1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thiết kế và sử dụng tình huống có vấn đề để nâng cao năng lực của học sinh trong chương III hệ sinh thái, sinh quyển và bảo vệ môi trường sinh học lớp 12

29 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 613,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có thể đạt được mục tiêu đó, phương pháp dạy học cần phải đổi mới sao cho phù hợp với tiến trình nhận thức khoa học, để học sinh có thể tham gia vào hoạt động tìm tòi sáng tạo giải qu

Trang 1

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

Giáo dục phổ thông đang thực hiện bước chuyển từ chương trình tiếp cận giáo dục nội dung sang tiếp cận năng lực người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học cái gì đến chỗ quan tâm học sinh làm được cái gì thông qua việc học Để làm được điều đó, thì phải thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học nặng về truyền thụ kiến thức sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỷ năng, hình thành năng lực và phẩm chất người học

Nghị quyết Hội nghị trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện

giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ: “ Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ

sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”

Trong những năm qua phần lớn giáo viên đã được tiếp cận với các phương pháp dạy học tích cực Các thuật ngữ như phương pháp dạy học tích cực, dạy học dựa trên dự án, dạy học theo Stem, dạy học theo Modunle, dạy học giải quyết vấn đề, dạy học theo chủ đề…Nhằm để hình thành và phát triển năng lực cho học sinh như năng lực tự học; năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề; năng lực sáng tạo ; năng lực giao tiếp; năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông…Trong đó, phát triển năng lực sáng tạo, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề của học sinh là mục tiêu quan trọng, qua đó thúc đẩy sự hình thành

và phát triển các năng lực khác

Để có thể đạt được mục tiêu đó, phương pháp dạy học cần phải đổi mới sao cho phù hợp với tiến trình nhận thức khoa học, để học sinh có thể tham gia vào hoạt động tìm tòi sáng tạo giải quyết vấn đề; góp phần hình thành năng lực hành động, phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, từ đó bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, hình thành khả năng học tập suốt đời

Vì vậy tập dượt cho học sinh biết phát hiện, đặt ra và giải quyết vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống cá nhân , gia đình và cộng đồng

Để góp phần thực hiện đổi mới trong dạy học bộ môn sinh học chúng tôi

đã lựa chọn đề tài: “Thiết kế và sử dụng tình huống có vấn đề để nâng cao năng lực của học sinh trong chương III- Hệ Sinh thái, sinh quyển và bảo vệ môi trường - Sinh học lớp 12” theo hướng phát triển năng lục học sinh

Trang 2

PHẦN II: NỘI DUNG

2.1 Cơ sở lí luận

2.1.1 Khái niệm về tình huống có vấn đề

- Trong dạy học, tình huống có vấn đề là một trạng thái tâm lý đặc biệt trong đó học sinh tiếp nhận mâu thuẫn khách quan như một mâu thuẫn nội tại của bản thân (mâu thuẫn chủ quan), kích thích học sinh tìm cách giải thích hay xuất hiện hành động mới

- Một tình huống dạy học được coi là tình huống có vấn đề khi thõa mãn các tính chất sau:

+ Có mâu thuẫn nhận thức

+ Gây ra được nhu cầu nhận thức cho người học

+ Phù hợp với khả năng của người học

2.1.2 Các kiểu tình huống có vấn đề trong day học

Trong dạy học nêu vấn đề, học sinh thường rơi vào tình thế xuất hiện mâu thuẫn giữa lượng kiến thức đã có và lượng kiến thức cần có để giải quyết được vấn đề nêu ra Khi đó học sinh sẽ rơi vào những tình thế sau :

- Tình thế lựa chọn: Học sinh ở trạng thái cân nhắc, suy tính khi cần lựa chọn một phương án thích hợp nhất trong những điều kiện xác định để giải quyết vấn đề (tức là lựa chọn mô hình vận hành được)

