1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh từ quá trình tìm lời giải các bài toán ở chương tổ hợp và xác suất lớp 11

32 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp giải các bài toán Tổ hợp- Xác suất thiên về tư duy logic và tư duy thuật toán nên những học sinh “yếu” về năng lực giải quyết vần đề thường gặp khó khăn trong giải các bài tậ

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN

TRƯỜNG THPT QUỲNH LƯU 2



ĐỀ TÀI:

BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ VÀ SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TỪ QUÁ TRÌNH TÌM LỜI GIẢI CÁC BÀI TOÁN Ở CHƯƠNG TỔ HỢP VÀ XÁC SUẤT LỚP

Đề tài thuộc lĩnh vực: Toán học

Năm học : 2020 - 2021

Trang 2

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 4

1 Cơ sở lý luận và thực tiễn 4

1.1 Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo 4

1.2 Các đặc điểm của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo trong môn toán 5

1.3 Thực trạng vấn đề 6

2 Nội dung Đề tài 6

2.1 Rèn luyện cho học sinh kỹ năng nhìn nhận bài toán dưới nhiều góc độ khác nhau, từ đó tìm nhiều cách giải một bài toán, phân tích tìm cách giải hay 6

2.2 Khuyến khích cho học sinh tìm tòi, sáng tạo các bài toán mới bằng các thao tác tư duy: đặc biệt hóa, khái quát hóa, tương tự hóa 12

2.2.1 Khuyến khích học sinh sử dụng thao tác tư duy tương tự hóa: 12

2.2.2 Khuyến khích học sinh sử dụng thao tác tư duy khái quát hóa: 13

2.2.3 Khuyến khích cho học sinh tìm tòi, sáng tạo các bài toán mới bằng thao tác tư duy đặc biệt hóa: 17

2.3 Bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh qua tìm sai lầm từ lời giải các bài toán 18

3 Thực nghiệm 25

3.1 Mục đích thực nghiệm 25

3.2 Tổ chức và nội dung thực nghiệm 25

3.3 Phân tích kết quả thực nghiệm 28

* Đánh giá định tính 28

*Đánh giá định lượng 28

PHẦN 3 KẾT LUẬN 31

TÀI LIỆU THAM KHẢO 32

Trang 3

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Bài tập của chương Tổ hợp – Xác suất (đại số và giải tích lớp 11) là một nội dung khá phong phú về cách ra đề và luôn có trong đề thi THPT Quốc gia cũng như đề thi học sinh giỏi Phương pháp giải các bài toán Tổ hợp- Xác suất thiên về tư duy logic và tư duy thuật toán nên những học sinh “yếu” về năng lực giải quyết vần

đề thường gặp khó khăn trong giải các bài tập toán phần này

1.2 Trước thực trạng đó, bản thân tôi luôn tìm tòi các cách dạy học sao cho học sinh biết: Gạt bỏ những thuộc tính hình thức và giữ lại những thuộc tính bản chất của bài toán; Thấy được không chỉ một bài toán mà còn phải thấy được một lớp các bài toán tương tự; Xây dựng được các bài toán từ bài toán gốc…Qua đó, khơi dậy sự hứng thú trọng học tập của học sinh; bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề và phát huy tính sáng tạo

1.3 Định hướng đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục của nước ta trong giai

đoạn hiện nay là: “chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học” Theo định hướng này

này, song song với hoạt động dạy học nội dung kiến thức là hoạt động hình thành và phát triển cho học sinh các năng lực cốt lõi Chương trình SGK mới chỉ ra một số

năng lực chung như: Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Ngoài ra còn có các năng lực chuyên môn được

hình thành và phát triển thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định

như: Năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất, năng lực tin học, năng lực công nghệ

Từ mục đích trên, tôi nghiên cứu đề tài: “Bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn

đề và sáng tạo cho học sinh từ quá trình tìm lời giải các bài toán ở Chương tổ hợp

và xác suất lớp 11”

2 Mục đích nghiên cứu

Xây dựng một số tình huống có vấn đề trong giải bài tập Tổ hợp – Xác suất Học sinh giải quyết được tình huống có vấn đề (dưới sự hướng dẫn của giáo viên) Qua đó phát triển năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh

3 Đối tượng nghiên cứu

- Học sinh lớp 11;

- Giáo viên toán THPT

4 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lý luận, quan sát, điều tra thực tiễn, thực nghiệm…

Trang 4

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1 Cơ sở lý luận và thực tiễn

1.1 Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo là một trong các năng lực chung mà chương trình GDPT 2018 hướng tới Các thành tố của năng lực này bao gồm :

- Nhận ra ý tưởng mới;

- Phát hiện và làm rõ vấn đề;

- Hình thành và triển khai ý tưởng mới;

- Đề xuất, lựa chọn giải pháp; - Thiết kế, tổ chức hoạt động;

- Tư duy độc lập

Các biểu hiện của các thành tố này đối với học sinh THPT được tóm tắt trong bảng sau:

Nhận ra ý tưởng mới - Biết xác định và làm rõ thông tin, ý tưởng mới và

phức tạp từ các nguồn thông tin khác nhau;

- Biết phân tích các nguồn thông tin độc lập để thấy được khuynh hướng và độ tin cậy của ý tưởng mới

Phát hiện và làm rõ vấn đề - Phân tích được tình huống trong học tập , trong cuộc

- Suy nghĩ không theo lối mòn;

- Tạo ra yếu tố mới dựa trên những ý tưởng khác nhau;

Trang 5

- Lựa chon được giải pháp phù hợp nhất

- Đánh giá được hiệu quả của giải pháp và hoạt động

Tư duy độc lập - Biết đặt nhiều câu hỏi có giá trị, không dễ dàng chấp

nhận thông tin một chiều;

- Không thành kiến khi xem xét, đánh giá vấn đề; biết quan tâm tới các lập luận và minh chứng thuyết phục;

- Sẵn sàng xem xét, đánh giá lại vấn đề

1.2 Các đặc điểm của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo trong môn toán

Từ việc phân tích các thành tố của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo nói chung, năng lực toán học nói riêng, có thể chỉ ra các đặc điểm của năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo trong môn toán như sau:

- Nhận biết, phát hiện và làm rõ vấn đề cần giải quyết bằng Toán học;

- Lựa chọn, đề xuất được cách thức, giải pháp giải quyết vấn đề;

- Sử dụng được các kiến thức, kỹ năng toán học tương thích để giải quyết vấn

đề đặt ra;

- Đánh giá được giải pháp đề ra;

- Nhận ra, hình thành và triển khai khái niệm mới, định lý mới, bài toán mới, cách giải mới trong môn toán

Dạy học Toán bản chất là dạy học sinh giải toán Khi học sinh giải được một bài toán, tức là học sinh đã biết giải quyết vấn đề xảy ra trong quá trình học tập để tìm ra cái mới ở mức độ nào đó Nếu bài toán đó học sinh chưa biết phương pháp giải nhưng vẫn giải được thì đó được xem là giải quyết vấn đề sáng tạo

Sáng tạo của học sinh trong học tập được xem như một quá trình sáng tạo đặc biệt Bởi vì tri thức học sinh tìm ra không mới với nhân loại nhưng mới với bản thân các em Sự sáng tạo của học sinh biểu hiện qua các hoạt động như: Giải được bài toán

mà các em chưa biết phương pháp giải; Giải một bài toán bằng nhiều cách khác nhau; đưa ra một cách giải mới;

Giải quyết vấn đề và sáng tạo là hai mặt tồn tại song song và bổ trợ cho nhau khi thực hiện một hoạt động học tập nào đó Khi giải quyết một vấn đề, chúng ta sẽ

Trang 6

gặp những khó khăn và chướng ngại nhất định Để vượt qua những khó khăn và chướng ngại đó ngoài tri thức và phương pháp đã biết cần có sự sáng tạo để giải quyết vấn đề Ngược lại, con người chỉ phát huy tính sáng tạo khi gặp tình huống có vấn đề

Trong Đề tài này tác giả bồi dưỡng năng lực giải quết vấn đề và sáng tạo cho

học sinh thông qua 3 vấn đề: Học tập từ những lời giải sai lầm; Giải một bài toán bằng nhiều cách; Sáng tạo bài toán mới; Tổng quát hóa bài toán

1.3 Thực trạng vấn đề

Những thuận lợi: Đây là nội dung Toán học gắn liền với thực tiễn nên từng nội

dung bài học cũng như các bài tập luôn gây được sự hứng thú và hấp dẫn học sinh

Những khó khăn: Thời lượng dành cho chương ít nhưng nội dung hoàn toàn mới

đối với học sinh và lượng kiến thức rất nhiều Hơn nữa nội dung này chỉ học ở lớp 11 không được học giãn ra ở các lớp như nội dung Toán học khác Điều đó dẫn đến việc

áp dụng kiến thức vào giải toán không có độ chín muồi về kỹ năng và tư duy

2 Nội dung Đề tài

2.1 Rèn luyện cho học sinh kỹ năng nhìn nhận bài toán dưới nhiều góc độ

khác nhau, từ đó tìm nhiều cách giải một bài toán, phân tích tìm cách giải hay

Học toán xét cho cùng là học giải bài tập toán Trong một bài toán có chứa nhiều yếu tố, mỗi cách phân tích, nhìn nhận các yếu tố theo một cách khác nhau có thể cho chúng ta một cách giải bài toán khác nhau Mỗi cách giải có hiệu quả nhất định đến quá trình phát triển tư duy, năng lực giải quyết vấn đề của người học

Tìm nhiều lời giải cho một bài toán là hoạt động dạy học giúp học sinh có cái nhìn toàn diện về một vấn đề toán học Từ đó các em biết tự hệ thống hóa kiếm thức

và biết khai thác sử dụng các kiến thức kỹ năng, phương pháp giải một cách mềm dẻo, linh hoạt

Tìm nhiều cách giải cho một bài toán sẽ giúp học sinh tự mình biết phân tích,

so sánh và rút ra các đặc điểm như:

- Thấy được cách giải tốt nhất cho bài toán;

- Phát hiện ra các vấn đề mới, các bài toán mới;

- Đưa ra cách giải cho một lớp các bài toán tương tự

Ví dụ 1: Cho tập A = {1,2,3,4,5,6,7} Hỏi có bao nhiêu số gồm 9 chữ số tạo

thành từ A biết chữ số 1 xuất hiện 3 lần, các chữ số còn lại xuất hiện đúng 1 lần

Học sinh có thể tiếp cận một số cách giải sau:

Cách 1: Sử dụng công thức hoán vị lặp ta có kết quả 9!

