1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao hiệu quả dạy chương chuyển hóa vật chất và năng lượng trong tế bào sinh học 10 thông qua thiết kế bài dạy bằng phương pháp dạy học tích cực

49 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 1,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu - Nhằm giúp bản thân hiểu rõ thêm về tính tích cực học tập bộ môn Sinh học của đối tượng học sinh dân tộc mà mình đang giảng dạy, qua đó nhận ra những mặt mạnh, mặ

Trang 1

“NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY CHƯƠNG “CHUYỂN HÓA

VẬT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG TRONG TẾ BÀO” SINH HỌC 10

THÔNG QUA PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC

Thuộc lĩnh vực: Phương pháp dạy học bô bộ môn Sinh học

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ 4

1 Lý do chọn đề tài 4

2 Mục tiêu nghiên cứu 5

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

NỘI DỤNG NGHIÊN CỨU 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6

1 Một số đặc điểm tâm lí của học sinh trường THPT DTNT Tỉnh Nghệ An 6

1.1 Điểm qua những thành tích đã đạt được của trường PT- DTNT Tỉnh Nghệ An 6

1.2.Về đặc điểm nhận thức HS dân tộc 6

1.3 Chất lượng đầu vào của HS PT - DTNT Tỉnh Nghệ An 7

1.4.Thực trạng 7

1.4.1 Về phía giáo viên: 7

1.4.2 Về học sinh: 8

2 Các giải pháp 8

2.1 Nâng cao tính tích cực học tập bằng cách sử dụng phương tiện dạy học thông qua hoạt động quan sát: 8

2.2 Nâng cao tính tích cực học tập bằng các biện pháp tâm lý, giao tiếp sư phạm xây dựng tình cảm tốt đẹp thầy – trò: 9

2.3 Nâng cao tính tích cực học tập bằng việc khai thác các nguồn kiến thức thực tế 10

2.4 Nâng cao tính tích cực học tập bằng cách sử dụng phương pháp hoạt động nhóm: 10

2.5 Nâng cao tính tích cực học tập bằng cách sử dụng phương pháp đóng vai: 11

2.6 Nâng cao tính tích cực học tập bằng các phương pháp nêu và giải quyết vấn đề: 12

2.7 Nâng cao tính tích cực học tập bằng các phương pháp tổ chức dạy học bằng trò chơi: 13

2.7.1 Giáo viên cần lựa chọn nội dung bài dạy phù hợp với nội dung trò chơi 13

2.7.2 Giúp học sinh xác định rõ mục đích của trò chơi 14

2.4.3 Cách xây dựng trò chơi học tập 14

Trang 3

2.8 Nâng cao tính tích cực học tập bằng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích

cực: 14

2.8.1 Nâng cao tính tích cực học tập bằng cách sử dụng kĩ thuật đặt câu hỏi: 15

2.8.2.Nâng cao tính tích cực học tập bằng cách sử dụng sơ đồ tư duy hay còn gọi là bản đồ tư duy (lược đồ tư duy) 16

2.8.3.Nâng cao tính tích cực học tập bằng cách sử dụng kĩ thuật công não (động não hay còn gọi là kĩ thuật phát huy ý tưởng): 16

2.8.4 Nâng cao tính tích cực học tập bằng phương pháp thuyết trình theo hướng tích cực 17

CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ CHƯƠNG CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG TRONG TẾ BÀO SINH HỌC 10 BẰNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC ĐỂ HOẠT ĐỘNG HÓA NGƯỜI HỌC 18

2.1 Phân tích nội dung chương chuyển hóa vật chất và năng lượng trong tế bào – chương III sinh học 10 18

2.2 Thiết kế một số giáo án theo phương pháp dạy học tích cực 18

PHẦN III- KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48

1 KẾT LUẬN 48

2 KIẾN NGHỊ 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 49

Trang 4

PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lý do chọn đề tài

Thế kỉ XXI là thế kỉ của nền kinh tế tri thức, con người được xem là nhân tố chính của sự phát triển Một xã hội muốn phát triển phải dựa vào sức mạnh của tri thức bắt nguồn từ việc khai thác tiềm năng của con người, lấy việc phát huy nguồn lực của con người làm nhân tố của sự phát triển

Chúng ta đang sống trong thời đại “Bùng nổ” tri thức, khối lượng kiến thức đang ngày một gia tăng nhanh chóng Do khối lượng kiến thức tăng “ Siêu tốc” mâu thuẫn với quỹ thời gian học tập ở nhà trường có hạn nên giáo dục phải dựa trên nguyên tắc “Học tập thường xuyên, suốt đời ” Vì vậy, nhiệm vụ của giáo viên hiện nay không chỉ dạy kiến thức mà điều quan trọng là dạy phương pháp, rèn luyện khả năng tự làm việc, tự tìm hiểu để nắm bắt tri thức

Trong đó, Sinh học là môn khoa học thực nghiệm, kiến thức xuất phát từ đời sống sản xuất và có nhiều ứng dụng trong thực tiễn sản xuất Kiến thức Sinh học lớp 10 chủ yếu là kiến thức khái niệm trừu tượng và các kiến thức quá trình Chính vì vậy cần đổi mới cách dạy, cách học theo hướng tạo mọi điều kiện để học sinh lĩnh hội kiến thức một cách chủ động và sáng tạo

Nhưng thực tế việc đổi mới phương pháp học tập học sinh còn chưa đạt yêu cầu, PPDH truyền thống vẫn phổ biến trong các trường phổ thông, chưa phát huy hết được tính tích cực của học sinh Hiên nay, người giáo viên chủ yếu giảng dạy trên cơ sở sách giáo khoa, với những lệnh, câu hỏi có sẵn, mà việc giải bài tập và trả lời câu hỏi ở sách giáo khoa thì cũng chỉ phần nào giúp cho học sinh nắm được lí thuyết một cách đơn thuần, máy móc, không linh hoạt Vấn đề liên hệ thực tế, phát triển tư duy, phương pháp học tập, rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh trong các môn học, trong đó có môn Sinh học là rất cần thiết

Trong đó giáo dục dân tộc, hệ thống trường THPT- DTNT là loại trường chuyên biệt Hệ thống các trường dân tộc nội trú không chỉ góp phần nâng cao dân trí mà còn tạo nguồn cán bộ đáp ứng nhu cầu phát triền kinh tế – xã hội cho các địa phương có đồng bào dân tộc sinh sống Đối tượng các em học sinh hầu hết đều sống

xa gia đình, sống tập trung việc học tập ăn uống vui chơi đều có sự quản lí của nhà trường và 70 % quỹ thời gian học tập của các em là tự học ở trên lớp Vì vậy nếu không có phương pháp, kĩ năng để lĩnh hội tri thức thì việc học của học sinh sẽ không đạt kết quả Sự hứng thú, tích cực tự giác, năng động, sáng tạo, khả năng làm chủ bản thân, làm chủ tri thức là những yêu cầu cần phải có ở người học sinh trong thời đại ngày nay

