1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hướng giải quyết các dạng đề lí luận văn học trong bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường THPT

71 43 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 18,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhờ các thành quảnghiên cứu đó mà những người quan tâm đến văn học có thể lí giải được sâu hơnbản chất của các hiện tượng văn học như: đặc trưng văn học, nhà văn, tác phẩm… Các kiến thức

Trang 1

SÁNG KIẾN HƯỚNG GIẢI QUYẾT CÁC DẠNG ĐỀ LÍ LUẬN VĂN HỌC TRONG

BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI Ở TRƯỜNG THPT

Trang 2

SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO NGHỆ AN

Trang 3

7 III HƯỚNG GIẢI QUYẾT CÁC DẠNG ĐỀ LÍ LUẬN VĂN HỌC 10

8 1 Đối với dạng đề lí luận về đặc trưng văn học 10

12 2 Đối với dạng đề lí luận về nội dung và hình thức của văn học 14

13 2.1 Lí luận về nội dung và hình thức của tác phẩm văn học 14

19 4 Đối với dạng đề lí luận về tác phẩm văn xuôi 26

23 5 Đối với dạng đề lí luận về hình tượng nghệ thuật 31

26 6 Đối với dạng đề lí luận về nhân vật văn học 35

Trang 4

27 6.1 Lí luận về nhân vật văn học 35

38 9 Đối với dạng đề lí luận về tiếp nhận văn học và giá trị văn học 47

1 Cũng như những bộ môn khoa học khác, môn Ngữ Văn có vai trò rất

quan trọng đối với đời sống tâm hồn và phát triển tư duy của con người, đặc biệttrong việc giáo dục tư tưởng tình cảm cho học sinh Học tốt môn Ngữ văn cũng sẽgiúp các em học tốt các bộ môn khác Văn chương mang đến cho tâm hồn và nhâncách con người nhiều cái hay, cái đẹp kì diệu, cái sáng lấp lánh Thông qua nhânvật với những sự kiện, những cuộc đời trong trang văn, học sinh có thể liên hệ tớiđời sống xã hội xung quanh mình để từ đó tìm cho mình những cách ứng xử khéo

Trang 5

léo, tinh tế, hợp lí trong cuộc sống Văn học là một bộ môn nghệ thuật , là sự tìmhiểu và yêu thương cuộc sống này, là con đường đi từ trái tim đến trái tim Muốnhọc giỏi bộ môn kì diệu này, các em cần phải nuôi dưỡng lòng say mê và cần phải

có phương pháp học tập một cách khoa học, đúng đắn để không ngừng nâng caokiến thức, hiểu biết và khả năng tư duy của mình Khả năng cảm nhận, giải thích,phân tích cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học, khả năng liên hệ, so sánh các tácphẩm, cùng với những hiểu biết về lí luận văn học là một trong những kĩ năng,kiến thức quan trọng giúp các em học giỏi môn Ngữ văn

Bồi dưỡng học sinh giỏi là một nhiệm vụ được Sở giáo dục cũng như cáctrường THPT đặc biệt quan tâm Bởi lẽ, đây là một tiêu chí để các trường tự khẳngđịnh chất lượng đào tạo mũi nhọn của mình, đồng thời cũng là một hướng đi đểgiúp học sinh chọn nghề, chọn ngành hợp lí Trong các môn tham gia thi học sinhgiỏi từ cấp tỉnh trở lên thì Ngữ văn là môn thi rất được chú ý Ở đề thi học sinh giỏimôn Ngữ văn, phần nghị luận văn học đặc biệt được chú trọng, vì nó có sự kết hợpgiữa kiến thức văn bản văn học với kiến thức lí luận văn học Dạng đề này, phần líluận văn học được xem là chìa khóa cho sự thành công của bài thi Chính vì thế,việc giải quyết các dạng đề lí luận văn học được tất cả các giáo viên và học sinh rất

đề cao trong quá trình bồi dưỡng, ôn luyện Cho nên, cần thiết phải có một hệthống lí luận và phương pháp cơ bản giúp thực hiện tốt dạng đề thi này Đề họcsinh biết cách làm các dạng đề này đòi hỏi giáo viên phải cung cấp cho các emkiến thức, hiểu biết cơ bản về lí luận văn học, về nội dung, đặc sắc nghệ thuật củacác tác phẩm văn học Hướng dẫn cụ thể cách các kiến thức cần thiết cũng như cácbước cụ thể Rèn luyện kĩ năng viết bài, cách hành văn, diễn đạt sao cho mượt mà,

có cảm xúc , giàu hình ảnh, giàu giá trị biểu cảm, có chất văn Có như vậy bài làmcủa học sinh mới đáp ứng được yêu cầu của đề bài và đạt kết quả như mong muốn

Xuất phát từ thực tế đó tôi chọn đề tài: “Hướng giải quyết các dạng đề lí luận văn học trong bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường THPT” mà tôi thực hiện ở đây là nhằm

đáp ứng những vấn đề trên

2.“Hướng giải quyết các dạng đề lí luận văn học trong bồi dưỡng học sinh

giỏi ở trường THPT” là một vấn đề hay và có ý nghĩa thiết thực Hiện nay, đã có

một số bài nghiên cứu đề cập đến chủ đề này nhưng chỉ thể hiện được một số khíacạnh mà chưa có một cái nhìn đầy đủ và toàn diện Tôi chọn đề tài này với mụcđích xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn của vấn đề bồi dưỡng học sinh giỏi mônNgữ văn, với mong muốn trao đổi cùng đồng nghiệp, hi vọng tìm ra những biệnpháp thiết thực, khả thi nhất với phương pháp hữu hiệu đem lại kết quả cao trongcông tác bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn Việc đề xuất sáng kiến giải quyếtcho dạng đề thi này sẽ giúp cho các giáo viên có một cơ sở lí thuyết để thực hiệntrong quá trình bồi dưỡng học sinh giỏi Đồng thời, bài viết này còn định hướngcho học sinh cách thức tiến hành làm một bài văn đạt kết quả cao Không chỉ ở địahạt của bài thi mà sáng kiến này còn tạo cho các em kĩ năng xử lí vấn đề ở các mônhọc khác cũng như ở cuộc sống sau này Bài nghiên cứu này có thể giúp các em

Trang 6

bồi dưỡng học sinh giỏi nắm vững cách làm bài dạng đề này Lẽ hiển nhiên, đốivới đối tượng học sinh trung học phổ thông, các yêu cầu về năng lực lí giải cầnphải hợp lí, vừa sức Nghĩa là các tiêu chí so sánh cần có mức độ khó vừa phải, khảnăng lí giải sự giống và khác nhau cũng cần phải hợp lí với năng lực của các em.

Đó chính là những yếu tố tạo động lực để tôi thực hiện đề tài nghiên cứu sáng kiếnkinh nghiệm này

Lí luận văn học là một bộ môn chính trong khoa nghiên cứu văn học Khoanghiên cứu văn học là ngành khoa học nghiên cứu về quan điểm, nội dung, nghệthuật, phương pháp, tư liệu…trong việc mô tả, giải thích, đánh giá các sự kiện vănhọc từ bản chất đến quá trình, từ các hiện tượng đến quy luật nội tại của từng nềnvăn học dân tộc qua các thời kì lịch sử và cả nền văn học thế giới Khoa nghiêncứu văn học không chỉ quan tâm đến sản phẩm, tức tác phẩm văn học - do ngườinghệ sĩ sáng tạo ra mà còn hết sức quan tâm và chú ý đến chủ thể sáng tạo vàngười tiếp nhận Chỉ có được trong các mối quan hệ đa dạng liên hoàn ấy thì bảnchất văn học mới được bộc lộ một cách trọn vẹn nhất Vậy nên, khi giảng dạy bộmôn Ngữ văn, đặc biệt trong quá trình dạy bồi dưỡng học sinh giỏi môn học này,người giáo viên cần trang bị cho mình những kiến thức cơ bản về lí luận văn học.Hơn nữa, cấu trúc đề thi học sinh giỏi môn Ngữ văn bậc THPT từ trước đến nayđều có một câu về lĩnh vực lí luận văn học Trong đó chủ yếu là đề thi lớp 12, câunghị luận văn học chiếm 10/20 điểm Nếu giáo viên trong quá trình dạy bồi dưỡngkhông dạy kĩ cho học sinh cách tiếp cận các dạng đề lí luận văn học thì học sinh sẽrất khó để viết đạt câu này

Trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn THPT cả ba lớp 10,11,12 đều

có đưa vào bài học về lí luận văn học, nhưng chỉ gói gọn trong trong một bài ở gầncuối học kì và số tiết rất ít nên sẽ rất hạn chế trong việc giúp học sinh vận dụngthuyết lí luận văn học ngay từ ban đầu để giải quyết đề bài một cách khoa học nhất

Trang 7

Thực trạng thi tuyển chọn học sinh giỏi cấp tỉnh có các dạng đề lí luận vănhọc xuất hiện rất phổ biến nhưng trong chương trình sách giáo khoa môn Ngữ văncủa trung học phổ thông Thế nhưng, nó lại không có một cách riêng để hướng dẫncho thầy cô giáo cũng như các em học sinh nắm được phương pháp làm các dạng

đề này một cách hiệu quả nhất Chưa có bài học nào cụ thể nào cung cấp cho các

em kiến thức cơ bản về phương pháp giải quyết các dạng đề lí luận văn học Cònkhông ít thầy cô băn khoăn về phương pháp làm bài để hướng dẫn học sinh Xuấtphát từ tình hình thực tế trên và khát vọng tự thân của một người giáo viên dạyNgữ văn và đặc biệt là bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn bậc THPT, bản thân

tôi luôn trăn trở tìm tòi và học hỏi rồi từng bước đưa ra “Hướng giải quyết các dạng đề lí luận văn học trong bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường THPT” để được

trao đổi cùng đồng nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng bài thi của học sinh

2 Với học sinh tham gia bồi dưỡng học sinh giỏi thì đây thực sự là phầnviệc rất khó khăn và nhiều e ngại

Khi nhắc tới các dạng đề lí luận văn học thì có thể nghĩ ngay tới việc họcsinh phải đối mặt với một khó khăn rất lớn Vì thế, cần phải có một hệ thốngphương pháp cơ bản để giải quyết các dạng đề này Nhiều em học sinh khi thamgia bồi dưỡng không có cách tiếp cận tốt thì rất khó đạt kết quả cao và luôn phảiloay hoay trong việc tìm giải pháp làm thế nào để thực hiện đề bài hiệu quả Khitrực tiếp bồi dưỡng các em, tôi thường thấy một số vấn đề Thứ nhất, các emrất thụ động trong việc ghi nhớ các kiến thức lí luận văn học Thứ hai, các emnhầm lẫn giữa các vấn đề lí luận văn học Ví dụ, đề thi tuyển chọn học sinh giỏi

Ngữ văn 12 năm học 2020-2021, ở câu nghị luân văn học có đưa nhận định: “Đối

với nhà thơ thì cách viết, bút pháp của anh ta- là một nửa việc làm Dù bài thơ thểhiện ý tứ độc đáo đến đâu, nó cũng nhất thiết phải đẹp Không chỉ đơn giản là đẹp

mà còn đẹp một cách riêng Đối với nhà thơ, tìm cho ra bút pháp của mình và thấyđược mình- nghĩa là trở thành nhà thơ” (Raxun Gamzatop, Đaghextxtan của tôi).Câu nói đề cao vai trò của bút pháp, nhưng học sinh một số học sinh lại nhận định

về phong cách cá nhân nên kết quả không được như ý muốn Thứ ba, các em chưa

nắm chắc các kiến thức về lí luận văn học Và thứ tư, các em chưa có một hệ thống

phương pháp để giải quyết các dạng đề lí luận văn học hợp lí

Như đã trình bày ở trên nhiều học sinh tỏ ra rất lúng túng khi đứng trước cácdạng đề bài này Các em học và làm bài nghi luận văn học một cách máy móc, cònquá lệ thuộc vào cách học khuôn mẫu, thiếu tư duy sáng tạo Kiến thức lí luận vănhọc, kiến thức văn học non kém, không có khả năng cảm nhận văn học một cáchsáng tạo Vì thế số điểm học sinh đạt được còn khiêm tốn

3 Vì những nhân tố trên, việc có một khung lí thuyết chung cho việc giảiquyết các dạng đề lí luận văn học là rất cần thiết

Trước hết, việc có một khung lí thuyết chung cho việc giải quyết các dạng

đề lí luận văn học sẽ giúp giáo viên và học sinh khắc phục được những khó khăn

Trang 8

và lúng túng hiện nay Bởi lẽ trong quá trình bồi dưỡng, ôn luyện và nhất là khilàm bài thi thì giáo viên cũng như học sinh sẽ được hỗ trợ bởi một hệ thốngphương pháp cụ thể hơn Quan trọng nữa là điều đó sẽ tạo ra hiệu quả cho việc giảiquyết một cách chính xác, đầy đủ các nội dung theo yêu cầu đề bài.

