SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ ANGIẢI PHÁP CHỈ ĐẠO ĐỔI MỚI PPDH THÔNG QUA ĐỔI MỚI NỘI DUNG SINH HOẠT TỔ CHUYÊN MÔN THEO NGHIÊN CỨU BÀI HỌC Ở TRƯỜNG THPT NGUYỄN DUY TRINH Lĩnh vực: Quản lý
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
GIẢI PHÁP CHỈ ĐẠO ĐỔI MỚI PPDH THÔNG QUA
ĐỔI MỚI NỘI DUNG SINH HOẠT
TỔ CHUYÊN MÔN THEO NGHIÊN CỨU BÀI HỌC
Ở TRƯỜNG THPT NGUYỄN DUY TRINH
Lĩnh vực: Quản lý
Trang 2
Danh mục các từ viết tắt 2
I Cơ sở lý luận và thực tiễn của chuyên đề “Đổi mới nội dung
sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học”
5
II Thực trạng sinh hoạt chuyên môn ở trường THPT nói chung và
Trường THPT Nguyễn Duy Trinh nói riêng
7
III Đánh giá thực trạng về đổi mới phương pháp dạy học thông
qua việc dạy theo NCBH ở trường THPT Nguyễn Duy Trinh
14
IV Giải pháp tổ chức thực hiện Đổi mới nội dung sinh hoạt chuyên
môn theo nghiên cứu bài học tại Trường THPT Nguyễn Duy
Trinh
15
1 Nội dung sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học - Cơ
sở để đề xuất giải pháp thực hiện
2 Giải pháp tổ chức thực hiện Đổi mới nội dung sinh hoạt chuyên
môn theo nghiên cứu bài học tại Trường THPT Nguyễn Duy
Trang 34 Những kết quả thu được 46
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 Trung học phổ thông: THPT
2 Sinh hoạt chuyên môn: SHCM
3 Nghiên cứu bài học: NCBH
4 Giáo viên: GV
5 Học sinh: HS
6 Phương pháp dạy học: PPDH
7 Ban Giám Hiệu: BGH
8 Sáng kiến kinh nghiệm: SKKN
9 Ban chấp hành trung ương: BCH TƯ
10.Công nghiệp hóa, hiện đại hóa: CNH-HĐH
11 Xã hội chủ nghĩa: XHCN
Trang 5PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
Sinh hoạt chuyên môn (SHCM) theo nghiên cứu bài học (NCBH) là mộtnội dung quan trọng trong SHCM ở trường phổ thông trong những năm học gầnđây Mục tiêu hướng tới của SHCM theo NCBH thể hiện sự thay đổi căn bảntrong đổi mới dạy học.Tất cả các khâu soạn bài, lên lớp, dự giờ, đánh giá tiếtdạy… đều có sự thay đổi về quy trình, nội dung, phương pháp, cách thức tổchức Sự thay đổi cơ bản nhất là: thay vì nghiên cứu phân tích và đánh giá hoạtđộng dạy của giáo viên, SHCM theo NCBH tập trung nghiên cứu phân tích hoạtđộng của học sinh Từ đó giáo viên điều chỉnh thay đổi nội dung, phương phápdạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh theo định hướng phát triển năng lựcngười học SHCM theo NCBH vì thế sẽ phát huy hiệu quả tích cực, tạo môitrường tốt để giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ nhất là việcđổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh.Chính từ sự thay đổi căn bản trên mà khi chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học,BGH trường THPT Nguyễn Duy Trinh đã đề xuất những giải pháp hiệu quảthông qua đổi mới nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn theo NCBH
Từ trước tới nay, khi đề cập đến đổi mới phương pháp dạy học (PPDH),chúng ta thường chỉ quan tâm tới tiến trình, nội dung và đối tượng dạy học Tuynhiên, có một hoạt động nếu không có sự đổi mới kịp thời thì sẽ làm cho xu thếđổi mới PPDH không đạt kết quả như mong muốn, đó là đổi mới sinh hoạtchuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học
Xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm trong chỉ đạo chuyên môn, từ nămhọc 2013-2014 cho đến nay Trường THPT Nguyễn Duy Trinh đã nghiêm túctriển khai thực hiện và đã thu được những chuyển biến tích cực trong sinh hoạtchuyên môn NCBH giúp giáo viên cùng nhau thảo luận về những phản ứng cóthể có ở học sinh trong quá trình học để có những phương pháp dạy học cho phù
hợp Xin được trao đổi những kinh nghiệm trong “ chỉ đạo đổi mới PPDH thông qua đổi mới nội dung sinh hoạt tổ chuyên môn theo nghiên cứu bài học.”
PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Trang 6Thuật ngữ “nghiên cứu bài học” (NCBH) có nguồn gốc trong lịch sử giáo
dục Nhật Bản, như một biện pháp để nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáoviên thông qua nghiên cứu cải tiến các hoạt động dạy học các bài học cụ thể, qua
đó cải tiến chất lượng học của học sinh Cho đến nay NCBH được xem như một
mô hình và cách tiếp cận nghề nghiệp của giáo viên và vẫn được sử dụng rộngrãi tại các trường học ở Nhật Bản, hình thức này đã được áp dụng trên nhiềunước trên thế giới Ở Việt Nam, phương pháp này đã được áp dụng đại trà ở tất
cả các bậc học, cấp học và đã đem lại nhiều kết quả khả quan và đã chứng minhđược tính khả thi của nó trong việc bồi dưỡng và phát triển năng lực chuyênmôn của giáo viên so với các phương pháp truyền thống khác
Phương pháp sinh hoạt chuyên môn dựa trên hướng nghiên cứu bàihọc cũng là hoạt động sinh hoạt chuyên môn nhưng ở đó giáo viên tập trungphân tích các vấn đề liên quan đến người học như: Học sinh học như thế nào?Học sinh đang gặp khó khăn gì trong học tập? Nội dung và phương pháp dạyhọc có phù hợp, có gây hứng thú cho học sinh không, kết quả học tập của họcsinh có được cải thiện không? Có cần điều chỉnh gì và điều chỉnh như thế nào?
Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học không tập trung vào việcđánh giá giờ học, xếp loại giáo viên mà khuyến khích giáo viên tìm ra nguyênnhân tại sao học sinh chưa đạt kết quả như mong muốn và có biện pháp để nângcao chất lượng dạy học, tạo cơ hội cho mọi học sinh được tham gia vào quá trìnhhọc tập, giúp giáo viên có khả năng chủ động điều chỉnh nội dung, phương phápdạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh
Chính bởi những lí do như vậy, phương pháp này đảm bảo cho tất cả mọihọc sinh có cơ hội tham gia học tập, giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn,nâng cao chất lượng giảng dạy, thay đổi văn hóa ứng xử trong trường học , tạomôi trường thân thiện cho tất cả mọi người
Tiết học dự giờ sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học khác vớigiờ học truyền thống là người dự không ngồi sau mà ngồi hai bên cánh lớp học,người dự không chú ý vào giáo viên mà chú ý tìm hiểu học sinh xem các em cóthực sự tiếp thu bài học hay đang có vấn đề gì để tìm cách giúp đỡ Lớp học có
bố trí camera ở các vị trí thích hợp, giáo viên đi dự có thể mang kèm theomáy ảnh để ghi lại chân thực nhất những hình ảnh, cảm xúc của các em khi tiếpthu bài học
Trang 7SHCM theo NCBH là một quá trình các GV tham gia vào các khâu từchuẩn bị, thiết kế bài học sáng tạo, dạy minh họa, dự giờ, suy ngẫm và chia sẻcác ý kiến sâu sắc về những gì đã diễn ra trong việc học của HS Đây là hoạtđộng học tập lẫn nhau, học tập trong thực tế, là nơi thử nghiệm và trải nghiệm những cái mới, là nơi kết nối lý thuyết với thực hành Trong quá trình học tập đó
GV sẽ học được nhiều điều để phát triển năng lực chuyên môn, nghiệp vụ mới.Khác với SHCM truyền thống, người dự không còn phê phán hay chỉ tríchnhững hạn chế của người dạy Họ không còn để ý về năng lực giữa các GV nữa
mà đều tập trung vào việc đánh giá HS GV sẽ thoải mái hơn khi trao đổi vàchia sẻ ý kiến Từ đó học dễ dàng chấp nhận lẫn nhau và chỉ quan tâm đếnnhững khó khăn của người GV trước sự thay đổi phức tạp trong học tập của HS
NCBH thúc đẩy, duy trì sự hợp tác giữa các giáo viên, giúp các giáo viênphát triển kĩ năng làm việc nhóm, góp phần phát triển không khí hợp tác, đoànkết trong nhà trường NCBH tạo ra cộng đồng học tập, văn hóa học tập và củng
cố tình đồng nghiệp trong nhà trường Tham gia vào NCBH giáo viên thực hiệnvai trò của người nghiên cứu, cải tạo thực tiễn và họ trở nên vững vàng hơn vềchuyên môn, nghiệp vụ, tăng sự chuyên nghiệp của giáo viên và giúp giáo viên
tự tin hơn trong việc giải quyết vấn đề của thực tiễn để nâng cao chất lượng dạyhọc của mình Nghiên cứu bài học tạo cơ hội cho giáo viên có thể quan tâm tớitất cả các học sinh trong lớp, tạo cơ hội phát triển cho mọi học sinh Và dẫn tới
hệ quả tất yếu là nâng cao chất lượng học tập của học sinh
Ngoài ra NCBH còn là cái cầu kết nối các nội dung kiến thức, giữa các
bộ môn để thu được sự hỗ trợ bổ sung tốt nhất giữa các bộ môn góp phần đàotạo toàn diện cho học sinh, giữa các cấp học để thu được chương trình đào tạomạch lạc, thông suốt Qua việc NCBH chúng ta có thể nhận ra tính ưu việt củaNCBH so với các hình thức bồi dưỡng nghiệp vụ khác NCBH xuất phát từ thựctiễn cần giải quyết những khó khăn thực tiễn trong lớp học của giáo viên Thôngqua NCBH giáo viên được hợp tác cùng nhau, làm việc cùng nhau để xây dựngmột kế hoạch bài học hoàn chỉnh
II Thực trạng sinh hoạt chuyên môn ở trường THPT nói chung và Trường THPT Nguyễn Duy Trinh nói riêng
Sinh hoạt chuyên môn ở các trường phổ thông đã được tổ chức thực hiện vàduy trì khá thường xuyên Sinh hoạt chuyên môn không chỉ giúp mỗi giáo viênnâng cao năng lực chuyên môn cho bản thân mà SHCM còn là môi trường để
Trang 8nhau trong công tác; hình thành môi trường học tập tốt đẹp cũng như truyềnthống, bản sắc văn hóa riêng của mỗi nhà trường
Sinh hoạt chuyên môn ở trường THPT nói chung cũng như ở trường THPTNguyễn Duy Trinh thường diễn ra theo hai hình thức:
+Tổ chức sinh hoạt theo các chuyên đề
+ Dự giờ, trao đổi kinh nghiệm về bài học