- Tình thế bất ngờ: Học sinh ở trạng thái ngạc nhiên, khi gặp cái mới lạ chưa hiểu vì sao, cần biết căn cứ lí lẽ (tức là cần có mô hình mới)

- Tình thế không phù hợp: Học sinh ở trạng thái băn khoăn, nghi hoặc, khi gặp sự kiện trái ngược với lẽ thường, với kết quả có thể rút ra được từ căn cứ

lí lẽ đã có, do đó cần xét lại để có căn cứ lí lẽ thích hợp hơn (tức là cần có mô hình thích hợp hơn)

- Tình thế phán xét: Học sinh ở trạng thái nghi vấn khi gặp cách giải thích với các căn cứ lí lẽ khác nhau, cần xem xét kiểm tra các căn cứ lí lẽ đó (tức là kiểm tra, hợp thức hóa các mô hình đã được tiếp cận)

- Tình thế đối lập: Học sinh ở trạng thái bất đồng quan điểm, khi gặp một cách giải thích có vẻ logic, nhưng lại xuất phát từ một căn cứ lí lẽ sai trái với căn

cứ lí lẽ đã được chấp thuận, cần bác căn cứ lí lẽ sai lầm đó để bảo vệ căn cứ lí lẽ

đã được chấp nhận (tức là phê phán, bác bỏ mô hình không hợp thức, bảo vệ mô hình hợp thức đã có)

Trong dạy học, tình huống có vấn đề chính là những tình huống học tập

và nó trở thành những bài tập, bài toán, bài tập tình huống được nhà sư phạm thiết lập biến thành công cụ có tính chất như một biện pháp, một phương pháp dạy học để tổ chức hoạt động học của học sinh

Trang 3

2.1.3 Mục đích và ý nghĩa của việc áp dụng tình huống có vấn đề trong dạy học

Tình huống có vấn đề hạt nhân của dạy học nêu vấn đề, hay nói cách khác bản chất của dạy học nêu vấn đề là các tình huống có vấn đề Như vậy việc tạo ra tình huống có vấn đề là vô cùng quan trọng, có vai trò quyết định đến sự thành công của giờ học Mặt khác việc sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học không chỉ giúp học sinh hiểu sâu, nắm vững kiên thức, kĩ năng, kĩ xão mà còn làm tăng sự hứng thú, tính tích cực học tập của học sinh Việc sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy học còn có ý nghĩa quan trọng là nó có khả năng biệt hóa cao độ

Việc tạo tình huống có vấn đề trong dạy học còn có các mục đich sau: + Việc tạo tình huống có vấn đề nhằm lôi cuốn sự chú ý của học sinh đối với câu hỏi, nhiệm vụ, chủ đề học tập, gây cho học sinh hứng thú nhận thức

+ Đặt ra trước mắt học sinh những khó khăn nhận thức vừa phải và sự khắc phục những khó khăn để đẩy mạnh hoạt động nhận thức của học sinh

+ Tạo tình huống có vấn đề nhằm tạo ra trước mắt học sinh những mâu thuẫn giữa yêu cầu nhận thức của học sinh và sự không thõa mãn với vốn kiến thức, kĩ năng, kĩ xão đã có

+ Giúp học sinh xác định được vấn đề cơ bản của nhiệm vụ nhận thức trong câu hỏi, trong bài tập và kế hoạch giải quyết những khó khăn nhận thức

đó

Ngoài ra tạo tình huống có vấn đề còn giúp học sinh xác định giới hạn kiến thức cần nắm vững cần thiết trước đây và chỉ ra hướng tìm kiếm con đường phù hợp hơn từ tình huống có vấn đề

2.1.4 Ưu- nhược điểm của dạy học tình huống

* Nhược điểm

Để thiết kế được tình huống phù hợp nội dung, mục tiêu đào tạo, trình độ học sinh, kích thích được tính tích cực của học sinh đòi hỏi cần nhiều thời gian

và công sức Đồng thời giáo viên cần phải có kiến thức, kinh nghiệm sâu rộng;

có kỹ năng kích thích, phối hợp tốt trong quá trình dẫn dắt, tổ chức thảo luận và giải đáp để giúp học sinh tiếp cận kiến thức, kỹ năng

