LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI………1 1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ TRƯỜNG THPT NHƯ THANH 2 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM CON ĐƯỜNG HÌNH THÀNH, GIÁO DỤC LÒNG NHÂN ÁI CHO TẬP THỂ HỌ
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT NHƯ THANH 2
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN ĐỀ TÀI
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ VIỆC LẠM DỤNG
SỬ DỤNG ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG CỦA HỌC SINH
THÔNG QUA CÁC HOẠT ĐỘNG ĐOÀN TẠI TRƯỜNG THPT NHƯ THANH 2
Người thực hiện: Nguyễn Thị Điệp Chức vụ: Phó bí thư Đoàn trường SKKN thuộc lĩnh vực : Công tác Đoàn
THANH HOÁ NĂM 2019
MỤC LỤC
1 MỞ ĐẦU
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI………1
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 2
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT NHƯ THANH 2
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
CON ĐƯỜNG HÌNH THÀNH, GIÁO DỤC
LÒNG NHÂN ÁI CHO TẬP THỂ HỌC SINH
LỚP CHỦ NHIỆM QUA CÁC HOẠT ĐỘNG THIỆN NGUYỆN Ở TRƯỜNG THPT NHƯ THANH 2
Người thực hiện: Lê Thị Thùy
Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn
SKKN thuộc lĩnh vực: Công tác chủ nhiệm
THANH HOÁ NĂM 2021
Trang 2MỤC LỤC
1 MỞ ĐẦU
1.1 L ý do chọn đề tài ……… ……… ………1
1.2 Mục đích nghiên cứu……… 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu………….……….2
1.4 Phương pháp nghiên cứu…… ……… 2
1.4.1.Phương pháp nghiên cứu lí luận………2
1.4.2 Phương pháp quan sát thực tế……… 2
1.4.3 Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm……… 2
2 NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM……….2
2.1 Cơ sở l ý luận của sáng kiến kinh nghiệm………2
2.1.1 Lòng nhân ái và truyền thống nhân ái của con người Việt Nam………2
2.1.2.Tâm lí lứa tuổi của HS THPT- Những yếu tố liên quan đến việc hình thành nhân cách………3
2.1.3 Vai trò của người GVCN trong việc hình hành, giáo dục lòng nhân ái ……… 3
2.2 Thực trạng vấn đề ……… 4
2.2.1 Thực trạng chung và xu thế “ vô cảm” ở con người hiện đại……….4
2.2.2 Các hoạt động thiện nguyện ở nhà trường và thái độ của học sinh………….4
2.2.3 Điều kiện sống và tâm lí vùng miền của HS trường THPT Như Thanh 2… 5
2.2.4 Những thuận lợi ……… 5
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề……….5
2.3.1 Xây dựng những tiền đề cơ sở để khơi dậy lòng nhân ái và tinh thần thiện nguyện…5 2.3.1.1 Giúp HS nhận thức về lòng nhân ái………
6 2.3.1.2 Tác động từ phương diện tâm lí ……….6
2.3.1.3 Sử dụng Facebook như một kênh truyền thông hiệu quả và tích cực ……… …7
2.3.2 Khơi dậy tinh thần nhân ái qua các hoạt động thiện nguyện cụ thể………8
2.3.2.1 Phát động phong trào “ Kế hoạch nhỏ”, “ Việc tốt quanh ta”, “ngày cuối tuần ý nghĩa”………8
3.3.2.2 Xây dựng những hoạt động thiện nguyện linh hoạt với hoàn cảnh, phù hợp với khả năng của học sinh……… 12
2.3.3 Khơi dậy tinh thần nhân ái từ chính bản thân người GVCN……….16
2.3.3.1 Xây dựng bầu không khí tập thể đoàn kết, nhân ái………17
2.3.3.2.Biết lắng nghe và chia sẻ……… 17
2.3.3.3 GVCN là tấm gương của lòng nhân ái………18
2.4 Hiệu quả của SKKN với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp, nhà trường ……… 18
3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……… 19
3.1 Kết luận……… 19
3.2 Kiến nghị ……… 20
Trang 31 MỞ ĐẦU 1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tôi rất thích câu nói của Uyliam Batơ Dit: “ Nhà giáo không phải là người
nhồi nhét kiến thức mà đó là công việc của người khơi dậy ngọn lửa cho tâm hồn”.