Việc trang bị thêm kiến thức lý thuyết về hướng giải quyết các dạng đề líluận văn học sẽ học giúp học sinh khắc phục được những nhược điểm, tồn tại Vớiđối tượng là học sinh giỏi, được trang bị những kiến thức này học giúp học sinh cónhững bước đi, cách xử lí chuẩn xác hơn, bài viết của các em trở nên sâu sắc, chặt

là sự chuyển hoá từ những quan điểm và kiến thức chung về văn học được kết tinhqua một hệ thống khái niệm có tính chất công cụ do lí luận văn học nêu ra

Lí luận văn học, hiểu một cách đơn giản là bộ môn nghiên cứu văn học ởbình diện khái quát, bao gồm trong đó sự nghiên cứu bản chất của sáng tác vănhọc, chức năng xã hội-thẩm mỹ của nó, đồng thời xác định phương pháp luận vàphương pháp phân tích văn học văn học nhằm tìm ra những quy luật chung nhất vềvăn học

Đối tượng nghiên cứu gồm các nhóm lý thuyết chính:

- Đặc trưng văn học: là hoạt động sáng tạo tinh thần của con người bao gồmtính hình tượng, tính nghệ thuật, lý tưởng thẩm mỹ, các thuộc tính xã hội của vănhọc, các nguyên tắc đánh giá sáng tác văn học nói chung

- Cấu trúc tác phẩm: bao gồm các khái niệm về đề tài, chủ đề, nhân vật, tínhcách, cảm hứng, cốt truyện, kết cấu, các vấn đề phong cách học, ngôn ngữ, thipháp, luật thơ …

Trang 9

- Quá trình văn học: bao gồm các khái niệm chính về phong cách, các loại

và các thể văn học, các trào lưu, khuynh hướng văn học và các quá trình văn họcnói chung

Kiến thức lí luận văn học sẽ giúp chúng ta trả lời các câu hỏi khái quát, ví dụnhư:

- Văn học bắt nguồn từ đâu?

- Một tác phẩm văn học do những yếu tố nào tạo thành?

- Văn học được sáng tác và được tiếp nhận như thế nào? Văn học sinh ra đểlàm gì?…

Các nhà lí luận sẽ nghiên cứu trên các hiện tượng văn học để khái quát lênnhững thuật ngữ, những luận điểm về các quy luật của văn học Nhờ các thành quảnghiên cứu đó mà những người quan tâm đến văn học có thể lí giải được sâu hơnbản chất của các hiện tượng văn học như: đặc trưng văn học, nhà văn, tác phẩm…

Các kiến thức lí luận văn học đang phát triển từng ngày từng giờ với rấtnhiều các khuynh hướng, các luồng tư tưởng, các quan niệm khác nhau, có khithống nhất nhưng cũng có khi phủ nhận lẫn nhau Những nghiên cứu về lí luận vănhọc vẫn đang được thực hiện hàng ngày trong cuộc sống của chúng ta, trao cho tanhững góc nhìn mới mẻ, sâu sắc hơn về văn học

Có nhiều người cho rằng lí luận văn học rất khó hiểu, thực ra các kiến thức líluận văn học vô cùng gần gũi với chúng ta Văn học là gì? Văn học vì ai mà tồntại? Những câu hỏi ấy nảy ra trong ta ngay từ khi gặp gỡ văn học, và mỗi chúng ta

ắt hẳn đều có cho riêng mình những ý niệm để trả lời câu hỏi ấy Học lí luận vănhọc là cách để ta có thể trả lời những câu hỏi dạng như vậy một cách có hệ thống

và khoa học hơn

Ở mức độ trường phổ thông, trước nay chúng ta vẫn lĩnh hội tri thức lí luậnvăn học ở mức độ cơ bản Những tri thức trên sẽ là nền tảng để giúp học sinh giảiquyết các dạng đề lí luận văn học trong bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường tốt hơn

2 Các dạng đề lí luận văn học thường gặp

- Dạng đề lí luận về đặc trưng văn học

- Dạng đề lí luận về nội dung và hình thức của văn bản văn học

- Dạng đề lí luận về hình tượng văn học

- Dạng đề lí luận về phong cách tác giả

- Dạng đề lí luận về mối quan hệ giữa nhà văn, cuộc sống và tác phẩm

- Dạng đề lí luận về nhân vật trong văn học

- Dạng đề lí luận về thơ và đặc trưng của thơ

- Dạng đề lí luận về tác phẩm văn xuôi

Trang 10

- Dạng đề lí luận về tiếp nhận văn học và giá trị văn học.

III HƯỚNG GIẢI QUYẾT CÁC DẠNG ĐỀ LÍ LUẬN VĂN HỌC

1 Đối với dạng đề lí luận về đặc trưng văn học

1.1 Lí luận về đặc trưng văn học

* Văn học là gì?

Văn học là bộ môn nghệ thuật lấy con người làm đối tượng nhận thức trungtâm, lấy hình tượng làm phương thức biểu đạt nội dung, lấy ngôn từ làm chất liệuxây dựng hình tượng

Văn học tuân theo quy luật của cái đẹp nhằm thỏa mãn nhu cầu về tình cảm

vô cùng phong phú của con người

Đôi khi văn học không trực tiếp miêu tả con người nhưng con người vẫn làtrung tâm mà văn học hướng tới Văn học không chỉ phản ánh đời sống con người

mà còn nói lên những mơ ước, khát vọng, những tâm tư tình cảm của con người,trong chiều sâu tâm hồn với tất cả sự đa dạng và phong phú của nó

* Đặc trưng của văn học:

- Văn học là một loại hình nghệ thuật lấy ngôn ngữ làm phương tiện diễn

đạt Bởi vậy người ta còn gọi văn học là nghệ thuật của ngôn từ (khác với cácngành nghệ thuật khác: hội hoạ lấy mảng màu, bố cục; âm nhạc lấy âm thanh; điêukhắc cần hình khối, đường nét …làm chất liệu)

- Văn học là hình thái ý thức phản ánh tồn tại xã hội, lấy đối tượng là toàn

bộ hiện thực khách quan trong mối quan hệ muôn màu, muôn vẻ với cuộc sốngtinh thần cũng như vật chất của con người Dù tác phẩm có viết về con ong, cáikiến hay con dế mèn, về cây tùng, cây bách hay cây xấu hổ…thì đấy cũng chỉ làcách nói về con người, cho con người Trên ý nghĩa đó, M.Gorki cho rằng: “Vănhọc là nhân học” và nhà văn lớn là những bác học về con người, những kỹ sư tâmhồn

- Văn học là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Bởi vậy nhìn vàotác phẩm ta không chỉ thấy cái thế giới khách quan được phản ánh mà còn thấy thếgiới chủ quan của chủ thể Nội dung tác phẩm do đó vừa chứa đựng hiện thựckhách quan được phản ánh vừa chứa đựng tư tưởng, tình cảm, những suy tư về đờisống xã hội của người sáng tác

- Văn học nhận thức thế giới không giống các môn khoa học khác Các nhàkhoa học nhận thức thế giới chủ yếu bằng nhận thức lý tính: quan sát, thực nghiệm,phán đoán, suy luận…và thể hiện bằng công thức, định luật, định lý, tiên đề, môhình, cấu trúc… Nhà văn khám phá thế giới chủ yếu bằng toàn bộ tâm hồn, tình

Trang 11

cảm, cảm xúc, đương nhiên chịu sự chỉ đạo của lý trí Cách nhận thức thế giới theophương thức ấy gọi là tư duy của văn học là hình tượng và điển hình.

1.2 Hướng giải quyết

Bước 1: Giải thích, nêu ý nghĩa của vấn đề lí luận trong đề bài

- Cắt nghĩa, giảng giải những từ ngữ, hình ảnh khó hiểu, thông qua các phép

tu từ, lối nói ví von giàu ẩn ý của của vấn đề lí luận

- Giải thích ý nghĩa của từng vế, từng phần của của vấn đề lí luận

- Nêu tổng hợp nội dung, ý nghĩa chung

Bước 2: Lí giải vấn đề

- Nêu ý kiến đánh giá của người viết về vấn đề lí luận (thường là đồng tìnhvới vấn đề), khẳng định tính đúng đắn của vấn đề lí luận (nếu đề có hai nhận địnhthì nêu ý kiến đối với từng nhận định rồi đánh giá chung về hai nhận định)

- Sử dụng các kiến thức lí luận về tác phẩm văn học, đặc trưng của tác phẩmvăn học đã được trang bị để lí giải vấn đề nghị luận, chủ yếu xoay quanh cácphương diện:

+ Tác phẩm văn học là gì?

+ Các đặc trưng của tác phẩm văn học

Bước 3: Phân tích, chứng minh cho vấn đề của đề bài

- Lấy dẫn chứng từ tác phẩm, hoặc nhóm tác phẩm được nêu trong đề bài đểchứng minh cho vấn đề hoặc từng khía cạnh của vấn đề

- Lấy dẫn chứng từ tác phẩm đã học, đã đọc để chứng minh cho vấn đề hoặctừng khía cạnh của vấn đề

- Chú ý đưa thêm những tác phẩm, hoặc một nét của tác phẩm bên ngoàikhác để đối chiếu so sánh làm phong phú và thuyết phục thêm cho vấn đề

Bước 4: Bình luận, đánh giá ý nghĩa của vấn đề

- Khẳng định lại tính đúng đắn, sâu sắc của nhận định

- Nếu là hai nhận định thì khẳng định tính đúng đắn của từng nhận định, mốiquan hệ giữa hai nhận định, thường là sự kết hợp, bổ sung cho nhau

- Nhấn mạnh tính minh họa, sức thuyết phục của dẫn chứng vừa phân tích ởtrên đối với vấn đề của đề bài

Bước 5: Liên hệ, mở rộng vấn đề, bổ sung, nêu phản đề

- Khẳng định ý nghĩa quan trọng của vấn đề đối với người cầm bút

- Vai trò quan trọng của vấn đề trong việc định hướng đối với quá trình tiếpnhận của độc giả

Trang 12

- Có thể bổ sung thêm những khía cạnh chưa thỏa đáng, hoặc phản bácnhững chỗ chưa đúng (nếu có)

1.3 Đề minh họa

“Cái đẹp mà văn học đem lại không phải là cái gì khác hơn là cái đẹp của sựthật đời sống được khám phá một cách nghệ thuật.” (Dẫn theo “Lí luận văn học”,

Hà Minh Đức chủ biên, NXB Giáo dục, trang 57)

Anh, chị hiểu nhận định trên như thế nào? Hãy làm sáng tỏ vấn đề bằng một

- “Cái đẹp của sự thật cuộc sống”: cái đẹp bắt nguồn từ hiện thực; là vẻ đẹpcủa thiên nhiên, cuộc sống, con người được kết tinh, chắt lọc từ hiện thực

- “Cái đẹp được khám phá một cách nghệ thuật”: cái đẹp trong cuộc sốngđược nhà văn khám phá và cảm nhận ở chiều sâu tư tưởng, tình cảm để rồi khắchọa qua sự tìm tòi, sáng tạo mới mẻ, độc đáo; tạo nên sự hài hòa giữa nội dung tưtưởng và hình thức nghệ thuật; đem lại những giá trị thẩm mĩ cao đẹp

- Nêu ý nghĩa khái quát: Khẳng định cái đẹp của sáng tạo nghệ thuật trong

mối quan hệ với hiện thực cuộc sống và tài năng của nhà văn đối với việc khámphá sáng tạo cái đẹp