Trang 4

2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

2.2.1 Thực trạng dạy học sinh học ở các trường THPT

Để có cơ sở thực tiễn chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng dạy và học Sinh học ở một số trường THPT Chúng tôi đã tiến hành trao đổi trực tiếp và phát phiếu điều tra đối với 20 giáo viên giảng dạy Sinh học ở các trường THPT trên địa bàn Huyện Diễn Châu; và tiến hành khảo sát 226 học sinh khối 12 của trường THPT Kết quả thu được như sau:

2 Để chuẩn bị trước cho một bài học môn Sinh

học, em thường làm những việc gì dưới đây

- Học bài cũ, trả lời những câu hỏi và bài tập

được giáo viên giao về nhà

- Học bài cũ nhưng học thuộc lòng một cách

máy móc

- Đọc trước bài mới, ghi lại những thắc mắc để

hỏi giáo viên trong giờ học

3 Trong giờ học, khi giáo viên đưa ra câu hỏi

hoặc bài tập em thường làm gì

- Nghe sự trả lời hoặc giải bài tập của bạn 35 15,5

- Chờ giáo viên trả lời hoặc giải bài tập 162 71,7 Qua phân tích số liệu thu được, chúng tôi rút ra nhận xét sau:

Về ý thức học tập: Số đông học sinh coi việc học Sinh học là một nhiệm

vụ chiếm 60,6%, số học sinh không hứng thú chiếm 26,5%, chỉ một số ít các em yêu thích môn Sinh học chiếm 12,8%

Trang 5

Việc chuẩn bị bài và hoàn thành các nội dung của giáo viên giao trước khi đến lớp đạt 45,5% Số học sinh cho rằng việc học bài chỉ mang tính chất học thuộc lòng nhằm đối phó giáo viên chiếm 47,5% Số HS chịu khó đọc bài mới, ghi lại thắc mắc để hỏi GV chỉ chiếm 7,1% Như vậy phần lớn HS chỉ học bài ở nhà một cách thụ động

Về ý thức học tập trên lớp: Đa số HS chờ GV trả lời boặc giải bài tập chiếm 71,7%; một số HS nghe sự trả lời boặc giải bài tập của bạn chiếm 15,5%

Số HS suy nghĩ, chủ động xây dựng bài chiếm tỉ lệ thấp 12,8%

2.2.1.2 Về giảng dạy của giáo viên

Bảng 2.2 Mức độ sử dụng các phương pháp dạy học của giáo viên Sinh học

Số

TT Phương pháp

Mức độ sử dụng Thường

xuyên

Không thường xuyên

Trang 6

Kết quả thống kê ở bảng 2 cho thấy các phương pháp GV thường xuyên

sử dụng là: Thuyết trình giảng giải (55%); Hỏi đáp tái hiện thông báo (70%); Làm việc với SGK, tài liệu (60%) chiếm tỉ lệ cao Các phương pháp được sử dụng ít hơn như dạy học có sử dụng bài tập thực nghiệm (10%), dạy học nêu và giải quyết vấn đề (25%), dạy học hợp tác theo nhóm, dạy học có sử dụng phiếu học tập (30%), hỏi đáp tìm tòi (25%), dạy học só sử dụng sơ đồ bảng biểu (35%)

Có thể nói hiện nay giáo viên đã có sự đổi mới về phương pháp giảng dạy

bộ môn, đã áp dụng một số phương pháp tích cực, nhưng sự đổi mới này vẫn còn chậm Giáo viên chưa có những biện pháp thực sự có hiệu quả để tổ chức hoạt động nhận thức của HS, phươn pháp học tập chủ yếu của HS vẫn còn thụ động, khả năng vận dụng kiến thức, năng lực tư duy còn hạn chế, chưa thực sự yêu thích môn Sinh học