Ở SKKN này chúng tôi chỉ đề cập đến hoạt động dự giờ trao đổi kinhnghiệm bài học Đây là hoạt động chuyên môn thường xuyên trong nhà trường.Trong mỗi buổi dự giờ có sự tham gia của BGH, tổ trưởng, nhóm trưởng và hầuhết giáo viên trong tổ, nhóm chuyên môn Sau dự giờ các nhóm chuyên môn tiếnhành thảo luận rút kinh nghiệm và đánh giá xếp loại giờ dạy của giáo viên
Thao giảng dự giờ là một hoạt động chuyên môn quan trọng trong việcbồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên, một biệnpháp để thúc đẩy đổi mới PPDH Tuy nhiên việc thao giảng dự giờ bấy lâu nay
đã bộc lộ nhiều nhược điểm: Do xuất phát từ mục đich của buổi dự giờ là đểđánh giá kĩ năng dạy học và năng lực chuyên môn của giáo viên nên tạo ra áplực cho cả người dạy và người dự Người dạy sẽ chỉ ngồi nghe còn người dự trởthành giám khảo phán xét, đánh giá Mặt khác xuất phát từ suy nghĩ của người
dự giờ, khi được mời phát biểu, nếu chỉ toàn khen lại sợ người khác nghĩ mìnhkém cỏi Nếu có nhiều ý kiến lại sợ làm tổn thương và ảnh hưởng đến kết quảxếp loại của đồng nghiệp Một số khác lại suy nghĩ họ có thể học được rất ít từđồng nghiệp bởi hầu hết giáo viên khi dạy đều bám sát vào sách giáo viên và cáctài liệu hướng dẫn khác dành cho giáo viên do vậy cấu trúc bài học, tiến trình lênlớp gần như giống nhau nên họ cảm thấy nhàm chán Họ đi dự giờ cốt để đủ sốgiờ theo quy định Hiệu quả của việc dự giờ chưa cao
Thực tế cho thấy hoạt động thao giảng, dự giờ rút kinh nghiệm giờ dạychiếm phần lớn thời gian trong sinh hoạt của tổ, nhóm chuyên môn Tuy nhiên,các thức sinh hoạt theo lối cũ tạo nên một lối mòn khó có thể thay đổi được.Chính điều này đã làm cho việc đổi mới PPDH thiếu đồng bộ theo kiểu “ngôinhà mới xây trên nền đất cũ”
Thực tế các buổi sinh hoạt chuyên môn với nội dung thao giảng, dự giờrút kinh nghiệm chúng ta thấy hiện nay các tổ, nhóm chuyên môn vẫn hướng
Trang 9định thành văn bản biểu mẫu Khi dự giờ, đồng nghiệp chỉ biết chú ý quan sátmọi hoạt động của giáo viên để phân tích, góp ý, rút kinh nghiệm về nội dungkiến thức, PPDH, tư thế tác phong Sâu hơn nữa thì mổ xẻ cách trình bày bảng,biện pháp sử dụng đồ dùng dạy học, ứng dụng CNTT, phân bố thời gian có hợp
lý hay không? Sau một thời gian phân tích, nhận xét ưu khuyết điểm, tổ trưởnghoặc nhóm trưởng chuyên môn chốt lại những bài học kinh nghiệm cho giáoviên và tiến hành đánh giá cho điểm, phân loại giờ dạy Quy trình rập khuôn vàmáy móc đó đã dẫn đến hệ quả là thiếu sự sáng tạo và năng động trong việc sửdụng kỹ thuật và PPDH Tiến trình dạy học hầu như theo một bản sao cố định.Ngồi ở phía dưới, người dự giờ và ngay cả HS cũng phỏng đoán được trước cácbước thực hiện của GV trên bục giảng như thế nào và thời gian là bao nhiêu.Giờ học cũng vì thế mà tẻ nhạt đơn điệu Trong giáo án soạn sẵn ở nhà, bên cạnhcâu hỏi đưa ra GV đã có dự kiến trước câu trả lời của HS
Trong sinh hoạt chuyên môn góp ý giờ dạy, do chỉ chú ý đánh giá hoạtđộng sư phạm của giáo viên nên mọi ý kiến mổ xẻ đều hướng về người dạy mà
bỏ quên người học Giáo viên dạy thao giảng lúc nào cũng trở thành “điểmngắm” duy nhất để người ngồi ở phía dưới nhận xét Ý kiến nhận xét vì thếmang tính chủ quan, áp đặt dựa vào kinh nghiệm của từng cá nhân theo kiểu:
“Theo tôi cách tốt nhất là, …” mặc dù trong thực tế không có cách dạy nào tốtnhất cho tất cả mọi người vì còn tùy thuộc vào từng đối tượng học sinh trongmỗi lớp Những ý kiến đưa ra góp ý hầu như không tìm được một “tiếng nóichung” để cải tiến giờ dạy Chính vì thế kết quả học tập của học sinh ít được cảithiện, nhất là các đối tượng yếu kém vì luôn bị “bỏ rơi” Thiệt thòi nhất vẫn làhọc sinh PPDH tích cực “”Lấy học sinh làm trung tâm” vẫn đang chỉ là khẩuhiệu
Chúng tôi đã làm phiếu hỏi với 250 học sinh với nội dung: “Trong đổi
mới sinh hoạt chuyên môn theo hướng NCBH, năm học này em đã được tham gia tiết học nào chưa?” Kết quả cho thấy có 200 học sinh (tỷ lệ 80%) trả lời đã
tham gia rồi, 50 học sinh (20% ) trả lời là chưa tham gia Điều này phản ánh mộtthực tế không phải lớp học nào cũng được chọn để giáo viên tiến hành dạy theoNCBH
