SÁNG KIẾN KINH NGHIỆMĐỀ TÀI: TIẾP CẬN, NHÌN NHẬN KHÁI NIỆM TOÁN HỌC DƯỚI NHIỀU CÁCH KHÁC NHAU ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LĨNH VỰC
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
TIẾP CẬN, NHÌN NHẬN KHÁI NIỆM TOÁN HỌC DƯỚI NHIỀU CÁCH KHÁC NHAU ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LĨNH VỰC: TOÁN HỌC
Trang 2SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN TRƯỜNG THPT DIỄN CHÂU 2
LĨNH VỰC: TOÁN HỌC
Số điện thoại:
Diễn Châu, tháng 3 năm 2021
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tính mới của đề tài 1
PHẦN II NỘI DUNG 2
1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2
1.1 Cơ sở lí luận 2
1.1.1 Năng lực 2
1.1.2 Dạy học theo tiếp cận phát triển năng lực 2
1.1.3 Đặc điểm năng lực Toán học 4
1.1.4 Các thành tố của năng lực Toán học 4
1.1.5 Cấu trúc bài học môn Toán theo tiếp cận phát triển năng lực 6
1.2 Cơ sở thực tiễn 7
2 TIẾP CẬN, NHÌN NHẬN KHÁI NIỆM TOÁN HỌC DƯỚI NHIỀU CÁCH KHÁC NHAU ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY VÀ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 8
2.1 Bài Toán 1 8
2.2 Bài Toán 2 .11
2.3 Bài Toán 3 15
2.4 Bài Toán 4 17
2.5 Bài Toán 5 19
3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM VÀ ĐIỀU TRA QUAN SÁT 22
3.1 Giáo án thực nghiệm số 1 23
3.2 Giáo án thực nghiệm số 2 32
3.3 Điều tra quan sát 43
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48
1 Kết luận 48
2 Kiến nghị 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 50
Trang 4PHẦN I MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nâng cao chất lượng giáo dục đang là một yêu cầu cấp bách đối với ngànhgiáo dục nước ta Một trong những khâu then chốt để thực hiện yêu cầu này là đổimới nội dung và phương pháp dạy học
Trong bối cảnh Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đòi hỏi giáodục phổ thông cũng phải có bước chuyển căn bản tập trung vào xây dựng và hoànthiện nhân cách (phẩm chất và năng lực) con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu hộinhập và phát triển của đất nước
Trong giai đoạn hiện nay, việc tiếp cận dần với chương trình giáo dục phổthông 2018 đang là một yêu cầu cấp thiết và gấp rút đối với ngành giáo dục đặcbiệt là giáo viên, người trực tiếp thực thi và thực hiện chương trình, việc đổi mớicách thức và phương pháp dạy học đang là một xu thế tất yếu diễn ra Một trongnhững phương pháp dạy học quan trong để giúp giáo viên và học sinh thực hiện tốtchương trình giáo dục phổ thông 2018 chính là phương pháp dạy học theo địnhhướng phát triển năng lực người học
Trong quá trình dạy và học Toán THPT, học sinh được tiếp cận với rất nhiềukhái niệm Toán học cũng như các Định lí Toán học, các kết quả Toán học quantrọng Một vấn đề đặt ra là làm thế nào để các em hiểu, nhớ và biết vận dụng kháiniệm Toán học đó một cách linh hoạt trong nhiều tình huống bài tập Toán học thìđòi hỏi ở người giáo viên phải có một phương pháp tốt một sự trăn trở mỗi khichuẩn bị bài, trước mỗi tiết học cho các em Chính giáo viên cũng là người truyềncảm hứng môn học, truyền kiến thức, phương pháp môn học cho các em vì thế nếutrước mỗi khái niệm các em được phân tích, mổ xẻ và nhìn nhận theo nhiều hướngkhác nhau sẽ giúp các em hiểu kĩ, hiểu sâu khái niệm từ đó giúp các em biết vậndụng chúng theo nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau trước mỗi tình huốngbài tập Toán học đồng thời từ việc biết vận dụng khái niệm Toán học theo nhiềugóc độ khác nhau ấy sẽ giúp các em phát triển năng lực tư duy và lập luận toánhọc, năng lực giải quyết vấn đề toán học, đồng thời giúp các em có khả năng linhhoạt trong suy nghĩ giải quyết các vấn đề thực tiễn cuộc sống Từ những mục đích
nêu trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Tiếp cận, nhìn nhận khái niệm toán học
dưới nhiều cách khác nhau để phát triển năng lực tư duy và giải quyết vấn đề cho học sinh trung học phổ thông”.