Chọn nghề giáo là chọn một sứ mệnh thiêng liêng và cao quý, bởi khác với sản
phẩm của các lĩnh vực khác, “sản phẩm” của giáo dục thật đặc biệt đó là “ con
Người” Các cụ ta xưa thường nói : “ Người ta là hoa đất”, “ hoa” ấy là cái đẹp, là
sự tinh túy và chắt lọc để đóng góp sắc hương cho cuộc đời, và để đạt được sự tinh
túy ấy, ắt hẳn có một vai trò vô cùng lớn lao của giáo dục Người làm thầy không
chỉ truỳên thụ những tri thức mà trước hết là để giáo dục đạo đức, nhân cách, “
khơi dậy ngọn lửa tâm hồn” Và nhiệm vụ ấy trước hết được đặt lên vai người
giáo viên chủ nhiệm Điều đó vừa là một thách thức, vừa là một ‘sứ mệnh” cao cả
và thiêng liêng của người “ chắp cánh tâm hồn”
Tuy nhiên, sự hoàn thiện nhân cách là cả một quá trình, nhân cách cao đẹp
trước hết phải xuất phát từ cái “ tâm” trong sáng, biết chia sẻ và yêu thương
Trong quan niệm của tôi, giáo dục học sinh biết cách thấu cảm, biết “cho” đi, có
tấm lòng nhân ái chính là cách đặt những viên gạch nền vững chắc cho nhân
cách Tình yêu thương, lòng nhân ái cũng chính là một trong những phẩm chất tiêu
biểu trong tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh mà mỗi con người đang học tập và rèn
luyện Trong cuộc sống hiện đại, khi con người đang có xu hướng vô cảm với nhau
hơn, câu hỏi “ Làm thế nào để giáo dục cho học sinh lòng nhân ái?” trở thành một
bài toán khó
Là một giáo viên chủ nhiệm, tôi đã từng trăn trở, băn khoăn và tự tìm tòi, thể
nghiệm qua những lớp học trò, và đạt được những kết quả rất khả quan Xin mạnh
dạn chia sẻ đề tài “ Con đường hình thành, giáo dục lòng nhân ái cho tập thể
học sinh lớp chủ nhiệm qua các hoạt động thiện nguyện ở trường THPT Như
Thanh 2” hi vọng được sự trao đổi, góp ý của đồng nghiệp để tôi trưởng thành hơn
trong lĩnh vực rất quan trọng của người “ Kĩ sư tâm hồn”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Đưa ra đề tài này tôi không có tham vọng nào lớn lao hơn ngoài việc tìm ra những
giải pháp tối ưu nhất nhằm khơi gợi tình yêu thương, sụ đồng cảm, sẻ chia giúp những
tâm hồn “non nớt” của học trò biết nhận ra và định hướng được những chân giá trị cần
thiết trong cuộc sống, cũng là góp phần rèn luyện đạo dức, giáo dục nhân cách cho các
thế hệ học sinh chủ nhiệm ở trường THPT
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng học sinh các lớp tôi đã và đang chủ nhiệm trong các năm vừa qua ở
trường THPT Như thanh II, đặc biệt ở sự chuyển biến về thái độ, tư tưởng tình cảm
trong quá trình tham gia các hoạt động từ thiện
Trong phạm vi đề tài xin chủ yếu đề cập đến lớp chủ nhiệm hiện tại 11A2 để dễ
khảo sát và nêu các hoạt động điển hình
Trang 41.4 Phương pháp nghiên cứu
1.4.1.Phương pháp nghiên cứu lí luận
Tìm hiểu, nghiên cứu về lòng nhân ái và biểu hiện của lòng nhân ái trong cuộc
sống, cũng như những biến chuyển, xu thế trong đời sống hiện đại hôm nay
Thu thập những lí luận bàn về vai trò của người GVCN trong việc giáo dục tập thể HS,
đặc biệt ở việc hình thành thế giới quan, nhân sinh quan, quá trình tác động và phát triển
nhân cách, vai trò của tập thể với quá trình phát triển, hình thành nhân cách , nghiên cứu
tâm lí giáo dục lứa tuổi THPT
Tìm hiểu về lòng nhân ái, biểu hiện và xu thế của lòng nhân ái qua các giai đoạn
khác nhau Trong phạm vi đề tài, người viết còn nghiên cứu thêm về xu thế của căn
bệnh “ Vô cảm” ở người trẻ hiện nay
Đề tài cũng đã tìm hiểu về các phong trào thiện nguyện và động cơ, tâm lí đến
với các hoạt động thiện nguyện của giới trẻ
1.4.2 Phương pháp quan sát thực tế
Quan sát thực tế những biểu hiện của HS trong phạm vi nhà trường, lớp học và
những yếu tố ,vấn đề có liên quan tới lòng nhân ái
Quan sát cách ứng xử, thái độ với thầy cô, với bạn bè và cách nhìn nhận đánh giá
những vấn đề xung quanh
Quan sát quá trình chuyển biến trong tư tưởng, tình cảm và hành động của HS
sau khi GVCN đã sử dụng các yếu tố tác động và thay đổi nhằm khơi gợi lòng nhân ái
1.4.3 Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm
Nghiên cứu, xem xét lại những thành quả thực tiễn từ đó đúc rút ra những kinh
nghiệm cần thiết cho các hoạt động tiếp theo
2 NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1 Lòng nhân ái và truyền thống nhân ái của con người Việt Nam
* Lòng nhân ái
Hiểu về lòng nhân ái: “nhân”: là người, “ ái”: là tình yêu thương
Lòng nhân ái được hiểu là tình yêu thương giữa con người với con người, xuất
phát từ tình cảm, sự quan tâm chân thành đến với mọi người
* Truyền thống nhân ái của con người Việt Nam
Từ xa xưa ông cha ta đã dặn dò, bảo ban con cháu : “ Lá lành đùm lá rách”,
không chỉ là sự sẻ chia ấy mà còn là đồng cảm sâu sắc với tinh thần “ Thương người
như thể thương thân”, “ một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ”.