Câu hỏi thứ hai chúng tôi tiếp tục khảo sát ý kiến của 200 em học sinh đãđược tham gia ít nhất một tiết học theo NCBH bằng cách yêu cầu học sinh
Trang 10Bảng 2.1: Ý kiến của học sinh về hoạt động chủ đạo nhất trong tiết dạy theo NCBH
Bảng 2.2: Ý kiến của học sinh về mức độ tham gia của em vào các hoạt động
do giáo viên tổ chức trong tiết dạy theo NCBH
kiến Tỷ lệ %
Kết quả ở bảng 2.2 cho thấy: 80% các em thường xuyên tham gia vào cáchoạt động do giáo viên tổ chức, 20% các em thỉnh thoảng mới tham gia, không
có em nào không bao giờ tham gia Đây là một điểm mới mẻ, khác lạ của dạytheo NCBH so với phương pháp dạy học thông thường
Đa số học sinh (75%) được khảo sát cho rằng việc dạy theo NCBH rất quantrọng đối với học sinh bởi vì các em được hình thành các năng lực tự chủ, nănglực giao tiếp, hợp tác và giải quyết vấn đề khi tham gia học theo NCBH Ưuđiểm của học theo NCBH mà hầu hết các em nhận thấy đó là giúp học sinh tíchcực, chủ động sáng tạo trong học tập, hơn thế nữa việc dự giờ của giáo viênkhông làm ảnh hưởng đến tiến trình học tập của các em mà ngược lại, giáo viêncòn hỗ trợ, động viên các em tham gia vào các hoạt động học tập Do vậy trongquá trình học theo NCBH, tỷ lệ học sinh tích cực, sôi nổi trong học tập luôn đạtmức cao hơn so với tiết học bình thường
Trang 11Song song với việc khảo sát học sinh, chúng tôi tiến hành khảo sát 60 giáoviên đang trực tiếp tham gia giảng dạy tại trường về các câu hỏi liên quan đếnvấn đề dạy theo NCBH
Bảng 2.3: Ý kiến của giáo viên về mức độ cần thiết của việc dạy theo NCBH cho học sinh trong các trường THPT?
Khi được hỏi về nguyên nhân từ phía học sinh có ảnh hưởng đến việc các
em không hứng thú trong các tiết học theo NCBH chúng tôi thu được kết quảsau đây:
Bảng 2.4: Những nguyên nhân nào sau đây từ phía học sinh có ảnh hưởng đến việc các em không hứng thú trong các tiết học theo NCBH?
ST
T
Các nguyên nhân
Số ý kiến Tỷ lệ %
1 Bản thân học sinh chưa tự giác trong học tập 20 33,3
2 Hình thức tổ chức dạy học chưa phong phú 30 50
3 Học sinh chỉ quan tâm đến những môn các em
yêu thích
4 Những biến đổi về tâm sinh lý lứa tuổi 20 33,3
5 Một bộ phận thầy cô giáo chưa quan tâm đến
năng lực và sở trường của học sinh
6 Năng lực học tập của học sinh còn hạn chế 25 41,7
7 Học sinh chưa được rèn luyện kỹ năng tự học,
hợp tác hay làm việc nhóm
8 Học theo NCBH vẫn còn là vấn đề mới mẻ 36 60
Trang 129 Nội dung của bài học còn xa rời với thực tiễn,
mang tính hàn lâm
10 Nhiều em chưa quan tâm đến học theo NCBH 30 50Như vậy : Ý kiến của giáo viên được khảo sát về nội dung này phân bổ ởcác mức độ và nguyên nhân khác nhau: 50% giáo viên cho rằng các em khônghứng thú do hình thức tổ chức dạy học chưa phong phú, nhiều em không quantâm đến việc học theo NCBH Hơn 33% ý kiến cho rằng học sinh không hứngthú do các em chưa tự giác trong học tập hoặc do những biến đổi về tâm sinh lýlứa tuổi Một tỷ lệ lớn ( 66,7%) giáo viên cho rằng học sinh không hứng thú docác em chỉ quan tâm đến các môn học yêu thích hay các em chưa được rèn luyệnnhiều về kỹ năng tự học, hợp tác hay làm việc nhóm hoặc nội dung bài học còn
xa rời thực tiễn đối với học sinh
Để khảo sát ý kiến đánh giá của giáo viên về kỹ năng mà học sinh đạt đượcthông qua phương pháp dạy theo NCBH, chúng tôi thu được bảng tổng hợp sauđây:
Bảng 2.5 Tổng hợp ý kiến đánh giá của giáo viên về các kỹ năng mà học sinh đạt được thông qua phương pháp dạy theo NCBH cho HS
Trang 13Những câu hỏi tiếp theo Giáo viên được hỏi đều liên quan đến việc chỉđạo đổi mới SHCM theo NCBH 100% giáo viên đều cho rằng các BGH, tổnhóm chuyên môn đã xây dựng kế hoạch từ đầu năm học, sau đó tiếp tục cụ thểhóa kế hoạch theo từng học kỳ, tháng và tuần Tất cả giáo viên đồng ý rằng việcchỉ đạo đổi mới nội dung SHCM theo NCBH ở trường được thực hiện bằng cáchình thức: thông qua họp hội đồng nhà trường, họp cốt cán, sinh hoạt tổ nhómchuyên môn, nội dung từng chủ điểm tháng hay thông qua các trang nhóm Zalo,Facebook của trường Sau đây là số liệu tổng hợp ý kiến khảo sát giáo viên.
