1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng hệ thống bài tập thí nghiệm chương II môn vật lí 11 cơ bản nhằm phát huy tính sáng tạo cho học sinh trong việc giải quyết các vấn đề thực tiễn

47 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng hệ thống bài tập thí nghiệm chương II môn vật lí 11 cơ bản nhằm phát huy tính sáng tạo cho học sinh trong việc giải quyết các vấn đề thực tiễn
Trường học Trường THPT Thái Hòa
Chuyên ngành Vật lý
Thể loại Sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thái Hòa
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 11,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ yêu cầu đổi mới dạy học, từ chương trình giáo dục phổ thôngmới, từ giá trị của mô hình dạy học hệ thống bài tập thí nghiệm trong bộ môn Vật lí bậc THPT nên tôi đã chọn đề tà

Trang 1

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài:

Ở nước ta, Các văn kiện của Đảng và Nhà nước như nghị quyết số29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, nghị quyết 88 củaQuốc hội và quyết định số 404 của Thủ tướng Chính phủ đều nhấn mạnh đổi mớimục tiêu giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông mới đã khẳng định mụctiêu tổng quát của đổi mới là “phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng,khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân”, “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ nặng vềtrang bị kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của ngườihọc”[1] Chương trình giáo dục phổ thông mới giải thích năng lực “là thuộc tính cánhân được hình thành và phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rènluyện cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộctính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí thực hiện thành công một loại hoạtđộng nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”[2]

Vật lí là môn khoa học thực nghiệm, quá trình giảng dạy Vật lí ở trường phổthông cần thông qua những thí nghiệm để xây dựng các kiến thức giúp cho học sinhnhận thức một cách vững chắc những kiến thức trong chương trình cũng như cáckiến thức thực tiễn liên quan Trong những năm gần đây được sự đầu tư của Nhànước cho chương trình cải cách giáo dục trong đó có chương trình cung cấp cácthiết bị thí nghiệm phù hợp với chương trình giảng dạy đã làm cho các bài giảngthêm phong phú sinh động và có tính trực quan cao Tuy những thí nghiệm thựchành và thí nghiệm biểu diễn đã tạo cho học sinh sự hứng khởi trong quá trình tiếpthu kiến thức, nhưng khả năng độc lập tư duy, khả năng tự xây dựng phương án chomột thí nghiệm vẫn còn hạn chế Số lượng bài tập thí nghiệm thực hành ở SGK,SBT và các tài liệu tham khảo rất ít

Mặt khác! trong các loại bài tập vật lí thì bài tập thí nghiệm có nhiều lợi thếthực hiện nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục, phát huy tư duy và giáo dục kĩ thuật tổnghợp Tuy vậy, trong nhà trường phổ thông ở nước ta giáo viên hầu như không quantâm tới loại bài tập này Trong đổi mới phương pháp dạy học vật lí, một trongnhững vấn đề đặt ra là phải phát huy tính sáng tạo cho học sinh trong việc giảiquyết các vấn đề thực tiễn

Xuất phát từ yêu cầu đổi mới dạy học, từ chương trình giáo dục phổ thôngmới, từ giá trị của mô hình dạy học hệ thống bài tập thí nghiệm trong bộ môn Vật lí

bậc THPT nên tôi đã chọn đề tài: Xây dựng hệ thống bài tập thí nghiệm chương

II môn vật lí 11 cơ bản nhằm phát huy tính sáng tạo cho học sinh trong việc giải quyết các vấn đề thực tiễn

Trang 2

1.2 Điểm mới của đề tài:

Đề tài đã xây dựng được hệ thống, phân loại, và đưa ra các bước giải bài tậpthí nghiệm chương: “Dòng điện không đổi” môn vật lí 11 cơ bản nhằm phát huy

tính sáng tạo cho học sinh trong việc giải quyết các vấn đề thực tiễn Từ đề tài này,

giáo viên và học sinh có thể áp dụng để xây dựng hệ thống bài tập thí nghiệm cho

các chương, các phần khác của chương trình môn vật lí THPT

1.3 Đối tượng, phạm vi, thời gian nghiên cứu:

1.3.3 Kế hoạch thời gian thực hiện”

Tháng 9/2020 - 12/ 2021

Viết đề cương và triển khai sáng kiến trong giaiđoạn thử nghiệm, khảo sát và đánh giá kết quả đạtđược

Tháng 01/2021 - 02/ 2021 Tiếp tục áp dụng sáng kiến để kiểm định độ tin cậy

của các giải pháp đề ra

Tháng 3/2021 Hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm

1.4 Giả thuyết khoa học:

Nếu xây dựng và sử dụng một hệ thống bài tập thí nghiệm bảo đảm tính khoa

học, đáp ứng được mục tiêu dạy học chương “Dòng điện không đổi” – vật lí 11 cơ

bản thì có thể góp phần phát huy tính sáng tạo cho học sinh trong việc giải quyết

các vấn đề thực tiễn

1.5 Phương pháp nghiên cứu:

* Phương pháp nghiên cứu lí thuyết:

- Nghiên cứu các tài liệu lí luận dạy học để làm sáng tỏ về mặt lí luận các vấn đề

có liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu chương trình SGK và sách bài tập, các tài liệu tham khảo để phân tíchcấu trúc, nội dung của các kiến thức thuộc chương “Dòng điện không đổi”- vật lí 11

cơ bản

* Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Trang 3

- Tìm hiểu, điều tra, thăm dò thực trạng sử dụng BTTN ở trường THPT.

- Thực nghiệm sư phạm

1.6 Đóng góp của đề tài:

- Xây dựng được hệ thống, phân loại BTTN và đưa ra được các bước giải

BTTN để dạy học chương “Dòng điện không đổi” môn vật lí 11 cơ bản.

- Đề xuất các phương án sử dụng BTTN trong dạy học chương “Dòng điện không đổi” môn vật lí 11 cơ bản.

- Từ đề tài này, giáo viên và học sinh có thể xây dựng và giải BTTN cho cácchương, phần khác của chương trình vật lí THPT

Trang 4

PHẦN 2 NỘI DUNG Chương 1 Cở sở lí luận của đề tài.