Bước 2: Lí giải vấn đề

- Ý kiến trên đề cập đến đặc trưng của văn chương, nghệ thuật: lấy cái đẹpcủa hiện thực làm chất liệu, đề tài, cảm hứng sáng tác Mọi sáng tạo nghệ thuật đềubắt nguồn từ đời sống

- Tác phẩm văn học chỉ có thể làm rung động trái tim người đọc khi chứađựng giá trị thẩm mỹ: khả năng văn học phát hiện và miêu tả những vẻ đẹp củacuộc sống một cách sinh động, giúp con người cảm nhận và biết rung động mộtcách tinh tế, sâu sắc trước vẻ đẹp đó

- Giá trị thẩm mĩ của văn học được thể hiện ở nội dung: mang lại cho ngườiđọc vẻ đẹp muôn hình muôn vẻ của cuộc đời, khám phá vẻ đẹp sâu xa trong nộitâm con người

- Cái đẹp trong nghệ thuật còn thể hiện ở hình thức, được biểu đạt qua hìnhtượng nghệ thuật riêng biệt độc đáo, không lặp lại, sự sáng tạo các yếu tố nghệthuật phong phú

Trang 13

- Nêu ý kiến chung: Nhận định đúng đắn, sâu sắc, khẳng định tiêu chí để

đánh giá một tác phẩm văn học chân chính Đồng thời, nhận định cũng đặt ra yêucầu đối với người sáng tác: phải phản ánh chân thật cái đẹp của cuộc sống nhưng

đó không phải là cái đẹp thuần túy mà là cái đẹp chân - thiện - mĩ

Bước 3: Phân tích, chứng minh cho vấn đề

- Cái đẹp mà văn học đem lại không phải cái gì khác hơn là cái đẹp của sựthật đời sống:

+ Hiện thực đời sống được miêu tả tinh tế, gợi cảm (Có thể phân tích: bứctranh mùa xuân tươi đẹp trong “Vội vàng”; cảnh sông Hồng mênh mang sóngnước trong “Tràng giang”; cảnh Vĩ Dạ thơ mộng hữu tình trong “Đây thôn VĩDạ” )

+ Bộc lộ chân thực tư tưởng, nhận thức sâu sắc của nhà thơ về cuộc sống và

con người (Có thể phân tích: quan niệm về hạnh phúc, thời gian, quan điểm sống

vội vàng trong thơ Xuân Diệu; )

+ Thể hiện những tình cảm cao quý, sâu sắc của tác giả (như: tình yêu nhiênnhiên, yêu quê hương đất nước, tình yêu cuộc đời và con người trong các bàithơ)

+ Từ đó cho thấy rõ nhận thức của nhà thơ về vai trò của cá nhân trong sángtạo nghệ thuật

- Cái đẹp của sự thật đời sống được khám phá một cách nghệ thuật qua

sự sáng tạo phong phú của mỗi nhà thơ:

+ Đề tài, thể thơ…

+ Cách diễn đạt, dùng từ, hình ảnh mới mẻ, sáng tạo, độc đáo, mới lạ…+ Lời thơ giàu tính nhạc, cách ngắt nhịp linh hoạt…

Bước 4: Bình luận, đánh giá ý nghĩa của vấn đề:

- Nhận định của Hà Minh Đức khẳng định đặc trưng của văn học, đề cao vẻđẹp của nghệ thuật gắn liền với hiện thực cuộc sống và vai trò của sự sáng tạo đốivới tác phẩm văn học

- Qua các tác phẩm trong phong trào Thơ mới, chúng ta thấy được tính đúngđắn và sâu sắc của nhận định

Trang 14

2 Đối với dạng đề lí luận về nội dung và hình thức của tác phẩm văn học

2.1 Lí luận về nội dung và hình thức của tác phẩm văn học

* Tác phẩm văn học

- Khái niệm:

+ Tác phẩm văn học là một công trình nghệ thuật ngôn từ do một cá nhânhay một tập thể sáng tạo nên nhằm thể hiện những khái quát về cuộc sống, conngười và biểu hiện tâm tư, tình cảm, thái độ của chủ thể trước thực tại bằng hìnhtượng nghệ thuật

+ Tác phẩm văn học bao giờ cũng là hình ảnh chủ quan của thế giới kháchquan

+ Tác phẩm văn học không phải là một sản phẩm cố định Nó mang tính lịch

sử, đa nghĩa, nó có sự biến đổi về văn bản và có sự khác nhau trong cảm thụ củangười đọc ở từng giai đoạn lịch sử khác nhau

+ Tác phẩm văn học là một hệ thống chỉnh thể Tính chỉnh thể của tác phẩmvăn học được xem xét chủ yếu trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức Nộidung và hình thức của tác phẩm văn học có quan hệ mật thiêt như tâm hồn và thểxác Nội dung bao gồm: đề tài, chủ đề, tư tưởng chủ đạo được biểu hiện qua nhânvật Hình thức bao gồm: ngôn ngữ, kết cấu, thể loại

* Nội dung và hình thức của văn bản văn học

- Nội dung của tác phẩm văn học:

+ Nội dung của tác phẩm bắt nguồn từ mối quan hệ giữa văn học và hiệnthực Đó là mối quan hệ nhất định của con người đối với hiện tượng đời sống đượcphản ánh Đó vừa là cuộc sống được ý thức, vừa là đánh giá - cảm xúc đối vớicuộc sống đó

+ Nội dung của tác phẩm văn học là một hiện tượng của đời sống được khaithác bằng nghệ thuật, được chiếu sáng bởi lý tưởng của tác giả, được xuyên suốtbằng vòng tư tưởng của tác giả (Gulaiép)

- Các khái niệm thuộc về nội dung:

+ Đề tài: Là phạm vi cuộc sống được nhà văn lựa chọn, khái quát, bình giá

và thể hiện trong văn bản Ví dụ: “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố viết về đề tài ngườinông dân

+ Chủ đề: Là nội dung cuộc sống được phản ánh trong tác phẩm Ví dụ: “Tắt

đèn” của Ngô Tất Tố có chủ đề: Miêu tả nỗi thống khổ của người nông dân dướichế độ siêu cao thuế nặng của bọn thực dân và phong kiến địa chủ Đồng thời miêu

tả mâu thuẫn giữa nông dân với bọn cường hào, quan lại Chủ đề không lệ thuộcvào độ dài ngắn của văn bản và mỗi văn bản có thể có nhiều chủ đề

Trang 15

+ Tư tưởng chủ đề: Là thái độ, tư tưởng, tình cảm của nhà văn đối với cuộcsống, con người được thể hiện trong tác phẩm Ví dụ: “Tắt đèn” thể hiện sự cảmthông, chia sẻ sâu sắc và gắn bó máu thịt với người nông dân của Ngô Tất Tố.Đồng thời tác phẩm thể hiện thái độ của nhà văn với bọn quan lại, địa chủ.

+ Cảm hứng nghệ thuật: Là tình cảm chủ yếu của văn bản Đó là nhữngtrạng thái tâm hồn, cảm xúc được thể hiện đậm đà, nhuần nhuyễn trong văn bản

Ví dụ: “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố có cảm hứng yêu thương, căm giận

* Hình thức tác phẩm văn học

- Hình thức là sự biểu hiện của nội dung, là cách thể hiện nội dung

- Hình thức được xây dựng dựa trên chất liệu là ngôn ngữ đời sống kết hợpvới sự sáng tạo độc đáo của nhà văn

- Hình thức của tác phẩm văn học được xây dựng bằng sự tổng hợp sinhđộng của một hệ thống những phương tiện thể hiện nhằm diễn đạt cả về bên ngoàilẫn tổ chức bên trong của nội dung tác phẩm trong một quan hệ chỉnh thể thốngnhất

- Các khái niệm về hình thức của tác phẩm văn học:

+ Ngôn từ: Là yếu tố thứ nhất của văn bản văn học Nhờ ngôn từ tạo nên chitiết, hình ảnh, nhân vật trong văn bản Ngôn từ hiện diện trong câu, hình ảnh, giọngđiệu và mang tính cá thể Có ngôn từ tài hoa của Nguyễn Tuân; trong sáng, tinh tếcủa Thạch Lam; chân quê của Nguyễn Bính…

+ Kết cấu: Là sắp xếp, tổ chức các thành tố của văn bản thành một đơn vịthống nhất, hoàn chỉnh, có ý nghĩa Bất kể văn bản văn học nào cũng đều phải cómột kết cấu nhất định Kết cấu phải phù hợp với nội dung Có kết cấu hoành trángvới nội dung, có kết cấu đầy bất ngờ của truyện cười, có kết cấu mở theo dòng suynghĩ của tùy bút, tạp văn

+ Thể loại: Là quy tắc tổ chức hình thức văn bản sao cho phù hợp với nộidung văn bản Ví dụ: diễn tả cảm xúc có thể loại thơ; kể diễn biến, mối quan hệcủa cuộc sống, con người có thể loại truyện; miêu tả xung đột gay gắt có thể loạikịch; thể hiện suy nghĩ trước cuộc sống, con người có thể loại kí…

* Ý nghĩa quan trọng của nội dung và hình thức văn bản văn học

- Văn bản văn học cần có sự thống nhất cao giữa nội dung và hình thức, nộidung tư tưởng cao đẹp và hình thức nghệ thuật hoàn mĩ Đây là ý nghĩa vô cùngquan trọng và cũng là tiêu chuẩn để đánh giá một tác phẩm

- Trong quá trình phân tích, ta không chỉ chú trọng nội dung mà bỏ rơi hìnhthức Phân tích bao giờ cũng phải kết hợp giữa nội dung và hình thức

- Trong đời sống văn chương có những văn bản đạt nội dung coi nhẹ hìnhthức và ngược lại Chúng ta cần biết điều này khi tìm hiểu và phân tích văn bản

Trang 16

* Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức tác phẩm văn học.

Nội dung và hình thức vốn là một phạm trù triết học có liên quan đến mọihiện tượng trong đời sống Hình thức tất yếuphải là hình thức của một nội dungnhất định và nội dung bao giờ cũng là nội dung được thể hiện qua một hình thức.Không thể có cái này mà không có cái kia hoặc ngược lại Tác phẩm nghệ thuật làmột hiện tượng xã hội, cho nên trong những tác phẩm nghệ thuật có giá trị, nộidung và hình thức luôn luôn thống nhất khắng khít với nhau

Nói về một tác phẩm có giá trị, Biêlinxki cho rằng: Trong tác phẩmnghệ thuật, tư tưởng và hình thức phải hòa hợp với nhau một cách hữu cơ như tâmhồn và thể xác, nếu hủy diệt hình thức thì cũng có nghĩa là hủy diệt tư tưởng vàngược lại cũng vậy Ở một chỗ khác, ông viết: Khi hình thức là biểu hiện của nộidung thì nó gắn chặt với nội dung tới mức là nếu tách nó ra khỏi nội dung, cónghĩa là hủy diệt bản thân nội dung và ngược lại, tách nội dung khỏi hình thức, cónghĩa là tiêu diệt hình thức

Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức được biểu hiên ở hai mặt: nộidung quyết định hình thức và hình thức phù hợp nội dung

Trong tác phẩm văn học, nội dung và hình thức bao giờ cũng thống nhất hữu

cơ, biện chứng với nhau Nói như Bi-ê-lin-xki: “Nội dung và hình thức gắn bó nhưtâm hồn với thể xác” Sự gắn bó này là kết quả sáng tạo chứa đựng tài năng và tâmhuyết của nhà văn Và những tác phẩm văn học có giá trị lớn thì càng chứng tỏ sựthống nhất cao độ giữa nội dung và hình thức Nhà văn Nga, Lê-ô-nôp khẳng định:

“Tác phẩm nghệ thuật đích thực bao giờ cũng là một phát minh về hình thức và làmột khám phá về nội dung”

Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức thể hiện ở mọi phương diện củatác phẩm văn học: ngữ âm, từ vựng, cú pháp, nhân vật, kết cấu, thể loại, (số từtrong văn Nam Cao, từ chỉ cảm giác trong văn Thạch Lam)

Trong quan hệ nội dung và hình thức ở tác phẩm văn học thì nội dung baogiờ cũng quyết định hình thức, quyết định sự lựa chọn phương tiện, phương thứcsáng tạo tác phẩm Tất cả những yếu tố hình thức như ngôn ngữ kết cấu, thể loại, đều nhằm phục vụ tốt nhất cho chức năng bộc lộ sinh động và sâu sắc của nội dungtác phẩm

Tuy nhiên, hình thức cũng có tính độc lập nhất định Nó tác động trở lại vớinội dung Nó đòi hỏi nhà văn phải có sự tìm tòi, trăn trở để sáng tạo nên những gi

có giá trị nghệ thuật cao nhất Và một khi tìm được phương tiện và phương thứcphù hợp nhất thì những phương tiện, phương thức này phát huy tối đa giá trị củachúng và mang lại giá trị vô giá cho tác phẩm

Như vậy, một tác phẩm văn học có đứng vững được trong lòng người haykhông chính là nhờ tài năng và phẩm chất của người nghệ sĩ Phải qua bàn taynhào nặn tài hoa của nhà văn, mỗi tác phẩm mới thực sự là một công trình sáng tạo

Trang 17

nghệ thuật Sáng tạo nghệ thuật là một thứ sáng tạo tinh thần Nó không sản xuấttheo dây chuyền công nghệ mà phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của người nghệ sĩ.Người nghệ sĩ là người quyết định sự ra đời của tác phẩm Và tác phẩm văn học làmột công trình sáng tạo nghệ thuật chỉ khi lao độn của nghệ sĩ đúng là lao độngsáng tạo Nhà văn có vai trò quan trọng trong quy trình sáng tạo Mỗi nhà văn làmột thế giới khác nhau, tạo nên sự phong phú cho nền văn học, cho sự đa dạng củacác cá tính nghệ thuật.