3!

Trang 7

Phân tích cách giải 1: Hoán vị lặp không đưa vào SGK, nhưng đây là một nội

dung mà học sinh có thể t́m t́m hiểu thêm thông qua sự giới thiệu và hướng dẫn của giáo viên

Tìm hiểu sâu cách giải 1: Từ bài toán trên ta có thể hướng dẫn học sinh xây

dựng bài toán tổng quát sau:

Bài 2: Từ các số của tập A = { 2; 4; 6; 8} lập được bao nhiêu số tự nhiên gồm

bảy chữ số, trong đó chữ số 2 xuất hiện đúng hai lần; chữ số 4 xuất hiện 2 lần; chữ số

6 xuất hiện 2 lần và chữ số 8 xuất hiện 1 lần

Bài 3: Cho tập A = { 1; 3; 5; 6; 9} Từ tập A ta lập được bao nhiêu số có 7 chữ

số sao cho chữ số 1 xuất hiện 2 lần; chữ số 6 xuất hiện 2 lần; các số khác xuất hiện đúng 1 lần và số này chia hết cho 5

Bài 4: Từ tập X = {1; 2; 4; 6; 7; 9} Từ tập X ta lập được bao nhiêu số có 8 chữ

số sao cho chữ số 4 xuất hiện 2 lần; chữ số 2 xuất hiện 2 lần; các chữ số khác xuất hiện đúng 1 lần và số đó không chia hết cho 2

Bài 5: Với các chữ số 0; 1; 2; 3; 7; 9 có thể lập được bao nhiêu số gồm 8 chữ

số, trong đó chữ số 1 có mặt 3 lần, mỗi chữ số khác có mặt đúng một lần?

Bài 6: Cho tập X = {0;1; 3;5;6} Từ tập X ta lập được bao nhiêu số có 7 chữ số

sao cho chữ số 1 xuất hiện 3 lần; các số khác xuất hiện đúng 1 lần và số đó vừa chia hết cho 2 vừa chia hết cho 5

Bài 7: (HSG lớp 11 Quảng Ngãi 2015-2016) Từ các chữ số 1, 3, 4, 8 lập các số

tự nhiên có sáu chữ số, trong đó chữ số 3 có mặt đúng ba lần, các chữ số còn lại có mặt đúng một lần Trong các số tạo thành nói trên lấy ngẫu nhiên một số Tính các suất để số được chọn chia hết cho 4

Cách 2: Xem số 1 xuất hiện ba lần trong số cần tìm là khác nhau, giả sử là a,b,c Khi đó ta có bài toán mới như sau: Có bao nhiêu số có 9 chữ số khác nhau tạo thành từ tập hợp B = {2,3,4,5,6,7,a,b,c} Mỗi số được tạo thành là hoán vị của 9 phần tử của tập hợp B Ta có 9! số Nhưng do a  b c 1 nên mỗi số tìm được trên

khi hoán vị các vị trí của a, b, c cho nhau thì số đó không đổi Từ đó suy ra số các số

thỏa mãn yêu cầu bài toán là 9!

3!số

Trang 8

Phân tích cách giải 2: Vấn đề khó khăn của bài toán là 3 số 1 ở ba vị trí khác

nhau của một số có 9 chữ số thì ta được các số khác nhau, nhưng khi đổi vị trí của 3

số 1 cho nhau thì số đó không đổi Mọi sự phức tạp của bài toán đều bắt nguồn từ sự lặp lại của các số 1 Vậy nếu ta xem các số 1 đó như là các số khác nhau thì sao? Từ

đó gợi cho học sinh biết “quy lạ về quen” bằng cách xem ba số 1 như ba số khác nhau

Tìm hiểu sâu cách giải 2:

Nếu so sánh cách giải 2 và cách giải 1 thì cách 1 có ưu điểm ngắn gọn và dễ hiểu

Nhưng ở cách 2 việc đặt a1,b1, c1là cách nhìn biện chứng rất thường dùng trong giải toán Ví dụ: phương trình 2  

3x  5x  2 0 1 là phương trình bậc hai Nếu ta đặt 2

2 3

x  t t thì phương trình ban đầu trở thành:

3 t   2t 3  5 t     2t 3 2 0 2 là phương trình bậc 4 theo ẩn t Nhưng nếu bỏ qua

những thuộc tính hình thức, giữ lại thuộc tính bản chất thì phương trình (2) cũng chỉ

là phương trình bậc 2 quen thuộc

Ta sử dụng cách nhìn biện chứng để đưa một đối tượng phức tạp về một đối tượng mới đơn giản hơn, theo cách giải quyết vấn đề như trên ta có thể giải được một

số bài toán tổ hợp tương tự như:

Ví dụ 1a: Có 6 quyển sách Toán, 3 quyển sách Lý và 5 quyển sách Hoá Hỏi có

bao nhiêu cách sắp xếp các quyển sách đó thành 1 dãy trên kệ sao cho các quyển sách Hoá đứng cạnh nhau, các quyển sách Lý đứng cạnh nhau

Giải:

Ta ghép các quyển sách hoá lại xem như 1 phần tử H, ghép các quyển sách Lý lại xem như 1 phần tử L Khi đó xếp 8 phần tử (gồm 6 quyển sách toán và 2 phần tử

H và L) có 8! cách sắp xếp

Ghép 5 quyển sách hoá có 5! cách Ghép 3 quyển sách Lý có 3! cách

Theo quy tắc nhân có 5!.3!.8! cách

Ví dụ 1b: Có bao nhiêu cách sắp xếp chỗ ngồi cho 10 bạn , trong đó có An,

Bình vào 10 ghế kê thành hang ngang sao cho An và Bình ngồi cạnh nhau

Giải:

Ghép An và Bình thành một phần tử M có 2! cách Xếp 9 phần tử (gồm 8 bạn còn lại và phần tử M) vào 9 vị trí có 9! cách Vậy theo quy tắc nhân có 2!.9! cách

Cách 3: Lấy sáu số từ tập A gồm: 2,3,4,5,6,7 số sắp xếp vào 9 vị trí của số cần

tìm ta có A96 cách sắp xếp Sắp xếp 3 số 1 vào ba vị trí còn lại có một cách sắp xếp Vậy kết quả là 6

9

A

Phân tích cách giải: Trong giải toán ta rất hay “tự ám thị” bởi yêu cầu của bài

toán dẫn người giải đi theo lối tư duy quen thuộc Nếu ta tư duy ngược lại như sau:

Trang 9

Có 9 cái hộp xếp thành một hàng dọc Hỏi có bao nhiêu cách bỏ vào mỗi hộp một số

tử các số 1, 2,3, 4,5, 6, 7 biết có 3 số 1 Như vậy mỗi cách bỏ số vào hộp ta được một số thỏa mãn yêu cầu bài toán Nhưng ở đây mỗi số chắc chắn sẽ có 1 hộp để bỏ vào nên việc chữ số 1 lặp lại không ảnh hưởng đển kết quả bài toán Ở trên tác giả trìn bày lời giải bằng sử dụng chỉnh hợp, tuy nhiên chúng ta vẫn có thể dùng quy tắc đếm để giải bài toán như các bài toán quen thuộc

Tìm hiểu sâu cách giải 3: Trong giải toán Tổ hợp - Xác suất cách giải trên gọi

là phương pháp chọn vị trí trước, sắp xếp sau Với những bài toán có quá nhiều trường hợp xảy ra khi ta giải trực tiếp thì ta thường chọn ra số phần tử thỏa mãn yêu cầu bài toán trước sau đó mới sắp xếp Ứng dụng phương pháp giải trên ta giải được rất nhiều bài toán trong đề thi học sinh giỏi hoặc thi Quốc gia

Ví dụ 1c: (Đề thi THPT Quốc gia năm 2020): Gọi S là tập hợp tất cả các số tự

nhiên có 4 chữ số đôi một khác nhau và các chữ số thuộc tập {1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9}

Chọn ngẫu nhiên một số thuộc S, xác suất để số đó không có hai chữ số liên tiếp nào

Sắp xếp các số trên thỏa mãn yêu cầu bài toán ta xem 2 số chẵn có 21.2!.3 số

Số các số thỏa mãn bài toán là 720

Số phần tử không gian mẫu số

Xác suất lấy được 4 số không có 2 chữ số chẵn liên tiếp là

Lời giải 2:

TH1: Số có 4 chữ số trong đó có 2 chữ số chẵn liên tiếp và 2 số lẽ có

720 số (ta xem hai chữ số chẵn liến tiếp là một số)

TH2: Số có 4 chữ số gồm 3 chữ số số chẵn và 1 số lẽ có 480 số TH3: Số có 4 chữ số chẵn liên tiếp có 4! = 24 số

Số các số thỏa mãn yêu cầu bài toán là:

Xác suất cần tìm là

Trang 10

Cách 4: Chọn ba vị trí cho ba số 1 có 3

9

C cách chọn Sắp xếp các số 2,3,4,5,6,7 vào sáu vị trí còn lại có 6! cách sắp xếp Vậy số các số thỏa mãn bài toán là 3

9 6!