2 Tính mới của đề tài
Sáng kiến giúp học sinh phát triển năng lực tư duy và lập luận toán học, pháttriển năng lực giải quyết vấn đề toán học góp phần phát huy tính tích cực chủ động
và phát triển phẩm chất năng lực toàn diện cho học sinh được thể hiện theo cáchriêng biệt mà không trùng với bất cứ giải pháp nào đã được đề cập
Chứng minh tính khả thi và tính hiệu quả khi áp dụng đề tài nhằm nâng caochất lượng và hiệu quả dạy học
Trang 5PHẦN II NỘI DUNG
1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Năng lực
Các nhà tâm lí học cho rằng, năng lực là sự kết hợp của các kiến thức, kĩnăng và thái độ có sẵn hoặc ở dạng tiềm năng của một cá nhân, là tổng hợp đặcđiểm thuộc tính tâm lí của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạtđộng nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó có hiệu quả cao Hiện nay, quanniệm chung về năng lực được nhiều người thừa nhận là: “Năng lực là thuộc tính cánhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện,cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cánhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… thực hiện thành công một loại hoạtđộng nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” (Chươngtrình Giáo dục phổ thông tổng thể (tháng 7/2017)) Như vậy:
- Năng lực là sự kết hợp giữa tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyệncủa người học
- Năng lực là sự tích hợp của kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhânkhác như hứng thú, niềm tin, ý chí,…
- Năng lực được hình thành, phát triển thông qua hoạt động và thể hiện ở sựthành công trong hoạt động thực tiễn
Khái quát lại năng lực có thể hiểu là sự kết hợp của các kiến thức, kĩ năng,phẩm chất, thái độ và hành vi của một cá nhân để thực hiện một công việc có hiệuquả Năng lực không chỉ bao hàm kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo mà còn cả giá trị, động
cơ, đạo đức và hành vi xã hội
Theo tác giả Trần Kiều (2014): “Các năng lực cần hình thành và phát triểncho người học môn Toán trong trường phổ thông Việt Nam là: năng lực tư duy;năng lực giải quyết vấn đề; năng lực mô hình hóa; năng lực giao tiếp; năng lực sửdụng công cụ, phương tiện học toán; năng lực học tập độc lập và hợp tác”
1.1.2 Dạy học theo tiếp cận phát triển năng lực
Theo Đặng Thành Hưng (2014): “Bản chất của giáo dục theo tiếp cận pháttriển năng lực là lấy năng lực làm cơ sở (tham chiếu) để tổ chức chương trình vàthiết kế nội dung học tập Điều này cũng có nghĩa là năng lực của học sinh sẽ là kếtquả cuối cùng cần đạt của quá trình dạy học hay giáo dục Nói cách khác, thànhphần cuối cùng và cơ bản của mục tiêu giáo dục là các phẩm chất và năng lực củangười học Năng lực vừa được coi là điểm xuất phát đồng thời là sự cụ thể hóa củamục tiêu giáo dục Vì vậy, những yêu cầu về phát triển năng lực học sinh cần đượcđặt đúng chỗ của chúng trong mục tiêu giáo dục”
Trang 6Dạy học theo tiếp cận năng lực nhấn mạnh:
- Muốn có năng lực, học sinh phải học tập và rèn luyện trong hoạt động vàbằng hoạt động Mặt khác, các năng lực được hình thành trong quá trình dạy họckhông chỉ ở nhà trường mà còn dưới tác động của gia đình, xã hội, của chính trị,tôn giáo, văn hóa…
- “Lấy việc học của học sinh làm trung tâm”, chú ý tới mỗi cá nhân họcsinh, giúp họ tự tìm tòi, khám phá, làm chủ tri thức và vận dụng vào giải quyếtcác tình huống thực tế cuộc sống, qua đó có thể rút ra kinh nghiệm và tri thứccho riêng mình
