2: Dạy cho học sinh tiếp cận, quan sát thực tiễn

a Mục đích yêu cầu

Điểm nổi bật của văn thuyết minh thể hiện tri thức khoa học nên học sinhkhông thể bịa đặt hoặc tưởng tượng mơ hồ Môn Ngữ văn hiện nay không còn xarời thực tế mà đi vào cuộc sống vô cùng phong phú Nếu thờ ơ với thực tế xã hội,vốn sống của học sinh sẽ mai một

b Biện pháp thực hiện

Giáo viên yêu cầu học sinh quan sát thực tế, ghi chép lại những điều tainghe mắt thấy từ cuộc sống Vì thế, học sinh phải tự tìm tư liệu từ trong sách vở,qua thông tin trên mạng Internet, qua những chuyến đi tham quan, dã ngoại Học

sinh thuyết minh về Lễ hội Làng Vạc (Thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An) mà bản

thân các em chưa hiểu rõ về địa điểm này, học sinh chưa thu thập tài liệu thì bàiviết dứt khoát không đạt hiệu quả, rơi vào tình trạng thuyết minh chung chung,thiếu tính chính xác

Thông qua giáo án điện tử, giáo viên cho học sinh xem trước những đoạnphim tư liệu, hình ảnh trực quan nếu chưa có điều kiện đi thực tế Giáo viên biếtứng dụng công nghệ thông tin hợp lý, học sinh sẽ ghi chép, có vốn kiến thức đểlàm bài thuyết minh chính xác và hấp dẫn Các đề tài về món ăn, về âm nhạc, nhạc

cụ, về danh lam thắng cảnh nếu được xem qua phim ảnh sẽ tạo điều kiện cho họcsinh có vốn sống để viết

Giáo viên gợi ý cho tập thể học sinh nếu có điều kiện sẽ đi thực tế, trảinghiệm, chụp hình quay phim về một số hình ảnh có thực trong cuộc sống để có tàiliệu làm bài văn thuyết minh

2.3 Giải pháp 3: Các bước để làm một bài thuyết minh

a Mục đích yêu cầu

Cách diễn đạt trong đề văn thuyết minh thường ngắn gọn Làm bài vănthuyết minh cũng là tạo lập văn bản Vì vậy, quá trình làm bài văn thuyết minhcũng là quá trình tạo lập một văn bản, cần phải thực hiện theo các bước một cáchkhoa học

Trang 16

Giáo viên cần ra những dạng đề sau:

- Đề nêu rõ yêu cầu về dạng bài và đối tượng được thuyết minh Ví dụ: Hãy giớithiệu về khu mộ của bà Hoàng Thị Loan - thân mẫu của Bác Hồ (ở huyện NamĐàn, tỉnh Nghệ An)

- Đề không nêu rõ yêu cầu về dạng bài mà chỉ nêu đối tượng được thuyết minh Ví

dụ: Lễ hội Đền Cuông (huyện Diễn Châu – tỉnh Nghệ An).

- Đề quy định đối tượng thuyết minh Ví dụ: Giới thiệu với đoàn khách đến tham

quan Lễ hội Đền Cờn (huyện Quỳnh Lưu – tỉnh Nghệ An).

- Đề không quy định cụ thể đối tượng thuyết minh Ví dụ: Giới thiệu một danh lamthắng cảnh ở tỉnh Nghệ An mà em biết

Gặp những dạng đề trên, học sinh cần xác định phạm vi đối tượng cụ thể, từ

đó lựa chọn nội dung cho bài

Các bước làm bài văn thuyết minh:

- Lập dàn ý cho bài văn thuyết minh

Trang 17

Mở bài:

+ Giới thiệu chung về đối tượng thuyết minh

+ Giới hạn phạm vi thuyết minh nếu cần thiết

+ Bày tỏ thái độ đối với đối tượng

+ Nhận xét về tương lai của đối tượng

Trong văn thuyết minh lớp 10, giáo viên cần chú ý kiểu bài thuyết minh

về văn học, nghệ thuật Đây là kiểu bài giới thiệu về thể loại văn học, về tác giả

và tác phẩm (văn chương, âm nhạc, nghệ thuật…) Trong bài thuyết minh,người viết cung cấp cho người đọc những tri thức, hiểu biết về thể loại, về tácgiả, tác phẩm một cách khoa học, khách quan…Để làm tốt bài thuyết minh vềvăn học nghệ thuật, người viết cần có tri thức vững chắc về văn học nghệ thuật,biết dùng kiến thức về đối tượng để giải thích và lấy chính tác phẩm để minhhọa Trước khi làm bài nên tìm hiểu kĩ đối tượng, đọc tài liệu tham khảo và lựachọn tri thức để thuyết minh Về các phương pháp thuyết minh, ngoài cácphương pháp thông dụng, người viết cần sử dụng thêm yếu tố miêu tả Thuyếtminh về thể loại văn học nghệ thuật như tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ…cần giớithiệu đặc trưng của thể loại đó về mọi phương diện (đề tài, nội dung, cấutrúc…), lấy dẫn chứng cụ thể ngay trong tác phẩm để minh họa

Sau đây là dàn ý cho kiểu bài thuyết minh về văn học, nghệ thuật

* Dàn ý bài văn thuyết minh thể loại văn học nghệ thuật:

Mở bài:

Giới thiệu khái quát về thể loại được thuyết minh trong mối quan hệ vớithể loại khác

Thân bài:

- Định nghĩa về thể loại văn thuyết minh (đặc trưng cơ bản)

- Phạm vi đề tài quen thuộc của thể loại

- Những yếu tố hình thức chủ yếu của thể loại

Kết bài:

- Tác dụng của thể loại đối với việc thể hiện tư tưởng chủ đề tác phẩm

Trang 18

- Vai trò, tác dụng của thể loại đối với sự phát triển của văn học (nghệ thuật).

* Dàn ý bài văn thuyết minh về tác giả, tác phẩm:

Mở bài:

Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm

Thân bài:

- Giới thiệu về tác giả

+ Năm sinh, quê quán, tên thật và bút danh

+ Quá trình sáng tác, tham gia các hoạt động văn học nghệ thuật

+ Những giá trị nội dung của tác phẩm

+ Những giá trị về nghệ thuật của tác phẩm

Kết bài:

- Ấn tượng của người thuyết minh về tác giả, tác phẩm

- Vai trò, ý nghĩa của tác phẩm đối với tác giả, với người đọc và sự phát triển củavăn học

Dàn ý và bài văn minh hoạ kiểu bài thuyết minh một đoạn tác phẩm văn học:

Hãy thuyết minh nội dung, nghệ thuật đoạn văn sau trong bài “Phú sông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu:

…Bên sông các bô lão, hỏi ý ta sở cầu?

Có kẻ gậy lê chống trước, có người thuyền nhẹ bơi sau, Vái ta mà thưa rằng:

Đây là nơi chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã,Cũng là bãi đất xưa, thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao

Đương khi ấy:

Thuyền bè muôn đội, tinh kì phấp phới,Hùng hổ sáu quân, giáo gươm sáng chói

Trận đánh được thua chửa phân,

Trang 19

Chiến lũy bắc nam chống đối.

Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ,Bầu trời đất chừ sắp đổi

Kìa: Tất Liệt thế cường, Lưư Cung chước dối,Những tưởng gieo roi một lần,

Quét sạch Nam bang bốn cõi!

Thế nhưng: Trời cũng chiều người,Hung đồ hết lối!

Khác nào khi xưa:

Trận Xích Bích quân Tào Tháo tan tác tro bayTrận Hợp Phì giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi

Đến nay nước sông tuy chảy hoài,

Mà nhục quân thù khôn rửa nổi!