C

Phân tích cách giải: Xét về bản chất thì đây là cách giải tương tự như cách 3 về

tư duy thuật giải là chọn vị trí trước sắp xếp sau

Qua ví dụ trên, tính sáng tạo của cách giải bài toán trên thể hiện ở chỗ: Học sinh phải biết phân chia trường hợp và sử dụng cách đếm linh hoạt tùy theo từng trường hợp khác nhau Ở lời giải thứ nhất trường hợp thứ 3 học sinh cần tìm một cách đếm phù hợp hơn đó là xem 2 chữ số chẵn liên tiếp là một số Tương tự ở lời giải 2 trường hợp 2 sẽ có 2 khả năng xẩy ra là 2 số chẵn liên tiếp và 3 số chẵn liên tiếp Nhưng khả năng 2 chữ số chẵn kiên tiếp ở đây không trùng với TH2 vì số tạo thành của 2 trường hợp này hoàn toàn khác nhau Nếu học sinh được bồi dưỡng và rèn luyện nhiều thì năng lực giải quyết vấn đề và khả năng sáng tạo của học sinh sẽ được nâng cao

Ví dụ 2: Có bao nhiêu số tự nhiên gồm 5 chữ số khác nhau trong đó có mặt chữ

số 0 và chữ số 6?

Cách 1: Xem việc lập số thỏa mãn yêu cầu bài toán là công việc sắp 5 chữ số

vào 5 ô trống trong đó có 1 ô chứa số 0, một ô chứa số 6, 3 ô còn lại chọn từ tập hợp

1,2; 3;4;5;7;8; 9

E gồm 8 chữ số Công việc này trải qua 3 công đoạn như sau: Công đoạn 1: Sắp chữ số 0 vào một trong 4 ô trống sau (trừ ô đầu tiên) có 4 cách sắp

Công đoạn 2: Sắp chữ số 6 vào một trong 4 ô trống còn lại (trừ ô chứa số 0) có

Cách 2: Chia tập hợp gồm 5 chữ số khác nhau thành 4 loại:

Loại 1: Các số không có mặt chữ số 0 và chữ số 6 Mỗi số như vậy là một chỉnh hợp chập 5 của tập E1,2; 3;4;5;7;8; 9 nên có 5

8

A số

Loại 2: Các số có mặt số 0 nhưng không có mặt số 6 Xem việc thành lập mỗi

số loại này trải qua 2 công đoạn Công đoạn 1 xếp số 0 vào một trong 4 vị trí sau (trừ

vị trí đầu tiên) có 4 cách, công đoạn 2 chọn 4 chữ số từ tập E 1,2; 3;4;5;7;8; 9 sắp vào 4 ô còn lại có 4

Trang 11

chữ số từ tập E1,2; 3;4;5;7;8; 9 Mỗi bộ gồm 3 chữ số vừa chọn cùng với 2 số 0

và 6 tạo thành một bộ có 5 chữ số Mỗi hoán vị của 5 chữ số này trừ đi các hoán vị có chữ số 0 đứng đầu là một số thỏa mãn yêu cầu bài toán Do đó, để lập mỗi số như vậy

là một công việc trải qua 3 công đoạn

Công đoạn 1: Chọn 3 chữ số bất kỳ từ E1,2; 3;4;5;7;8; 9 có 3

8

C cách

Công đoạn 2: Từ bộ 5 chữ số gồm 3 số vừa chọn cùng với hai số 0 và 6 ta lấy

số 0 sắp vào một trong 4 vị trí sau, có 4 cách

Công đoạn 3: Sắp 4 chữ số còn lại trong bộ vào 4 ô trống còn lại, có 4! cách Theo quy tắc nhân, có tất cả C83.4.4! số

Cách 4: Việc lập số thỏa mãn yêu cầu bài toán có 2 phương án:

Phương án 1: Chữ số 6 ở vị trí đầu tiên

Công đoạn 1: Sắp số 0 vào một trong 4 ô còn lại, có 4 cách sắp

Công đoạn 2: Chọn 3 chữ số từ tập E1,2; 3;4;5;7;8; 9 sắp vào 3 ô còn lại, có 3

Phương án 2: Chữ số 6 không ở vị trí đầu tiên

Công đoạn 1: Sắp số 6 vào một trong 4 ô, có 4 cách sắp

Công đoạn 2: Sắp số 0 vào một trong 3 ô còn lại (trừ ô đầu và ô chứa số 6), có

Trang 12

2.2 Khuyến khích cho học sinh tìm tòi, sáng tạo các bài toán mới bằng các

thao tác tư duy: đặc biệt hóa, khái quát hóa, tương tự hóa

Để phát triển được năng lực sáng tạo, đòi hỏi giáo viên và học sinh “phải có can đảm buông tay khỏi những điều chắc chắn” (Erich Fromm) Nghĩa là, giáo viên phải khuyến khích học sinh dám tìm tòi, khám phá để đưa ra những quan điểm, ý tưởng mới, cách giải quyết mới Tất nhiên, với học sinh, việc yêu cầu các em tìm tòi, khám phá ra một điều gì đó mới mẻ hoàn toàn là một điều không hề đơn giản Muốn vậy giáo viên phải là người luôn định hướng, rèn luyện cho học sinh các thói quen tư duy sau:

Thứ nhất, khả năng phát hiện ra những điểm tương đồng, khác biệt cũng như

mối liên hệ giữa nhiều sự vật, hiện tượng khác nhau trong đời sống Người có năng lực sáng tạo thường có thói quen quan sát, so sánh và nhất là khả năng tưởng tượng, liên tưởng rất tốt Tưởng tượng tự do giúp tạo ra những hình ảnh, cấu thành, thiết kế mới hữu ích mà trong điều kiện tư duy duy lí thông thường không có được Vì thế nên tưởng tượng trở thành một trong những yếu tố rất quan trọng trong tư duy sáng tạo của con người và là khởi nguồn cho mọi phát minh sau này Nếu không tưởng tượng, không có mong muốn biết bay như loài chim thì chắc hẳn con người không thể thiết kế được máy bay như ngày hôm nay

Thứ hai, khả năng giải quyết vấn đề bằng nhiều con đường, cách thức khác

nhau; phân tích, đánh giá vấn đề ở nhiều phương diện, góc nhìn khác nhau Cùng một vấn đề, một bài toán đặt ra, người có năng lực sáng tạo thường tìm kiếm, phát hiện được nhiều hướng giải quyết, nhiều ý tưởng khác nhau Người có năng lực sáng tạo thường không dễ dàng chấp nhận những gì đã có mà luôn tìm tòi những cách giải quyết mới, biện pháp mới

Thứ ba, khả năng phát hiện ra những điều bất hợp lí, những bất ổn hay những

quy luật phổ biến trong những hiện tượng, sự vật cụ thể dựa trên sự tinh tế, nhạy cảm

và khả năng trực giác cao của chủ thể

Năng lực sáng tạo còn được biểu hiện ở khả năng quan sát, phân tích vấn đề ở nhiều điểm nhìn, nhiều phương diện khác nhau Nói cách khác, người có năng lực sáng tạo phải có tư duy mềm dẻo, linh hoạt trong việc tiếp cận, giải quyết vấn đề

2.2.1 Khuyến khích học sinh sử dụng thao tác tư duy tương tự hóa:

Theo G Polya, tương tự là một kiểu giống nhau nào đó Có thể nói tương tự là

giống nhau nhưng ở mức độ xác định hơn và mức độ đó được phản ánh bằng khái niệm Ông giải thích điều trên như sau: "Sự khác nhau căn bản giữa tương tự và những loại giống nhau khác là ở ý định của người đang suy nghĩ Những đối tượng giống nhau phù hợp với nhau trong một quan hệ nào đó Nếu bạn có ý định quy mối quan hệ trong đó các đối tượng phù hợp với nhau về những khái niệm đã định thì bạn sẽ xem những đối tượng giống nhau ấy như là những đối tượng tương tự Và nếu bạn đạt tới những khái niệm rõ ràng, thì tức là bạn làm sáng tỏ sự tương tự"

Trang 13

Theo Đ P Goocki cho rằng: "Tương tự là phép suy luận trong đó từ chỗ hai đối

tượng giống nhau ở một số dấu hiệu, ta rút ra kết luận rằng các đối tượng này giống nhau ở các dấu hiệu khác Nếu đối tượng A có dấu hiệu là a, b, c, d và đối tượng B cũng có các dấu hiệu a, b, c thì ta rút ra kết luận giả định rằng đối tượng B cũng có tính chất d Ta có thể biểu diễn sơ đồ của phép suy luận tương tự như sau: A có tính chất a,

b, c, d; B có tính chất a, b, c; Kết luận B cũng có tính chất d"

"Tương tự là chuyển từ một trường hợp riêng này sang một trường hợp riêng

khác của cùng một cái tổng quát"

Nhiều tác giả cho rằng: “Tương tự hóa là quá trình dùng trí óc để kết luận về

sự giống nhau của các đối tượng ở một số dấu hiệu, thuộc tính khác từ sự giống nhau của các đối tượng ở một số dấu hiệu, thuộc tính nào đó nhằm mục đích tạo ra một kết quả mới, vượt qua một trở ngại”

Như vậy, việc tập luyện cho học sinh kỹ năng tương tự hóa sẽ góp phần vào việc bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo cho học sinh

Ví dụ 1: Xuất phát từ bài toán: Cho tập A1; 2; 3; 4; 5; 6 Hỏi có thể tạo bao

nhiêu số gồm 6 chữ số khác nhau từ tập A

Nếu giữ nguyên các đặc tính của bài toán, ta thay đổi đối tượng thì được các bài toán tương tự:

1, Có bao nhiêu cách xếp 6 học sinh thành một hàng dọc?

2, Một đoàn khách du lịch dự định tham quan 6 điểm A, B, C, D, E ở thủ đô

Hà Nội Hỏi họ có bao nhiêu cách chọn?

3, Bạn An có 3 quyển sách Toán khác nhau và 3 quyển sách Văn khác nhau Hỏi bạn An có bao nhiêu cách xếp chồng 6 quyển sách lên nhau?