- Kết quả đầu ra của người học, những gì người học làm được sau khi kếtthúc chương trình học hoặc kết thúc bài học, nhấn mạnh đến khả năng thực tế củahọc sinh
- Cách học, yếu tố tự học của người học Thay vì lối dạy truyền thống thầygiảng trò nghe có thể tổ chức cho các nhân tự học, học theo nhóm, học theo sởthích và mối quan tâm riêng của người học,
- Giáo viên là người thiết kế, tổ chức và hướng dẫn học sinh tích cực, tự lựcthực hiện các nhiệm vụ học tập
- Môi trường dạy học phải tạo điều kiện tương tác tích cực giữa học sinh vớihọc sinh, giữa giáo viên với học sinh, thúc đẩy và tạo cho học sinh hiện thực hóanăng lực của mình thông qua quan sát, tìm tòi, khám phá, sáng tạo
- Khuyến khích việc ứng dụng công nghệ, thiết bị dạy học (đặc biệt là ứngdụng công nghệ và thiết bị dạy học hiện đại) nhằm tối ưu hóa việc phát huy nănglực người học
Dạy học theo tiếp cận năng lực toán học nhấn mạnh các đặc điểm:
- Năng lực Toán học không chỉ bao hàm kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo mà còn
cả động cơ, thái độ, hứng thú và niềm tin trong học toán Muốn có năng lực toánhọc học sinh phải rèn luyện, thực hành, trải nghiệm trong học tập môn Toán
- Nhấn mạnh đến kết quả đầu ra, dựa trên những gì người học làm được (cótính đến khả năng thực tế của học sinh) Khuyến khích người học tìm tòi, khámphá trí thức toán học vận dụng vào thực tiễn Đích cuối cùng cần đạt là phải hìnhthành được năng lực học tập môn Toán ở học sinh
- Nhấn mạnh đến cách học, yếu tố tự học của người học Giáo viên là ngườihướng dẫn và thiết kế, còn học sinh phải tự xây dựng kiến thức và hiểu biết toánhọc của riêng mình
- Xây dựng môi trường dạy học tương tác tích cực Phối hợp các hoạtđộng tương tác của học sinh giữa các cá nhân, cặp đôi, nhóm hoặc hoạt độngchung cả lớp và hoạt động tương tác giữa giáo viên và học sinh trong quá trìnhdạy học môn Toán
Trang 7- Khuyến khích việc ứng dụng công nghệ, thiết bị dạy học môn Toán (đặcbiệt là ứng dụng công nghệ và thiết bị dạy học) nhằm tối ưu hóa việc phát huynăng lực của người học
1.1.3 Đặc điểm năng lực Toán học
Năng lực Toán học là một loại hình năng lực chuyên môn, gắn liền với mônhọc Có nhiều quan niệm khác nhau về năng lực toán học Hiệp hội giáo viên Toáncủa Mĩ mô tả: “Năng lực Toán học là cách thức nắm bắt và sử dụng nội dung kiếnthức toán” Ở Việt Nam trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu thườngnhắc tới quan niệm về năng lực toán học của các nhà giáo dục toán học Đan Mạch
và đề xuất của tác giả Trần Kiều (Viện khoa học giáo dục Việt Nam)
Theo Blomhoj & Jensen (2007): “Năng lực Toán học như khả năng sẵn sànghành động để đáp ứng với thách thức toán học của các tình huống nhất định”
Theo Niss (1999): “Năng lực Toán học như khả năng của các nhân để sửdụng các khái niệm toán học trong một loạt các tình huống có liên quan đến toánhọc, kể cả những lĩnh vực bên trong hay bên ngoài của toán học (để hiểu, quyếtđịnh và giải thích)” Niss cũng xác định tám thành tố của năng lực toán học và chiathành hai cụm Cụm thứ nhất bao gồm: năng lực tư duy toán học; năng lực giảiquyết vấn đề toán học; năng lực mô hình hóa toán học; năng lực suy luận toán học.Cụm thứ hai bao gồm: năng lực biểu diễn; năng lực giao tiếp toán học; năng lực sửdụng công cụ, phương diện toán
Tám năng lực đó tập trung vào những gì cần thiết để cá nhân có thể học tập