Xuất phát từ những lý do trên cùng với mong muốn góp phần nhỏ để nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học Sinh học 10 tôi áp dụng vào sáng kiến kinh nghiệm với

đề tài: Nâng cao hiệu quả dạy chương “ Chuyển hóa vật chất và năng lượng

trong tế bào” Sinh học 10 thông qua thiết kế bài dạy bằng phương pháp dạy học tích cực

Trang 5

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Nhằm giúp bản thân hiểu rõ thêm về tính tích cực học tập bộ môn Sinh học của đối tượng học sinh dân tộc mà mình đang giảng dạy, qua đó nhận ra những mặt mạnh, mặt yếu trong phương pháp, biện pháp giảng dạy, từ đó tiếp tục tìm hiểu, rèn luyện chuyên môn nghiệp vụ, tăng lòng yêu nghề, trách nhiệm trong công việc để nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn

- Giúp học sinh nâng cao tính tích cực học tập bộ môn Sinh học, giúp các em khơi dậy lòng đam mê học tập, tính tích cực, tự giác, tập trung chú ý, rèn kĩ năng giao tiếp và đạt kết quả cao trong học tập Các em sẽ được củng cố và nâng cao động

cơ, thái độ và mục đích học tập, xây dựng cho bản thân các em động cơ, thái độ học tập đúng đắn về lâu dài

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Xây dựng nội dung SGK Sinh học 10, chương III: Chuyển hóa vật chất và năng lượng trong tế bào theo phương pháp dạy học tích cực

- Hoạt động học tập tích cực của học sinh trường THPT- DTNT Tỉnh Nghệ An trong quá trình dạy học sinh học

3.2 Khách thể nghiên cứu

- Học sinh lớp 10 Trường THPT- DTNT Tỉnh Nghệ An

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của các phương pháp dạy học tích cực

để phát huy hoạt động hóa người học

- Điều tra thực trạng tình hình tổ chức các phương pháp dạy học tích cực trong trường THPT

- Thiết kế dạy học trong chương “Chuyển hóa vật chất và năng lượng trong tế bào” Sinh học 10 bằng các phương pháp dạy học tích cực

- Kiểm tra tính hiệu quả của các chủ đề đã thiết kế trong việc tăng các hoạt

động chiếm lĩnh tri thức của học sinh khi học Sinh học 10

Trang 6

NỘI DỤNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1 Một số đặc điểm tâm lí của học sinh trường THPT DTNT Tỉnh Nghệ An 1.1 Điểm qua những thành tích đã đạt được của trường PT- DTNT Tỉnh Nghệ An

Trường Trung học Phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh Nghệ An được thành lập năm 1984 Qua 35 năm xây dựng và trưởng thành trường đã đạt được nhiều thành tích xuất sắc Vào năm học 2018- 2019, có 100% học sinh đậu tốt nghiệp có 10 em được ban dân tộc tỉnh vinh danh, 1 em được ủy ban nhân dân tỉnh vinh danh Hơn 1.500 em đã trưởng thành trở về phục vụ, xây dựng quê hương, nhiều em đã trưởng thành thành cán bộ cốt cán có năng lực của địa phương Thật có ý nghĩa khi mà nhiều dân tộc, lần đầu tiên nhờ mái trường này có người có trình độ Trung học Phổ thông, có người thành cán bộ Đáng chú ý là: trong quá trình giáo dục, đào tạo, nhà trường đã xây dựng được môi trường nội trú có văn hoá, văn minh, không có tệ nạn xã hội, các em học sinh chăm ngoan, có ý thức tổ chức kỷ luật cao, chất lượng đạo đức, chất lượng văn hoá ngày càng tốt, học sinh giỏi tỉnh, thi đỗ đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp ngày càng nhiều Nhà trường vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động Nhất, Nhì, Ba, Được Thủ Tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục- Đào tạo tặng Bằng khen

Trường THPT Dân tộc nội trú tỉnh Nghệ An là cánh chim đầu đàn, là trường trọng điểm chất lượng cao trong sự nghiệp phát triển giáo dục miền núi của tỉnh Nghệ An

1.2.Về đặc điểm nhận thức HS dân tộc

Điểm nổi bật trong khả năng tư duy của học sinh dân tộc là thói quen lao động trí óc chưa bền, ngại động não Trong học tập nhiều em không biết lật đi lật lại vấn đề, phát hiện thắc mắc, suy nghĩ sâu sắc về vấn đề học tập Nhiều học sinh không hiểu bài nhưng không biết mình không hiểu ở chỗ nào Tư duy của học sinh dân tộc còn kém nhanh nhạy và linh hoạt, khả năng thay đổi giải pháp chậm, nhiều khi máy móc, rập khuôn Học sinh dân tộc thường thỏa mãn với cái có sẵn, ít động não đổi mới, khả năng độc lập tư duy và óc phê phán còn hạn chế Thao tác tư duy thể hiện ở khả năng phân tích, tổng hợp, khái quát của học sinh còn phát triển chậm, thiếu toàn diện

Học sinh dân tộc đa số chăm chỉ, chịu khó song phương pháp học tập nói chung chưa khoa học, thường tiếp thu tri thức một cách thụ động bằng các ghi nhớ, tái hiện Cố gắng ghi nhớ toàn bộ lời giảng của giáo viên rồi cố gắng lặp lại y nguyên, ngại đào sâu, suy nghĩ, tìm dấu hiệu bản chất của nội dung vấn đề nghiên cứu (học vẹt)

Trang 7

Hình thức học tập của HS vẫn hay sử dụng là học thuộc lòng trong vở ghi, các hình thức ôn tập mang tính tích cực ít được sử dụng, kỹ năng xây dựng dàn ý tóm tắt bài học, kĩ năng xây dựng sơ đồ, lập bảng tóm tắt của HS đa số ở mức yếu và hầu như chưa được hình thành

HS trường dân tộc thường gặp khó khăn khi phát biểu trước đám đông vì ngại ngùng, thiếu tự tin, một số HS gặp khó khăn trong diễn đạt bằng tiếng phổ thông (tiếng Việt) các kiến thức vốn đã hiểu (tức là tuy trong óc thì hiểu mà lại khó khăn

để nói, viết ra), Như vậy với đối tượng là HS DT miền núi thì các kỹ năng tự học, kỹ năng giao tiếp, các kỹ năng mềm rất hạn chế do các em chưa có điều kiện để sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại, các phương pháp dạy học tích cực