Lòng nhân ái, truyền thống nhân đạo không chỉ là một thói quen sống, một cách
hành xử đạo đức mà đẫ trở thành mạch ngầm âm thầm chảy trong lòng dân tộc, mạch
ngầm ấy thấm sâu vào mỗi con người nó góp phần định hình lối sống, quan niệm sống,
giá trị sống rất riêng Đó cũng chính là vẻ đẹp của con người Việt nam
Trang 5Xuyên suốt tiến trình lịch sử của dân tộc, truyền thống ấy luôn được giữ gìn và
phát huy với nững hành động cụ thể, thiết thực, các chương trình từ thiện kêu gọi vì
người nghèo, những cuộc kêu gọi quyên góp ta có thể thấy xuất hiện thường xuyên
trên các diễn đàn tạo thành những làn sóng có sức lan tỏa sâu rộng đến toàn xã hội, với
tất cả mọi người
2.1.2.Tâm lí lứa tuổi của HS THPT- Những yếu tố liên quan đến việc hình thành
nhân cách.
K.D Usin đã từng khẳng định: “ muốn giáo dục con người về mọi phương diện thì
trước hết phải hiểu con người về mọi phương diện” Các lí thuyết về tâm lí học lứa tuổi
đưa ra rất nhiều biểu hiện tâm lí của lứa tuổi này, tuy nhiên, ở đây người viết chỉ xin
dừng lại ở những đặc điểm có liên quan đến đề tài nghiên cứu, “ Những đặc điểm nhân
cách chủ yếu của HS THPT” bởi đây là những vấn đề có liên quan, ảnh hưởng trực tiếp
đến việc hình thành và giáo dục lòng nhân ái cho HS, cụ thể như sau:
Là nhóm người có sự phát triển mạnh về tâm lí,nhu cầu tự ý thức dần dần đạt mức
ổn định, có sự định hướng
Sự phát triển rất mạnh mẽ của quá trình “ tự ý thức”, biết nhìn nhận những suy nghĩ,
những hành vi của mình so với chuẩn mực của tập thể Các em có nhu cầu tự khẳng
định mình, song lại cũng luôn so mình với tập thể, vì vậy điều cần thiết là phải xây dựng
được tập thể lớp biết đoàn kết, biết thương yêu, biết cùng nhau làm những điều tốt đẹp,
có lòng nhân ái Đây là cơ sở đầu tiên để định hình một nhân sinh quan tích cực cho cả
một hành trình sống lâu dài
Tuổi HS THPT cũng là lứa tuổi hình thành thế giới quan, các em đã quan tâm
nhều đến đẹp xấu, thiện ác, giữa cá nhân và tập thể, giữa cống hiến và hưởng thụ cũng
là quá trình xây dựng lí tưởng sống, biết sửa mình từ sự soi chiếu xung quanh Các nhà
tâm lí đã phân thành các nhóm cảm xúc của các em như sau: nhóm đa cảm, nhóm lạnh
lùng, nhóm hòa đồng dễ gần và những nhóm này sẽ dược điều chỉnh dần bởi các yếu
tố tác động từ bản thân, gia đình, xã hội Như vậy, việc xây dựng, định hình một môi
trường nhân văn, nhân ái, biết thông cảm và sẻ chia là điều cần thiết để có được những
“tấm lòng đẹp”, “ nhân cách đẹp” trong tương lai.