và ứng dụng toán học Các năng lực này không hoàn toàn độc lập mà liên quanchặt chẽ và có phần giao thoa với nhau
Theo tác giả Trần Kiều (2014): “Các năng lực cần hình thành và phát triểncho người học qua dạy học môn Toán trong trường phổ thông Việt Nam là: Nănglực tư duy; năng lực giải quyết vấn đề; năng lực mô hình hóa toán học; năng lựcgiao tiếp; năng lực sử dụng công cụ, phương tiện toán học; năng lực độc lập vàhợp tác”
1.1.4 Các thành tố của năng lực Toán học
Trước hết, mục đích then chốt của việc học toán là để trở thành những conngười “thông minh hơn”, biết cách suy nghĩ, giải quyết vấn đề trong học tập và đờisống Muốn vậy, mỗi người cần biết cách “chuyển dịch”, mô tả các tình huống (có
ý nghĩa toán học) đặt ra trong thực tiễn phong phú sang một bài toán hay một môhình toán học thích hợp, tìm cách giải quyết các vấn đề toán học trong mô hìnhđược thiết lập, từ đó đối chiếu, giải quyết các vấn đề thực tiễn đề ra Mặt khác, việcgiải quyết các vấn đề toán học gắn liền với việc đọc hiểu, ghi chép, trình bày, diễnđạt các nội dung, ý tưởng, giải pháp toán học trong sự tương tác (thảo luận, tranhluận, phản biện) với người khác, gắn liền với việ sử dụng hiệu quả ngôn ngữ toánhọc kết hợp với ngôn ngữ thông thường hoặc động tác hình thể
Trang 8Năng lực học toán bao gồm các thành tố: năng lực tư duy và lập luận toánhọc; năng lực mô hình hóa toán học; năng lực giải quyết vấn đề toán học; năng lựcgiao tiếp toán học; năng lực sử dụng công cụ phương tiện học toán.
Mỗi thành tố của năng lực toán học cần được biểu hiện cụ thể bằng các tiêuchí, chỉ báo Điều này có độ phức tạp cao và được minh họa trong bảng:
Thể hiện qua việc thực hiện được các hành động:
- So sánh; phân tích; tổng hợp; đặc biệt hóa, khái quát hóa; tươngtự; quy nạp; diễn dịch
- Chỉ ra được chứng cứ, lí lẽ và biết lập luận hợp lí trược khi kếtluận
- Giải thích hoặc điều chỉnh cách thức giải quyết vấn đề vềphương diện toán học
2 Năng lực
mô hình hóa
toán học
Thể hiện qua việc thực hiện được các hành động:
- Sử dụng các mô hình toán học (gồm công thức, phương trình,bảng biểu, đồ thị,…) để mô tả các tình huống trong các bài toánthực tế
- Giải quyết các vấn đề toán học trong mô hình thiết lập
- Thể hiện và đánh giá lời giải trong ngữ cảnh thực tế và cải tiến
mô hình nếu cách giải quyết không phù hợp
3 Năng lực
giải quyết
vấn đề toán
học
Thể hiện qua việc thực hiện được các hành động:
- Nhận biết, phát hiện được vấn đề cần giải quyết bằng toán học
- Đề xuất, lựa chọn được cách thức, giải pháp giải quyết vấn đề
- Sử dụng được các kiến thức, kĩ năng toán học tương thích (baogồm các công cụ và thuật toán) để giải quyết vấn đề đặt ra
- Đánh giá giải pháp đề ra và khái quát hóa cho vấn đề tương tự
4 Năng lực
giao tiếp toán
học
Thể hiện qua việc thực hiện được các hành động:
- Nghe hiểu, đọc hiểu và ghi chép được các thông tin toán học cầnthiết được trình bày dưới dạng văn bản toán học hay do ngườikhác nói hoặc viết ra
- Trình bày, diễn đạt (nói hoặc viết) được các nội dung, ý tưởng,giải pháp toán học trong sự tương tác với người khác (với yêu cầuthích hợp về sự đầy đủ, chính xác)
Trang 9- Sử dụng hiệu quả ngôn ngữ toán học (chữ số, chữ cái, kí hiệu,biểu đồ, đồ thị, các liên kết logic,…) kết hợp với ngôn ngữ thôngthường hoặc động tác hình thể khi trình bày, giải thích và đánh giácác ý tưởng toán học trong sự tương tác (thảo luận, tranh luận) vớingười khác.