1.3 Chất lượng đầu vào của HS PT - DTNT Tỉnh Nghệ An

Học sinh được vào học trong trường THPT Dân tộc nội trú tỉnh Nghệ An là những học sinh được xét tuyển thông qua kết quả thi tuyển vào lớp 10 của các em học sinh thuộc 12 huyện miền núi trong tỉnh Nghệ An Với điểm sàn thì lấy từ kết quả từ cao xuống thấp Đối với mỗi huyện miền núi lấy thêm hai em học sinh dân

tộc đặc biệt ( đây là những học sinh dưới điểm sàn) Hầu hết các em đều thuộc các

vùng miền núi sâu, xa và đặc biệt khó khăn như các huyện Kỳ Sơn, Tương Dương,

Con Cuông… Gồm các dân tộc ít người Ơdu, Hmông, Đan lai, Kmú Chúng tôi đã

thống kê số lượng học sinh từng dân tộc qua 3 năm gần đây như sau :

Bảng 1 Thống kê số lượng học sinh các dân tộc qua 3 năm học

Do kết quả thi vào 10 của các em có nhiều đối tượng ưu tiên do vùng đặc biệt khó khăn được Vì vậy, chất lượng kiến thức của các em trước khi vào học

không đồng đều Chính vì lẽ đó ma việc bồi dưỡng phương pháp tự học cho các em

học sinh gặp rất nhiều khó khăn và thử thách

1.4.Thực trạng

1.4.1 Về phía giáo viên:

Hiện nay, người giáo viên chủ yếu giảng dạy trên cở sở sách giáo khoa, với những lệnh, câu hỏi có sẵn, mà việc giải bài tập và trả lời câu hỏi ở sách giáo khoa thì cũng chỉ phần nào giúp cho học sinh nắm được lí thuyết một cách đơn thuần, máy móc, không linh hoạt Vấn đề liên hệ thực tế, phát triển tư duy, phương pháp học tập, rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh trong các môn học, trong đó có môn Sinh học còn rất nhiều hạn chế Vả lại chương trình Sinh Học hiện nay còn nhiều nội

Trang 8

dung khó và quá tải so với trình độ, lứa tuổi của học sinh, nhất là học sinh dân tộc, nên việc vận dụng đổi mới phương pháp có những khó khăn nhất định Bản thân tôi qua những năm trước cũng chưa chú ý tìm tòi, đổi mới có hiệu quả phương pháp giảng dạy và rất dễ bị tụt hậu so với sự đổi mới của Ngành giáo dục cũng như của đất nước Qua việc dự giờ, tôi cũng nhận thấy nhiều giáo viên trong trường chưa tiếp cận được các phương pháp dạy học tích cực và do vậy hiệu quả giảng dạy toàn diện chưa nâng cao đúng yêu cầu của thời đại

1.4.2 Về học sinh:

Học sinh ở nội trú 100% Hoạt động tự học phần lớn các lớp thực hiện vào buổi chiều (trừ một số các lớp có buổi thực hành, thí nghiệm hoặc lao động công ích) và buổi tối Địa điểm của hoạt động tự học là tập trung trên lớp Tổng thời gian tự học trong một ngày theo qui định 6 - 7 tiếng, thời kỳ ôn thi nhiều em thực hiện trên 10 tiếng Tổ chức thực hiện tự học nhà trường giao cho: Bộ phận trực tự học duy trì giờ giấc sinh hoạt, đôn đốc học sinh lên lớp tự học 100% Giáo viên chủ nhiệm trực tiếp tổ chức chỉ đạo hoạt động tự học của lớp mình thông qua phát huy nhiệm vụ của ban cán sự lớp Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trường đăng cai việc tổ chức, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện giờ tự học của Đoàn viên - Học sinh toàn trường, hàng tuần có thông báo, số học sinh và số buổi bỏ giờ tự

học, phân loại xếp hạng các chi đoàn Vì là việc học tập trung nên việc tự học của

mỗi HS tốt hay không còn phụ thuộc ít nhiều vào việc tự học của các HS khác Do vậy việc tổ chức tự học cho HS DTNT phải có tổ chức hướng dẫn của giáo viên

trong các tiết dạy bằng cách tổ chức cho các em chuẩn bị bài mỗi khi lên lớp

Về phía học sinh, tôi nhận thấy ở các em còn thiếu rất nhiều kĩ năng, phương pháp học tập, tính tích cực học tập còn nhiều hạn chế, nhiều em còn thụ động trong việc tìm hiểu, tiếp thu kiến thức, kĩ năng học tập bộ môn

2 Các giải pháp vấn đề nghiên cứu

Từ việc nghiên cứu các vấn đề thực tiễn về tính tích cực học tập đã trình bày

ở trên, chúng tôi xin đề xuất một số nhóm biện pháp nâng cao kết quả và tính tích cực học tập trong dạy học Sinh học như sau:

2.1 Nâng cao tính tích cực học tập bằng cách sử dụng phương tiện dạy học thông qua hoạt động quan sát:

Trong quá trình dạy học Sinh học, các phương tiện trực quan, các phương tiện thí nghiệm, phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường có vai trò quan trọng:

- Làm nội dung học tập sinh động, phong phú, nâng cao tính tích cực học tập môn Sinh học, nâng cao lòng tin của học sinh vào khoa học bộ môn Học sinh có cơ hội kiểm nghiệm kiến thức lý thuyết với thực tiễn đang diễn ra hằng ngày trong đời sống và sản xuất ở địa phương, trong nước và trên thế giới

- Phát triển năng lực quan sát và các năng lực tư duy khác của học sinh

Trang 9

- Tăng hiệu quả dạy học của giáo viên

Việc sử dụng phương tiện dạy học vào trong quá trình giảng dạy không những có tác dụng n âng cao tính tích cực học tập cho học sinh mà còn góp phần nâng cao năng lực chuyên môn của người giáo viên Việc sử dụng phương tiện trong giảng dạy Sinh học thường xuyên góp phần nâng cao chất lượng quá trình dạy học và giúp cho học sinh thêm yêu thích môn Sinh học

Phương pháp quan sát phải kết hợp chặt chẽ với các phương pháp khác để sự lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng đạt hiệu quả cao Hành động quan sát chỉ là bước khởi đầu, chuẩn bị cho các bước tiếp sau Nếu chỉ quan sát không thôi hoặc chỉ đọc sách giáo khoa thì chưa đủ vì đây chỉ là hành động tìm kiếm thông tin thô hay lúc này người quan sát chỉ mới có thể mô tả, liệt kê thông tin từ tranh, ảnh, mô hình Đây là cách tiếp nhận thông tin của phần lớn học sinh tiểu học

Do vậy trước khi tiến hành quan sát cần xác định rõ mục đích, yêu cầu, nhiệm

vụ quan sát và những hướng dẫn quan sát khi cần thiết Mục đích yêu cầu nhiệm vụ quan sát thể hiện qua các câu hỏi, hoặc trong nội dung các đề mục ở sách giáo khoa hoặc do giáo viên đề ra Trong trường hợp học sinh tự quan sát ở nhà hay trong thiên nhiên thì kế hoạch quan sát là do học sinh quyết định trên cơ sở hướng dẫn của giáo viên với mục tiêu được xác định trước