Quá trình lao động nghệ thuật của nhà văn là quá trình công phu bởi nó đòihỏi nhiều trí lực, tâm huyết của người nghệ sĩ Đó là công việc không chỉ đổ mồhôi mà thậm chí còn đổ cả máu và nước mắt Có người nghệ sĩ cả đời chung đúc đểviết một tác phẩm nhưng cũng có người chỉ trong một khoảnh khắc một tác phẩm

ra đời

Sự sáng tạo trong văn chương không cho phép người nghê sĩ chân chính

dẫm lên đường mòn hay đi theo con đường của người khác “Văn chương không

cần những người thợ khéo tay, làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho Văn chươngchỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa aikhơi, và sáng tạo những gì chưa có" (Nam Cao) “Văn học nằm ngoài những địnhluật của sự băng hoại Chỉ mình nó không thừa nhận cái chết” (Sê đrin) Tác phẩmvăn học đã ghi nhận những sáng tạo của người nghệ sĩ và khẳng định nó bằngnhững giá trị bất tử của mình

2.2 Hướng giải quyết

Bước 1: Giải thích, nêu ý nghĩa của vấn đề lí luận trong đề bài

- Cắt nghĩa, giảng giải những từ ngữ, hình ảnh khó hiểu, thông qua các phép

tu từ, lối nói ví von giàu ẩn ý của nhận định hoặc các nhận định, của bài thơ, câuchuyện

- Giải thích nghĩa của từng vế, từng phần của lời nhận định hoặc các nhậnđịnh

- Nêu tổng hợp nội dung, ý nghĩa chung

Bước 2: Lí giải vấn đề

- Nêu ý kiến đánh giá của người viết về vấn đề nghị luận (thường là đồngtình với vấn đề), khẳng định tính đúng đắn của vấn đề nghị luận (nếu đề có hainhận định thì nêu ý kiến đối với từng nhận định rồi đánh giá chung về hai nhậnđịnh)

- Sử dụng các kiến thức lí luận về tác phẩm văn học, nội dung và hình thứctác phẩm văn học đã được trang bị để lí giải vấn đề nghị luận, chủ yếu xoay quanhcác phương diện:

+ Tác phẩm văn học

+ Nội dung của tác phẩm văn học và các khái niệm liên quan

Trang 18

+ Hình thức của tác phẩm văn học và các khái niệm liên quan

+ Ý nghĩa quan trọng của nội dung và hình thức tác phẩm văn học

+ Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức tác phẩm văn học…

Bước 3: Phân tích, chứng minh cho vấn đề nghị luận trong đề bài

- Lấy dẫn chứng từ tác phẩm, hoặc nhóm tác phẩm được nêu trong đề bài đểchứng minh cho vấn đề hoặc từng khía cạnh của vấn đề

- Lấy dẫn chứng từ tác phẩm đã học, đã đọc để chứng minh cho vấn đề hoặctừng khía cạnh của vấn đề

- Chú ý đưa thêm những tác phẩm, hoặc một nét của tác phẩm bên ngoàikhác để đối chiếu so sánh làm phong phú và thuyết phục thêm cho vấn đề

Bước 4: Bình luận, đánh giá ý nghĩa của vấn đề

- Khẳng định lại tính đúng đắn, sâu sắc của nhận định

- Nếu là hai nhận định thì khẳng định tính đúng đắn của từng nhận định, mốiquan hệ giữa hai nhận định, thường là sự kết hợp, bổ sung cho nhau

- Nhấn mạnh tính minh họa, sức thuyết phục của dẫn chứng vừa phân tích ởtrên đối với vấn đề của đề bài

Bước 5: Liên hệ, mở rộng vấn đề, bổ sung, nêu phản đề

- Khẳng định ý nghĩa quan trọng của vấn đề đối với người cầm bút

- Vai trò quan trọng của vấn đề trong việc định hướng đối với quá trình tiếpnhận của độc giả

- Có thể bổ sung thêm những khía cạnh chưa thỏa đáng, hoặc phản bácnhững chỗ chưa đúng (nếu có)

2.3 Đề minh họa

Nhà văn Nguyễn Khải từng phát biểu: “Một tác phẩm văn học hay, theo tôiquan niệm, lõi phải dày, vỏ phải mỏng; mọi vấn đề đặt ra trong đó phải thẳng căng,những tình cảm phải được đẩy đến mức tột cùng”.(“Các nhà văn nói về

Bước 1: Giải thích, nêu ý nghĩa của vấn đề

- “Tác phẩm văn học”: Chỉ chung tất cả các thể loại văn học, tuy nhiên trong

nhận định này, có lẽ nhà văn Nguyễn Khải thiên về văn xuôi nhiều hơn mà xácđáng nhất ở đây chính là thể loại truyện ngắn

Trang 19

- “Lõi”: chỉ nội dung, ý nghĩa bên trong của tác phẩm “Lõi dày” nghĩa là

tác phẩm phải chứa đựng những ý nghĩa thiết thực, sâu sắc

- “Vỏ”: chỉ hình thức bên ngoài “Vỏ mỏng” nghĩa là tác phẩm nên có dung

lượng gọn nhẹ, không nên phức tạp, cồng kềnh

- Vấn đề tác phẩm đặt ra phải “thẳng căng”: lập trường tư tưởng của ngườiviết phải rõ ràng, minh bạch

- “Tình cảm phải đẩy đến mức tột cùng”: tình cảm phải chân thành, mãnhliệt

- Tóm lại, Nguyễn Khải đã đưa ra quan niệm về một tác phẩm văn học haytrên cả hai bình diện nội dung và hình thức, đó là phải đạt đến độ hàm súc; tưtưởng nhà văn phải được bày tỏ công khai, rõ ràng và phải chứa đựng tình cảm,cảm xúc mãnh liệt

Bước 2: Lí giải vấn đề

- Khẳng định ý kiến của Nguyễn Khải là đúng đắn vì nó nói lên được đặctrưng của tác phẩm nghệ thuật và bản chất của sự sáng tạo nghệ thuật:

- Vì sao tác phẩm hay “lõi phải dày”, “vỏ phải mỏng”? (đảm bảo tính hàm

súc) Một tác phẩm cô đọng, hàm súc là tác phẩm chứa đựng những giá trị lớn về

nội dung, mang đến những ý nghĩa sâu sắc, khơi gợi nhiều suy tư, trăn trở nơingười đọc về cuộc đời, về cõi nhân sinh nhưng lại được biểu hiện trong một dunglượng ngôn ngữ ngắn gọn, vừa đủ, không rườm rà, tràng giang đại hải

- Vì sao “mọi vấn đề đặt ra trong đó phải thẳng căng”? (Tư tưởng của người

viết phải được bày tỏ công khai, rõ ràng, minh bạch) Một tác phẩm hay trước hết

phải có tư tưởng Cũng chính nhà văn Nguyễn Khải đã từng nói: Giá trị của một

tác phẩm nghệ thuật trước hết là ở giá trị tư tưởng của nó Một tác phẩm văn học

có giá trị trước hết nó phải đề xuất được những vấn đề mới mẻ, có ý nghĩa nhânsinh Tư tưởng đó phải được bày tỏ một cách công khai, minh bạch, rõ ràng, khôngđược trung lập, mập mờ, giấu diếm

- Vì sao “những tình cảm phải đẩy đến mức tột cùng”? (yêu cầu về sự mãnh

liệt của cảm xúc) Tác phẩm văn học hay phải được viết ra từ trái tim sôi sục của

người nghệ sĩ, đó là những tình cảm, cảm xúc mãnh liệt, chân thành Tình cảm đẩylên đến cao trào chính là lúc tài năng của nhà văn được tỏa sáng Mọi sự hờ hững,hời hợt sẽ không bao giờ khơi gợi được những giá trị cho văn chương

Bước 3: Phân tích, chứng minh vấn đề

Học sinh chọn tác phẩm hoặc đoạn trích bất kì, tuy nhiên phải làm rõ đượcvấn đề lí luận trên các phương diện:

+ Tính cô đọng, hàm súc được thể hiện trong tác phẩm như thế nào? (Dunglượng bao nhiêu trang? Những vấn đề được đặt ra trong tác phẩm là gì?)

Trang 20

+ Tư tưởng tác giả gửi gắm trong tác phẩm là gì?

+ Thái độ, tình cảm tác giả bộc lộ trong tác phẩm ra sao?

+ Để đạt đến thành công đó, tác giả đã sử dụng những thủ pháp nghệ thuậtđặc sắc nào?

Bước 4: Bình luận, đánh giá ý nghĩa vấn đề

- Phát biểu của nhà văn Nguyễn Khải khẳng định sức sống của tác phẩm vănhọc thông qua sự kết hợp mạnh mẽ giữa nội dung và hình thức của nó

- Những tác phẩm văn học trong chương trình Ngữ văn 11 đã thể hiện rất rõtính khoa học của lời nhận định trên

để một tác phẩm hài hòa giữa nội dung và hình thức, không có các yếu tố dư thừa,không cần thiết

- Về tiếp nhận: Khi đọc tác phẩm văn học, người đọc không nên lạnh lùng,thờ ơ mà cần thưởng thức bằng cả trái tim và khối óc để cảm nhận được những trăntrở, nỗi niềm mà nhà văn, nhà thơ gửi gắm thông qua tác phẩm, từ đó trở thànhnhững người đồng sáng tạo, đồng thời bồi dưỡng tâm hồn mình, hướng đến giá trịchân - thiện - mĩ

3 Đối với dạng đề lí luận về tác phẩm thơ

3.1 Lí thuyết về thơ và đặc trưng của thơ.

* Quan niệm về thơ

Thơ là gì? Cho đến nay, đã có hàng trăm định nghĩa, quan niệm khác nhau

về thơ, nhưng rất hiếm định nghĩa đủ sức bao quát được tất cả mọi đặc trưng củathể loại này Quan niệm dưới đây của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,Nguyễn Khắc Phi có thể xem là đầy đủ nhất: “Thơ là hình thức sáng tác văn họcphản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằngngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” (Từ điển thuật ngữ vănhọc, NXB Đại học quốc gia, Hà Nội, 1999)

* Đặc trưng của thơ

Để tạo cơ sở khoa học cho việc đọc - hiểu, thẩm bình thơ, chúng tôi xinđược tổng hợp và đúc rút ra một số điểm đặc trưng của thể loại này như sau:

Trang 21

- Thơ là một thể loại văn học thuộc phương thức biểu hiện trữ tình Thơ tácđộng đến người đọc bằng sự nhận thức cuộc sống, những liên tưởng, tưởng tượngphong phú; thơ được phân chia thành nhiều loại hình khác nhau, nhưng dù thuộcloại hình nào thì yếu tố trữ tình vẫn giữ vai trò cốt lõi trong tác phẩm.