I Cơ sở lí luận và thực tiễn

1.1 Khái niệm về bài tập thí nghiệm trong môn vật lí ở trường phổ thông:

BTTN là loại bài tập mà khi giải, đòi hỏi HS phải vận dụng một cách tổnghợp nhiều kiến thức lí thuyết và thực nghiệm, các khả năng hoạt động trí óc vàchân tay, vốn hiểu biết kĩ thuật để xây dựng phương án, lựa chọn hoặc chế tạophương tiện thực hiện TN để quan sát diễn biến hiện tượng hoặc để đo đạc một sốđại lượng cần thiết, sau đó xử lí tư liệu đã quan sát và đo đạc nhằm tìm ra lời giải

và đáp số cuối cùng mà bài tập yêu cầu Thông thường những TN này khá đơngiản, HS có thể tự thiết kế, lắp ráp bằng cách sử dụng ngay những đồ dùng học tập,dụng cụ sinh hoạt hàng ngày hoặc tự chế tạo được bằng những vật liệu rẻ tiền, phếliệu từ đồ chơi trẻ em và từ các vật dụng cũ hỏng đã bỏ đi Cũng có lúc HS phảilàm một số TN ở trong phòng TN của nhà trường, song nhìn chung đó vẫn là TNđơn giản

Giải BTTN là một hình thức hoạt động nhằm nâng cao chất lượng học tập,tăng cường hứng thú, sáng tạo, gắn học với hành, lí luận với thực tiễn, kích thíchtính tích cực, tự lực, tư duy sáng tạo, tháo vát của từng HS và đặc biệt đối với HSkhá giỏi

BTTN có thể được sử dụng trong các tiết lí thuyết; dùng trong các tiết bàitập; dùng trong tiết ôn tập; kiểm tra (như yêu cầu học sinh thiết kế, mô tả một thínghiệm); trong các buổi ngoại khoá; giờ thực hành Vì thế độ phức tạp của BTTNcũng phải khác nhau Muốn nâng cao chất lượng học tập, đào sâu mở rộng kiếnthức, phát triển tư duy sáng tạo cho HS trong dạy học vật lí, chúng ta phải cho HStăng cường giải quyết nhiều BTTN Dĩ nhiên không quên kết hợp BTTN với cácloại bài tập vật lí khác

1.2 Tác dụng của bài tập thí nghiệm với tác dụng với việc phát huy tính sáng tạo cho học sinh trong giải quyết các vấn đề thực tiễn:

- Bài tập thí nghiệm tạo ra ở học sinh động cơ học tập, sự hăng say tò mò khámphá xây dựng kiến thức mới, truyền cảm hứng cho học sinh, tự giác tư duy độc lập,tích cực sáng tạo

- Thông qua bài tập thí nghiệm sẽ tạo ra học sinh khả năng tổng hợp kiến thức lýthuyết và thực nghiệm, các kỹ năng hoạt động trí óc và thực hành một cách khéoléo, các vốn hiểu biết về vật lý, kỹ thuật và thực tế đời sống nhằm phát huy tốt nhấtkhả năng suy luận, tư duy lôgic

- Với bài tập thí nghiệm, học sinh có thể đề xuất các phương án thí nghiệm khácnhau tạo không khí tranh luận sôi nổi trong lớp, trong các hoạt động ngoại khóa

Trang 5

- Bài tập thí nghiệm giúp học sinh phát huy tính sáng tạo trong giải quyết các vấn

đề thực tiễn gắn liền với đời sống hàng ngày

1.3 Phân loại bài tập thí nghiệm vật lí:

Căn cứ vào yêu cầu và phương pháp giải chúng ta có thể phân chia BTTNthành hai loại là: BTTN định tính và BTTN định lượng

1.3.1 BTTN định tính:

* Loại bài tập này không có các phép đo đạc, tính toán định lượng Khi giải

nó thì HS phải lắp ráp TN theo sơ đồ cho trước hoặc theo những điều kiện đã xácđịnh; sau đó tiến hành TN HS phải quan sát diễn biến của hiện tượng vật lí trong

TN và sử dụng những suy luận lôgic dựa trên cơ sở các định luật, khái niệm vật lí

đã học để mô tả và giải thích những kết quả đã quan sát được, hoặc sử dụng kếtquả mà từ thí nghiệm quan sát được để giải thích các hiện tượng đã có

* Phân dạng BTTN định tính:

Dạng I: BTTN quan sát và giải thích hiện tượng

Khi giải bài tập dạng này yêu cầu HS phải thực hiện các công việc sau:

+ Làm TN theo sự trợ giúp, định hướng của giáo viên

+ Quan sát TN theo mục tiêu đã chỉ sẵn

+ Mô tả hiện tượng bằng kiến thức đã được lĩnh hội

Để giải dạng bài tập này thì HS cần phải trả lời các câu hỏi như:

+ Câu hỏi 1: Hiện tượng xảy ra như thế nào?

+ Câu hỏi 2: Tại sao lại xảy ra hiện tượng đó?

Trả lời câu hỏi thứ nhất HS tham gia vào quá trình tích luỹ kiến thức về hiệntượng, mô tả được diễn biến của hiện tượng Còn câu hỏi thứ hai, giúp cho HS liên

hệ sự kiện quan sát xảy ra trong thí nghiệm với những định nghĩa, khái niệm, hiệntượng vật lí đã học Tức là giúp HS biết cách lập luận khi giải thích bản chất củahiện tượng Đây chính là cơ hội để bồi dưỡng cho HS các thao tác tư duy, khả nănglập luận, diễn đạt bằng ngôn ngữ nói và viết

Ví dụ 1: Cho mạch điện có sơ đồ như hình vẽ

Hãy làm thí nghiệm, và cho biết số chỉ của của

Ampe kế thay đổi thế nào khi thay đổi giá trị

của R4 Giải thích vì sao số chỉ của Ampe kế

lại thay đổi như vậy?

A

E

Trang 6

Hướng giải quyết:

Để giải được bài tập này, trước tiên HS phải

làm thí nghiệm như đã yêu cầu Quan sát hiện

tượng xảy ra Giải thích hiện tượng đã thấy

bằng cách liên hệ hiện tượng xảy ra trong

thí nghiệm với lí thuyết đã học đồng thời diễn

đạt bằng ngôn ngữ nói và viết

Dạng II: BTTN thiết kế phương án thí nghiệm

Dạng bài tập này khá phổ biến ở trường phổ thông vì TN được tiến hànhtrong tư duy Do đó nó hoàn toàn khả thi trong điều kiện trang thiết bị TN cònchưa đầy đủ như hiện nay Các bài tập này là tiền đề cho HS giải các BTTN địnhlượng Nội dung của dạng bài tập này thường là: thiết kế phương án TN để đo cácđại lượng vật lí , hoặc để quan sát một quá trình vật lí , minh hoạ cho một định luậtvật lí

Để giải dạng bài tập này thì HS cần phải thực hiện các yêu cầu như:

+ Cho các thiết bị thí nghiệm hãy tìm cách đo ?

+ Cho các thiết bị thí nghiệm hãy nêu phương án đo?