2.2.2 Một số hạn chế trong dạy học Sinh học hiện nay

2.2.2.1 Về phía giáo viên

Do lối dạy học cổ truyền đã ăn sâu, tồn tại phổ biến ở nhà trường, vì thế không thể một lúc mà làm thay đổi ngay được cách nghĩ, cách làm của tất cả các giáo viên Mặt khác việc nắm vững và vận dụng các phương pháp dạy học tích cực còn hạn chế, có khi còn máy móc, lạm dụng Phần lớn giáo viên chưa tìm được “chỗ đứng” của mỗi kĩ thuật dạy học trong cả tiến trình tổ chức dạy học Cũng chính vì thế nên giáo viên vẫn chủ yếu vẫn lệ thuộc vào tiến trình các bài học được trình bày trong sách giáo khoa, chưa dám chủ động trong việc thiết kế tiến trình xây dựng kiến thức phù hợp với các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực; mặt khác việc đầu tư thời gian, công sức để soạn giảng theo phương pháp mới phải nhiều hơn, nên một số giáo viên còn ngại khó

Số lượng giáo viên dạy học theo phương pháp tích cực còn ít, mặc dù ai cũng biết phương pháp này thực sự lôi cuốn học sinh, làm cho học sinh chủ động nắm kiến thức Đa số giáo viên cho rằng nhận thức của học sinh còn kém, không đồng đều nên vận dụng phương pháp dạy học tích khó áp dụng hơn Mặt khác cơ sở vật chất của nhà trường còn hạn chế nên việc áp dụng phương pháp dạy học tích cực cũng gặp khó khăn

Ngoài ra một số giáo viên chưa tâm huyết với nghề, ý thức cải tiến phương pháp dạy học còn ít, dẫn đến chất lượng giờ dạy chưa tốt, không kích thích được tính tích cực và hứng thú của học sinh

2.2.2.2 Về phía học sinh

Đa số học sinh vẫn coi sinh học như là môn học phụ Do vậy chưa đầu tư nhiều thời gian và công sức vào môn học, mà chỉ học theo kiểu đối phó với các giờ kiểm tra của giáo viên

Trang 7

Do thi cử kiểm tra vẫn còn nặng về tái hiện kiến thức, nên học sinh vẫn chọn theo cách học thuộc lòng

Phần nhiều học sinh chưa biết cách học, chỉ quen với cách học thuộc lòng những nội dung mà giáo viên cho ghi, chưa chú ý phân tích, chứng minh bản chất nội dung đó Học sinh chưa chủ động sáng tạo để lĩnh hội kiến thức

Học sinh chưa có thói quen tự làm việc với sách giáo khoa, tham khảo các tài liệu khác để chủ động lĩnh hội kiến thức Chỉ có một số ít học sinh tự nghiên cứu sách giáo khoa, tài liệu để học ở nhà

2.3 Xây dựng tình huống có vấn đề

2.3.1 Nguyên tắc xây dựng tình huống có vấn đề

Các nguyên tắc xây dựng tình huốn có vấn đề là cơ sở để xây dụng tình huống có vấn đề Vì vậy, xây dựng tình huống có vấn đề phải tuân theo những nguyên tắc sau:

2.3.1.1 Tình huống có vấn đề phải có mâu thuẫn nhận thức

Tình hống có vấn đề phải chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, hay mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái phải tìm, giữa nhiệm vụ nhận thức với trình độ học sinh

về kiến thức, kĩ năng sẵn có Do đó học sinh ý thức được những khó khăn trong

tư duy hoặc hành động mà những hiểu biết chưa đủ để vượt qua

Các sự kiện trong tình huống có vấn đề phải tồn tại với tư cách là một bài toán nhận thức gồm hai yếu tố :