- Nhân vật trữ tình (cũng gọi là chủ thể trữ tình, cái tôi trữ tình) là người trựctiếp cảm nhận và bày tỏ niềm rung động trong thơ trước sự kiện Nhân vật trữ tình

là cái tôi thứ hai của nhà thơ, gắn bó máu thịt với tư tưởng, tình cảm của nhà thơ.Tuy vậy, không thể đồng nhất nhân vật trữ tình với tác giả

- Thơ là tiếng nói của tình cảm con người, những rung động của trái timtrước cuộc đời Lê Quý Đôn từng khẳng định: “Thơ phát khởi từ lòng người ta”,hay như nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc sống đã thậtđầy” Nhà thơ Pháp Alfret de Mussé chia sẻ: "Hãy biết rằng chính quả tim ta đangnói và thở than lúc bàn tay đang viết", "nhà thơ không viết một chữ nào nếu cảtoàn thân không rung động" (dẫn theo PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Hương, Tạp chíNghiên cứu văn học số 01/2009) Nhưng tình cảm trong thơ không tự nhiên mà có.Nói về điều này, nhà văn M Gorki cũng cho rằng: “Thơ trước hết phải mang tínhchất tình cảm Tình cảm trong thơ gắn trực tiếp với chủ thể sáng tạo nhưng khôngphải là một yếu tố đơn độc, tự nó nảy sinh và phát triển Thực ra đó chính là quátrình tích tụ những cảm xúc, những suy nghĩ của nhà thơ do cuộc sống tác động vàtạo nên Không có cuộc sống, không có thơ” (theo PGS.TS Nguyễn Thị ThanhHương)

- Thơ tuy biểu hiện những cảm xúc, tâm sự riêng tư, nhưng những tác phẩmthơ chân chính bao giờ cũng mang ý nghĩa khái quát về con người, về cuộc đời, vềnhân loại, đó là cầu nối dẫn đến sự đồng cảm giữa người với người trên khắp thếgian này

- Thơ thường không trực tiếp kể về sự kiện, nhưng bao giờ cũng có ít nhấtmột sự kiện làm nảy sinh rung động thẩm mĩ mãnh liệt trong tâm hồn nhà thơ màvăn bản thơ là sự thể hiện của niềm rung động ấy Một miếng trầu đem mời, mộtcái bánh trôi nước, một tiếng gà gáy canh khuya có thể là những sự kiện gây cảmxúc cho Hồ Xuân Hương; sự kiện Dương Khuê qua đời trong "Khóc Dương Khuê"(Nguyễn Khuyến); cuộc đời tài hoa mệnh bạc của nàng Tiểu Thanh trong "ĐộcTiểu Thanh kí" (Nguyễn Du),…

- Thơ thường có dung lượng câu chữ ngắn hơn các thể loại khác (tự sự,kịch) Hệ quả là nhà thơ biểu hiện cảm xúc của mình một cách tập trung hơn thôngqua hình tượng thơ, đặc biệt thông qua ngôn ngữ nghệ thuật, qua dòng thơ, qua vầnđiệu, tiết tấu Nhiều khi, cảm xúc vượt ra ngoài cái vỏ chật hẹp của ngôn từ, chonên mới có chuyện “ý tại ngôn ngoại” Do đó, thơ có thể tạo điều kiện cho ngườiđọc thực hiện vai trò “đồng sáng tạo” để phát hiện đời sống, khiến người đọc phảisuy nghĩ, trăn trở để tìm kiếm ý đồ nghệ thuật của tác giả cũng như những điểmđặc sắc trong tư duy nghệ thuật của mỗi nhà thơ

Trang 22

- Thơ chú trọng đến cái đẹp, phần thi vị của tâm hồn con người và cuộc sốngkhách quan Vẻ đẹp và tính chất gợi cảm, truyền cảm của thơ có được còn do ngônngữ thơ cô đọng, hàm súc, giàu hình ảnh và nhạc điệu Sự phân dòng, và hiệp vầncủa lời thơ, cách ngắt nhịp, sử dụng thanh điệu…làm tăng sức âm vang và lan tỏa,thấm sâu của ý thơ Bàn về đặc điểm này, nhà thơ Sóng Hồng viết: “Thơ là mộthình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thểhiện sự nồng cháy trong lòng Nhưng thơ là có tình cảm, lí trí kết hợp một cáchnhuần nhuyễn và có nghệ thuật Tình cảm và lí trí ấy được diễn đạt bằng nhữnghình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác thường".

- Về cấu trúc, mỗi bài thơ là một cấu trúc ngôn ngữ đặc biệt Sự sắp xếp cácdòng (câu) thơ, khổ thơ, đoạn thơ làm nên một hình thức có tính tạo hình Đồngthời, sự hiệp vần, xen phối bằng trắc, cách ngắt nhịp vừa thống nhất vừa biến hóatạo nên tính nhạc điệu Hình thức ấy làm nên vẻ đẹp nhịp nhàng, trầm bổng, luyếnláy của văn bản thơ Ngôn ngữ thơ chủ yếu là ngôn ngữ của nhân vật trữ tình, làngôn ngữ hình ảnh, biểu tượng Ý nghĩa mà văn bản thơ muốn biểu đạt thườngkhông được thông báo trực tiếp, đầy đủ qua lời thơ, mà do tứ thơ, giọng điệu, hìnhảnh, biểu tượng thơ gợi lên Do đó ngôn ngữ thơ thiên về khơi gợi, giữa các câuthơ có nhiều khoảng trống, những chỗ không liên tục gợi ra nhiều nghĩa, đòi hỏingười đọc phải chủ động liên tưởng, tưởng tượng, thể nghiệm thì mới hiểu hết sựphong phú của ý thơ bên trong

3.2 Hướng giải quyết

Bước 1: Giải thích, nêu ý nghĩa của vấn đề lí luận trong đề bài

- Cắt nghĩa, giảng giải những từ ngữ, hình ảnh khó hiểu, thông qua các phép

tu từ, lối nói ví von giàu ẩn ý của nhận định hoặc các nhận định, của bài thơ, câuchuyện

- Giải thích nghĩa của từng vế, từng phần của lời nhận định hoặc các nhậnđịnh

- Nêu tổng hợp nội dung, ý nghĩa chung

Bước 2: Lí giải vấn đề

- Nêu ý kiến đánh giá của người viết về vấn đề nghị luận (thường là đồngtình với vấn đề), khẳng định tính đúng đắn của vấn đề nghị luận (nếu đề có hainhận định thì nêu ý kiến đối với từng nhận định rồi đánh giá chung về hai nhậnđịnh)

- Sử dụng các kiến thức lí luận văn học về tác phẩm văn học, nội dung và

hình thức của tác phẩm văn học, thơ và đặc trưng của thơ để lí giải vấn đề, hoặc

các vấn đề nghị luận, trả lời cho câu hỏi “vì sao?”, thường tập trung vào cácphương diện sau:

+ Khái lược về thơ

Trang 23

+ Đặc trưng ngôn ngữ thơ

+ Hình tượng nhân vật trữ tình trong thơ

+ Chi tiết trong thơ

+ Phân loại thơ

+ Yêu cầu về đọc thơ

Bước 3: Phân tích, chứng minh cho vấn đề nghị luận trong đề bài

- Lấy dẫn chứng từ tác phẩm, hoặc nhóm tác phẩm được nêu trong đề bài đểchứng minh cho vấn đề hoặc từng khía cạnh của vấn đề

- Lấy dẫn chứng từ tác phẩm đã học, đã đọc để chứng minh cho vấn đề hoặctừng khía cạnh của vấn đề

- Chú ý đưa thêm những tác phẩm, hoặc một nét của tác phẩm bên ngoàikhác để đối chiếu so sánh làm phong phú và thuyết phục thêm cho vấn đề

Bước 4: Bình luận, đánh giá ý nghĩa của vấn đề

- Khẳng định lại tính đúng đắn, sâu sắc của nhận định

- Nếu là hai nhận định thì khẳng định tính đúng đắn của từng nhận định, mốiquan hệ giữa hai nhận định, thường là sự kết hợp, bổ sung cho nhau

- Nhấn mạnh tính minh họa, sức thuyết phục của dẫn chứng vừa phân tích ởtrên đối với vấn đề của đề bài

Bước 5: Liên hệ, mở rộng vấn đề, bổ sung, nêu phản đề

- Khẳng định ý nghĩa quan trọng của vấn đề đối với người cầm bút

- Vai trò quan trọng của vấn đề trong việc định hướng đối với quá trình tiếpnhận của độc giả

- Có thể bổ sung thêm những khía cạnh chưa thỏa đáng, hoặc phản bácnhững chỗ chưa đúng (nếu có)

3.3 Đề minh họa

“Về thực chất, thơ là tiếng nói của tâm hồn… Lời thơ tuy biểu hiện nhữngcảm xúc, tâm sự riêng tư nhưng lại có ý nghĩa khái quát về con người, về xã hội,nhân loại, có giá trị thẩm mĩ và giá trị nhân văn sâu sắc, đủ làm nền tảng cho sựthông cảm lẫn nhau và phát triển đời sống nội tâm phong phú của con người”

(Ngữ văn 11 Nâng cao, tập hai, NXBGD Việt Nam 2017, trang 18).

Từ cảm nhận bài thơ “Tràng giang” (Huy Cận, Ngữ văn 11, tập hai,NXBGD Việt Nam 2018), anh/chị hãy làm sáng tỏ nhận định trên

Đứng trước dạng đề này, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh thực hiện cácbước như sau:

Trang 24

Bước 1: Giải thích, nêu ý nghĩa của nhận định

- “Thơ là tiếng nói của tâm hồn”: Thơ thể hiện cảm xúc, tình cảm, tiếng nóinội tâm sâu kín

- “Lời thơ tuy biểu hiện những cảm xúc, tâm sự riêng tư nhưng lại có ýnghĩa khái quát về con người, về xã hội, nhân loại, có giá trị thẩm mĩ và giá trịnhân văn sâu sắc”: Thơ là tiếng nói của nội tâm nhà thơ, nhưng qua đó vẫn toát lênnhững vấn đề của xã hội, thời đại, nghĩa là hướng đến những vấn đề chung của conngười, tạo ra những rung động thẩm mĩ tích cực, gợi những tình cảm cao đẹp

- “Nền tảng cho sự thông cảm lẫn nhau và phát triển đời sống nội tâm phong phú của con người”: Thơ ca đem đến sự hiểu biết, cảm thông và chia sẻ giữa nhà

thơ với người đọc, người đọc với người đọc; tạo nên sự phong phú trong thế giớitình cảm, cảm xúc của con người

- Tóm lại, nhận định đề cập đến đặc trưng cơ bản của thơ Đồng thời cũngkhẳng định ý nghĩa sâu xa của tiếng nói trữ tình trong thơ đối với con người vàthời đại

Bước 2: Lí giải vấn đề

- Thơ là phương thức trữ tình, là sự thổ lộ tình cảm mãnh liệt đã được ýthức, nơi nhà thơ chia sẻ, trút gửi tâm tư sâu kín, những giày vò và chấn động bêntrong Đối với nhà thơ, hoạt động sáng tạo thơ ca thực chất là sự giải phóng tâmhồn Mặt khác, khi bộc bạch tâm tình của mình vào thơ, nhà thơ mong muốn cóđược sự đồng điệu, tri âm, thấu hiểu của người đọc để từ một người lan tỏa đếnmuôn người Như thế, với nhà thơ, làm thơ vừa là thổ lộ, giãi bày tâm tình, vừa làtìm kiếm sự chia sẻ, đồng cảm

- Tình cảm trong thơ vừa mang tính cá thể, vừa có tính điển hình, vừa là nỗilòng riêng, vừa là tiếng lòng chung Bởi thế, khi đến với thơ, lắng nghe tiếng lòngcủa nhà thơ, người đọc tìm được sự chia sẻ, được khơi dậy những rung động, bồiđắp và tinh luyện tình cảm

Bước 3: Cảm nhận bài thơ “Tràng giang” (Huy Cận) để làm sáng tỏ nhậnđịnh

- Vài nét về nhà thơ Huy Cận và bài thơ “Tràng giang”

- Bài thơ “Tràng giang” là tiếng nói của tâm hồn, cảm xúc riêng của HuyCận Toàn bộ bài thơ thấm đẫm nỗi buồn “Tràng giang” là nỗi buồn có sắc tháiriêng, là “cái buồn tỏa ra từ đáy hồn một người cơ hồ không biết tới ngoại cảnh”.Trong sự tương quan đối lập giữa không gian tràng giang bao la rợn ngợp với cáinhỏ bé của cõi nhân sinh, cảm giác cô đơn, lẻ loi của con người trước trời đất càngđược tô đậm

- Tiếng nói trữ tình trong bài thơ “Tràng giang” có ý nghĩa khái quát, có giátrị thẩm mĩ và nhân văn Tình cảm của nhà thơ được gợi ra một cách kín đáo, đó là

Trang 25

nỗi buồn nhân thế, nỗi buồn trước cuộc đời của một con người yêu đời, yêu quêhương đất nước Tất cả hình ảnh hiện lên trong bài thơ, một dòng sông, một conthuyền, những bến bờ, cánh bèo trôi nổi đều góp phần tạo nên vẻ đẹp của bức tranhquê hương.