Bảng: 2.6 Thống kê ý kiến của giáo viên về việc xây dựng kế hoạch dạy theo NCBH cho học sinh
đồng ý Tỷ lệ %
1 Kế hoạch GD của nhà trường cho GV- HS
vào đầu năm học
2 Kế hoạch GD môn học theo từng năm học 60 100
3 Kế hoạch GD môn học theo từng học kỳ 60 100
4 Kế hoạch GD môn học theo từng tháng 60 100
Bảng: 2.7 Thống kê ý kiến của giáo viên về những hình thức chỉ đạo đổi mới nội dung SHCM theo NCBH ở trường THPT Nguyễn Duy Trinh
Số ý kiến đồng ý
Tỷ lệ %
1 Chỉ đạo thông qua họp hội đồng nhà trường 60 100
2 Chỉ đạo thông qua họp cốt cán chuyên môn 60 100
3 Chỉ đạo thông qua nội dung sinh hoạt chuyên môn
các tổ, nhóm
4 Chỉ đạo thông qua nội dung từng chủ điểm tháng 60 100
5 Chỉ đạo thông qua các trang nhóm zalo,facebook
của trường
Trang 14Bảng: 2.8 Thống kê ý kiến của giáo viên về sự phối hợp của cán bộ quản lý với các lực lượng trong nhà trường để tăng cường công tác chỉ đạo đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo NCBH.
T
Số ý kiến đồng ý Tỷ lệ %
2 Đội ngũ giáo viên cốt cán, Giáo viên giỏi 60 100
Như vậy, từ những kết quả thu được thông qua việc khảo sát giáo viên vàhọc sinh trường THPT Nguyễn Duy Trinh về phương pháp dạy theo NCBH,chúng tôi rút ra những nhận định sau đây:
+ Đổi mới phương pháp dạy học theo NCBH là một việc cần thiết để rèn luyện kỹ năng cho học sinh đặc biệt là học sinh THPT
+ Lãnh đạo các nhà trường cần có những chỉ đạo cụ thể đối với các tổ, nhóm chuyên môn trong việc triển khai thực hiện dạy theo NCBH nhằm nâng cao chất lượng dạy và học tại các nhà trường hiện nay
III Đánh giá thực trạng về đổi mới phương pháp dạy học thông qua việc dạy theo NCBH ở trường THPT Nguyễn Duy Trinh - Huyện Nghi Lộc - Tỉnh Nghệ An
1 Thứ nhất: Về ưu điểm
Qua điều tra và khảo sát chúng tôi thấy rằng đa số học sinh đều có nhậnthức đúng đắn và hiểu rõ tầm quan trọng của phương pháp dạy theo NCBHtrong việc hình thành kỹ năng đối với bản thân mình Các em đã tích cực thamgia vào các hoạt động do giáo viên tổ chức trong các giờ dạy minh học để nhằmtrang bị cho mình những kiến thức, sự hiểu biết và rèn luyện kỹ năng ra quyếtđịnh, kỹ năng giải quyết vấn đề và kỹ năng hợp tác
Thấy được tầm quan trọng của vấn đề, nhà trường đã có nhiều kế hoạchhoạt động và triển khai thực hiện dưới nhiều hình thức phong phú, đa dạng đểđạt hiệu quả cao trong việc năng cao chất lượng dạy và học tại trường
2 Thứ hai: Về hạn chế
Mặc dù trong thời gian qua, việc đổi mới SHCM theo hướng NCBH đãđược các nhà quản lý quan tâm bằng cách đưa ra các giải pháp thích hợp Tuynhiên hiệu quả đạt được vẫn còn rất thấp, một số nhà quản lý giáo dục, các tổnhóm chuyên môn trong các nhà trường vẫn còn tỏ ra lúng túng và chưa tìm ra
Trang 15Hoạt động đổi mới SHCM theo hướng NCBH chủ yếu được thực hiện kết hợpvới tiết dạy thao giảng của giáo viên Do đó việc đánh giá, kết quả học tập củahọc sinh nhiều lúc không được chú trọng Các hình thức tổ chức các hoạt độngdạy học chưa phong phú, đa dạng, có chiều sâu để cuốn hút học sinh và rènluyện kỹ năng cho học sinh.
Sự phối hợp các lực lượng trong nhà trường có lúc chưa đồng bộ, nhất làvẫn còn một số các em học sinh chưa nhận thức rõ được tầm quan trọng của việchọc theo hướng NCBH trong việc hình thành kỹ năng tự học và giải quyết vấnđề
IV Giải pháp tổ chức thực hiện Đổi mới nội dung sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học tại Trường THPT Nguyễn Duy Trinh.
1 Nội dung sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học - Cơ sở để đề xuất giải pháp thực hiện.
1.1 Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học.
Hoạt động sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học là hoạt động
mà ở đó giáo viên tập trung phân tích các vấn đề liên quan đến người học như:học sinh học như thế nào? Học sinh gặp khó khăn gì trong học tập? Nội dung vàphương pháp dạy học có phù hợp, có gây hứng thú cho học sinh không? Kết quảhọc tập của học sinh có được cải thiện không? Cần điều chỉnh gì và như thếnào?