+ Hãy trình bày cách đo ?

Với loại bài tập này học sinh phải tiến hành một loạt các hoạt động tư duysáng tạo, để liên kết yêu cầu của bài toán với các dự kiện đã cho bằng các tri thứcvật lí đã có, để thiết kế trong óc một mô hình thí nghiệm và tiến hành thí nghiệmtrong tưởng tượng, sau đó diễn đạt bằng lời thí nghiệm tưởng tượng mà mình đãthực hiện

Ví dụ 2: Cho các dụng cụ thí nghiệm : Một nguồn điện một chiều (có E =

6V), một vôn kế lí tưởng, một ampe kế lí tưởng, một điện trở thuần R0 Hãy xâydựng phương án thí nghiệm để xác định giá trị của điện trở thuần R0 ?

Hướng giải quyết:

- Đầu tiên là HS phải viết được hệ thức giữa R0, U, I theo định luật ôm:

R0 = U/I

- Để xác định được Rthì cần dùng vôn kế để đo U hai đầu R0 và dùng ampe

kế để đó I chạy qua R0

Ví dụ 3: Cho các dây nối, một bóng đèn dây tóc có hiệu điện thế định mức 12V,

một bình acquy có suất điện động 12V và điện trở trong rất bé, một ôm kế, mộtvôn kế, một ampekế và một nhiệt kế Hãy đề xuất phương án thí nghiệm để xácđịnh nhiệt độ của dây tóc bóng đèn khi sáng bình thường Hệ số nhiệt độ điện trở

Trang 7

Hướng giải quyết:

Để giải bài tập này HS phải xác định các đại lượng có liên quan đến việc xácđịnh giá trị nhiệt độ của giây tóc bóng đèn khi sáng, đó là:

+ Điện trở của vật dẫn kim loại phụ thuộc vào nhiệt độ theo quy luật:

0

R R (1    t)

Như vậy nếu xác định được điện trở của dây tóc ở nhiệt độ đèn làm việcbình thường và ở nhiệt độ nào đó thì có thể suy ra nhiệt độ của nó khi sáng bìnhthường

Giả sử ở nhiệt độ trong phòng (ứng với nhiệt độ t1) điện trở của dây tóc là:

Từ đó có thể đưa ra phương án thí nghiệm theo trình tự như sau:

+ Đọc trên nhiệt kế để nhận được nhiệt độ trong phòng t1

+ Dùng ôm kế để đo điện trở của dây tóc bóng đèn khi đèn chưa thắp sáng để nhậnđược điện trở R1 Khi dùng ôm kế như vậy sẽ có một dòng nhỏ đi qua dây tócnhưng sự thay đổi nhiệt độ của dây tóc khi đó là không đáng kể

+ Mắc mạch điện cho đèn sáng bình thường, trong đó ampe kế mắc nối tiếp vàvôn kế mắc song song với bóng đèn

+ Đọc số chỉ của vôn kế ampe kế để nhận được U và I

+ Thay các số liệu nhận được vào công thức (4) để tính nhiệt độ của dây tóc

1.3.2 BTTN định lượng : được phân theo 3 mức độ với độ khó tăng dần

+ Mức độ 1: Cho thiết bị, cho sơ đồ thiết kế và hướng dẫn cách làm thí nghiệm

Yêu cầu đo đạc các đại lượng, xử lí kết quả đo đạc để đi đến kết luận (đây là loạiBTTN có mẫu sẵn trong SGK)

+ Mức độ 2: Cho thiết bị, yêu cầu thiết kế phương án TN, làm TN đo đạc các

đại lượng cần thiết, xử lí số liệu để đi đến kết luận

Trang 8

+ Mức độ 3: Yêu cầu tự lựa chọn thiết bị, thiết kế phương án TN, làm TN đo

đạc, xử lí số liệu để tìm qui luật

1.4 Vai trò, chức năng của bài tập thí nghiệm trong dạy học vật lí:

Mục đích cơ bản đặt ra cho HS khi giải bài tập vật lí là hiểu sâu sắc các quyluật vật lí, biết phân tích chúng và ứng dụng chúng vào thực tiễn cuộc sống

Trong các loại bài tập thì bài tập thí nghiệm có nhiều lợi thế hơn cả về thực

hiện 4 nhiệm vụ của dạy học vật lí: Giáo dưỡng, phát triển trí tuệ, giáo dục và giáo dục kĩ thuật tổng hợp Giải bài tập thí nghiệm giúp học sinh rèn luyện tính

độc lập, tích cực trong học tập, tư duy sáng tạo, vận dụng để giải quyết các vấn đềthực tiễn Những dự kiện dùng cho việc giải BTTN là kết quả thu được từ thínghiệm, bằng con đường đo lường những đại lượng vật lí, quan sát hiện tượng vật

lí trong quá trình tiến hành các thí nghiệm Để tìm được câu trả lời học sinh cầnphải vận dụng những kiến thức vật lí đã biết, từ việc phân tích các biểu thức, HSphải hiểu rõ những điều kiện nào là cần thiết để giải bài tập, thiết kế sơ đồ và lắpráp thí nghiệm, tiến hành những phép đo cần thiết Kết quả của lời giải có thể là kếtquả của những phép đo trực tiếp hoặc gián tiếp Sau khi có kết quả của các phép

đo HS phải biết tính toán xử lí sai số để lựa chọn kết quả

Ưu điểm của bài tập thí nghiệm so với các bài tập tính toán trước hết là ở chỗkhông thể giải chúng một cách hình thức khi không biết đầy đủ quá trình vạt lí màbài tập đề cập đến

Hoạt động giải bài tập thí nghiệm luôn gây được hứng thú lớn đối với họcsinh, luôn cuốn được sự chú ý của học sinh vào các vấn đề bài tập yêu cầu, pháthuy tính tính cực tìm tòi, khám phá và sáng tạo Quá trình giải bài tập thí nghiệmhọc sinh được rèn luyện các thao tác tư duy và những kĩ năng thực nghiệm cũngnhư việc phát huy tính sáng tạo cho học sinh trong việc giải quyết các vấn đề thựctiễn Những số liệu khởi đầu về lí thuyết của bài toán sẽ được kiểm tra tính đúngđắn thông qua các kết quả thu được bằng con đường thực nghiệm

Có thể giải các bài tập thí nghiệm chỉ dùng các thiết bị thông thường, đơngiản, bề ngoài có vẻ kém hiệu lực trong việc gây hứng thú cho HS, song nếu biếtkhai thác lại có ý nghĩa to lớn trong phát triển tư duy sáng tạo của người học như

Ka-pi-xa đã từng nói “ Thiết bị dạy học càng đơn giản càng có tác dụng trong việc phát huy năng lực sáng tạo của người học”.