2.1.3 Vai trò của người GVCN trong việc hình hành, giáo dục lòng nhân ái
GVCN Là người có một vai trò vô cùng to lớn trong việc hình thành đạo đức và
nhân cách cho HS, là người ngoài những yếu tố về chuyên môn còn phải có tình yêu
thương đối với HS, phải có tâm huyết có niềm đam mê và đặc biệt là phải có khả năng
quản lí và tổ chức sáng tạo trong các hoạt động để đạt được những mục tiêu giáo dục
Không chỉ thế để giáo dục được tình yêu thương với con người trước hết là phải hiểu,
thông cảm và sẻ chia với con người mà không ở đâu xa xôi, trước hết là những HS
trong tập thể chủ nhiệm
Ngoài những yếu tố liên quan đến tình cảm và nhiệt huyết, người GVCN còn
phải nghiêm túc trong công việc, biết tôn trọng kỉ luật, có bộ óc kế hoạch hóa và ứng
biến trong mọi quy trình: xây dựng kế hoạch, thực hiện kế hoạch, kiểm tra kế hoạch,
Trang 6tổng kết và thực hiện xây dựng kế hoạch mới Sáng tạo, linh hoạt để sử dụng phù hợp,
khơi gợi được tinh thần và sự đồng lòng của tập thể chủ nhiệm
Như vậy, để có một tập thể chủ nhiệm có tinh thần nhân ái rất cần một GVCN
biết khơi dậy sự ý thức, tinh thần, lay chạm được đến thế giới tâm hồn vừa nhạy cảm,
vừa sâu sắc của các em
2.2 Thực trạng vấn đề
2.2.1 Thực trạng chung và xu thế “ vô cảm” ở con người hiện đại.
Trong công trình nghiên cứu “ Hiện tượng vô cảm trong xã hội hiện đại” TSKH
Trịnh Thị Kim Ngọc (viện nghiên cứu con người, viện hàn lâm khoa học, xã hội, nhân
văn) đã khẳng định rằng : “ Chưa bao bao giờ hiện tượng vô cảm và thách thức của nó
đối với xã hội lại trở nên đáng quan tâm như hiện nay” Vô cảm là biểu hiện một cách
cực đoan của cái tôi vị kỉ, hoàn toàn triệt tiêu “ cái ta”, “cái chúng ta” và nó trở nên
nguy hiểm hơn bao giờ hết bởi đây chính là nguồn gốc triệt tiêu đi những giá trị tinh
thần tốt đẹp trong xã hội
Ta dễ dàng chứng kiến những cuộc ẩu đả, bạo lực của HS, nhưng các bạn ở
bên ngoài lại bình thản quay lại video để đăng Facebook, hoặc lẳng lặng bỏ đi để
mặc những sự việc đang diễn ra Việc nhìn thấy người bị nạn ở trên đường, nhưng
một bộ phận giới trẻ lại chọn cách làm ngơ vì sợ liên lụy, hay ta cũng có thể dễ
dàng thấy hiện tượng các bạn HS rất phung phí tiền nong cho những cuộc chơi vô
bổ, nhưng không có ý định chia sẻ với người hành khất bên đường
Thời đại công nghệ còn đem đến một hiện thực rất phũ phàng khi một bộ
phận lớn giới trẻ trong đó có các em HS của chúng ta lạc vào thế giới “ ảo”, các
em có thể thương vay, khóc mướn, có thể comment dạo một cách ướt át, nhưng lại
không để ý đến đời thực với những mảnh đời, những hoàn cảnh thực tại xung
quanh mình để giúp đỡ, sẻ chia, phớt lờ đi những mảnh đời thực, những hoàn cảnh
thực cần được sự giúp đỡ dù nằm ngay trong tầm tay của các em
2.2.2 Các hoạt động thiện nguyện ở nhà trường và thái độ của học sinh.
Hằng năm các tổ chức trong nhà trường đều tổ chức các hoạt động thiện
nguyện, tùy theo điều kiện thực tế của từng năm Rất nhiều các hoạt động đã được
phát động rộng rãi trong nhà trường nhằm khơi dậy tình thương, tinh thần tương
trợ như “ Tết vì bạn nghèo”, “ Ấm áp mùa đông” “ Hướng về vùng lũ”
Ta dễ dàng nhận thấy rằng HS tham gia các phong trào thiện nguyện ấy một
cách thụ động, khuôn mẫu, mang tính khuôn khổ chứ chưa phải xuất phát từ mong
muốn và sự đồng cảm thực sự, đa số các em còn thờ ơ không quan tâm đến mục
đích, ý nghĩa của các hoạt động mà chỉ là “ hưởng ứng để xong việc” Dường như
việc tham gia câc hoạt động từ thiện với các e còn có gì đó xa vời, thờ ơ, chiếu lệ
Hay nói cách khác các em chỉ tham gia bằng cách điểm danh con số, chứ
không phải xuất phát từ ý nghĩa đích thực của hoạt động, chưa thực hiểu về “thiện
nguyện” (tinh thần tự nguyện, xung phong làm việc thiện).