Sinh hoạt chuyên môn theo NCBH không tập trung vào đánh giá giờ học,xếp loại giáo viên mà khuyến khích mỗi giáo viên tìm ra nguyên nhân tại saohọc sinh học chưa có kết quả như mong muốn và có biện pháp để nâng cao chấtlượng dạy học, tạo cơ hội cho mọi học sinh được tham gia vào quá trình học tập,giúp giáo viên có khả năng chủ động điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy họccho phù hợp với đối tượng của trường mình, lớp mình
1.2 Mục đích và ý nghĩa của sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học:
- Phát triển năng lực chuyên môn của giáo viên;
- Cải tiến việc dạy học của giáo viên thông qua sự hợp tác có hệ thốngvới các giáo viên khác;
Trang 16- Nâng cao hiệu quả học tập của học sinh;
- Đảm bảo việc học của mọi học sinh, đặc biệt là những học sinh có khókhăn về học;
- Tạo cơ hội cho tất cả GV nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng sưphạm và phát huy khả năng sáng tạo… thông qua việc dự giờ, trao đổi, thảoluận, chia sẻ sau dự giờ;
- Nâng cao chất chất lượng dạy và học của nhà trường;
- Góp phần thay đổi văn hóa ứng xử trong nhà trường
1.3 Quy trình thực hiện đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học:
* Bước 1: Xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch bài học nghiên cứu
Cần xác định mục tiêu kiến thức và kỹ năng mà HS cần đạt được khi tiếnhành nghiên cứu (sử dụng tài liệu về chuẩn kiến thức, kỹ năng ở từng môn học).Mục tiêu phải phù hợp với trình độ của HS, năng lực chuyên môn của GV cũngnhư chuẩn kiến thức, kỹ năng; tôn trọng và khuyến khích sự tự chủ, sáng tạo của
GV khi soạn bài với ý tưởng mới
GV thảo luận chi tiết, cụ thể bài học tiến hành nghiên cứu theo những gợi
ý sau: đặt câu hỏi xem đây là loại bài học gì? cách giới thiệu bài học này như thếnào? có sử dụng tình huống có vấn đề để giới thiệu bài học này không? việc sửdụng các phương pháp dạy học và các phương tiện dạy học thế nào cho đạt hiệuquả cao? nội dung bài học chia ra những đơn vị kiến thức nào? dự kiến tổ chứcnhững hoạt động dạy học nào tương ứng? GV sử dụng những câu hỏi để kíchthích khả năng tư duy sáng tạo của HS như thế nào?
Từ đó lựa chọn: hình tổ chức lớp học, kỹ thuật dạy học, lời nói, hànhđộng, thao tác cụ thể của GV, những nội dung cần trình bày trên bảng, nội dungkiến thức giáo dục cần tích hợp cho phù hợp Dự kiến cách suy nghĩ, lời nóihành động, thao tác của HS; sản phẩm học tập của HS trong bài học này là gì?những thuận lợi, khó khăn của HS khi tham gia các hoạt động học tập; các tìnhhuống xảy ra và các xử lý nếu có , kết thúc bài học như thế nào? đánh giá kếtquả học tập của học sinh qua tiết học bằng cách nào? các bằng chứng để đánhgiá kết quả học tập của HS là gì?
Trang 17Ngoài ra, GV còn thảo luận về một số vấn đề khác như: làm thế nào đểkhắc phục được sự chênh lệch về trình độ của các HS trong lớp để đảm bảo tất
cả các HS sau mỗi bài học đều đạt chuẩn kiến thức, kỹ năng; làm thế nào để thúcđẩy quá trình hình thành các kỹ năng khác nhau ở HS; làm thế nào để duy trì vànuôi dưỡng các kỹ năng đã có của HS và mối liên hệ của nội dung đó với cácnội dung khác của môn học hay với các môn học khác
Tổ trưởng hoặc nhóm trưởng chuyên môn giao cho 01 GV trong nhóm soạngiáo án của bài học nghiên cứu, trao đổi với các thành viên trong tổ để chỉnh sửa lạigiáo án Các thành viên khác có nhiệm vụ nêu kế hoạch chi tiết cho việc quan sát vàthảo luận sau khi tiến hành bài học nghiên cứu
Chuẩn bị giờ dạy thao giảng trước
đây
Chuẩn bị giờ dạy minh họa SHCM - NCBH
- Mục đích: Đánh giá, xếp loại giờ
dạy Tập trung vào hoạt động của giáo
viên Thống nhất cách dạy để các giáo
viên cùng thực hiện
- Một giáo viên thiết kế và dạy minh
họa
- Thực hiện đúng quy trình, nội dung
và các bước thiết kế theo quy định
- Mục đích: Tìm giải pháp nâng cao hiệu quả học tập của học sinh Tập trung vào hoạt động của học sinh Mỗi giáo viên tự rút ra bài học để áp dụng
- Một nhóm giáo viên thiết kế Một giáo viên dạy minh họa
- Dựa vào trình độ học sinh để lựa chọn phương pháp, nội dung, quy trình cho phù hợp
Trang 18Các nhóm chuyên môn sinh hoạt để lựa chọn bài học minh họa
- Sinh hoạt chuyên môn nhóm Ngoại Ngữ
- Sinh hoạt chuyên môn nhóm Sử - Địa - GDCD
Trang 19* Bước 2: Tiến hành bài học và dự giờ
Sau khi hoàn thành kế hoạch dạy học chi tiết, một GV sẽ dạy minh họabài học nghiên cứu ở một lớp học cụ thể, các GV còn lại trong nhóm tiến hành