II Phương pháp giải bài tập thí nghiệm

BTTN vừa là bài tập, vừa là thí nghiệm, việc giải nó có hiệu quả cao cho sựphát triển phẩm chất, năng lực, tư duy và tính sáng tạo của học sinh vào việc giảiquyết các vấn đề trong thực tiễn Khi giải các bài tập thí nghiệm cần phải nắm rõmục đích cần giải quyết để từ đó liên hệ với cơ sở lí thuyết cần vận dựng và trên

cơ sở lí thuyết xây dựng phương án thí nghiệm, lựa chọn dụng cụ đo, tiến hành thínghiệm, ghi số liệu, xử lí số liệu tìm kết quả, đánh giá kết quả, kết luận Sau đây là

Trang 9

Bước 1 Đọc đề và tóm tắt đề bài (cần tóm tắt đại lượng đã cho, đại lượng cần xác

định), phân tích bản chất vật lí của đề bài.

Bước 2 Xây dựng phương án giải (phương pháp thí ngiệm, lập luận, tính toán) Bước 3 Tiến hành giải: Tính toán, lập luận, trình bày lời giải (nếu có thể giải bằng

lí thuyết), hoặc lập phương án thí nghiệm, quan sát để thu thập số liệu

Bước 4 Tiến hành thí nghiệm: quan sát hiện tượng, ghi nhận số liệu và xử lí kết

quả

Bước 5 Đánh giá kết quả và trả lời câu hỏi của đề bài (kết luận)

Trang 10

Chương 2 Xây dựng hệ thống bài tập thí nghiệm dạy học chương II

“ Dòng điện không đổi” – vật lí 11 cơ bản.

I Thực trạng sử dụng bài tập thí nghiệm trong dạy học vật lí hiện nay ở một

số trường THPT trên địa bàn Thị xã Thái Hòa- Tỉnh Nghệ An.

1.1 Thực trạng việc nhận thức của GV về việc sử dụng bài tập thí nghiệm trong quá trình dạy học:

Để xác lập cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng các biện pháp nâng cao hiệuquả sử dụng bài tập thí nghiệm trong dạy học Vật lí ở trường THPT, Tôi đã tiếnhành điều tra về nhận thức, mức độ sử dụng, hiệu quả sử dụng cũng như việc cảitiến, thiết kế các bài tập thí nghiệm của GV 03 trường THPT trên địa bàn Thị xãThái Hòa (Nội dung điều tra theo mẫu phiếu điều tra thực trạng, phụ lục 3) gồm 46giáo viên trong đó có 15 GV dạy môn Vật lí và 126 em HS lớp 11 Kết quả khảosát mức độ nhận thức của GV về việc sử dụng BTTN trong quá trình dạy học Vật

lí ở trường THPT thể hiện qua bảng 1.1

Bảng 1.1 Kết quả khảo sát mức độ nhận thức của GV về việc sử dụng BTTN

trong quá trình dạy học ở trường THPT

73.926.10

B Các lí do

- Kích thích được hứng thú học tập của HS

- Phát huy được tính tích cực, độc lập, sáng tạo

của HS trong quá trình dạy học

- Đảm bảo kiến thức vững, chắc

- Chuẩn bị công phu, mất nhiều thời gian

- Hiệu quả bài học không cao

- Không thi cử

2537

399018

54.380.43

84.919.6039.1

Kết quả thu được cho thấy: Hiện nay, giáo viên THPT đều đánh giá cao tầm

Trang 11

quan trọng và sự cần thiết của việc sử dụng bài tập thí nghiệm trong quá trình dạyhọc 100% GV được khảo sát đều khẳng định không thể thiếu bài tập thí nghiệmtrong quá trình dạy học vật lí Theo đánh giá của giáo viên THPT, việc sử dụngcác bài tập thí nghiệm trong dạy học Vật lí đảm bảo cho HS nắm kiến thức vữngchắc (84.9%), tạo được hứng thú cho HS (54.3%), phát huy được tính tích cực,độc lập, sáng tạo của HS trong quá trình học tập (80.43%).

Từ sự phân tích trên cho thấy giáo viên THPT đã có sự nhận thức đúng đắn

về tầm quan trọng của bài tập thí nghiệm trong quá trình dạy học Vật lí Điều đó

có thể cho phép khẳng định mức độ cần thiết và ý nghĩa của bài tập thí nghiệmtrong dạy học ở trường THPT hiện nay

1.2 Mức độ sử dụng bài tập thí nghiệm của giáo viên ở các trường THPT trong quá trình dạy học Vật lí hiện nay:

Để đánh giá mức độ sử dụng bài tập thí nghiệm của giáo viên ở các trườngTHPT hiện nay tôi dựa trên cơ sở đánh giá của GV và kết quả điều tra được trình bàytrong bảng 1.2 như sau:

Bảng 1.2 Kết quả khảo sát mức độ sử dụng bài tập thí nghiệm trong dạy học

2073.36.7

Từ kết quả thu được chúng tôi có thể đi đến một số nhận định sau: Trongcác trường THPT hiện nay, GV đã sử dụng bài tập thí nghiệm trong quá trìnhdạy học nhưng mức độ sử dụng là không thường xuyên (73.3% GV thỉnh thoảng

có sử dụng và 6.7% GV không bao giờ sử dụng)

Kết quả này phản ánh thực trạng là mặc dù giáo viên đã nhận thức đúngđắn về sự cần thiết của bài tập thí nghiệm trong quá trình dạy học Vật lí, nhưngviệc sử dụng bài tập thí nghiệm trong thực tế lại rất hạn chế Điều này tạo nênmâu thuẫn giữa nhận thức và mức độ sử dụng bài tập thí nghiệm của GV trongquá trình dạy học ở trường THPT hiện nay

1.3 Thái độ và kết quả học tập của HS trong các giờ có sử dụng bài tập thí nghiệm Vật lí:

Về thái độ của HS đối với môn học, chúng tôi đã điều tra và kết quả đượcthể hiện qua bảng 1.3

Trang 12

Bảng 1.3 Kết quả điều tra lí do học sinh thích học môn Vật lí

Lí do thích học môn Vật lí Số phiếu Tỉ lệ (%)

- Thầy, cô dạy dễ hiểu, hấp dẫn

- Được quan sát, được làm TN

- Thầy (cô) vui tính, yêu quý HS

- Lí do khác

564878

47.0540.05.97.05Qua bảng số liệu trên cho thấy, lí do hàng đầu khiến HS thích học môn vật

lí là phương pháp giảng dạy của GV và một lí do thứ hai khiến cho HS yêu thíchmôn học đó là được quan sát, được làm bài tập thí nghiệm Điều này một lầnnữa Khẳng định vai trò quan trọng của hoạt động thiết kế bài tập thí nghiệmtrong dạy học Vật lí