- Tiếng nói trữ tình của bài thơ “Tràng giang” là nền tảng cho sự cảm thônglẫn nhau, phát triển nội tâm phong phú của con người Huy Cận đã làm rung độngtâm can người đọc bằng bài thơ “Tràng giang”, bởi nó gợi lên những suy nghĩ vềnhân sinh, gợi tình yêu quê hương đất nước trong lòng mỗi người

- Bài thơ “Tràng giang” tiêu biểu cho đặc điểm phong cách thơ Huy Cận,với giọng thơ nhẹ nhàng mà sâu lắng, bút pháp cổ điển và hiện đại Điều đó đã gópphần đưa Huy cận trở thành một trong những đỉnh cao của Thơ mới

Bước 4: Bình luận, đánh giá

- Nhận định trên hoàn toàn đúng đắn về bản chất, chức năng cũng như tiếng

nói trữ tình trong thơ Thơ ca chân chính muôn đời luôn là điểm tựa tinh thần củacon người Chừng nào con người cần đến sự đồng cảm, sẻ chia, khi ấy, thơ ca sẽcòn ở lại

- “Tràng giang” thi phẩm đẹp trong kho tàng thơ ca Việt Namvới những cảmxúc, tâm sự riêng tư nhưng lại có ý nghĩa khái quát về con người, về xã hội, nhânloại, có giá trị thẩm mĩ và giá trị nhân văn sâu sắc, làm nền tảng cho những cảmthông sâu sắc và làm phong phú tâm hồn con người

Bước 5: Liên hệ, mở rộng

Rút ra bài học cho nhà văn trong quá trình sáng tác và bạn đọc trong quátrình tiếp nhận: Nhận định trên vừa là định hướng vừa là yêu cầu với sáng tác củanhà thơ Đồng thời cũng định hướng về con đường tiếp nhận thơ ca từ đặc trưngthể loại

4 Đối với dạng đề lí luận về tác phẩm văn xuôi

4.1 Lí luận về tác phẩm văn xuôi

- Khái niệm: Tác phẩm văn xuôi là một dạng ngôn ngữ thể hiện một cấu

trúc ngữ pháp và mô phỏng văn nói tự nhiên, không tuân theo các lề luật như thi

ca Mặc dù có nhiều tranh luận xung quanh cấu trúc của văn xuôi, tính đơn giản vàcấu trúc lỏng lẻo của nó đã đưa đến việc con người áp dụng văn xuôi vào phần lớnvăn nói, để trình bày sự kiện cũng như viết về các chủ đề thực tế cũng như hư cấu.Văn xuôi chủ yếu dựa vào năng lực trí tuệ cộng với tình cảm và trí tưởng tượng

- Cấu trúc: Tác phẩm văn xuôi hoàn toàn không có cấu trúc vần mà hầuhết thơ ca đều có Thơ ca bao giờ cũng có nhịp, vần và độ dài quy định Ngược lại,văn xuôi chứa trọn bộ các câu đầy đủ và có ngữ pháp chặt chẽ, tạo ra các đoạn văn

và bỏ qua tính mỹ thuật của thơ ca Một số tác phẩm văn xuôi cũng chứa các đoạnvăn mang tính đối xứng và có chất thơ, và việc kết hợp một cách có chủ ý giữa văn

Trang 26

xuôi và thơ ca được gọi là văn xuôi có vần Vần điệu được coi là mang tính hệthống và công thức, trong khi văn xuôi được coi là mang tính ngôn ngữ nói haygiao tiếp nhiều hơn Về mặt này, Samuel Taylor Coleridge nói đùa rằng những nhàthơ mới vào nghề nên biết những "định nghĩa về văn xuôi và thơ ca Văn xuôi làcác từ được sắp xếp hay nhất Thơ ca là các từ hay nhất được sắp xếp theo cách

hay nhất" Trong tác phẩm “Le Bourgeois gentilhomme” của Molière, Monsieur

Jourdain được yêu cầu viết một cái không phải là văn xuôi mà cũng không phải làthơ ca Một bậc thầy triết học trả lời rằng "không có cách nào khác để thể hiện bảnthân mình với văn xuôi hay thơ ca", với lý do đơn giản rằng "tất cả mọi thứ khôngphải là văn xuôi là thơ ca, và tất cả mọi thứ không phải là thơ ca là văn xuôi"

- Thể loại: Tác phẩm văn xuôi có nhiều thể loại: văn diễn giảng, văn lịch sử,văn nghị luận, văn tự sự Văn xuôi văn học có tiểu thuyết, truyện ngắn, tùy bút,ký Khi các tác phẩm triết học, lịch sử, giáo dục có chứa các giá trị thẩm mỹ nó

sẽ cũng được xem là văn xuôi

- Pauxtopki: "Nếu như thơ có những vần luât chặt chẽ, chính xác thì theo tôihiểu văn xuôi cũng phải có nhịp điệu của nó"

4.2 Hướng giải quyết

Bước 1: Giải thích, nêu ý nghĩa của vấn đề lí luận trong đề bài

- Cắt nghĩa, giảng giải những từ ngữ, hình ảnh khó hiểu, thông qua các phép

tu từ, lối nói ví von giàu ẩn ý của nhận định hoặc các nhận định

- Giải thích ý nghĩa của từng vế, từng phần của lời nhận định hoặc các nhậnđịnh

- Nêu tổng hợp nội dung, ý nghĩa chung của lời nhận định hoặc các nhậnđịnh

Bước 2: Lí giải vấn đề

- Nêu ý kiến đánh giá của người viết về vấn đề nghị luận (thường là đồngtình với vấn đề), khẳng định tính đúng đắn của vấn đề nghị luận (nếu đề có hainhận định thì nêu ý kiến đối với từng nhận định rồi đánh giá chung về hai nhậnđịnh)

- Sử dụng các kiến thức lí luậnvề tác phẩm văn học, đặc trưng văn hoc, nội

dung và hình thức của tác phẩm văn học, tác phẩm văn xuôi để lí giải vấn đề, hoặc

các vấn đề nghị luận, chủ yếu tập trung vào các phương diện sau:

+ Khái niệm về tác phẩm văn xuôi

+ Cấu trúc của tác phẩm văn xuôi

+ Các thể loại của tác phẩm văn xuôi

+ Phương thức biểu đạt chủ yếu của văn xuôi

+ Xu hướng phối hợp, đan xen nhiều thể loại

Trang 27

Bước 3: Phân tích, chứng minh cho vấn đề nghị luận trong đề bài

- Lấy dẫn chứng từ tác phẩm, hoặc nhóm tác phẩm được nêu trong đề bài đểchứng minh cho vấn đề hoặc từng khía cạnh của vấn đề

- Lấy dẫn chứng từ tác phẩm đã học, đã đọc để chứng minh cho vấn đề hoặctừng khía cạnh của vấn đề

- Chú ý đưa thêm những tác phẩm, hoặc một nét của tác phẩm bên ngoàikhác để đối chiếu so sánh làm phong phú và thuyết phục thêm cho vấn đề

Bước 4: Bình luận, đánh giá ý nghĩa của vấn đề

- Khẳng định lại tính đúng đắn, sâu sắc của nhận định

- Nếu là hai nhận định thì khẳng định tính đúng đắn của từng nhận định, mốiquan hệ giữa hai nhận định, thường là sự kết hợp, bổ sung cho nhau

- Nhấn mạnh tính minh họa, sức thuyết phục của dẫn chứng vừa phân tích ởtrên đối với vấn đề của đề bài

Bước 5: Liên hệ, mở rộng vấn đề, bổ sung, nêu phản đề

- Khẳng định ý nghĩa quan trọng của vấn đề đối với người cầm bút

- Vai trò quan trọng của vấn đề trong việc định hướng đối với quá trình tiếpnhận của độc giả

- Có thể bổ sung thêm những khía cạnh chưa thỏa đáng, hoặc phản bácnhững chỗ chưa đúng (nếu có)

* Lưu ý: Đối với các dạng đề lí luận về truyện, tiểu thuyết, truyện vừa,truyện ngắn…ta cũng có thể vận dụng hướng giải quyết trên để thực hiện cho đềbài

4.3 Đề minh họa

Nhà văn Nga K.Pau-tôp-xki cho rằng: “Cuộc sống được miêu tả trong vănxuôi không chứa đựng chất thơ sẽ trở thành thô thiển, thành một thứ chủ nghĩa tựnhiên không cánh, không thúc gọi, không dẫn dắt ta đi đâu cả”

Anh, chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Từ cảm nhận về một vài tác phẩmvăn xuôi yêu thích, anh/chị hãy bình luận ý kiến trên

Đứng trước dạng đề này, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh thực hiện cácbước như sau:

Bước 1: Giải thích, nêu ý nghĩa

- “Chất thơ”: là chất trữ tình thể hiện ở việc bộc lộ tình cảm, cảm xúc bằngngôn ngữ giàu hình ảnh, nhạc điệu và sức biểu cảm

- “Cuộc sống được miêu tả trong văn xuôi không chứa đựng chất thơ sẽ trởthành thô thiển”: là một cuộc sống chân thực đến trần trụi, thô ráp

Trang 28

- “Cuộc sống được miêu tả trong văn xuôi không chứa đựng chất thơ sẽ trởthành một thứ chủ nghĩa tự nhiên không cánh, không thúc gọi, không dẫn dắt ta điđâu cả”: là hiện thực phản ánh không mang tính định hướng, không có khả năngtác động đến tư tưởng, tâm hồn người đọc.

Tóm lại, bằng cách nói phủ định, ý kiến đã khẳng định ý nghĩa của chất thơtrong văn xuôi: chất thơ chính là đôi cánh nâng đỡ để cuộc sống được phản ánhvừa trở nên thi vị, trong sáng, giàu tính thẩm mĩ vừa thúc gọi, dẫn dắt, bồi đắpnhững tư tưởng, tình cảm nhân văn cho tâm hồn bạn đọc

Bước 2: Lí giải vấn đề

- Phương thức biểu đạt chủ yếu của văn xuôi là tự sự, nhà văn thường chú ýđến xây dựng cốt truyện, nhân vật, sự kiện, tình tiết, tình huống Trong khi đóphương thức biểu đạt chủ yếu của thơ là biểu cảm, nhà thơ tập trung bộc lộ tiếngnói tâm hồn mình bằng vần điệu Vậy nên, khi văn xuôi chứa đựng chất thơ sẽ tạonên phong vị ngọt ngào, dễ lan thấm vào tâm hồn người đọc

- Trong thực tế sáng tác, các nhà văn thường có xu hướng phối hợp, đan xennhiều thể loại Đưa chất thơ vượt biên giới thể loại sang văn xuôi chính là sự vậndụng kết hợp linh hoạt, sáng tạo nhiều phương thức biểu đạt của nhà văn

Bước 3: Phân tích, chứng minh

Bài văn được tự do lựa chọn một vài tác phẩm văn xuôi yêu thích để cảmnhận Tuy nhiên đây không phải là cảm nhận toàn bộ tác phẩm mà cần tập trunghướng sự cảm nhận vào hai phương diện:

- Chỉ ra được biểu hiện của chất thơ trong tác phẩm trên cả nội dung và hìnhthức nghệ thuật

- Phân tích được ý nghĩa của chất thơ trong việc phản ánh hiện thực ở tácphẩm văn xuôi trên hai khía cạnh:

+ Thứ nhất, làm cho cuộc sống trong trang văn trở nên thi vị, trong sáng, vútcao

+ Thứ hai, khiến cho hiện thực đó có thể định hướng, dẫn dắt tâm hồn ngườiđọc

Ví dụ: Chất thơ trong đoạn văn ở truyện ngắn “Chữ người tử tù”:

“Thầy thơ lại rút chiếc hèo hoa ở giá gươm, phe phẩy roi, đi xuống phía trại

giam tối om Nơi góc chiếc án thư cũ đã nhạt màu vàng son, một cây đèn đế leo létrọi vào một khuôn mặt nghĩ ngợi Ngục quan băn khoăn ngồi bóp thái dương.Tiếng trống thành phủ gần đấy đã bắt đầu thu không Trên bốn chòi canh, ngục tốtcũng bắt đầu điểm vào cái quạnh quẽ của trời tối mịt, những tiếng kiểng và mõ đềuđặn thưa thớt Lướt qua cái thăm thẳm của nội cỏ đẫm sương, vẳng từ một làng xađưa lại mấy tiếng chó cắn ma Trong khung cửa sổ có nhiều con song kẻ những nétđen thẳng lên nền trời lốm đốm tinh tú, một ngôi sao Hôm nhấp nháy như muốn

Trang 29

trụt xuống phía chân trời không định Tiếng dội chó sủa ma, tiếng trống thành phủ,tiếng kiểng mõ canh nổi lên nhiều nhiều Bấy nhiêu thanh âm phức tạp bay cao lầnlên khỏi mặt đất tối, nâng đỡ lấy một ngôi sao chính vị muốn từ biệt vũ trụ.