Trang 72.2.3 Điều kiện sống và tâm lí vùng miền của HS trường THPT Như Thanh 2
Trường THPT Như Thanhh II là ngôi trường đóng ở vùng cao địa bàn tuyển sinh
chủ yếu là con em dân tộc (Xuân Thái, Thanh Tân, Thanh Kỳ, Yên Lạc ) Về kinh tế,
người dân còn thiếu thốn về mọi mặt Để con em của đồng bào được đến trường tìm
con chữ không phải là điều dễ dàng, có những phụ huynh còn xem việc đến trường của
HS như là một điều kiện để được nhận các chế độ ưu tiên của nhà nước cho HS vùng
đặc biệt khó khăn Chính tư tưởng về lối sống thụ động này ảnh hưởng trực tiếp đến
các em Trong hoàn cảnh đó việc khơi dậy được tinh thần tương trợ là điều không dễ
dàng, bởi phần vì điều kiện khó khăn, phần vì sâu trong tiềm thức họ nghĩ rằng họ chính
là đối tượng cần được giúp đỡ và hỗ trợ
Công tác nhiều năm ở đây tôi nhận thấy một điều rất rõ ràng: có lẽ cũng hiếm có
nơi nào mà cuộc sống của người dân lại chênh vênh như mảnh đất này, cơ bản là các gia
đình thuộc diện khó khăn với những hoàn cảnh vô cùng đặc biệt, là nơi có số liệu thống
kê về HS mồ côi cao nhất trong toàn huyện (Trường THPT Như Thanh 2 có 48 HS mồ
côi - theo số liệu thống kê của Hội khuyến học huyện Như Thanh tết 2021), Vì vậy, quả
thực đây cũng là vùng đất cần được động viên, chia sẻ về cả vật chất lẫn tinh thần Là
địa bàn mà rất dễ tìm thấy những địa chỉ cần đến những tấm lòng nhân ái
2.2.4 Những thuận lợi
Đa số HS ở đây đều được xác định là “ lành” biết nghe lời thầy cô và nếu được
khơi dậy thì cũng rất tích cực với hoạt động phong trào HS rất muốn được khẳng định,
thể hiện bản thân ở những mặt tích cực, luôn muốn thể hiện mặt trội của tập thể mình
vì thế, GV có thể từ đó khơi dậy được ý thức, tinh thần thiện nguyện của HS bởi đó
cũng là những vấn đề tiên phong, những hoạt động nổi bật
Ban giám hiệu và các tổ chức trong nhà trường rất xem trọng công tác giáo dục
của người GVCN Hàng năm, nhà trường đều trân trọng giành cho GVCN danh hiệu
để khen thưởng, biểu dương: danh hiệu GVCN giỏi, tuyên dương, khen thưởng những
cách làm sáng tạo, mới mẻ, tích cực Từ đó cũng góp phần tạo động lực, niềm tin, sự
phấn khởi và nỗ lưc của mỗi GVCN
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Xây dựng những tiền đề cơ sở để khơi dậy lòng nhân ái và tinh thần thiện
Ở phần thực trạng, người viết đã chia sẻ và trao đổi, trong xu thế hiện tại, cũng
như điều kiện vùng miền không dễ dàng truyền tải đến HS thông điệp yêu thương và
chia sẻ, hoặc nếu có thì cũng chỉ là “lối mòn” theo cảm tính và hiệu ứng của các em
Chính vì vậy, phải trải qua quá trình tác động để HS được giáo dục, thấm nhuần tư
tưởng
Trang 82.3.1.1 Giúp HS nhận thức về lòng nhân ái
Mỗi con người khi được sinh ra đều mang sẵn “ Tính bản thiện”, song dưới sự
tác động của môi trường sống xung quanh dần sẽ làm thay đổi quan niệm và cách ứng