Nhiệm vụ của HS mà GV giao cho HS làm việc ở nhà trong việc học vật lí

đó là giải bài tập trong SGK, sách bài tập vật lí, và các bài tập đã được giáo viênphân dạng nhằm mục đích phục vụ cho kì thi đại học, còn các mục tiêu khác củaviệc dạy học thì không được chú ý đúng mức

Thực trạng trên là do những nguyên nhân như sau:

- Thứ nhất là do thói quen dạy học chay, GV mô tả thí nghiệm HS lắng nghe mộtcách từu tượng, chủ yếu dựa vào phương pháp thuyết trình, diễn giảng đã in sâuvào nếp nghĩ, nếp làm của cả GV và HS

- Thứ hai là cơ sở vật chất thiếu thốn hoặc có thì cũng dùng dược lần 1, lần 2 thìkhông còn dùng được nữa Thiết bị mới được cấp về không đồng bộ, chất lượngthấp, chủ yếu chỉ có thể tiến hành các thí nghiệm biểu diễn, hoặc mô hình để quansát

- Thứ ba là việc bố trí phòng thí nghiệm chưa phù hợp, thời gian bố trí tiết dạychưa tạo điều kiện để giáo viên có thể chuẩn bị thí nghiệm, nhân viên thiết bịkhông đúng chuyên môn

- Thứ tư là đề thi của các kì thi như thi học kì, thi tốt nghiệp, thi đại học chưa tạosức ép cần thiết đủ để cả học sinh và giáo viên phải chú ý đến làm thí nghiệm nóichung và BTTN nói riêng

- Thứ năm là do đặc điểm tình hình xã hội, học sinh thích thi vào các khoa kinh

tế tài chính, vì vậy mục đích của việc học chỉ cốt là có thể giải đề thi đại học Việcnhững kiến thức đang học được áp dụng như thế nào trong thực tế ít được quantâm

- Thứ sáu là phương thức quản lí của CBQL chưa phù hợp, chưa kích thích được

GV tích cực nghiên cứu, toàn tâm toàn ý với việc dạy học như: Số tiết dạy cònnhiều, lương chưa đủ để trang trải cuộc sống, bắt buộc họ phải nuôi sống gia đình

Trang 13

bằng việc làm thêm, làm ngoài, làm nghề phụ, vì vậy sự đầu tư cho việc dạy ởnhiều GV còn mang tính cầm chừng.

1.4 Những thuận lợi và khó khăn trong việc sử dụng bài tập thí nghiệm theo chuẩn Phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh thông qua khai thác chương

“dòng điện không đổi” tại các trường THPT trên địa bàn Thị xã Thái hoà:

- Do điều kiện của các nhà trường chưa triển khai kế hoạch một cách đồng bộ

về học ngoại khóa và dã ngoại nên cũng ảnh hưởng ít nhiều trong việc sử dụngBTTN vật lí cho hình thức này

II Xây dựng hệ thống bài tập thí nghiệm vật lí

2.1 Yêu cầu chung:

Xây dựng một hệ thống bài tập (thông qua tuyển chọn và biên soạn) nhằmcủng cố, khắc sâu, mở rộng kiến thức đồng thời bồi dưỡng tư duy sáng cho HS

Hệ thống BTTN cho chương “ Dòng điện không đổi” được phân ra từng dạngtheo cấu trúc nội dung của SGK để tiện lợi cho việc học tập và giảng dạy Các BTphải sắp xếp từ đơn giản đến phức tạp phù hợp cho mọi đối tượng HS, đặc biêt là

HS học theo sách chương trình cơ bản Nội dung của bài tập phải phù hợp với cáckiến thức cơ bản của chương trình SGK và phải thiết thực gần gũi với cuộc sốnghàng ngày của HS Các thiết bị TN phải đơn giản, dễ tìm, dễ chế tạo hoặc có sẵn

ở phòng thí nghiệm Các thao tác TN không phức tạp

2.2 Phương pháp xây dựng BTTN vật lí:

Hiện nay trong sách bài tập vật lí 11 của chương trình cơ bản hầu như không

có BTTN nào (trong tổng số 53 bài của chương), do đó chúng ta cần phải xâydựng, tuyển chọn các BTTN theo các hướng sau:

Trang 14

- Dựa vào bài tập thông thường trong SGK, sách bài tập vật lí ở chương trình

cơ bản, bằng cách thay đổi các dữ kiện, phương thức tìm ra đáp số từ việc giải đơnthuần thành là áp dụng công thức sang việc phải làm thí nghiệm để tìm ra kết quả,đơn giản hóa yêu cầu,… để được một BTTN phù hợp với học sinh học theochương trình cơ bản

- Xuất phát từ những hiện tượng, thực tiễn đời sống đòi hỏi, kết hợp với yêucầu của chương trình môn học để sáng tạo thêm những BTTN

- Sưu tầm các tài liệu kĩ thuật có liên quan đến vật lí học, các đề thi HSG, đềthi THPT các năm Từ đó tìm tư liệu sát thực để xây dựng các BTTN

2.3 Hệ thống bài tập thí nghiệm chương “Dòng điện không đổi”:

Hoạt động giải BTTN vật lí rất đa dạng và phong phú, có thể diễn ra ở trênlớp học, ở phòng thí nghiệm thực hành, ở nhà và có thể diễn ra cả ở những buổi dulịch, dã ngoại…Nếu GV và HS biết khai thác BTTN một cách hợp lí thì nó sẽmang lại hiệu quả giáo dục rất cao

Trong khuôn khổ của đề tài chúng tôi đã xây dựng và sưu tầm được 20BTTN vật lí

2.3.1 Bài tập định tính:

* BTTN định tính: Quan sát, mô tả và giải thích

Bài 1 Có hai bóng đèn cùng hiệu điện thế định mức, bóng Đ1 có công suất định mức cao hơn công suất định mức của bóng đèn Đ2 Mắc nối tiếp hai bóng đèn và mắc vào một nguồn điện (E, r) Làm thí nghiệm, quan sát độ sáng của hai bóng đèn

và giải thích kết quả quan sát?