2.2 Nâng cao tính tích cực học tập bằng các biện pháp tâm lý, giao tiếp sư phạm xây dựng tình cảm tốt đẹp thầy – trò:

Dạy học là một nghệ thuật, đó là nghệ thuật sư phạm của người giáo viên Giáo viên đứng trước học sinh, vừa giống như người đạo diễn, vừa là người biểu diễn, đồng thời là người hướng dẫn và học sinh là những người diễn viên thực tập, vừa học vừa làm theo giáo viên Người giáo viên phải có những thủ thuật về tâm

lý, hay còn gọi là nghệ thuật sư phạm hay ngh ệ thuật dạy học Vì vậy, để nâng cao tính tích cực học tập cho học sinh giáo viên cần quan tâm đến các biện pháp tâm lý cần thiết khi lên lớp, trong đó quan trọng là kĩ năng giao tiếp sư phạm

Sử dụng có hiệu quả các biện pháp tâm lí, giao tiếp sư phạm không những nâng cao hứng thú và tính tích cực học tập bộ môn mà còn thể hiện tính tích cực trong việc xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực nói chung trong trong lớp, trong trường

Trong quá trình dạy học, người giáo viên có thể kết hợp sử dụng giao tiếp phi ngôn ngữ; xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa thầy và trò …

Trước hết, người giáo viên nên luyện tập sao cho giọng nói trở nên truyền cảm, khai thác các đặc tính âm thanh (cao độ, trường độ, âm sắc) và vốn từ Sau đó, cần sưu tầm những cách dẫn bài hấp dẫn, những câu chuyện vui, những câu nói hài hước liên quan đến nội dung bài học giúp gây hứng thú học tập cho học sinh

Giáo viên chủ động, gần gũi, động viên học sinh, thương yêu trẻ, tạo ra tình cảm, xúc cảm tích cực, tạo tâm thế cho học sinh ngay khi bước vào tiết học Một số

Trang 10

sai sót thường gặp của học sinh như: vệ sinh lớp chưa tốt, chưa lau bảng; thiếu thước

kẻ hoặc phấn viết bảng; hoặc soạn bài, học bài cũ chưa tốt, đầu tiết còn ồn, mất trật tự … Khi học sinh có sai sót thì cần nhắc nhở khéo léo chứ đừng bao giờ quát mắng,

la ó om sòm làm mất tình cảm thầy trò, mất tính tích cực học tập của học sinh

2.3 Nâng cao tính tích cực học tập bằng việc khai thác các nguồn kiến thức thực tế

Kiến thức Sinh học vô cùng phong phú Nếu người giáo viên biết khai thác nguồn kiến thức này một cách hiệu quả thì sẽ giúp cho học sinh thêm yêu thích môn học Từ đó, các em hứng thú, say mê tìm hiểu thêm những kiến thức mà giáo viên không có điều kiện cung cấp

Để nâng cao tính tích cực học tập cho học sinh, giáo viên có thể khai thác một

số biện pháp sau:

- Chọn lọc nguồn kiến thức cần liên hệ có liên quan với kiến thức mới mà học sinh đang hoặc chuẩn bị học;

- Kiến thức thực tế phải dựa trên nền tảng kiến thức sẵn có của học sinh;

- Những thành tựu Sinh học hiện đại trong nước và thế giới liên quan đến nội dung kiến thức đang đề cập

- Ý nghĩa thực tế của nội dung kiến thức đang đề cập;

- Nhận định của học sinh về khả năng vận dụng kiến thức vừa học ở gia đình, địa phương;

- Hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu thêm để bổ sung tri thức mới cho bản thân các em;

- Tạo điều kiện để học sinh có dịp chia sẻ kiến thức của mình với thầy cô, bè bạn

2.4 Nâng cao tính tích cực học tập bằng cách sử dụng phương pháp hoạt động nhóm:

* Bản chất

Dạy học nhóm còn được gọi bằng những tên khác nhau như: Dạy học hợp tác, Dạy học theo nhóm nhỏ, trong đó HS của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ, trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm

vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhóm sau

đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp

Dạy học nhóm nếu được tổ chức tốt sẽ phát huy được tính tích cực, tính trách nhiệm; phát triển năng lực cộng tác làm việc và năng lực giao tiếp của HS

* Quy trình thực hiện

Tiến trình dạy học nhóm có thể được chia thành 3 giai đoạn cơ bản:

a Làm việc toàn lớp : Nhập đề và giao nhiệm vụ

Trang 11

- Lập kế hoạch làm việc

- Thoả thuận quy tắc làm việc

- Tiến hành giải quyết các nhiệm vụ

- Chuẩn bị báo cáo kết quả

c Làm việc toàn lớp: Trình bày kết quả, đánh giá

- Các nhóm trình bày kết quả

- Đánh giá kết quả

* Một số lưu ý

Có rất nhiều cách để thành lập nhóm theo các tiêu chí khác nhau, không nên áp

dụng một tiêu chí duy nhất trong cả năm học Số lượng HS/1 nhóm nên từ 4- 6 HS

Nhiệm vụ của các nhóm có thể giống nhau, hoặc mỗi nhóm nhận một nhiệm

vụ khác nhau, là các phần trong một chủ đề chung

Dạy học nhóm thường được áp dụng để đi sâu, luyện tập, củng cố một chủ đề

đã học hoặc cũng có thể tìm hiểu một chủ đề mới

Các câu hỏi kiểm tra dùng cho việc chuẩn bị dạy học nhóm:

- Chủ đề có hợp với dạy học nhóm không?

- Các nhóm làm việc với nhiệm vụ giống hay khác nhau?

- HS đã có đủ kiến thức điều kiện cho công việc nhóm chưa?

- Cần trình bày nhiệm vụ làm việc nhóm như thế nào?

- Cần chia nhóm theo tiêu chí nào?

- Cần tổ chức phòng làm việc, kê bàn ghế như thế nào?