Tái tạo công lao, nghìn xưa ca ngợi

Tuy nhiên: Từ có vũ trụ, đã có giang san

Quả là: Trời đất cho nơi hiểm trở,Cũng nhờ: nhân tài giữ cuộc điện an

Hội nào bằng hội Mạnh Tân: như vương sư họ Lã,Trận nào bằng trận Duy Thủy: như quốc sĩ họ Hàn

Kìa trận Bạch Đằng mà đại thắng, Bởi đại vương coi thế giặc nhàn

Tiếng thơm còn mãi, bia miệng không mòn

Đến bên sông chừ hổ mặt, Nhớ người xưa chừ lệ chan

Rồi vừa đi vừa ca rằng:

Sông Đằng một dải dài ghê, Luồng to sóng lớn dồn về biển Đông.

Những người bất nghĩa tiêu vong, Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh.

I Tìm hiểu đề

1 Dạng đề: Thuyết minh một đoạn thơ.

Trang 20

2 Yêu cầu của đề:

- Yêu cầu về thao tác: Thuyết minh là thao tác chính, cần kết hợp các thao tác khácnhư: chứng minh, bình luận, so sánh, phân tích…

- Yêu cầu về tư liệu: Tư liệu chính là những câu thơ trong đoạn thơ đã cho, tư liệu

về bài thơ, về lịch sử, tư liệu có liên quan để bổ sung cho ý thuyết minh

II Lập dàn ý

1 Mở bài

- Giới thiệu ngắn gọn về tác giả

+ Là người cương trực

+ Học vấn uyên thâm được vua và dân nhà Trần tin cậy

+ Là tác giả tiêu biểu của văn học trung đại Việt Nam

- Khái quát về thể phú

+ Sử dụng hình thức đối đáp chủ - khách để thể hiện nội dung

+ Có vần hoặc xen lẫn văn vần và văn xuôi

+ Được dùng để miêu tả cảnh vật, phong tục, bàn về các sự việc hay kể chuyệnđời

- Giới thiệu bài “Phú sông Bạch Đằng”

+ Ra đời khoảng 50 năm sau cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên trênsông Bạch Đằng giành thắng lợi

+ Sau chiến thắng của Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán và Trần Quốc Tuấnđánh tan giặc Mông - Nguyên xâm lược, dòng sông này trở thành nguồn cảm hứng

thi ca với nhiều tác giả, tác phẩm nổi tiếng nhưng Phú sông bạch Đằng là tác phẩm

nổi tiếng và tiêu biểu hơn cả

- Giới thiệu đoạn trích

2 Thân bài:

a Khái quát về tác phẩm và đoạn trích

- Về tác phẩm: Bạch Đằng giang phú được viết bằng chữ Hán, tác giả Nguyễn

Đổng Chi, Bùi Văn Nguyên đã dịch khá thành công áng văn này Bài cảm nhận về

Bạch Đằng giang phú được dựa trên bản dịch của giáo sư Bùi Văn Nguyên.

- Về đoạn trích

+ Vị trí: Đoạn trích thuộc đoạn 2 của bài phú

+ Nội dung: Lời kể về các chiến công trên sông Bạch Đằng

b Thuyết minh về nội dung, nghệ thuật đoạn trích:

Trang 21

* Về nội dung: Đoạn trích đã khắc họa đậm nét hình tượng các bô lão với các nội

dung chính sau:

- Các bô lão đến với “khách” bằng thái độ nhiệt tình, hiếu khách, tôn kínhkhách(…)

- Sau một câu hồi tưởng về việc “Ngô chúa phá Hoằng Thao”, các bô lão đã kể cho

“khách” nghe về chiến tích “Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã” (kể theo trình tựdiễn biến của sự kiện với thái độ, giọng điệu đầy nhiệt huyết, hào hứng, tự hào; lời

kể ngắn gọn, cô đọng, súc tích)