Bài 2 Trong một số loại đèn pin, nó được thiết kế để lắp 2 pin loại 1,5V mắc nối

tiếp Tuy nhiên, bóng đèn được sản xuất để lắp vào loại đèn pin trên lại có hiệuđiện thế định mức là 2,5V Hãy lắp pin vào và bóng vào một đèn pin, bật công tắccho đèn sáng Quan sát xem bóng có bị cháy không, và giải thích

* BTTN định tính: Thiết kế phương án

thí nghiệm

Bài 3 Có một sợi dây dẫn dài, 2 lõi cách

điện với nhau Do trong quá trình sử dụng,

hai lõi bị chập với nhau tại một vị trí nào

đó Với các dụng cụ như nguồn điện, điện

trở, vôn kế, ampe kế, ôm kế có độ chính xác cao, hãy thiết kế thí nghiệm, và giảithích các xác định vị trí dây bị chập

Bài 4 Có hai nguồn điện có suất điện động khác nhau Nêu các phương án và thiết

bị cần thiết để so sánh suất điện động của chúng

Trang 15

Bài 5 Trong tường một toà nhà có

đặt ngầm trong bê tông một cáp

điện, trong đó có 3 dây dẫn giống

nhau và chỉ để lộ đầu dây ở các vị

trí xa nhau như hình vẽ Hãy tìm

cách xác định điểm đầu và điểm

cuối của mỗi dây với ít thao tác

* BTTN: Mức độ 1 – Sử dụng các dụng cụ thí nghiệm thí nghiệm cho sẵn và

đã biết phương án thí nghiệm

Bài 6 Sử dụng các thiết bị : Vôn kế, các điện trở Hãy làm thí nghiệm để chứng tỏ

một cục pin (con thỏ chẳng hạn) có điện trở trong

Bài 7 Có hai điện trở có giá trị khác nhau, một cục pin ( nguồn điện không đổi),

các vôn kế Hãy nêu cách so sánh giá trị của của 2 điện trở đó

* BTTN: Mức độ 2 – Các dụng cụ thí nghiệm đã có sẵn, HS tự đưa ra phương

án thí nghiệm để xác định đại lượng vật lí

Bài 8 Làm thể nào để xác định được hai cực của bộ ac quy trong xe ô tô bằng

cách dùng hai đoạn dây dẫn và một cốc nước?

Bài 9 Làm thể nào để xác định được hai cực của bộ ac quy trong xe ô tô bằng cách

dùng hai đoạn dây dẫn bằng đồng và một củ khoai tây ngậm nước?

Bài 10 Có một nguồn điện, các vôn kế, một điện trở đã biết giá trị và các dây nối.

Hãy tiến hành thí nghiệm để xác định giá trị một điện trở khác

Bài 11 Bằng các dụng cụ: Một biến trở có con chạy; một điện trở R0 đã biết giá trị,một nguồn điện có hiệu điện thế không đổi, một vôn kế không lí tưởng, một thướcmilimét, dây nối, giá đỡ đủ dùng Hãy nêu phương án thí nghiệm để xác định điệntrở của các bóng đèn với số mạch điện và số lần đo ít nhất

Bài 12 Có một điện trở chưa biết giá trị, một số điện trở đã biết giá trị chính xác,

một biến trở, một nguồn điện một chiều, một ampe kế Hãy đưa ra phương án, vàtiến hành thí nghiệm xác định giá trị của điện trở chưa biết

Bài 13: Cho một nguồn điện có hiệu điện thế U nhỏ và không đổi Một điện trở r

chưa biết mắc một đầu vào một cực của nguồn, một ampe kế có điện trở RA ≠0chưa biết, một biến trở có giá trị biết trước Làm cách nào để xác định được hiệuđiện thế?

Trang 16

Bài 14 Một điện trở R1 chưa biết giá trị Hãy lập các phương án để đo giá trị điệntrở đó nếu cho thiết bị:

- Một nguồn điện một chiều

- Một vôn kế

- Một ampe kế

- Một điện trở R2 đã biết và các dây nối( điện trở không đáng kể)

Bài 15 Nêu một phương án thực nghiệm xác định điện trở của một ampe kế Dụng

cụ gồm: Một nguồn điện có hiệu điện thế không đổi, một ampe kế cần xác địnhđiện trở, một điện trở R0 đã biết giá trị, một biến trở con chạy Rb có điện trở toànphần lớn hơn R0, hai công tắc điện K1 và K2, một số dây dẫn đủ dùng Các công tắcđiện và dây dẫn có điện trở không đáng kể

Bài 16 Có hai hộp kín giống nhau, một hộp chứa hai pin mắc nối tiếp và một hộp

chứa hai pin mắc song song (các pin giống nhau) Cho các thiết bị:

- Một ampe kế

- Một điện trở R( lớn hơn điện trở trong của các pin )

Tìm phương án để xác định :

a Hộp nào chứa hai pin mắc nối tiếp, hộp nào chứa hai pin mắc song song

b Suất điện động và điện trở của mỗi pin

Bài 17 Cho các dây nối, một bóng đèn dây tóc có hiệu điện thế định mức 12V,

một bình acquy có suất điện động 12V và điện trở trong rất bé, một ôm kế, mộtvôn kế, một ampekế và một nhiệt kế Hãy đề xuất phương án thí nghiệm để xácđịnh nhiệt độ của dây tóc bóng đèn khi sáng bình thường Hệ số nhiệt độ điện trởcủa vônfam làm dây tóc đã biết

Bài 18: Có hai vôn kế (V1) và (V2) khác nhau (đo được hiệu điện thế một chiều),một số dây dẫn có điện trở không đáng kể Hãy xác định suất điện động của nguồnđiện một chiều (có điện trở trong đáng kể), với hai lần mắc mạch điện, bằng dụng

cụ đã cho

* BTTN: Mức độ 3 – Đây là loại BTTN mà HS tự chọn dụng cụ thí nghiệm,

tự đưa ra phương án thí nghiệm khi đo (xác định) một đại lượng vật lí

Bài 19 Làm thí nghiệm kiểm tra tính dẫn điện của dung dịch muối ăn và tìm sự

phụ thuộc điện trở của bình dung dịch vào nhiệt độ

Bài 20 Cho hai vật dẫn, một là kim loại, một là chất bán dẫn Hãy làm thí nghiệm

để tìm ra sự phụ thuộc của điện trở hai chất vào nhiệt độ Từ đó suy ra các phânbiệt hai chất

Trang 17

HƯỚNG DẪN ĐÁP ÁN

* BTTN định tính: Quan sát, mô tả và giải thích

Bài 1 * Để làm được bài tập này thì HS cần trả lời các câu hỏi sau:

- Các đèn mắc nối tiếp thì cường độ do nguồn cung cấp qua các đèn I1, I2 có liên hệvới nhau như thế nào?

- Độ sáng của đèn phụ thuộc vào các yếu tố nào?