2.2.2 Khuyến khích học sinh sử dụng thao tác tư duy khái quát hóa:

Có nhiều định nghĩa về khái quát hóa, chẳng hạn:

Trang 14

G Polya cho rằng: "Khái quát hóa là chuyển từ việc nghiên cứu một tập hợp

đối tượng đã cho đến việc nghiên cứu một tập hợp lớn hơn, bao gồm cả tập hợp ban đầu"

Tác giả Đào Văn Trung đã viết: "Từ trong những sự vật khác nhau, tìm ra những tính chất chung của chúng và quy kết lại, phương pháp tư duy này gọi là khái quát"

Khái quát hóa là chuyển từ một tập hợp đối tượng sang một tập hợp lớn hơn

chứa tập hợp ban đầu bằng cách nêu bật một số đặc điểm chung của các phần tử trong tập xuất phát

Tác giả thống nhất với Nguyễn Bá Kim về hai dạng khái quát hóa thường gặp trong môn Toán và có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau:

Chẳng hạn, khi dạy quy tắc nhân, giáo viên có thể dẫn dắt học sinh đi từ những trường hợp riêng lẻ đến tổng quát:

- Từ nhà Ngọc đến nhà Khánh có 4 con đường đi, từ nhà Khánh đến nhà Khải

có 3 con đường đi Do đó, để đi từ nhà Ngọc đến nhà Khảicó tất cả 3 4  12 cách đi;

từ nhà Ngọc đến nhà Khánh có m con đường đi, từ nhà Khánh đến nhà Khải có n con đường đi Do đó, có m n cách đi từ nhà Ngọc đến nhà Khải;

- Giả sử để thực hiện một công việc nào đó cần trải qua hai công đoạn A và B

Công đoạn A có thể làm theo n cách, với mỗi cách thực hiện công đoạn A thì công đoạn B có m cách Khi đó công việc có thể thực hiện theo n.m cách khác nhau Đó là

một kết quả tổng quát

- Chúng ta tiếp tục đi đến một kết quả tổng quát hơn từ kết quả tổng quát ở

trên: Giả sử một công việc nào đó được thực hiện qua k công đoạn A1,A2, ,A k Công đoạn A1 có thể thực hiện theo n1 cách, công đoạn A2 có thể thực hiện theo n2 cách, , công đoạn A k có thể thực hiện theo n k cách Khi đó công việc có thể thực hiện theo n1n2 n k cách khác nhau

Khái quát hóa

Khái quát hóa từ cái riêng lẻ

Khái quát hóa đến cái tổng

quát chưa biết

Trang 15

Cả hai trường hợp trên đều là sự khái quát đi đến kiến thức mới, tổng quát Bên cạnh đó còn có dạng khái quát hóa đi đến kiến thức đã biết, dạng này được tiến hành chẳng hạn khi giải những bài tập cụ thể, trong đó khái quát hóa thể hiện ở việc

liên hệ những tình huống cụ thể của bài tập với những tiên đề, định nghĩa, định lý thích hợp, ở việc nhận biết cái tổng quát đã biết trong những cái cụ thể

Dạng khái quát hóa đi đến cái tổng quát chưa biết, tức đi đến kiến thức mới, có

thể là một khái niệm, một định lý hay một bài tập nào đó mà ta muốn hình thành hoặc

mở rộng Quy trình thực hiện thao tác này như sau:

Bước 1: Xác định vấn đề cần khái quát;

Bước 2: Xác định các đặc điểm của các đối tượng riêng lẻ;

Bước 3: So sánh các đặc điểm đó để tìm ra đặc điểm giống nhau và khác nhau; Bước 4: Trong các đặc điểm giống nhau đó giữ lại cái bản chất và trừu xuất chúng ra khỏi đối tượng;

Bước 5: Chuyển từ việc nghiên cứu các đối tượng riêng lẻ sang nghiên cứu một tập lớn hơn chứa các đối tượng riêng lẻ đó;

Bước 6: Chứng minh các đặc điểm vừa tách ra ở bước 4 cũng thỏa mãn trong

tập lớn hơn ở bước 5;

Bước 7: Phát biểu kết quả tổng quát vừa chứng minh được

Dạng khái quát hóa này đi đến kiến thức mới, chẳng hạn như hình thành khái niệm theo con đường quy nạp, mở rộng một khái niệm, mở rộng một định lý, mở rộng một bài toán,

Ví dụ : Sau khi học công thức nhị thức Newton, có thể cho học sinh làm các

bài toán sau:

10

2 5 5

2 4 5

2 3 5

2 2 5

2 1 5

2 0

10 0 5 3 5 1 5 2 5 2 5 1 5 3 5 0

2 1 100

2 0

100 C C C

200 0

100 30 100 1

100 29 100 29

100 1 100 30

100 0

100 C C .C C .C C .C C

4) Hãy nêu bài toán tổng quát của 2) và 3)