- Các dữ kiện, bao gồm mọi thông tin đã cho một cách tường minh (những điều đã biết)

- Các yêu cầu, bao gồm những thông tin cần phải tìm ra cho tình huống đó (cái cần tìm)

Vì vậy khi xây dựng tình huống có vấn đề cần phải đảm bảo được 2 yếu

tố trên và giáo viên phải gia công sư phạm cho những nội dung kiến thức của bài

dựa trên những tri thức, kĩ năng sẵn có

2.3.1.2 Tình huống có vấn đề phải gây ra nhu cầu nhận thức

Tình huống có vấn đề phải chứa yếu tố mới gây ngạc nhiên, hấp dẫn học sinh, thu hút sự chú ý và mong muốn giải quyết vấn đề của học sinh Nếu tình huống đưa ra mà quá xa lạ, không thể giải quyết nó thì cũng chưa thể trở thành tình huống có vấn đề được Vì vậy giáo viên phải cân nhắc tỉ lệ hợp lí giữa cái

đã biết và cái chưa biết để gây cho học sinh trạng thái tâm lí có nhu cầu nhận thức, tạo ra tính tự giác tìm tòi của học sinh, đòi giải quyết vấn đề

2.3.1.3 Tình huống có vấn đề cần phù hợp với trình độ, đối tượng học sinh

Trang 8

Tình huống có vấn đề phái phù hợp với khả năng và trình độ của từng đối tượng học sinh, sự phù hợp đó thể hiện ở những khía cạnh sau: cái đã biết phải giúp học sinh thiết lập được mối quan hệ với cái chưa biết, từ đó giúp các em giải quyết được vấn đề Liều lượng cái đã biết phải vừa đủ thì mới không quá khó với học sinh Mặt khác, cái đã biết cũng không quá lớn, nếu lớn quá thì trở nên quá dễ đối với học sinh, học sinh không cần suy nghĩ và tìm tòi cũng giải quyết được vấn đề đặt ra Vì vậy mà không kích thích được sự tìm tòi của học sinh Còn nếu cái đã biết quá ít thì học sinh sẽ cảm thấy khó quá, nẩy sinh tâm lí chán nản không chịu suy nghĩ để giải quyết mà ỷ lại sự giải đáp của giáo viên Như vậy, việc xác định được liều lượng hợp lí giữa cái đã biết và cái chưa biết đòi hỏi phải có kinh nghiệm và nghệ thuật sư phạm của giáo viên

2.3.2 Quy trình xây dựng tình huống có vấn đề trong day học

Tình huống có vấn đề vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủ quan

Vì không phải vấn đề nào cũng xuất hiện tình huống có vấn đề mà phải phụ thuộc vào vốn tri thức, sự tìm tòi, ham hiểu biết và nhu cầu khám phá của học sinh Do đó giáo viên ngoài việc đưa ra tình huống có vấn đề thì còn phải hướng dẫn học sinh phát hiện vấn đề, giúp học sinh tìm kiếm các dữ kiện, tìm ra mâu thuẫn để giải quyết tình huống có vấn đề