- Sau lời kể về trận chiến là suy ngẫm, bình luận của các bô lão về chiến thắng trênsông Bạch Đằng:

+ Chỉ ra nguyên nhân ta thắng địch thua (…)

+ Khẳng định vị trí, vai trò của con người Đây là yếu tố tiên quyết để đi đến thắnglợi Đó là cảm hứng mang giá trị nhân văn có tầm triết lí sâu sắc

* Về nghệ thuật

- Sử dụng thể phú tự do, không bị gò bó vào niêm luật

- Kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp trữ tình và tự sự, có khả năng bộc lộ cảmxúc phong phú, đa dạng…

- Câu văn biền ngẫu tạo nhịp điệu cân đối hài hòa

- Sử dụng biện pháp khoa trương, phóng đại; so sánh - liên tưởng…

- Giọng văn thể hiện rất phù hợp: vừa hào hứng, sôi nổi đầy nhiệt huyết, tự hào,vừa mang tính suy tư, triết lí

- Ngôn ngữ đặc sắc

3 Kết bài: Nêu ý nghĩa đoạn trích

- Nỗi buồn tiếc quá khứ hào hùng, một đi không trở lại và niềm tự hào về lịch sửcủa dân tộc, niềm tin vào con người và vận mệnh quốc gia, dân tộc

- Bộc lộc cảm xúc của người viết

- Mở rộng: Sông Bạch Đằng là đề tài, niềm cảm hứng lớn trong văn chương với rấtnhiều tác phẩm nổi tiếng khác

4.Viết bài

Trang 22

Hình 1.1 Bài làm học sinh trang 1

Hình 1.2 Bài làm học sinh trang 2

Trang 24

Hình 1.3 Bài làm học sinh trang 3

Trang 25

Hình 1.4 Bài làm học sinh trang 4

2.4 Giải pháp 4: Hướng dẫn học sinh luyện nói trong giờ văn thuyết minh

a Mục đích yêu cầu: Bản chất của văn thuyết minh nằm trong chữ “thuyết” (nói ).Cho nên, giáo viên không những rèn luyện cho học sinh viết thành công một bàivăn thuyết minh về đề tài mở, mà còn tạo điều kiện cho các em trình bày miệngnhững vấn đề đã viết ra Từ đó, học sinh sẽ có bản lĩnh, tự tin trước tập thể, trướccộng đồng

- Học sinh phải chuẩn bị trước khi nói: từ trang phục, các phương tiện hỗ trợ khácnhư tranh ảnh, máy chiếu

- Khi nói, chú ý các yếu tố phi ngôn ngữ như: ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ

-Tập trung nói những vấn đề quan trọng của bài văn thuyết minh, những điều mìnhtâm đắc

- Ngữ điệu khi nói phải thay đổi theo cảm xúc, tránh đều đều gây buồn chán ởngười nghe

GIÁO ÁN THỂ NGHIỆM:

Trang 26

- Tầm quan trọng của các phương pháp thuyết minh trong văn bản thuyết minh.

- Các phương pháp được sử dụng trong văn bản thuyết minh

- Các yêu cầu và nguyên tắc lựa chọn, vận dụng và phối hợp các phương pháp thuyết minh

3 Thái độ

Thấy được tầm quan trọng của văn thuyết minh

4 Những năng lực cụ thể học sinh cần phát triển

- Năng lực quan sát, thuyết trình

- Năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn thuyết minh

- Năng lực đọc - hiểu các văn bản thuộc phương thức biểu đạt thuyết minh

- Năng lực phân tích, so sánh sự khác nhau giữa các phương pháp thuyết minh

- Năng lực tạo lập văn bản thuyết minh

- Năng lực sử dụng ngôn ngữ

5 Phẩm chất

-Yêu gia đình, quê hương, đất nước

- Tự lập, tự tin, tự chủ, có tinh thần vượt khó

- Có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước, nhân loại và môi trường

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w