2.5 Nâng cao tính tích cực học tập bằng cách sử dụng phương pháp đóng vai:

*Bản chất

Đóng vai là phương pháp tổ chức cho HS thực hành, “ làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định Đây là phương pháp nhằm giúp HS suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự việc cụ thể mà các

em vừa thực hiện hoặc quan sát được Việc “diễn” không phải là phần chính của phương pháp này mà điều quan trọng là sự thảo luận sau phần diễn ấy

Trang 12

* Quy trình thực hiện

Có thể tiến hành đóng vai theo các bước sau:

- Giáo viên nêu chủ đề, chia nhóm và giao tình huống, yêu cầu đóng vai cho từng nhóm Trong đó có quy định rõ thời gian chuẩn bị, thời gian đóng vai của mỗi nhóm

- Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai

- Tình huống không nên quá dài và phức tạp, vượt quá thời gian cho phép

- Tình huống phải có nhiều cách giải quyết

- Tình huống cần để mở để HS tự tìm cách giải quyết, cách ứng xử phù hợp; không cho trước “ kịch bản”, lời thoại

- Mỗi tình huống có thể phân công một hoặc nhiều nhóm cùng đóng vai

- Phải dành thời gian phù hợp cho HS thảo luận xây dựng kịch bản và chuẩn bị đóng vai

- Cần quy định rõ thời gian thảo luận và đóng vai của các nhóm

- Trong khi HS thảo luận và chuẩn bị đóng vai, GV nên đi đến từng nhóm lắng nghe và gợi ý, giúp đỡ HS khi cần thiết

- Các vai diễn nên để HS xung phong hoặc tự phân công nhau đảm nhận

- Nên khích lệ cả những HS nhút nhát cùng tham gia

- Nên có hoá trang và đạo cụ đơn giản để tăng tính hấp dẫn của tiểu phẩm đóng vai

2.6 Nâng cao tính tích cực học tập bằng các phương pháp nêu và giải quyết vấn đề:

* Bản chất

Dạy học (DH) phát hiện và giải quyết vấn đề (GQVĐ) là PPDH đặt ra trước

HS các vấn đề nhận thức có chứa đựng mâu thuẫn giữa cái đã biết và cái chưa biết, chuyển HS vào tình huống có vấn đề , kích thích họ tự lực, chủ động và có nhu cầu mong muốn giải quyết vấn đề

Trang 13

* Quy trình thực hiện

- Xác định, nhận dạng vấn đề/tình huống;

- Thu thập thông tin có liên quan đến vấn đề/tình huống đặt ra;

- Liệt kê các cách giải quyết có thể có;

- Phân tích, đánh giá kết quả mỗi cách giải quyết (tích cực, hạn chế, cảm xúc, giá trị);

- So sánh kết quả các cách giải quyết ;

- Lựa chọn cách giải quyết tối ưu nhất;

- Thực hiện theo cách giải quyết đã lựa chọn;

- Rút kinh nghiệm cho việc giải quyết những vấn đề, tình huống khác

* Một số lưu ý

- Các vấn đề/ tình huống đưa ra để HS xử lí, giải quyết cần thoả mãn các yêu cầu sau:

- Phù hợp với chủ đề bài học

- Phù hợp với trình độ nhận thức của HS

- Vấn đề/ tình huống phải gần gũi với cuộc sống thực của HS

- Vấn đề/ tình huống có thể diễn tả bằng kênh chữ hoặc kênh hình, hoặc kết hợp cả hai kênh chữ và kênh hình hay qua tiểu phẩm đóng vai của HS

- Vấn đề/ tình huống cần có độ dài vừa phải

- Vấn đề/ tình huống phải chứa đựng những mâu thuẫn cần giải quyết, gợi ra cho HS nhiều hướng suy nghĩ, nhiều cách giải quyết vấn đề

- Tổ chức cho HS giải quyết, xử lí vấn đề/ tình huống cần chú ý:

- Các nhóm HS có thể giải quyết cùng một vấn đề/ tình huống hoặc các vấn đề/ tình huống khác nhau, tuỳ theo mục đích của hoạt động

- HS cần xác định rõ vấn đề trước khi đi vào giải quyết vấn đề

- Cần sử dụng phương pháp động não để HS liệt kê các cách giải quyết có thể có

- Cách giải quyết tối ưu đối với mỗi HS có thể giống hoặc khác nhau

2.7 Nâng cao tính tích cực học tập bằng các phương pháp tổ chức dạy học bằng trò chơi:

2.7.1 Giáo viên cần lựa chọn nội dung bài dạy phù hợp với nội dung trò chơi

Không phải tiết khoa học nào cũng cần sử dụng đến phương pháp Trò chơi học

tập Nếu như vậy thì giáo viên đã quá lạm dụng phương pháp này Vì thế , với mỗi

tiết dạy, giáo viên cần xác định rõ mục tiêu của bài học, lựa chọn phương pháp dạy học cho phù hợp với nội dung từng phần, áp dụng linh hoạt các phương pháp dạy

Trang 14

học trong tiết dạy sao cho tiết học trở nên nhẹ nhàng, học sinh tiếp thu bài tích cực,

chủ động hơn Tuỳ từng bài mà giáo viên sử dụng phương pháp Trò chơi học tập

cho thích hợp Khi đã lựa chọn được phương pháp dạy học cho mỗi hoạt động, giáo viên cần xác định rõ mục tiêu để xây dựng hình thức tổ chức cho hoạt động đó

2.7.2 Giúp học sinh xác định rõ mục đích của trò chơi

Trước khi tổ chức cho học sinh tham gia chơi, giáo viên cần giúp học sinh hiểu: Qua trò chơi, các em sẽ tìm được những kiến thức gì, củng cố hay khắc sâu, hệ thống được những kiến thức gì?

Phần lớn Trò chơi học tập trong môn khoa học lớp 5 ở hai dạng kiến thức: chơi

để khám phá, hình thành kiến thức mới và chơi để củng cố, hệ thống hoá kiến thức

đã học

2.7.3 Cách xây dựng trò chơi học tập

Giáo viên có thể tổ chức 1 hoạt động học tập thành 1 trò chơi học tập khi đã có

đủ các điều kiện sau:

- Về đồ dùng, dụng cụ phục vụ cho trò chơi

- Về thời gian, thời điểm chơi, không gian chơi

- Có cách chơi, luật chơi rõ ràng

- Có cách tính điểm để phân định “thắng- thua”, khen thưởng…

Các yếu tố đó là sự chuẩn bị cụ thể chu đáo của giáo viên, góp phần quyết định sự thành công hay không của trò chơi

2.8 Nâng cao tính tích cực học tập bằng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực:

Ngày nay, xu hướng dạy học “Lấy người học làm trung tâm” đang được các trường, giáo viên tổ chức thực hiện Những hoạt động này giúp các em thay đổi cách học tập, suy nghĩ và tiếp nhận kiến thức, giúp cho các em có nhiều hứng thú trong quá trình học Giáo viên cần khai thác những phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để rèn luyện cho học sinh khả năng giao tiếp và làm việc có hiệu quả Để nâng cao tính tích cực học tập cho học sinh khi tổ chức các hoạt động dạy học đòi hỏi người giáo viên phải lên kế hoạch, xây dựng nội dung chi tiết một cách cẩn thận Bên cạnh đó, trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học, người giáo viên phải là người dẫn đường, định hướng cho tất cả các em để học sinh nào cũng được hoạt động, phát huy năng lực cá nhân và có thể nắm bắt kiến thức một cách trọn vẹn