Quy trình xây dựng tình huống có vấn đề trong dạy học có 4 bước

Hình 2.3 Quy trình xây dựng tình huống có vấn đề

Xác đinh mục tiêu bài dạy

Phân tích logic nội dung bài dạy, xác định đơn vị

kiến thức bài dạy

Thiết kế tình huống cho từng đơn vị kiến thức

Xác định dự phù hợp của tình huống có vấn đề với mục tiêu,

nội dung và trình độ của học sinh

Bước 1

Bước 2

Bước 3

Bước 4

Trang 9

2.3.2.1 Xác định mục tiêu bài dạy

Xác định mục tiêu bài dạy là cơ sở quan trọng cho việc tiến hành thiết kế một bài cụ thể và đo lường thành quả học tập của học sinh Trong kiểu dạy học truyền thống, người dạy thường lấy trình độ chung của toàn lớp làm căn cứ Trong dạy học nêu vấn đề, giáo viên cần có sự phân hóa đối với những nhóm học sinh có trình độ kiến thức và tư duy khác nhau, để mỗi học sinh đều phải nỗ lực tham gia xây dựng bài giảng; cần tính toán độ khó của nhiệm vụ, sao cho thích hợp cả nhóm học sinh giỏi và học sinh yếu Nghĩa là bên cạnh mục tiêu chung cả lớp cũng cần phải tính đến mục tiêu riêng cho từng nhóm học sinh Vì vậy cần căn cứ vào mục tiêu dạy học để lựa chọn tình huống dạy học

Ví dụ: Xác đinh mục tiêu bài “ Hệ sinh thái ”

- Trình bày được khái niệm hệ sinh thái, nêu được ví dụ về hệ sinh thái và phân tích vai trò của từng thành phần cấu trúc trong hệ sinh

- Nâng cao trình độ nhận thức về bảo vệ môi trường

2.3.2.2 Phân tích logic nội dung bài dạy, xác định các đơn vị kiến thức dạy

Nội dung của một môn học, bài học đều có sự logic với nhau Nội dung phần trước và phần sau luôn có mối quan hệ logic với nhau, phần trước là cơ sở

để tiếp thu và nghiên cứu phần sau Tình huống dạy học là tạo cho học sinh trạng thái tâm lí của chủ thể nhận thức khi vấp phải một mâu thuẫn, kích thích khả năng học tập và giải quyết vấn đề Vì vậy phân tích logic nội dung bài học rất quan trọng, giúp giáo viên cân đối tỉ lệ hợp lý giữa điều chưa biết và điều đã biết

Mặt khác, sách giáo khoa là tài liệu học tập, vừa là nguồn cung cấp kiến thức cho học sinh, vừa là phương tiện chủ yếu để giáo viên tổ chức hoạt động dạy học và gia công tình huống có vấn đề Vì vậy, giáo viên cần phải phân tích nội dung bài dạy, phải xác định vị trí của bài trong chương, lượng kiến thức trong chương, trong bài, phải xác định trong tâm của bài của chương, phải xác định kiến thức nào cần cung cấp cho học sinh, kiến thức nào có thể hướng dẫn hướng tự lĩnh hội,

2.3.2.3 Thiết kế tình huống cho từng đơn vị kiến thức

Dựa trên phân tích nội dung bài học và xác định được các đơn vị kiến thức dạy, giáo viên xây dựng tình huống trên cơ sở đơn vị kiến thức đã xác định

Theo GS Đinh Quang Báo : "Tình huống có vấn đề là một trạng thái tâm

lí của chủ thể nhận thức khi vấp phải một mâu thuẫn, một khó khăn về nhận thức Mâu thuẫn và khó khăn đó vượt ra khỏi giới hạn của tri thức vốn có của chủ thể, bao hàm một điều gì đó chưa biết, đòi hỏi một sự tìm tòi tích cực, sáng tạo Vì vậy nhiệm vụ của giáo viên là phải gia công nội dung kiến thức, bài học

Trang 10

để tạo cho học sinh xuất hiện mâu thuẫn chủ quan, xuất hiện trạng thái tâm lí muốn tìm tòi, khám phá, sáng tạo, để giải quyết mâu thuẫn đó Tuy nhiên không phải nội dung kiến thức nào cũng xây dựng được thành những tình huống

có vấn đề Nên giáo viên phải phân tích kỹ mục tiêu, nội dung, để có thể xây dựng tình huống có vấn đề

2.3.2.4 Kiểm tra tình huống đã xây dựng có phù hợp với mục đích, nội dung bài dạy và trình độ học tập của học sinh

Căn cứ vào mục tiêu bài dạy, đối chiếu với mục đích khi giải quyết tình huống để đánh giá sự phù hợp của tình huống với yêu cầu nội dung kiến thức cần chuyển tải đến học sinh Mặt khác việc rà soát những câu hỏi sau mỗi tình huống với mục đích xây dựng câu hỏi phù hợp với trình độ học sinh, loại bỏ những câu hỏi không phù hợp (quá khó hoặc quá dễ hay không hướng vào mục đích giải quyết tình huống)