Nơi góc án thư vàng đã nhợt, son đã mờ, đĩa dầu sở trên cây đèn nến vợi lầnmực dầu Hai ngọn bấc lép bép nổ, rụng tàn đèn xuống tập giấy bản đóng dấu son

ty Niết Viên quan coi ngục ngấc đầu, lấy que hương khêu thêm một con bấc Bacái tim bấc được chụm nhau lại, cháy bùng to lên, soi tỏ mặt người ngồi đấy

Người ngồi đấy, đầu đã điểm hoa râm, râu đã ngả màu Những đường nhănnheo của một bộ mặt tư lự, bây giờ đã biến mất hẳn Ở đấy, giờ chỉ còn là mặtnước ao xuân, bằng lặng, kín đáo và êm nhẹ

Trong hoàn cảnh đề lao, người ta sống bằng tàn nhẫn, bằng lừa lọc; tínhcách dịu dàng và lòng biết giá người, biết trọng người ngay của viên quan coi ngụcnày là một thanh âm trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều hỗnloạn xô bồ.”

Ví dụ: Chất thơ trong đoạn văn ở truyện ngắn “Hai đứa trẻ”:

“Trời đã bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua giómát Đường phố và các ngơ con dần dần chứa đầy bóng tối Các nhà đã đóng im

ỉm, trừ một vài cửa hàng còn thức, nhưng cửa chỉ để hé ra một khe ánh sáng Trẻcon tụ họp nhau ở thềm hè, tiếng cười nói vui vẻ, khiến An thèm muốn nhập bọnvới chúng để nô đùa, nhưng sợ trái lời mẹ dặn phải coi hàng, nên hai chị em đànhngồi yên trên chỏng, đưa mắt theo dơi những bóng người về muộn, từ từ đi trongđêm

Ṿòm trời hàng ngàn ngôi sao ganh nhau lấp lánh, lẫn với vệt sáng của nhữngcon đom đóm bay là trên mặt đất hay leo vào cành cây An và Liên lặng ngước mắtlên nhìn các vì sao để tìm sông Ngân Hà và con vịt theo sau ông Thần Nông Vũtrụ thăm thẳm bao la đối với tâm hồn hai đứa trẻ như đầy bí mật và xa lạ và làmmỏi trí nghĩ, nên chỉ một lát hai chị em lại chúi nhìn về mặt đất, về quầng sángthân mật chung quanh ngọn đèn lay động trên chỏng hàng của chị Tí Về phíahuyện, một chấm lửa khác nhỏ và vàng lơ lửng đi trong đêm tối, mất đi, rồi lại hiệnra ”

Ví dụ: Chất thơ trong đoạn văn ở truyện ngắn “Chí Phèo”:

“Khi Chí Phèo mở mắt thì trời đã sáng lâu Mặt trời chắc đã cao, và nắngbên ngoài chắc là rực rỡ Cứ nghe chim ríu rít bên ngoài là đủ biết Nhưng trongcái lều ẩm thấp vẫn chỉ hơi tờ mờ Ở đây người ta thấy chiều lúc xế trưa và gặpđêm thì bên ngoài trời vẫn sáng Chưa bao giờ Chí Phèo nhận thấy thế bởi chưabao giờ hết say

Nhưng bây giờ thì hắn tỉnh Hắn bâng khuâng như tỉnh dậy, hắn thấy miệngđắng, lòng mơ hồ buồn Người thì bủn rủn, chân tay không buồn nhấc, hay là đóirượu, hắn hơi rùng mình Ruột gan lại nôn nao lên một tý Hắn sợ rượu cũng như

Trang 30

những người ốm sợ cơm Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cườu nóicủa những người đi chợ Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá.

Những tiếng quen thuộc ấy hôm nào chả có Nhưng hôm nay hắn mới nghethấy Chao ôi là buồn!

- Vải hôm nay bán mấy?

- Kém ba xu dì ạ

- Thế thì còn ăn thua gì!

- Thật thế đấy Nhưng chẳng lẽ rằng lại chơi

Chí Phèo đoán một người đàn bà hỏi một người đàn bà khác đi bán vải ởNam Ðịnh về Hắn nôn nao buồn, là vì mẩu chuyện ấy nhắc cho hắn một cái gì rất

xa xôi Hình như có một thời hắn đã ao ước có một gia đình nho nhỏ Chồng cuốcmướn cày thuê, vợ dệt vải, chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng Khágiả thì mua dăm ba sào ruộng làm.”

Bước 4: Bình luận, đánh giá

Khẳng định câu nói của nhà văn Nga K.Pau-tôp-xki là sự đề cao, đánh giá ýnghĩa của chất thơ trong văn xuôi

- Mở rộng vấn đề: Đưa chất thơ vào trong văn xuôi không có nghĩa là nhàvăn thoát li hiện thực cuộc sống, tô hồng và thi vị hóa cuộc sống

5 Đối với dạng đề lí luận về hình tượng nghệ thuật

5.1 Lí luận về hình tượng nghệ thuật

Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”: hình tượng nghệ thuật là sản phẩm củaphương thức chiếm lĩnh, thể hiện và tái tạo hiện thực theo quy luật Đó là chất liệu

cụ thể mà chúng ta có thể ngắm nghía, thưởng ngoạn, tưởng tượng; qua đó thấyđược tư tưởng, tình cảm của tác giả

Hình tượng nghệ thuật có thể là một đồ vật, một phong cảnh thiên nhiên haymột sự kiện xã hội được cảm nhận Nhưng nói đến hình tượng nghệ thuật, người tathường nghĩ tới hình tượng con người với những chi tiết biểu hiện cảm tính phongphú Đến với thế giới văn học, ta được gặp gỡ rất nhiều hình tượng: hình tượngngười nông dân, hình tượng người phụ nữ, hình tượng người anh hùng… Có khi

đó là hình tượng nghệ thuật cụ thể như hình tượng nhân vật Chí Phèo trong tác

Trang 31

phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao, hình tượng Thúy Kiều trong kiệt tác

“Truyện Kiều” bất hủ…

Hình tượng nghệ thuật chính là yếu tố kết tinh giá trị tư tưởng, tình cảm củatác giả, là nhân vật trung tâm của tác phẩm văn học với những đặc điểm cơ bảnsau:

Trước hết, hình tượng nghệ thuật là một khách thể tinh thần đặc thù bởi nótồn tại độc lập với ý thức chủ quan của nhà văn, độc lập với ý muốn của người đọc;nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người Hình tượng nghệ thuật gợi ra mộtthực thể toàn vẹn, sống động như thật, có diện mạo riêng, cá biệt, đặc thù, khônggiống nhau Nó còn là một loại kí hiệu đặc biệt để nhà văn thể hiện quan điểm, gửigắm tư tưởng của mình vào đời sống Hơn thế, hình tượng nghệ thuật là một quan

hệ xã hội thẩm mĩ với tính tạo hình và biểu hiện, tính nghệ thuật

Xuất hiện như một yếu tố trung tâm của tác phẩm văn học, hình tượng nghệthuật với tư cách là phương thức tồn tại của nghệ thuật sẽ xác định đặc trưng trọnvẹn của nghệ thuật Chính là qua những hình tượng nghệ thuật sống động, các mặtđối tượng và nôi dung chính của tác phẩm văn học sẽ được bộc lộ một cách trọnvẹn trong sự kết hợp nhuần nhuyễn với nhau Bởi lẽ, hình tượng nghệ thuật chính

là phương tiện thể hiện tập trung ý đồ tác giả, các giá trị nhân học và thẩm mĩ củanghệ thuật Thiếu hình tượng, nghệ thuật không thể tồn tại được

Hình tượng nghệ thuật tái hiện đời sống, nhưng không phải sao chép ynguyên những hiện tượng có thật, mà là tái hiện có chọn lọc, sáng tạo thông qua trítưởng tượng và tài năng của nghệ sĩ, sao cho các hình tượng truyền lại được ấntượng sâu sắc, từng làm cho nghệ sĩ day dứt trăn trở cho người khác

Vì những lẽ trên, cấu trúc của hình tượng nghệ thuật bao giờ cũng là sựthống nhất cao độ giữa các mặt đối lập: chủ quan và khách quan, lí trí và tình cảm,

cá biệt và khái quát, hiện thực và lí tưởng, tạo hình và biểu hiện, hữu hình và vôhình

Mỗi một loại hình nghệ thuật sử dụng một loại chất liệu riêng biệt đi xâydựng hình tượng Chất liệu của hội họa là đường nét, màu sắc, của kiến trúc làmảng khối, của âm nhạc là giai điệu, âm thanh Văn học lấy ngôn từ làm chất liệu.Hình tượng nghệ thuật là hình tượng ngôn từ

Hình tượng nghệ thuật là phương thức giao tiếp đặc biệt giữa nhà văn và độcgiả Hình tượng là thế giới sống do nhà văn tạo ra bằng sức gợi ngôn từ Gọi làhình tượng vì một mặt, nó cũng sống động y và hấp dẫn như thật, nhưng mặc khác

nó chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng con người, nó không phải là sự thật trăm phầntrăm Nhưng, thật sai lầm nếu chỉ quan niệm hình tượng nghệ thuật chỉ là phảnquang đơn thuần của đời sống Hình tượng, một mặt nó vừa mang tính khách quan,mặt khác vừa mang tính chủ quan của nghệ sĩ Hình tượng không chỉ là thế giớiđời sống, mà còn là “thế giới biết nói” Thông qua các chi tiết, nhân vật trong tác

Trang 32

phẩm, nhà văn muốn đối thoại với độc giả về quan niệm nhân sinh nào đó Hình

tượng là kết tinh của những ấn tượng sâu sắc về cuộc đời làm nhà văn day dứt.Anh viết ra để nói to, để chia sẻ với mọi người Hình tượng, như thế nó gắn liền

với quan điểm, lí tưởng và khát vọng của nhà văn Cuộc sống và con người được

miêu tả trong văn học, vừa giống cái đã có và hiện có, vừa là cái có thể và cần có

5.2 Hướng giải quyết

Bước 1: Giải thích, nêu ý nghĩa của vấn đề lí luận trong đề bài

- Cắt nghĩa, giảng giải những từ ngữ, hình ảnh khó hiểu, thông qua các phép

tu từ, lối nói ví von giàu ẩn ý của nhận định hoặc các nhận định

- Giải thích nghĩa của từng vế, từng phần của lời nhận định hoặc các nhậnđịnh

- Nêu tổng hợp nội dung, ý nghĩa của lời nhận định hoặc các nhận định.Bước 2: Lí giải vấn đề

- Nêu ý kiến đánh giá của người viết về vấn đề nghị luận (thường là đồngtình với vấn đề), khẳng định tính đúng đắn của vấn đề nghị luận (nếu đề có hainhận định thì nêu ý kiến đối với từng nhận định rồi đánh giá chung về hai nhậnđịnh)

- Sử dụng các kiến thức lí luận văn học về tác phẩm văn học, đặc trưng vănhọc, nội dung và hình thức của tác phẩm văn học, hình tượng văn học để lí giải vấn

đề, hoặc các vấn đề nghị luận, chủ yếu tập trung ở các khía cạnh:

+ Tác phẩm văn học là gì?