Có nhiều kĩ thuật dạy học tích cực giúp nâng cao tính tích cực học tập cho học sinh trong quá trình dạy học Mỗi một nhóm biện pháp đều có những tác dụng, đặc điểm vận dụng riêng Chính vì vậy, người giáo viên cần lựa chọn, kết hợp nhiều biện pháp với nhau để việc nâng cao tính tích cực học tập cho học sinh đạt hiệu quả cao Sau đây là một số giải pháp cụ thể:

Trang 15

2.8.1 Nâng cao tính tích cực học tập bằng cách sử dụng kĩ thuật đặt câu hỏi:

Kĩ thuật đặt câu hỏi nhằm khuyến khích toàn bộ học sinh trong lớp tham gia vào bài học qua việc suy nghĩ để trả lời câu hỏi Trong dạy học ngày nay thì phương pháp đặt câu hỏi là phương pháp chủ yếu ở hầu hết các môn học ở trường phổ thông Một số phương pháp liên quan như: phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp quan sát - vấn đáp; thí nghiệm, thực hành – vấn đáp, nghiên cứu tài liệu – vấn đáp; đàm thoại gợi mở; vấn đáp – phát hiện (còn gọi là phương pháp phát hiện có hướng dẫn), đàm thoại ơrixtic (vấn đáp tìm tòi bộ phận) …

Khi đặt câu hỏi cho học sinh cần tuân thủ một số quy tắc sau, những quy tắc này giúp nâng cao năng lực ứng xử sư phạm cho giáo viên, thu được thông tin phản hồi và giúp học sinh tự tin:

- Phân phối câu hỏi cho cả lớp: câu hỏi phải rõ ràng, để mở, dễ hiểu, xúc tích,

đủ cho cả lớp nghe thấy, nên kết hợp với cả cử chỉ Hỏi càng nhiều học sinh và thuộc nhiều đối tượng khác nhau càng tốt Điều này giúp mọi học sinh suy nghĩ, chuẩn bị tâm thế, lời diễn đạt trong câu trả lời Đừng bao giờ chỉ định học sinh rồi mới đặt câu hỏi, khi đó những học sinh khác sẽ lười biếng suy nghĩ

- Tập trung vào trọng tâm: giáo viên nên đặt câu hỏi cụ thể, tập trung vào nội dung chính của bài Với những câu hỏi khó thì có thể đưa ra những gợi ý nhỏ cho các câu trả lời Trong quá trình hoạt động nên xoáy vào trọng tâm khi phản ứng với câu trả lời của học sinh

- Dừng lại sau khi nêu câu hỏi cho học sinh: để cho học sinh có thời gian suy nghĩ, qua đó tích cực hoá tất cả học sinh Sau khi đặt câu hỏi thì dừng lại 3 đến 5 giây hoặc hơn nữa, sau đó gọi học sinh trả lời

- Phản ứng tích cực với câu trả lời (sai hoặc gần đúng, gần đủ) của học sinh: không chê bai, chỉ trích, trách phạt học sinh khi các em trả lời sai hoặc chưa chính xác Giáo viên cần sử dụng một phần câu trả lời của học sinh để khuyến khích học sinh đó và các học sinh khác tiếp tục suy nghĩ trả lời Điều này giúp nâng cao chất lượng câu trả lời của học sinh, tạo ra mối quan hệ thân thiện giữa thầy và trò, giữa trò và trò, học sinh thấy được tôn trọng và sẽ cố gắng hơn

- Tích cực hoá tất cả học sinh: nên gọi cả học sinh mạnh dạn và học sinh nhút nhát phát biểu, tránh làm việc riêng với một vài học sinh Giáo viên nêu yêu cầu

“Mọi em đều sẽ được lần lượt gọi trả lời câu hỏi” để tất cả học sinh đều suy nghĩ

- Yêu cầu giải thích : Khi học sinh đưa ra câu trả lời chưa đầy đủ, chưa hoàn chỉnh hoặc chệnh hướng thì giáo viên có thể yêu cầu học sinh bổ sung thêm thông tin, ví dụ minh hoạ hoặc yêu cầu giải thích rõ hơn Thao tác này giúp nâng cao chất lượng câu trả lời, rèn kĩ năng diễn đạt cho học sinh Tuy nhiên giáo viên đừng

áp đặt, đừng dồn học sinh vào chân tường

- Tránh nhắc lại câu hỏi của mình: điều này giúp tăng cường sự chú ý của học sinh, có nhiều thời gian để học sinh trả lời Giáo viên có thể yêu cầu một học

Trang 16

sinh nhắc lại câu hỏi cho cả lớp thay vì giáo viên nói lại

- Tránh tự trả lời câu hỏi của mình: với những câu hỏi liên quan nội dung mới và khó mà học sinh không thể trả lời được thì giáo viên không vội trả lời mà chỉ định một vài học sinh trả lời Tốt nhất là chia câu hỏi khó thành một vài câu hỏi nhỏ, dễ hơn

Do vậy, khi đặt câu hỏi cần chú ý đến đối tượng học sinh, chú ý đến kiến thức mà học sinh đã học hay các em có thể có từ cuộc sống Trong trường hợp học sinh quá chậm, có thể cho học sinh thảo luận nhóm nhỏ theo bàn, cặp đôi trong thời gian ngắn Hoặc giáo viên chuyển câu hỏi tự luận thành câu hỏi trắc nghiệm (đúng - sai, nhiều lựa chọn), sau đó có thể yêu cầu học sinh giải thích sự lựa chọn đáp án của mình để tiếp tục lôi cuốn học sinh vào bài học

- Tránh nhắc lại câu trả lời của học sinh: giáo viên nên để cho học sinh nhận xét bổ sung câu trả lời của bạn trước khi đưa ra kết luận

2.8.2.Nâng cao tính tích cực học tập bằng cách sử dụng sơ đồ tư duy hay còn gọi là bản đồ tư duy (lược đồ tư duy)

Bản đồ tư duy (hay sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy) là một sơ đồ phân nhánh nhằm trình bày một cách rõ ràng các ý tưởng của cá nhân hay nhóm

Bản đồ tư duy được vận dụng để tóm tắt một nội dung, ôn tập một chủ đề; trình bày tổng quan một chủ đề; chuẩn bị ý tưởng; thu thập sắp xếp ý tưởng; ghi chép khi nghe giảng; mô tả, liệt kê, sắp xếp kiến thức mới theo từng chủ đề … Bản đồ tư duy có thể sử dụng bằng cách viết ra giấy, lên bảng lớp, bảng phụ,

vở học sinh, trong máy tính …

Khi sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học sẽ dễ thu hút học sinh vào bài học, học sinh học theo năng lực của mình, học sinh có cái nhìn tổng quan về nội dung

bài học, rèn kĩ năng diễn đạt khi tóm tắt nội dung bài học qua sơ đồ tư duy

2.8.3.Nâng cao tính tích cực học tập bằng cách sử dụng kĩ thuật công não (động não hay còn gọi là kĩ thuật phát huy ý tưởng):