2.4 Quy trình dạy học giải quyết vấn đề

Theo Trần Bá Hoành, áp dụng dạy học giải quyết vấn đề thường trải qua trình tự ba bước:

Bước 1: Đặt vấn đề

a Tạo tình huống có vấn đề

b Phát hiện và nhận dạng vấn đề nảy sinh

c Phát biểu vấn đề cần giải quyết

Bước 2: Giải quyết vấn đề

a Đề xuất các giả thuyết

Khi dạy học giải quyết vấn đề, giáo viên đóng vai trò người hướng dẫn và

tổ chức hoạt động tìm tòi của ngường học, giúp các em nhận ra vấn đề, xác định phương hướng giải quyết, đánh giá các giả thuyết đặt ra

Trang 11

Hình 2.4 Sơ đồ quy trình dạy học giải quyết vấn đề

2.5.1 Cấu trúc, nội dung phần Sinh thái học SH 12 THPT

2.5.1.1 Cấu trúc phần Sinh thái học sinh học 12 THPT

Phần bảy: Sinh thái học gồm 3 chương với 13 tiết:

+ Chương 1: Cá thể và quần thể sinh vật (4 tiết)

Chương này nghiên cứu các vấn đề: Môi trường sống và các nhân tố sinh thái; quần thể sinh vật và mối quan hệ giữa các cá thể trong quần thể; các đặc trưng

cơ bản của quần thể sinh vật; biến động số lượng cá thể của quần thể sinh vật

Nội dung của chương này tương ứng với nội dung gộp lại của cả 2 chương của SGK nâng cao

Trang 12

+ Chương 2: Quần xã sinh vật gồm 2 tiết

Chương này đề cập các vấn đề: Khái niệm và một số đặc trưng cơ bản của quần xã sinh vật; diễn thế sinh thái

Không có bài thực hành

+ Chương 3: Hệ sinh thái, sinh quyển và bảo vệ môi trường gồm 7 tiết: Chương này đề cập tới: Khái niệm hệ sinh thái; Trao đổi chất trong hệ sinh thái; Chu trình sinh địa hóa và sinh quyển; dòng năng lượng trong hệ sinh thái và hiệu suất sinh thái; thực hành quản lí và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên

2.5.1.2 Nội dung phần sinh thái học SH 12 THPT

- Kiến thức cơ bản: Hệ thống các khái niệm, quy luật, quá trình sinh học, các nguyên tắc vận dụng vào thực tiễn

- Khái niệm các nhân tố sinh thái Quá trình tác động của các nhân tố sinh thái lên cơ thể sinh vật

- Các quy luật tác động của một số nhân tố sinh thái (quy luật tác động tổng hợp, quy luật giới hạn)

- Khái niệm nơi ở và ổ sinh thái

- Giới hạn sinh thái của các nhân tố vô sinh tác động đến một số đại diện sinh vật

- Sự thích nghi sinh thái và tác động trở lại của sinh vật đến môi trường

- Khái niệm quần thể

- Mối quan hệ sinh thái của các cá thể trong quần thể

- Đặc trưng cơ bản của cấu trúc quần thể

- Khái niệm kích thước quần thể và sự tăng trưởng kích thước quần thể trong điều kiện môi trường bị giới hạn hoặc không bị giới hạn

- Khái niệm về các dạng biến động số lượng của quần thể

- Quá trình điều chỉnh số lượng của quần thể

- Khái niệm quần xã

- Đặc trưng cơ bản của quần xã: tính đa dạng về loài, phân bố các loài trong không gian