xử của con người Vì vậy, ở lứa tuổi HS bắt đầu có nhu cầu nhận thức sâu sắc về những
chân giá trị và định hình thái độ sống, GVCN tạo ra một môi trường lành mạnh trong
tập thể chủ nhiệm với hệ thống tư tưởng, quan điểm nhân văn, tích cực
Trước khi biến thành những hành động thực tiễn, cần phải giúp các em có nhận
thức đúng đắn về cuộc sống xung quanh mình Biết nhận định những đúng, sai, phải
trái, biết yêu ghét rạch ròi, biết đồng tình, ngợi ca và đứng về phía những điều tốt đẹp,
biết lên án cái xấu và cái ác
Những giờ sinh hoạt lớp thay vì việc triển khai những công việc mang nội dung
hành chính, GVCN nên giành một thời lượng cần thiết để trao đổi, bày tỏ những quan
điểm về những vấn đề nóng hổi xảy ra trong cuộc sống quanh mình: Câu chuyện về cặp
nam sinh ở trường THPT Triệu Sơn IV, cách ứng xử đầy trân trọng thấu tình đạt lí của
hai thầy hiệu trưởng, những “tấm lòng vàng” hỗ trợ đôi bạn trong quá trình học tập
Câu chuyện tài xế bị đổ xe dưa ở dọc đường quốc lộ và thái độ của bà con ở Quảng
Bình, Cô ca sĩ Thủy Tiên không quản hiểm nguy, chịu những thị phi để hỗ trợ bà con
vùng lũ Qua quá trình đó có thể nắm bắt được những vấn đề về tư tưởng, tình cảm
của HS, kịp thời uốn nắn, điều chỉnh những tư tưởng còn lệch lạc, cổ vũ, khích lệ những
kịp thời những tư tưởng nhân ái cao đẹp
Giờ sinh hoạt lớp, những buổi sinh hoạt đầu giờ hoàn toàn có thể sử dụng làm
kênh truyền thông, diễn đàn để chia sẻ, biểu dương những tấm gương “ Người tốt - việc
tốt” Có thể chia sẻ về vụ tai nạn giao thông ở cổng trường Tiểu học, biểu dương các
bạn HS lớp bên cạnh chấp nhận muộn giờ ở lại hiện trường để sơ cứu và tìm cách gọi
người nhà nạn nhân, chia sẻ về những biểu hiện của yêu thương và sẻ chia một cách
giản dị, gần gũi trong cuộc sống mỗi ngày
Qúa trình này diễn ra trong tập thể chủ nhiệm theo kiểu “ mưa dầm thấm lâu”,
có thể lúc đầu các em sẽ thờ ơ, thấy vấn đề là sáo rỗng, nhưng sau đó dần dần sẽ chuyển
từ cảm tính sang nhận thức lí tính, từ đó biến quá trình làm việc thiện mang tính “ công
thức”, “hiệu ứng số đông” thành nhu cầu, mong muốn thực sự của bản thân.
2.3.1.2 Tác động từ phương diện tâm lí
Trong quá trình giáo dục thì hiệu quả nhất vẫn là con đường “ Tự nhận thức –
Tự giáo dục”, tức là mọi tác động chỉ thực sự hiệu quả nếu như HS chủ động, tự giác
nhận thức và tiếp cận vấn đề Giáo dục ở nhà trường mang tính khuôn mẫu, có phần
công thức trong khi cá thể và tập thể HS luôn sinh động và đa dạng, vì vậy GVCN
phải biết cách tác động từ phương diện tâm lí HS một cách sáng tạo
Một trong những phương pháp vô cùng hiệu quả là thường xuyên tặng cho tập
thể lớp những câu chuyện ý nghĩa từ bộ sách “ Qùa tặng cuộc sống”, “ Cửa sổ tâm
hồn”, làm đầy giá sách của lớp chủ nhiệm bằng những tác phẩm văn chương có giá trị
nhân văn sâu sắc như “ Những người khốn khổ” (v Huy.Gô), tập truyện ngắn của O.