Là kĩ thuật nhằm huy động tư tưởng mới (ý tưởng) về một vấn đề nào đó trong thảo luận

Quy tắc: Mỗi học sinh đưa ra (phát biểu bằng lời) ý kiến của mình về vấn đề đang quan tâm, không hạn chế số ý tưởng; cho phép tưởng tượng và liên tưởng; ý tưởng là của chung; không đánh giá và phê phán các ý tưởng trong quá trình thu thập ý kiến

Sau khi không còn học sinh nào phát biểu nữa thì bắt đầu thảo luận chung cả lớp để đánh giá, thống nhất các ý kiến lựa chọn Trong quá trình này giáo viên có thể cho phép học sinh phát biểu để bảo vệ, biện hộ hoặc phản biện các ý kiến

Có thể vận dụng kĩ thuật này bằng động não viết:

Trang 17

+ Viết ra giấy: mỗi học sinh lần lượt viết ý tưởng ra giấy, sau đó thảo luận nhóm, đánh giá, lựa chọn

+ Hoặc viết lên bảng phụ: các ý tưởng của học sinh lần lượt được viết lên bảng phụ, sau đó treo tường, treo bảng lớp để thảo luận chung

+ Hoặc viết bảng đen: Cá nhân (hoặc đại diện nhóm học sinh) lên bảng lớp viết ý tưởng của cá nhân (hoặc của nhóm), sau đó đánh giá, thống nhất lựa chọn

2.8.4 Nâng cao tính tích cực học tập bằng phương pháp thuyết trình theo hướng tích cực

1 Định nghĩa:

Phương pháp thuyết trình là phương pháp dạy học bằng lời nói sinh động của giáo viên để trình bày một bài giảng, tài liệu mới hoặc tổng kết những tri thức mà học sinh có thể thu lượm được một cách có hệ thống

- Dễ thay đổi thông tin hoặc điều chỉnh câu hỏi, nội dung cho phù hợp với trình

độ của học sinh ở các nhóm có năng lực học tập khác nhau

- Nhiều khi việc vận dụng phương pháp này không đạt được hiệu quả cao do giáo viên làm việc nhiều và không bao quát được hết lớp học, không đánh giá được đúng năng lực học tập của một số học sinh

Trang 18

CHƯƠNG 2: THIẾT KẾ CHƯƠNG CHUYỂN HÓA VẬT CHẤT VÀ NĂNG LƯỢNG TRONG TẾ BÀO SINH HỌC 10 BẰNG PHƯƠNG PHÁP DẠY

HỌC TÍCH CỰC ĐỂ HOẠT ĐỘNG HÓA NGƯỜI HỌC

2.1 Phân tích nội dung chương chuyển hóa vật chất và năng lượng

trong tế bào – chương III sinh học 10

Chương

III

Bài 14 Enzim và vai trò của enzim trong quá trình chuyển hóa vật

chất Bài 15 Thực hành: Một số thí nghiệm về enzim Bài 16 Hô hấp tế bào

Bài 17 Quang hợp

Bảng 2 Mô tả chương chuyển hóa vật chất và năng lượng ở tế bào

2.2 Thiết kế một số giáo án theo phương pháp dạy học tích cực

- Nêu được khái niệm và cấu trúc và cơ chế tác động của enzim

- Trình bày được ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến hoạt tính của enzim

- Nêu được vai trò của enzim trong cơ chế điều hoà hoạt động trao đổi chất của tế bào

2 Kỹ năng:

- Rèn luyện kỹ năng quan sát tranh hình phát hiện kiến thức

- Rèn kỹ năng làm việc theo nhóm

- Rèn kỹ năng thực hành thí nghiệm

- Rèn luyện kỹ năng lắp ghép

- Vận dụng kiến thức về enzim vào giải thích một số hiện tượng thực tế

3 Thái độ:

- Giáo dục học sinh biết bảo vệ sức khỏe

- Giải thích được một số câu hỏi thực tiễn

4 Định hướng phát triển năng lực

- Năng lực chung

Trang 19

Nhóm năng lực Năng lực thành phần

Năng lực tự học - Hs biết xác định mục tiêu học tập của chuyên

đề

- HS biết lập kế hoạch học tập

Năng lực phát hiện và

giải quyết vấn đề

Quá trình chuyển hóa vật chất trong tế bào gồm quang hợp và hô hấp, cần xúc tác là enzim

NL nghiên cứu khoa học + Đưa ra tiên đoán khi cơ thể thiếu các enzim

chuyển hóa một chất nào đó thì hậu quả như thế nào

Năng lực giao tiếp hợp

tác

Học sinh hình thành năng lực giao tiếp, phát triển ngôn ngữ nói, viết khi tranh luận trong nhóm về các thuật ngữ có trong bài học

NL quản lí Biết cách quản lí nhóm, quản lí bản thân

- NL chuyên biệt

+ Năng lực cá thể: tự đưa ra những đánh giá của bản thân sau quá trình tiếp thu những kiến thức trong bài

II CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH

1 Chuẩn bị của giáo viên

- Sách giáo khoa sinh học 10 và các tài liệu tham khảo liên quan

- Thiết kế giáo án điện tử (có hình ảnh, tư liệu rõ nét), chuẩn bị dụng cụ (đĩa nhựa), mẫu vật(khoai tây chín, còn sống để lạnh và sống ở nhiệt độ thường) và hóa chất (ôxi già) để tiến hành thí nghiệm

- Thiết kế phiếu học tập

- GV thiết kế bảng để theo dõi hoạt động tích cực của các nhóm mục đích làm hoạt động hóa hoạt động của người học:

KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍCH CỰC CỦA NHÓM HOẠT ĐỘNG NHÓM 1 NHÓM 2 NHÓM 3 NHÓM 4

Trang 20

2 Chuẩn bị của học sinh

- Đọc sách giáo khoa bài 14

- Tìm hiểu một số thí nghiệm về enzim và môt số ứng dụng của enzim trong thực tiễn

- Để dạy bài học này phải chia lớp học thành 5 nhóm xếp bàn ghép vào nhau để hoạt động

III PHƯƠNG PHÁP: Vấn đáp, hoạt động nhóm, trực quan,

IV TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC

1 Ổn định lớp : Kiểm tra sĩ số

2 Kiểm tra bài cũ (5 phút):

Câu hỏi 1: Mô tả cấu trúc ATP?

Câu hỏi 2: Trình bày các chức năng của ATP?

3 Bài mới

A HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG

* Phương pháp: Quan sát, Nêu và giải quyết vấn đề

GV chiếu HS quan sát video một đầu bếp nổi tiếng giới thiệu về món thịt bò hầm

Hình 1.1: Món thịt bò hầm đu đủ Hình 1.2: Hình ảnh đầu bếp trong video

+ Đoạn phim trên đề cập tới nội dung gì?