Học sinh dễ dàng đưa ra kết quả của câu 1) là hệ số của 5

x trong khai triển của

2 3 5

2 2 5

2 1 5

2 0

x trong khai triển của  10

5 3 5 1 5 2 5 2 5 1

1

1 x x và  10

1 x bằng nhau với mọi giá trị của x nên chúng ta

có các đẳng thức:

Trang 16

            5

10

2 5 5

2 4 5

2 3 5

2 2 5

2 1 5

2 1 100

100 30 100 1

100 29 100 29

100 1 100 30

100 0

100 C C .C C .C C .C C

Tiếp theo, giáo viên hướng dẫn học sinh khái quát hóa để đưa ra được bài toán

tổng quát theo các bước sau:

Bước 1: Xác định vấn đề cần khái quát hóa

- Hãy tìm bài toán tổng quát cùng với phương pháp giải!

Bước 2: Xác định các dấu hiệu, các đặc điểm, các thuộc tính, các mối liên hệ của các đối tượng riêng lẻ

- Hãy tìm các đặc điểm của các đẳng thức:

10 2 5 5 2 4 5 2 3 5 2 2 5 2 1 5 2

2 1 100

100 30 100 1

100 29 100 29

100 1 100 30

100 0

10

C , 10  5 2; vế phải của  2 là 100

200

C , 200  100 2; + Vế trái của  3 là một tổng mà mỗi số hạng có dạng 5 , 0 , 3

5

5  

i C

C i i ; Vế trái của  4 là một tổng mà mỗi số hạng có dạng 100. 10030 ,  0 , 30

i C

C i i ; + Vế phải của  3 là 3

10

C ; vế phải của  4 là 30

100

C

Bước 3: So sánh các dấu hiệu, các đặc điểm, các thuộc tính, các mối liên hệ đó

để tìm ra dấu hiệu giống nhau và khác nhau

So sánh các đặc điểm trên, học sinh thấy rằng:

+ Vế trái của  1 và  2 đều là một tổng mà mỗi số hạng có dạng  C i i n

n 2,  0 , ,

 1 ứng với n 5,  2 ứng với n100; vế phải của  1 và  2 đều có dạng n

n

C2 ,  1 ứng với n5,  2 ứng với n100

+ Vế trái của  3 và  4 đều là một tổng mà mỗi số hạng có dạng

k i

Bước 4: Giữ lại các đặc điểm chung:

+ Vế trái của  1 và  2 đều là một tổng mà mỗi số hạng có dạng  C n i 2,i  0 ,n,

vế phải của  1 và  2 đều có dạng n

n

C2 ;

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Trần Đức Chiển (2007), Rèn luyện năng lực tư duy thống kê cho học sinh trong dạy học Thống kê – Xác suất ở môn Toán Trung học phổ thông, Luận án tiến sĩ giáo dục học, Viện chiến lược và chương trình giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện năng lực tư duy thống kê cho học sinh trong dạy học Thống kê – Xác suất ở môn Toán Trung học phổ thông
Tác giả: Trần Đức Chiển
Năm: 2007
3. Nguyễn Thị Mỹ Hằng, Phạm Xuân Chung, Trương Thị Dung (2016), Rèn luyện các thao tác tư duy cho học sinh trong dạy học môn Toán ở trường Trung học phổ thông, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện các thao tác tư duy cho học sinh trong dạy học môn Toán ở trường Trung học phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Hằng, Phạm Xuân Chung, Trương Thị Dung
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2016
4. Trần Văn Hạo ( Tổng Chủ biên- 2009), Đại số và Giải tích 11, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại số và Giải tích 11
Nhà XB: NXB Giáo dục
5. Lê Huy Hoàng, Sáng tạo và những điều kiện chủ yếu để kích thích sự sáng tạo của con người Việt Nam hiện nay. Luận án tiến sĩ triết học, viện triết học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sáng tạo và những điều kiện chủ yếu để kích thích sự sáng tạo của con người Việt Nam hiện nay
7. Lê Thống Nhất (1996), Rèn luyện năng lực giải toán cho học sinh phổ thông trung học thông qua việc phân tích và sửa chữa sai lầm của học sinh khi giải toán, Luận án phó tiến sĩ khoa học Sư phạm – Tâm lý, Đại học sư phạm Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện năng lực giải toán cho học sinh phổ thông trung học thông qua việc phân tích và sửa chữa sai lầm của học sinh khi giải toán
Tác giả: Lê Thống Nhất
Năm: 1996
8. Trần Phương, Nguyễn Đức Tấn (2008), Sai lầm thường gặp và các sáng tạo khi giải Toán, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sai lầm thường gặp và các sáng tạo khi giải Toán
Tác giả: Trần Phương, Nguyễn Đức Tấn
Năm: 2008
9. Từ Đức Thảo, Bồi dưỡng năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học hình học, Luận án tiến sĩ giáo dục học, Đại học Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học hình học
1. Bộ giáo dục và Đào tạo, dự án phát triển giáo dục trung học phổ thông (2010), Nguyễn Văn Cường, Một số vấn đề chung về đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w