Trang 9Hen ri Khuyến khích HS đọc sách cũng là một trong những cách hiệu quả giúp tâm
hồn HS trở nên mềm mại, nhạy cảm và tinh tế hơn Khi đó, việc khơi gợi về lòng nhân
ái, giáo dục tinh thần nhân văn sẽ có chiều sâu hơn
Góc nhỏ 11A2
Trong quá trình tiếp cận với HS tôi còn nhận thấy rằng có nhiều HS có tinh thần
nhân ái, sẵn sàng sẻ chia về mặt tinh thần nhưng lại khó khăn về vật chất vì vậy các em
đã không dám mạnh dạn, tự tin với các hoạt động thiện nguyện Vì vậy, một điều rất
quan trọng là cần giúp HS tự tin “cho đi” những gì mình có đó là tình yêu thương, sự
đồng cảm, Tinh thần nhân ái không chỉ là sự chia sẻ về vật chất mà trước hết là sự
thấu hiển, đồng cảm, sẻ chia về tinh thần, từ những hành động nhỏ nhất Cần giúp học
sinh hiểu rằng chỉ cần có tấm lòng thì chúng ta sẽ luôn “ thiện nguyện” mà chưa cần đến
vật chất Đây cũng là cách khuyến khích những HS luôn tự ti, mặc cảm về hoàn cảnh
tích cực tham gia các hoạt động thiện nguyện
Như vậy, tháo gỡ từng bước trong vấn đề tâm lí của HS bản thân người GVCN
sẽ nắm chắc chiếc chìa khóa mở ra cánh cửa tâm hồn đầy bí ẩn, để từ đó cùng các em
bước những bước đi vững chắc trên con đường hình thành nhân cách
2.3.1.3 Sử dụng Facebook như một kênh truyền thông hiệu quả và tích cực
Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, mạng xã hội là kênh giao tiếp cơ
bản được giới trẻ lựa chọn Vì vậy, tạo ra sự tác động về mặt tâm lí đến học sinh không
chỉ bằng con đường trực tiếp với những buổi học trong nhà trường, GVCN nên sử dụng
Facebook như một kênh truyền thông hiệu quả Mỗi mảnh đời, mỗi số phận, mỗi việc
Trang 10làm ý nghĩa, mỗi câu chuyện đời, mỗi tác phẩm đều có thể để lại những dư vị và cảm
xúc, những thông điệp khác nhau
Nhiều GVCN có tâm lí “né” HS, không muốn kết bạn với HS trên mạng xã hội
vì cho rằng đó là chuyện trẻ con, tào lao , phù phiếm Tôi thì nghĩ khác Quan sát trang
cá nhân của HS ta có thể “bắt được” tâm tư, tình cảm, cảm xúc của các em để kịp thời
điều chỉnh, uốn nắn, cũng có thể sẽ khích lệ, động viên về những tư tưởng, việc làm tích
cực Không chỉ thế, tương tác với HS trên mạng xã hội cũng là cách để chúng ta gửi
gắm những thông điệp, những tư tưởng tình cảm nhân văn cao đẹp có sức lan tỏa đến
mọi người và đặc biệt và với đối tượng giáo dục của chúng ta
Ngoài ra, với sự phủ sóng rộng rãi của mạng xã hội thì việc sử dụng Facebook để
lan tỏa tình yêu thương, sự đồng cảm, và kêu gọi sự chung tay, góp sức của mọi người
từ mạng xã hội là điều cực kì hữu ích Ngoài mạng xã hội, khó có phương thức nào để
lan truyền rộng rãi những vấn đề thiện nguyện đến mọi người, bởi các lĩnh vực khác
như loa truyền thanh, thư kêu gọi cũng chỉ tác động được ở một thời điểm, với những
đối tượng nhất định
Có thể khẳng định rằng: Facebook sẽ là một trợ thủ đắc lực của chúng ta trên con
đường thiện nguyện
2.3.2 Khơi dậy tinh thần nhân ái qua các hoạt động thiện nguyện cụ thể.
2.3.2.1 Phát động phong trào “ Kế hoạch nhỏ”, “ Việc tốt quanh ta”, “ngày cuối
tuần ý nghĩa”.
Một trong những con đường khơi dậy được tinh thần nhân ái đó là sẽ tổ chức các
hoạt động cụ thể Đệ Ngũ Luận viết “ Đem việc làm mà dạy người thì người ta theo,
chỉ đem lời nói mà dạy người thì người ta không phục” Thấm nhuần tư tưởng, song chỉ
khi được trải nghiệm với những hoạt động cụ thể mới là cách khắc sâu những tư tưởng,
tình cảm trong lòng học trò Không chỉ thế, đây cũng là quá trình đem đến cho các em
những cung bậc cảm xúc thực tế, cảm nhận được nỗi buồn, niềm vui, sự ý nghĩa trong
từng hành động dần dần, sẽ tạo thành thói quen “ Nghĩ tốt – làm tốt” ở các em.