+ Dựa vào kiến thức Sinh học hãy cho biết làm thế nào để nấu thịt bò mềm

mà rút ngắn được thời gian nấu?

HS quan sát video thảo luận và trả lời câu hỏi

GV chốt kiến thức: Vậy tại sao hầm thịt bò và đu đủ hoặc dứa lại có thể làm thịt bò nhanh mềm và rút ngắn được thời gian để trả lời câu hỏi đó ta cùng đến với bài học hôm nay

Trang 21

A HOẠT ĐỘNG HÌNH THÀNH KIẾN THỨC

1 Hoạt động 1: Tìm hiểu về khái niệm ENZIM

* Phương pháp: Thực hành thí nghiệm, Hoạt động nhóm

GV yêu cầu HS làm thí nghiệm đã chuẩn bị sẵn, ở vị trí mỗi nhóm đã được chuẩn bị củ khoai tây sống và oxi già Yêu cầu học sinh nhỏ dung dịch oxi già vào

củ khoai tây sống sau đó quan sát hiện tượng xảy ra? Giải thích hiện tượng?

Hình 1.3: Lát khoai tây cắt mỏng Hình 1.4: Ôxy già

HS: tiến hành thí nghiệm, quan sát, trả lời và giải thích hiện tượng

GV chốt: - Hiện tượng: Củ khoai tây sau khi nhỏ oxi già thì có hiện tượng sủi bọt khí

- Giải thích: Oxi già có công thức hóa học là H2O2 Trong củ khoai tây có enzim Catalaza Cơ chất của Catalaza là H2O2

2H2O2 Catalaza 2H2O+ O2

1 giây GV: Từ thí nghiệm yêu cầu học sinh phát biểu Enzim là gì? Từ đó liên hệ đến câu hỏi phần khởi động

HS: Quan sát thí nghiệm cùng nghiên cứu SGK đưa ra được khái niệm enzim

2 Hoạt động 2: Tìm hiểu cấu trúc của ENZIM

* Phương pháp: Trò chơi, Hoạt động nhóm

Gv: Cho học sinh quan sát mô hình cấu trúc của enzim bằng tranh hình Yêu cầu học sinh nhận xét và mô tả lại cấu trúc của enzim

Hs: quan sát nhận xét và mô tả lại cấu trúc Enzim:

Trang 22

Hình 1.5: Cấu trúc của enzim

GV: Ở mỗi bàn theo từng nhóm giáo viên đã chuẩn bị hộp quà bí mật Nhằm kích thích sự tò mò, tìm tòi sáng tạo của học sinh

Hình 1.6: Hộp quà bí mật

Trong mỗi hộp quà có mô hình cấu trúc của enzim ( được cắt từ giấy xốp nhiều màu sắc) gồm: Lipaza, Saccaraza, Proteaza, Xenlulaza, Amilaza và cơ chất của các enzim như: Lipit, Protein, xenlulozơ, Saccarozơ, tinh bột Gv yêu cầu các nhóm mở hộp quà ra tìm xem trong hộp quà đâu là enzim và đâu là cơ chất của chúng?

HS: các nhóm hoạt động tích cực trong thời gian ngắn tìm ra đâu là enzim, đâu

là cơ chất bằng cách lắp ghép trung tâm hoạt động và cơ chất sau đó cử đại diện lên báo cáo

Trang 23

Hình 1.7: Mô hình Enzim và cơ chất

GV chốt để nhận biết trong các mô hình đó đâu là enzim thì dựa vào một trong hai đặc điểm Một là tên gọi của enzim thường có đuôi aza hoặc dựa vào trung tâm hoạt động đó chính là chỗ lõm xuống hay khe nhỏ trên bề mặt Enzim

3 Hoạt động 3: Tìm hiểu cơ chế hoạt động của ENZIM

* Phương pháp: Trò chơi, Hoạt động nhóm

GV: chiếu video về cơ chế tác động của enzim Saccaraza Yêu cầu học sinh từ quan sát video hãy sử dụng mô hình cấu trúc của enzim saccara và cơ chất saccarozo

để sẵn trong hộp quà bí mật để mô tả lại quá trình tác động của Enzim và cơ chất Hs: Hoạt động tích cực bằng mô hình trong hộp quà bí mật để lắp ghép mô hình Gv: Quan sát các nhóm tiến hành và đánh giá hoạt động của các nhóm và đánh giá hoạt động các nhóm Yêu cầu đại diện một nhóm lên biểu diễn mô hình trên bảng các nhóm khác nhận xét

Trang 24

Hình 1.8: Biểu diễn cơ chế hoạt động của Enzim lên bảng

Việc biểu diễn cơ chế hoạt động của enzim với hình ảnh sống động đầy màu sắc sẽ giúp học sinh khắc sâu thêm kiến thức và thấy bài dạy vô cùng sinh động

4 Hoạt động 4: Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt tính của enzim

- Tº tối ưu enzim ở người là :… Tº tối

ưu enzim ở VK suối nước nóng là:…

- Dưới Tº tối ưu khi tăng dần nhiệt độ

hoạt tính enzim … … Trên Tº tối ưu

khi tăng dần nhiệt độ hoạt tính

- Chất ức chế là chất làm hoạt tính Enzim

- Chất hoạt hóa là chất làm hoạt tính Enzim

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành (2000), Lý Luận dạy học sinh học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý Luận dạy học sinh học
Tác giả: Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2006), Sách giáo khoa sinh học 10, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa sinh học 10
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
3. Nguyễn Phúc Chỉnh (2006), Phương pháp grap trong dạy học Sinh học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp grap trong dạy học Sinh học
Tác giả: Nguyễn Phúc Chỉnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
4. Nguyễn Đình Nhâm (2010), Bài giảng lý luận dạy học sinh học hiện đại, Giáo trình Sau đại học, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng lý luận dạy học sinh học hiện đại
Tác giả: Nguyễn Đình Nhâm
Năm: 2010
7. Giảng dạy Sinh học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”. Tiến sĩ Ngô Văn Hưng - Bộ Giáo dục và Đào tạo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn tay nặn bột
5. Lí luận dạy học sinh học (phần đại cương). Đinh Quang Báo, Nguyễn Đức Thành. NXB Giáo dục. Hà Nội 2004 Khác
6. Dạy và học tích cực - Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học. Dự án Việt – Bỉ. NXB Đại học Sư phạm 2010 Khác
8. Công tác dạy học ngày nay, bộ công cụ của người giáo viên. Trường cán bộ quản lí giáo dục và đào tạo II TPHCM. Dự án VVOB Khác
9. Nghiên cứu Khoa học sư phạm ứng dụng. Dự án Việt - Bỉ. NXB Đại học Sư phạm 2010 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w