+ Các đặc trưng của tác phẩm văn học

+ Hình tượng văn học và các vấn đề liên quan đến hình tượng văn học

Bước 3: Phân tích, chứng minh cho vấn đề nghị luận trong đề bài

- Lấy dẫn chứng từ tác phẩm, hoặc nhóm tác phẩm được nêu trong đề bài đểchứng minh cho vấn đề hoặc từng khía cạnh của vấn đề

- Lấy dẫn chứng từ tác phẩm đã học, đã đọc để chứng minh cho vấn đề hoặctừng khía cạnh của vấn đề

- Chú ý đưa thêm những tác phẩm, hoặc một phương diện của tác phẩm bênngoài khác để đối chiếu so sánh làm phong phú và thuyết phục thêm cho vấn đề

Bước 4: Bình luận, đánh giá ý nghĩa của vấn đề

- Khẳng định lại tính đúng đắn, sâu sắc của nhận định

- Nếu là hai nhận định thì khẳng định tính đúng đắn của từng nhận định, mốiquan hệ giữa hai nhận định, thường là sự kết hợp, bổ sung cho nhau

Trang 33

- Nhấn mạnh tính minh họa, sức thuyết phục của dẫn chứng vừa phân tích ởtrên đối với vấn đề của đề bài

Bước 5: Liên hệ, mở rộng vấn đề, bổ sung, nêu phản đề

- Khẳng định ý nghĩa quan trọng của vấn đề đối với người cầm bút

- Vai trò quan trọng của vấn đề trong việc định hướng đối với quá trình tiếpnhận của độc giả

- Có thể bổ sung thêm những khía cạnh chưa thỏa đáng, hoặc phản bácnhững chỗ chưa đúng (nếu có)

5.3 Đề minh họa

“Máu thịt và linh hồn của văn học là hình tượng nghệ thuật được xây dựngbằng ngôn từ” Anh (chị) hãy bình luận ý kiến trên Từ đó, phân tích bài thơ “TâyTiến” của Quang Dũng để làm rõ những đặc sắc về nghệ thuật ngôn từ trong tácphẩm này

Đứng trước dạng đề này, giáo viên có thể hướng dẫn học sinh thực hiện cácbước như sau:

Bước 1: Giải thích, nêu nội dung, ý nghĩa

- “Máu thịt”, “linh hồn”: là là những gì cần thiết nhất, quan trọng nhất củamột cơ thể sống

.- Ý cả câu muốn nối đến những sáng tạo riêng, độc đáo bằng ngôn từ sẽquyết định sức sống của một hình tượng nghệ thuật, cũng như của tác phẩm vănhọc

Bước 2: Lí giải vấn đề

- Hình tượng nghệ thuật là phương tiện đặc thù của nghệ thuật để phản ánhhiện thực khách quan Nó phản ánh tính khái quát, tính quy luật của hiện thực quahình thức cá thể, độc đáo, là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ, là đứa con tinhthần của người nghệ sĩ trong quá trình nhận thức và tái hiện cuộc sống

- Văn học sử dụng ngôn ngữ làm công cụ và chất liệu để phản ánh và xâydựng hình tượng, đây là một nét riêng biệt so với các môn nghệ thuật khác

- Muốn một tác phẩm trường tồn, được mọi người công nhận nhớ đến nétđộc đáo thì bài thơ đó phải có một hình tượng nghệ thuật riêng biệt cùng với lớpngôn từ sáng tạo và hấp dẫn

Bước 3: Chứng minh ý kiến thông qua phân tích tác phẩm “Tây Tiến” của

Quang Dũng:

- Ngôn từ lãng mạn và bi tráng đã thể hiện được vẻ đẹp và nỗi nhớ núi rừngTây Bắc:

Trang 34

- Nghệ thuật dùng từ độc đáo, sáng tạo: khúc khuỷu, thăm thẳm làn cho câuthơ có giá trị tạo hình, từ đó cho thấy sự nguy hiểm, gian nan của cuộc hành trình.

- Hình ảnh thơ “súng ngửi trời” được sử dụng bằng phép nhân hóa, làm nổibật tư thế, tâm thế hiên ngang, sẵn sàng chiến đấu

- Phân tích được những đặc sắc về nghệ thuật ngôn từ: giàu tính gợi hình vàbiểu cảm; nghệ thuật phối thanh độc đáo; thủ pháp đối lập; cách xây dựng hình ảnhthơ vừa gân guốc, khỏe khoắn vừa trữ tình lãng mạn

- Chỉ ra được những sáng tạo riêng độc đáo của nhà thơ: ngôn ngữ thơ vừarất thật, vừa mang màu sắc cổ điển, đậm chất bi tráng

Bước 4: Bình luận, đánh giá

- Lời nhận định thật đúng đắn, sâu sắc cho thấy tầm quan trọng của hìnhtượng nghệ thuật cũng như yêu cầu cần thiết trong sử dụng ngôn từ khi xây dựnghình tượng nghệ thuật

- Bài thơ “Tây Tiến” cho thấy tài năng xây dựng hình tượng nghệ thuật quathế giới ngôn từ của nhà thơ

Bước 5: Liên hệ, mở rộng

- Qua ý kiến khẳng định ý nghĩa quan trọng của ngôn từ khi xây dựng hìnhtượng nghệ thuật đối với người cầm bút

- Vai trò của việc định hướng đối với quá trình tiếp nhận của độc giả

6 Đối với dạng đề lí luận về nhân vật văn học

6.1 Lí luận về nhân vật văn học

- Khái niệm “nhân vật văn học”

+ Nhân vật văn học là con người được nhà văn miêu tả trong tác phẩm bằngphương tiện văn học Những con người này có thể được miêu tả kỹ hay sơ lược,sinh động hay không rõ nét, xuất hiện một hay nhiều lần, thường xuyên hay từnglúc, giữ vai trò quan trọng nhiều, ít hoặc không ảnh hưởng nhiều lắm đối với tácphẩm

+ Nhân vật văn học có thể là con người có tên (như Tấm, Cám, Thúy Vân,Thúy Kiều, Từ Hải, Kim Trọng ), có thể là những người không có tên (như thằngbán tơ, viên quan, mụ quản gia ), tên viết tắt như thầy V.D (“Ôi ái tình” – CôngBình), hay có thể là một đại từ nhân xưng nào đó (như một số nhân vật xưng tôitrong các truyện ngắn, tiểu thuyết hiện đại, như mình - ta trong ca dao )

- Chức năng của nhân vật văn học:

+ Chức năng cơ bản của nhân vật văn học là khái quát tính cách, hiện thựccủa con người

Trang 35

+ Nhân vật văn học còn thể hiện quan niệm nghệ thuật và lí tưởng thẩm mỹcủa nhà văn và con người

- Phân loại nhân vật văn học:

+ Xét từ góc độ nội dung tư tưởng hay phẩm chất nhân vật: Nhân vật chínhdiện là nhân vật đại diện cho lực lượng chính nghĩa trong xã hội; Nhân vật phảndiện là nhân vật đại diện cho lực lượng phi nghĩa, cho cái ác,

+ Xét từ góc độ kết cấu (tầm quan trọng và vai trò của nhân vật trongtác phẩm): nhân vật chính, nhân vật trung tâm, nhân vật phụ; Nhân vật chính lànhân vật giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức và triển khai tác phẩm; nhân vậtphụ ở các cấp độ khác nhau Ðó là những nhân vật giữ vị trí thứ yếu

+ Xét từ góc độ thể loại: Có thể phân thành các nhân vật: nhân vật trữtình, nhân vật tự sự và nhân vật kịch (sẽ nói rõ trong phần các loại thể)

+ Xét từ góc độ chất lượng miêu tả: nhân vật, tính cách, điển hình: Nhân vật

là những con người nói chung được miêu tả trong tác phẩm; Tính cách là nhân vậtđược khắc họa với một chiều sâu bên trong; Ðiển hình là tính cách đã đạt đến độthực sự sâu sắc, là sự thống nhất giữa cái chung và cái riêng, cái khái quát và cái cáthể

- Một số biện pháp miêu tả nhân vật: miêu tả qua ngoại hình, qua nội tâm,qua ngôn ngữ, qua hành động

6.2 Hướng giải quyết

Bước 1: Giải thích, nêu ý nghĩa của vấn đề lí luận trong đề bài

- Cắt nghĩa, giảng giải những từ ngữ, hình ảnh khó hiểu, thông qua các phép

tu từ, lối nói ví von giàu ẩn ý của nhận định hoặc các nhận định, của bài thơ, câuchuyện

- Giải thích nghĩa của từng vế, từng phần của lời nhận định hoặc các nhậnđịnh

- Nêu tổng hợp nội dung, ý nghĩa chung

Bước 2: Lí giải vấn đề

- Nêu ý kiến đánh giá của người viết về vấn đề nghị luận (thường là đồngtình với vấn đề), khẳng định tính đúng đắn của vấn đề nghị luận (nếu đề có hainhận định thì nêu ý kiến đối với từng nhận định rồi đánh giá chung về hai nhậnđịnh)

- Sử dụng các kiến thức lí luận văn học về văn xuôi, truyện, tiểu thuyết,truyện ngắn, nhân vật để lí giải vấn đề, hoặc các vấn đề nghị luận, xung quanh cáclĩnh vực như: khái niệm, chức năng, phân loại, một số biện pháp miêu tả nhânvật…

Bước 3: Phân tích, chứng minh cho vấn đề nghị luận trong đề bài

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Đặng Thị Hạnh, Lê Hồng Sâm (1985), Văn học lãng mạn và văn học hiện thực phương Tây thế kỷ XIX, NXB. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, tr.65, tr. 66, tr.147, tr. 172 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học lãng mạn và văn học hiện thựcphương Tây thế kỷ XIX
Tác giả: Đặng Thị Hạnh, Lê Hồng Sâm
Nhà XB: NXB. Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1985
[2]. Đỗ Hữu Châu (1990), Một số luận điểm về cách tiếp cận ngôn ngữ học các tác phẩm văn học. Tạp chí ngôn ngữ, số 2, 1990 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí ngôn ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 1990
[9]. Nguyễn Thuỳ, Viết văn, Đọc văn: “Đối thoại với chính mình, với người” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối thoại với chính mình, với người
[10]. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi, “Từ điển thuật ngữ văn học” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
[11]. Hà Minh Đức, “Lí luận văn học”, chủ biên, NXB Giáo dục [12]. NXB “Tác phẩm mới”, “Các nhà văn nói về văn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học”, chủ biên, NXB Giáo dục[12]. NXB “Tác phẩm mới”, “Các nhà văn nói về văn
Nhà XB: NXB Giáo dục[12]. NXB “Tác phẩm mới”
[15]. NXB Hà Nội 1999 , “Thạch Lam văn và đời” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thạch Lam văn và đời
Nhà XB: NXB Hà Nội 1999
[16]. “Văn học và tuổi trẻ” - NXB GD- “Nhà văn nói về môn Văn” – 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Văn học và tuổi trẻ” - NXB GD- "“"Nhà văn nói về môn Văn
Nhà XB: NXB GD- "“"Nhà văn nói về môn Văn” – 2015
[3]. Đỗ Ngọc Thống(2012), Tài liệu chuyên Văn, Tập I, II, III. NXB Giáo dục Việt Nam Khác
[4]. Hà Bình Trị(2003), Những bài văn đoạt giải Quốc gia. NXB Giáo dục Khác
[5]. Jean-Paul Sartre – Nỗi đam mê làm người trong thế kỷ Khác
[6]. Lại Nguyên Ân (2003), Sống với văn học cùng thời, NXB. Thanh Niên, Hà Nội, tr. 473 Khác
[7]. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên 2011), Từ điển thuật ngữ văn học. NXB Giáo dục Việt Nam Khác
[8]. Nhiều tác giả. (2015), Chuyên đề chuyên sâu bồi dưỡng Ngữ văn 10, 11, 12.NXB Giáo dục Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w