Qúa trình tổ chức các hoạt động cũng phải được triển khai một cách bài bản, có
kế hoạch, cách thức tổ chức rõ ràng qua các bước dưới đây:
Bước 1: Quan sát , tìm đối tượng phù hợp cho kế hoạch
Biểu hiện của tinh thần nhân ái không phải là điều gì đó lớn lao, xa vời
mà đó là cách để ý, quan tâm đến những mảnh đời, số phận ở quanh ta để từ đó có thể
tìm ra cách giúp đỡ, sẻ chia khi cần thiết và phù hợp Là ngôi trường đóng ở vùng đặc
biệt khó khăn, không chỉ người dân mà rất nhiều HS trong trường có hoàn cảnh đặc
biệt Hình thành lòng nhân ái từ cách để ý, quan tâm và tế nhị với những thứ quanh
mình Khi biết quan sát, để ý tới nhưng số phận, hoàn cảnh không may mắn, chính là
cách chúng ta tôi rèn cho HS biết “ sống chậm lại”, biết quan sát, từ đó tác động đến
cảm xúc để đồng cảm và chia sẻ Đây là quá trình đẩy lùi thói vô cảm, làm giàu có thế
giới cảm xúc, tâm hồn của HS
Trang 11Sẽ bắt đầu từ những “ việc làm nhỏ”, gần gũi, bình dị để tất cả các bạn HS dều
có thể chung tay, góp sức để làm việc tốt
Bước 2: Tiến hành xây dựng kế hoạch như sau:
- Về mục tiêu:
+ Tác động sâu sắc đến nhận thức và tình cảm của HS
+ Bản thân các em tự cảm nhận được niềm vui, hạnh phúc và có thể sẽ cảm thấy
tự hào khi bản thân làm việc tốt
+ Nhận thấy đây là việc làm ý nghĩa và cần thiết, từ đó nảy sinh nhu cầu sẽ góp
sức mình vào những việc tốt tiếp theo
- Yêu cầu
+ Hoạt động phải ý nghĩa, thiết thực và có tính khả thi (tức là có khả năng thực
hiện chứ không chỉ vạch ra về lí tuyết )
+ Vạch được kế hoạch, phương pháp, thời gian hoạt động cụ thể
+ Phải đem lại hiệu quả, tác dụng nhất định chứ không giữa chừng, giữa vời kiểu
“đem con bỏ chợ”( tức là kế hoạch phải trọn vẹn)
+ Có quá trình nghiệm thu, đánh giá
- Quy trình tổ chức
+ HS tìm hiểu kĩ lưỡng đối tượng
+ Lựa chọn hình thức thiện nguyện phù hợp với đối tượng ( Động viên tinh thần,
hỗ trợ công việc, huy động vật chất )
+ Phân công, lựa chọn nhân lực, vật lực phù hợp với hoạt động
- Cách thức tổ chức : Chia lớp thành các nhóm, mỗi nhóm tự khảo sát, viết bài chia sẻ
và lên kế hoạch hoạt động GVCN góp ý về cách thức hoạt động, bố trí thời gian phù
hợp (Thường là cuối tuần) Cụ thể như sau:
Những hoạt động cụ thể đã thực hiện
* Hoạt động 1: Chia sẻ tinh thần với người già neo đơn: Thực hiện của Nhóm
1( Trưởng nhóm Đỗ Thị Hằng)
Trang 12
( Đem niềm vui đến bên bà )
Bà Nguyễn Thị Hạnh (Thôn Hợp Nhất, Xã Thanh Tân) chồng mất sớm, các con
thì người mất trẻ, người lập nghiệp ở xa, bà ở nhà một mình sống neo đơn 80 tuổi bà
vẫn tự mình cơm nước, trồng rau, nuôi gà và rất “thèm” có người để chuyện trò, tâm sự
Sau khi tìm hiểu hoàn cảnh nhóm 1 đã đến nhà bà vào sáng chủ nhật để vừa trò chuyện,
vừa giúp bà trồng lại vườn rau, quét dọn nhà cửa, động viên tinh thần của bà
* Hoạt động 2: Tớ sẽ giúp cậu đến trường: Thực hiện của nhóm 2, giúp đỡ HS Hà
Văn Thường 10C1, trường THPT Như Thanh 2 (Trưởng nhóm Hoàng văn Nam)
( Con đường sẽ bớt xa hơn )
Bạn Hà Văn Thường là một HS khuyết tật, việc đi lại rất khó khăn, chính vì vậy
nhóm 2 đã tự nguyện làm đôi chân giúp bạn, thay nhau đưa bạn đến trường, đặc biệt
trong những ngày mưa gió, địa hình vùng miền di chuyển khó khăn nhưng các bạn nhất
định không để bạn Thường vì thế mà nghỉ học , phương châm đặt ra của các bạn là “
Chúng tớ là đôi chân của cậu”
* Hoạt động 3: Chú heo tình nghĩa: Thực hiện của nhóm 3, Giúp đỡ HS Vi Văn Kiệm
, HS lớp 4B Trường Tiểu Học Thanh Tân 1 (Trưởng nhóm: Trần Thị Cẩm Ly)