dự giờ và ghi chép thu thập dữ liệu về bài học
Việc bố trí dự giờ là một khâu quan trọng của đổi mới SHCM theoNCBH, là cơ sở để GV có cách nhìn mới, nhận ra các vấn đề liên quan đến côngviệc của bản thân và đồng nghiệp Các yêu cầu cụ thể của việc dự giờ như sau:
- Chuẩn bị lớp dạy minh họa, bố trí lớp có đủ chỗ ngồi quan sát thuận lợicho người dự
- Điều chỉnh số lượng người dự ở mức vừa phải, không quá đông gây khókhăn cho việc quan sát diễn biến bài học
- Việc dự giờ cần đảm bảo không ảnh hưởng đến việc học của HS, khônggây khó khăn cho người dạy minh họa
- Vị trí của người dự: do trọng tâm là qua sát việc học của HS, cho nênngười dự hoặc ngồi (đứng) ở hai bên lớp học hoặc đứng ở phía trước lớp học
Có thể quay video hoặc chụp ảnh để lấy tư liệu sau bài học phục vụ thảo luận
GV cần quan sát cách HS học, cách phản ứng của HS trong giờ học, cách HSlàm việc nhóm, những sai lầm HS mắc phải trong quá trình học Sự quan sát ấyhướng tới tất cả các HS trong lớp học chứ không riêng những HS nổi bật, những
HS giỏi hay giơ tay phát biểu Sau khi kết thúc tiết học, những người tham gia sẽcùng thảo luận về bài học đã được thực hiện
Người tiến hành giờ dạy minh họa: là 1 GV tự nguyện hoặc người đượcnhóm thiết kế lựa chọn Người dạy cần quan tâm đến tất cả các HS, khôngdạy trước hoặc huấn luyện trước cho HS về nội dung bài học
Người dự giờ: ghi lại các hoạt động của HS trong giờ học bằng cách chụpảnh, ghi chép hoặc quay video
Vị trí người dự giờ: phía trước hoặc hai bên lớp học, không ngồi sau HS
vì không quan sát được việc học của HS
Kĩ thuật: kết hợp nghe, nhìn, suy nghĩ, ghi chép, quay phim, chụp ảnh…
để nhằm trả lời các câu hỏi: HS học như thế nào? HS gặp những khó khăn
Trang 20SƠ ĐỒ LỚP DẠY MINH HỌA
gì? Vì sao? Cần phải thay đổi như thế nào để cải thiện kết quả học tập củaHS?
Một số hình ảnh các tiết dạy theo nghiên cứu bài học
- Tiết dạy theo NCBH của nhóm Tiếng Anh
Trang 21- Tiết dạy theo NCBH của nhóm Toán
- Tiết dạy theo NCBH của nhóm Vật Lý
Trang 22- Tiết dạy theo NCBH của nhóm GDCD
- Tiết dạy theo NCBH của nhóm Văn
Trang 23- Tiết dạy theo NCBH của nhóm Sinh
Trang 24* Bước 3: Suy ngẫm, thảo luận về bài học nghiên cứu
Đây là công việc có ý nghĩa quan trọng nhất trong SHCM, là yếu tố quyếtđịnh chất lượng, hiệu quả của SHCM, cho nên cần có tinh thần cộng tác, xâydựng của người tham gia và đặc biệt vai trò, năng lực của người chủ trì Người
dự sau khi quan sát việc học của HS, đưa ra những ý kiến, bằng chứng về những
gì họ "nhìn thấy" được về cách suy nghĩ, cách học, cách giải quyết vấn đề của
HS dựa trên thực tế lớp học, qua đó có thể bổ sung, rút kinh nghiệm, đề ra biệnpháp thích hợp để nâng cao hiệu quả bài học
Khi thảo luận, nội dung trao đổi cần tập trung vào việc nhận xét các hoạtđộng học tập của HS, về những khả năng HS đạt được trong thực tế giờ học rồiđem đối chiếu với ý định của GV dạy Ý kiến trao đổi phải cụ thể, tỉ mỉ; lắngnghe và tôn trọng ý kiến của nhau; không phê bình, chỉ trích GV và HS; đồngcảm với khó khăn và chia sẻ thành công với GV dạy minh họa Không nên quantâm đến các tiêu chuẩn truyền thống của một giờ dạy như thời gian, nội dungkiến thức, sự hoàn hảo về tiến trình lên lớp
Trang 25Một số hình ảnh suy ngẫm, thảo luận về BHNC ở các nhóm.
- Suy ngẫm về BHNC của nhóm Tiếng Anh
- Suy ngẫm về BHNC của nhóm GDCD
Trang 26- Suy ngẫm về BHNC của nhóm Toán
* Bước 4: Áp dụng cho thực tiễn dạy học
Sau khi thảo luận tiết dạy đầu tiên, nếu bài học nghiên cứu vẫn chưa hoànthiện thì cần tiếp tục nghiên cứu, thay đổi, chỉnh sửa những nội dung chưa đượcsao cho phù hợp với đối tượng HS lớp tiếp theo
Cuối cùng mỗi GV tham gia viết một báo cáo chỉ ra những điều đã họcđược liên quan đến chủ đề nghiên cứu và mục tiêu của mình, phản ánh về quátrình NCBH và tác động của nó vào giảng dạy và học tập
Trên cơ sở bài giảng minh họa giáo viên nghiên cứu vận dụng, kiểmnghiệm những vấn đề đã được dự giờ và thảo luận, suy ngẫm áp dụng vào bàihọc hàng ngày
Một số hình ảnh áp dụng dạy học thực tiễn của các nhóm chuyên môn
Trang 27- Tiết dạy nhóm Địa
Trang 28- Tiết dạy nhóm Hóa
- Tiết dạy nhóm Văn
Trang 29- Tiết dạy nhóm Sinh
Trang 312 Giải pháp tổ chức thực hiện Đổi mới nội dung sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học tại Trường THPT Nguyễn Duy Trinh