- Mối quan hệ các loài trong quần xã

- Diễn thế sinh thái: khái niệm, nguyên nhân, các dạng, ý nghĩa

- Khái niệm hệ sinh thái

- Thành phần, cấu trúc hệ sinh thái

Trang 13

- Mối quan hệ dinh dưỡng trong hệ sinh thái

- Khái niệm tháp sinh thái, hiệu suất sinh thái

- Khái niệm chu trình vật chất và các loại chu trình vật chất tự nhiên

- Quá trình chuyển hóa vật năng lượng trong hệ sinh thái

- Cơ sở sinh thái học của khai thác tài nguyên thiên nhiên

- Khái niệm tài nguyên, các dạng tài nguyên, khai thác bền vững…

2.5.2 Áp dụng phương pháp dạy học sử dụng tình huống có vấn đề trong dạy chương III- Hệ sinh thái, sinh quyển và bảo vệ môi trường

CHƯƠNG III HỆ SINH THÁI, SINH QUYỂN

VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Bài 42 HỆ SINH THÁI

I MỤC TIÊU BÀI HỌC

+ Kiến thức:

- Trình bày được khái niệm hệ sinh thái, nêu được ví dụ về hệ sinh thái và

phân tích vai trò của từng thành phần cấu trúc trong hệ sinh thái

- Nâng cao trình độ nhận thức về bảo vệ môi trường

+ Kĩ năng:

- Rèn kĩ năng phân tích, tổng hợp và khái quát hóa

+ Thái độ:

- Có ý thức bảo vệ môi trường

II PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC

Trang 14

2 Kiểm tra bài cũ: Diễn thế sinh thái là gì? Nguyên nhân gây ra diễn thế và tầm quan trọng của việc nghiên cứu diễn thế?

3 Bài mới

* Hoạt động 1: Tìm hiểu khái niệm và

thành phần cấu trúc của hệ sinh thái

GV: Chiếu một số hình ảnh về hệ sinh

thái, kết hợp nghiên cứu sách giáo khoa

trả lời câu hỏi sau:

- Cho biết kích thước hệ sinh thái?

Học sinh: Nghiên cứu SGK, vận dụng

kiến thức lớp 9 theo định hướng câu

hỏi đề ra phương án và trả lời câu hỏi

Giáo viên: Nhận xét, bổ sung

GV: Quan sát hình 42.1 cho biết các

thành phần cấu trúc của hệ sinh thái?

HS: Phân tích hình vẽ và trả lời câu

hỏi

GV: Nhận xét và bổ sung để hoàn thiện

kiến thức

* Hoạt động 2: Tìm hiểu các kiểu hệ

sinh thái trên trái đất

GV: Nghiên cứu nội dung SGK, kết

hợp quan sát hình 42.2, hãy cho biết hệ

sinh thái tự nhiên trên Trái Đất được

chia làm mấy nhóm chính? Nêu đặc

điểm của nhũng hệ sinh thái đó?

I KHÁI NIỆM HỆ SINH THÁI

- Hệ sinh thái bao gồm quần xã sinh vật

và sinh cảnh của quần xã Trong hệ sinh thái, các sinh vật luôn luôn tác động lẫn nhau và tác động qua lại với các nhân tố

vô sinh của môi trường tạo nên hệ thống hoàn chỉnh và tương đối ổn định

- Hệ sinh thái là một đơn vị cấu trúc hoàn chỉnh của tự nhiên, biểu hiện chức năng cuẩ một tổ chức sống thông qua sự trao đổi chất và năng lượng giữa sinh vật với môi trường sống của chúng

II CÁC THÀNH PHẦN CẤU TRÚC CỦA

III CÁC KIỂU HỆ SINH THÁI CHỦ YẾU TRÊN TRÁI ĐẤT

1 Hệ sinh thái tự nhiên

a Các hệ sinh thái trên cạn: Rừng nhiệt đới, sa mạc, hoang mạc, sa van đồng cỏ, rừng lá rộng ôn đới, rừng thông phương

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w