- Hãy tính công suất tỏa nhiệt thức tế của các đèn?

- Hãy làm thí nghiệm để kiểm chứng?

* Tiến hành mắc mạch điện như hình vẽ Hai bóng đèn loại Đ1(12V-12W) và

Đ2(12V-6W), nguồn điện một chiều loại E =

12V

* Hiện tượng: đóng khóa K và quan sát, ta thấy

bóng đèn Đ2 sáng hơn

* Giải thích:

- Từ giá trị hiệu điện thế định mức và công

suất định mức, ta tính được điện trở của hai bóng đèn theo biểu thức:

2 dm dm P

Bài 2 - Tiến hành thí nghiệm: Lắp pin và bóng vào đèn,

bật công tắc thấy đèn sáng bình thường, không bị cháy

- Giải thích: Sơ đồ mạch điện của đèn được vẽ

như hình bên

Hai nguồn điện mắc nối tiếp có suất điện động và

điện trở tương đương là:

Eb = 2E; rb = 2r

Giả sử khi đóng khóa k, cường độ dòng điện trong mạch là I, khi đó hiệuđiện thế hai đầu bóng đèn là UAB = Eb - Irb Như vậy do pin có điện trở trong nênhiệu điện thế giữa hai cực của nguồn nhỏ hơn suất điện động của bộ Chính vì vậy,mặc dù suất điện động của bộ lớn hơn hiệu điện thế của bóng đèn nhưng bóng đèn

vẫn sáng bình thường

Đ1 Đ2

E, r

Ik

Đ

k

Trang 18

Bài 3 * Phân tích:

Ta biết, trong đoạn mạch mắc nối tiếp, cường độ dòng điện là như nhau.Như vậy, khi mắc nối tiếp hai điện trở với nhau và nối với nguồn điện Giả sửcường độ dòng điện trong mạch là I, hiệu điện thế hai đầu các điện trở lần lượt là:

U1 = IR1, U2 = IR2 Như vậy, nếu so sánh U1 và U2 từ đó ta sẽ so sánh được R1 và

- Đưa ra kết luận về giá trị của R1 và R2

* Nhận xét: Đây là bài toán thí nghiệm định tính Như vậy, các bài toán thí

nghiệm không cần thiết phải là những bài toán cồng kềnh, chỉ cần những bài toánnhỏ thế này, nó cũng giúp cho học sinh rèn luyện được rất nhiều kĩ năng, cũng nhưgắn kết lý thuyết với thực tiễn qua thực nghiệm mà học sinh tự làm

* BTTN định tính: Thiết kế phương án thí nghiệm

Bài 4 - Giả sử dây bị chập tại vị trí cách

một đầu một đoạn x

- Ta dùng Ôm kế, đo điện trở của

đoạn dây gồm 2 phần của hai dây kể từ

một đầu dây đến vị trí bị chập Giả sử giá

trị đo được lần lượt là R1 và R2 Ta có:

Như vậy, nếu đo được R1 và R2 ta có thể xác định được vị trí dây bị chập

Độ chính xác của phép đo tùy thuộc vào độ chính xác của đồng hồ đo

Tóm lại, để xác định được vị trí dây bị chập ta dùng Ôm kế đo điện trở cácđoạn, mắc mạch điện như sơ đồ Sau khi đo được giá trị của R1 và R2 Ta thay vàobiểu thức trên để tìm ra x

Bài 5 * Phân tích: Từ định luật ôm cho đoạn mạch chứa nguồn, ta suy ra rằng

nếu I = 0 ( hai cực của nguồn để hở), suất điện động của nguồn có giá trị bằng hiệuđiện thế giữa hai cực của nguồn U = E – Ir = E

- Như vậy, nếu ta dùng vôn kế để đo hiệu điện thế hai cực của từng nguồn

So sánh giá trị hiệu điện thế từ đó suy ra kết luận của bài toán

Trang 19

- Lần lượt thay nguồn điện bằng hai nguồn mà đề bài đã cho.

- Ở mỗi lần, đọc số chỉ vôn kế Giá trị lần lượt là U1 và U2

- So sánh giá trị của U1 và U2, từ đó suy ra kết quả bài toán

Bài 6 * Phân tích:

- Với các dụng cụ đã cho ta sẽ nhận

biết điểm đầu và điểm cuối của

sợi dây dựa vào hiện tượng gì?

- Để đèn sáng thì ta phải có điều

kiện gì?

- Tiến hành thao tác như thế nào?

* Tiến hành giải:

- Đánh dấu 3 điểm đầu dây là 1, 2, 3 và 3

điểm cuối dây là a, b, c như hình vẽ

( H.5.1)

- Cắt đoạn dây dẫn thành 4 đoạn

3 đoạn mắc nối tiếp pin và bóng đèn

- Nối 1-2, mắc pin nối tiếp đèn rồi chạm vào hai điểm cuối bất kỳ (ví dụ: a, b)nếu đèn sáng thì đầu c chính là điểm cuối của dây 3 (H.5.2)

- Tách 1-2, rồi nối 1-3 rồi làm tương tự ta sẽ phát hiện được cuối của dây 2suy ra điểm cuối của dây 1

* Nhận xét:

- Đây là BTTN có tính thực tế Việc giải bài tập này giúp HS rèn luyện kỹ năng

tư duy logic, kết hợp vận dụng kiến thức vào thực tiễn

- HS có thể vận dụng bài tập này để dò hệ thống điện bị đứt ngầm, hoặc mắcđiện cầu thang nhà cao tầng

2.3.2 Bài tập định lượng

* BTTN: Mức độ 1 – Sử dụng các dụng cụ thí nghiệm thí nghiệm cho sẵn và

đã biết phương án thí nghiệm

Bài 7 * Phân tích: Ta biết rằng, trong đoạn mạch chứa nguồn

điện, hiệu điện thế hai cực của nguồn được xác định theo công

thức: U = E – Ir Như vậy, nếu nguồn điện có điện trở trong, ta

đo hiệu điện thế giữa hai cực của nguồn khi nối nguồn với điện

trở thuần tạo thành mạch kín (I 0), và khi nguồn để hở (I = 0) thì khi nguồn để hởhiệu điện thế giữa hai cực của nguồn sẽ có giá trị lớn hơn khi nguồn nối thànhmạch kín

H.a

V

1 2 3

a b c H.5.1

H.5.2

H.5.3

Trang 20

* Tiến hành giải:

Ta tiến hành nối mạch điện như hình vẽ,

ban đầu là mạch (H.a), sau đó nối như mạch

(H.b) Giả sử ở mạch (H.a), giá trị hiển thị của

vôn kế là U1 và ở mạch (H.b), giá trị hiển thị

của vôn kế là U2 So sánh giá trị của U1 và U2,

ta thấy U1 > U2 Như vậy, nguồn điện chứa điện trở trong

* BTTN: Mức độ 2 – Các dụng cụ thí nghiệm đã có sẵn, HS tự đưa ra phương

án thí nghiệm để xác định đại lượng vật lí

Bài 8

* Tiến hành thí nghiệm:

- Cần mắc dây dẫn vào hai cực của bộ ắc quy, rồi nhúng hai đầu tự do vào cốc nước (Xảy ra hiện tượng điện phân nước)

* Quan sát hiện tượng: Các bọt khí tạo ra ở hai đầu dây dẫn nhúng trong nước

* Giải thích: Do hiện tượng điện phân nước bằng cách trên

- Một phân tử nước thì được tạo bởi 2 nguyên tử hiđro và 1 nguyên tử oxy Trong khi dưới áp suất như nhau, những thể tích như nhau chứa cùng một lượng phân tử khí, nhưng quá trình điện phân số phân tử khí được giải phóng hai lần nhiều hơn,

vì vậy điện cực có nhiều bọt khí hơn là điện cực tại đó hiđro được giải phóng

- Vì các ion hiđro tích điện dương nên khí này phải được giải phóng ở cực âm (catot)

* Nhận xét: BTTN loại này có thể thực hiện khi đi du lịch, dã ngoại.

Bài 9 * Bố trí thí nghiệm:

- Mắc hai dây đồng vào hai cực của bộ ắc quy và cắm hai đầu tự do vài củ khoai tây ngậm nước

* Hiện tượng:

- Khi đó, dòng điện đi qua củ khoai tây sẽ gây ra hiện tượng điện phân nước trong

đó Sau một thời gian, có một đầu dây cắm vào củ khoai tây có màu xanh lơ

* Giải thích:

- Ở gần đầu dây nối với cực âm của ắc quy hiđro sẽ được giải phóng, còn ở đầu dây nối với cực dương oxi sẽ được giải phóng Sự tương tác giữa oxi với đồng sẽ tạo nên các xít và hidroxít và các ion này sẽ làm cho vùng lân cận của đầu dây dẫn tượng ứng có màu xanh lơ Đối với đầu dây kia không có hiện tượng tạo mày như vậy

R

V

H.b

Trang 21

Bài 10 * Phân tích: Đây là bài tập thí nghiệm được phát triển từ bài tập trên,

nhưng đã chuyển sang cấp độ cao hơn, từ thí nghiệm định tính sang thí nghiệmđịnh lượng

- Cơ sở lý thuyết của bài tập thí nghiệm này giống với bài tập thí nghiệmtrên Đó là, dòng điện chạy qua đoạn mạch mắc nối tiếp có giá trị bằng nhau

* Tiến hành giải

- Mắc nối tiếp điện trở đã biết giá trị với điện trở chưa

biết giá trị, rồi nối với nguồn điện như hình vẽ

- Mạch điện được mắc như hình bên

- Đo giá trị của U1 và U2

- Thay vào biểu thức trên giá trị của

R1, U1, U2 từ đó suy ra giá trị của R2 theo (3)

* Kết luận: Như vậy để xác định một điện trở chưa biết ta chỉ cần các thiết bị thí

nghiệm: Một nguồn điện, hai vôn kế, một điện trở đã biết giá trị (và các dây nối)

Bài 11 Mắc lần lượt các bóng đèn Đ1, Đ2,

điện trở R0, biến trở R và vôn kế V vào

nguồn điện có hiệu điện thế không đổi như

sơ đồ mạch điện (hình vẽ)

- Dịch chuyển con chạy C của biến trở

R, khi vôn kế V chỉ giá trị không 0 thì dừng

lại Khi đó ta có mạch cầu cân bằng

- Dùng thước milimét đo chiều dài của

các đoạn: AC = l1, l ; 1' '

2 2

BC l ,l ứng với cácbóng đèn Đ1, Đ2

Trang 22

Bài 12 - Ta có thể dựa vào tính chất của mạch cầu cân bằng để xác định giá trị của

điện trở chưa biết

Mạch cầu là mạch điện gồm các điện trở mắc với nhau như hình vẽ Khicường độ dòng điện qua R5 , IA = 0 thì ta có tính chất như sau:

3 1

R R

Như vậy, để xác định giá trị của điện trở

Rx, ta mắc mạch điện như sau:

Điều chỉnh giá trị của biến trở R3, cho đến

khi Ampe kế chỉ giá trị 0 Khi đó mạch cầu ở

trạng thái cân bằng Ta có hệ thức:

1

2 3

x R

R

1 3 2

Thay giá trị của các điện trở đã biết vào biểu thức, ta suy ra giá trị của Rx

Bài 13: Sơ đồ như hình vẽ.

Theo định luật Ôm:

Vẽ đồ thị một trục biểu diễn các giá trị R, một

trục biểu diễn các giá trị 1

R X

R3

R4

R

1 I

1I

Trang 23

a) Nếu hai điện trở R1, R2 mắc nối tiếp thì tỉ số U1/U2

- Đo HĐT U1,U2 như thế nào?

b) Nếu hai điện trở R1, R2 mắc song song thì tỉ số I1/I2

- Đo cường độ dòng điện I1, I2 như thế nào ?

Dĩ nhiên HS sẽ tìm được phương án nữa là dùng vôn kế đo U và ampe kế đo Isau đó tính điện trở theo định luật Ôm: R = U/I

* Tiến hành giải:

Phương án a: Mắc mạch điện gồm R1, R2 nối tiếp vào nguồn điện (H.a)

- Dùng vôn kế lần lượt đo HĐT giữa hai đầu điện trở R1 và R2 được U1 và U2

U

Phương án b: Mắc mạch điện gồm R1 và R2 song song vào nguồn điện (H b )

- Dùng ampe kế lần lượt đo CĐDĐ qua R1 và R2 được I1 và I2

- Áp dụng định luật Ôm :

1

2 2

1

R

R I

I

* Nhận xét: Đây là một bài tập định lượng Thông qua bài tập này giúp học sinh

có kỹ năng thực hành lắp ráp mạch điện, sử dụng vôn kế, ampe kế Cũng cố địnhluật Ôm cho đoạn mạch chỉ có R, biết vận dụng kiến thức để thay đổi phương ánthiết kế thí nghiệm một cách sáng tạo

Bài 15

* Phân tích: Thông thường chúng ta các ampe kế

cho trong các bài toán là lí tưởng (bỏ qua điện trở

của nó) Thực tế ampe kế vẫn có điện trở RA nào đó

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w