2.1 Giải pháp thứ nhất: Làm tốt công tác tác tư tưởng, nâng cao nhận thức cho cán bộ giáo viên.
“Đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học” là một nội
dung mới trong sinh hoạt chuyên môn tổ, nhóm Sau khi triển khai thực hiện,nảy sinh không ít khó khăn Trước hết đó là tâm lí ngại thay đổi của đa số giáoviên Các thầy cô đã quen với cách soạn bài, lên lớp và cách sinh hoạt chuyênmôn cũ, nên không mấy hào hứng với việc thảo luận cách dạy theo nghiên cứubài học Thậm chí còn hoài nghi hiệu quả của giờ dạy theo hướng đổi mới, sợmất thời gian họp hành một cách hình thức, vô bổ…; có giáo viên e ngại khithấy đối tượng học sinh mình giảng dạy nhận thức yếu, thiếu nhiều kỹ năng,chưa có thói quen hợp tác, cơ sở vật chất chưa phù hợp… Mặc dù đã được nhàtrường tập huấn nhưng nhiều giáo viên vẫn hiểu chưa thật đầy đủ về mục tiêu,mục đích và ý nghĩa của đổi mới sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
Vì vậy BGH nhà trường tiếp tục triển khai sinh hoạt để làm thay đổi nhận thức
về sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học, xác định quyết tâm thay đổi
về hành động, kiên trì vận dụng NCBH để đổi mới SHCM Quyết tâm thực hiện,không ngại khó, không ngại không thành công và mạnh dạn áp dụng kiến thức
về đổi mới SHCM theo NCBH, tham khảo tài liệu trên mạng Internet, học hỏikinh nghiệm từ các trường bạn, phát huy trí tuệ tập thể, vừa làm vừa rút kinhnghiệm cho những lần tiếp theo
Trang 322.2 Giải pháp thứ hai: Làm cho mọi giáo viên nắm vững sự khác biệt giữa sinh hoạt chuyên môn truyền thống và sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học
Mặc dù đã được tập huấn rất kỹ nhưng trên thực tế, vẫn còn rất nhiều giáoviên chưa nắm vững được sự khác biệt giữa SHCM truyền thống với SHCMtheo NCBH, thậm chí cả TTCM, cho nên trong quá trình thực hiện còn mơ hồ,lúng túng dẫn đến chưa đồng nhất trong cách nghĩ, cách làm và có nhiều quanđiểm trái chiều
SHCM truyền thống SHCM theo NCBH
Mục đích
-Đánh giá, xếp loại giờ dạy -Tập trung vào hoạt động dạy của GV
-Thống nhất cách dạy để
GV cùng thực hiện
-Tìm giải pháp để nâng cao kết quả học tập của
HS -Tập trung vào hoạt động học của HS -Mỗi GV tự rút ra bài học để áp dụng
Chuẩn bị bài dạy
-Một GV thiết kế và dạy minh họa
-Thực hiện theo đúng nội dung, quy trình, các bước thiết kế theo quy định
-Một nhóm GV thiết kế Một GV dạy minh họa -Dựa vào trình độ của
HS để lựa chọn nội dung, phương pháp, quy trình dạy học cho phù hợp
Dạy minh họa – Dự
Người dự:
Người dạy:
-Điều chỉnh các nội dungdạy học phù hợ -Thực hiện tiến trình giờ học linh hoạt, sáng tạo dựa trên khả năng của
HS
Người dự:
Trang 33cử chỉ, việc làm của GV, ghichép -Tập trung xem xét GV dạy có đúng quy định không
-Đối chiếu với các tiêu chí đánh giá xếp loại giờ học
chọn vị trí quan sát thíchhợp
-Tập trung quan sát HS học thế nào -Suy nghĩ, phát hiện khókhăn trong học tập của
HS, đưa ra các biện phápkhắc phục
Đánh giá, nhận xét
giờ dạy
-Dựa trên tiêu chí có sẵn (phiếu dự giờ), đánh giá xếploại giờ dạy -Tập trung nhận xét, đánh giá
GV -Ý kiến đánh giá mang tính mổ
xẻ, chỉ trích, chủ quan
-Người chủ trì xếp loại giờ dạy, thống nhất cách dạy cho cả tổ
-Dựa trên kết quả học tập của HS rút kinh nghiệm
-Tập trung phân tích việc học của HS, đưa ra minh chứng cụ thể -Mọi người cùng phát hiện vấn đề của HS, tìm nguyên nhân, giải pháp khắc phục
-Người chủ trì tóm tắt vấn đề, tìm nguyên nhân
và giải pháp Mỗi GV tự rút ra bài học
2.3 Giải pháp thứ ba: Chỉ đạo xây dựng kế hoạch thực hiện.
Căn cứ công văn số 1904/SGDĐT-GDTrH ngày 04/10/2013 của Sở
GD&ĐT Nghệ An về việc triển khai thực hiện Đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môntheo NCBH (nghiên cứu bài học) và kế hoạch đổi mới PPDH, kiểm tra đánh giá của nhà trường, các tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch thực hiện Đổi mới nội dung SHCM theo NCBH trình ban giám hiệu phê duyệt Coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm về đổi mới PPDH trong năm học 2020-2021 Tổ chuyên môn xây dựng kế thực hiện ít nhất 4 bài/năm/môn Học kỳ 1: 2 bài/môn Học kỳ 2: 2 bài/môn Thời gian chuẩn bị cho một bài dạy là 2 tuần