5 Năng lực
sử dụng công
cụ, phương
tiện học toán
Thể hiện qua việc thực hiện được các hành động:
- Biết tên gọi, tác dụng, quy cách sử dụng, cách thức bảo quản các
đồ dùng, phương tiện trực quan thông thường, phương tiện khoahọc công nghệ (đặc biệt là phương tiện sử dụng công nghệ thôngtin) phục vụ cho việc học toán
- Sử dụng thành thạo và linh hoạt các công cụ và phương tiện họctoán, đặc biệt là phương tiện khoa học công nghệ để tìm tòi khámphá giải quyết vấn đề toán học (phù hợp với đặc điểm nhận thứclứa tuổi)
- Chỉ ra được các ưu điểm, hạn chế của những công cụ, phươngtiện hỗ trợ để có cách sử dụng hợp lí
1.1.5 Cấu trúc bài học môn Toán theo tiếp cận phát triển năng lực
Mô hình dạy học theo tiếp cận phát triển năng lực gồm các bước chủ yếu:Trải nghiệm - Phân tích, khám phá, rút ra bài học - Thực hành, luyện tập - Vậndụng kiến thức, kĩ năng vào thực tiễn
* Trải nghiệm: Để nhận thức được về một đối tượng, một sự việc hay mộtvấn đề nào đó, người học phải dựa trên vốn kiến thức, vốn kinh nghiệm đã có từtrước Trong môn Toán, kiến thức hình thành trước thường là cơ sở để hình thành
và phát triển những kiến thức tiếp theo
Do đó trong dạy học, giáo viên cần phải tìm hiểu vốn kinh nghiệm và hiểubiết sẵn có của học sinh trước khi học một kiến thức mới và tổ chức cho học sinhtrải nghiệm Sự định hướng và tổ chức các hoạt động của giáo viên là quan trọng,nhưng vốn kiến thức của học sinh, những trải nghiệm của học sinh vẫn là yếu tốquyết định trong việc hình thành kiến thức mới
Trong dạy học dựa trên trải nghiệm giáo viên cần tạo ra các tình huống gợivấn đề để học sinh được trải nghiệm bằng cách huy động các kiến thức và kinhnghiệm thực tiễn để suy nghĩ, biến đổi đối tượng hoạt động, tìm ra hướng giảiquyết vấn đề Hoạt động trải nghiệm được thiết kế dựa trên mục tiêu bài học vànhững kiến thức đã có của học sinh Hoạt động trải nghiệm sẽ giúp học sinh cóhứng thú trong học tập, thôi thúc học sinh khám phá tìm hiểu kiến thức mới
*Phân tích, khám phá, rút ra bài học: Qua hoạt động trải nghiệm, học sinh đãbước đầu tiếp cận được với kiến thức cảu bài học Do đó, hoạt động phân tích - rút
ra bài học cần phải được thiết kế với các hình thức tổ chức học tập phong phú giúp
Trang 10học sinh biết huy động kiến thức, chia sẻ và hợp tác trong học tập để thu nhận kiếnthức mới Sau khi học sinh đã phát hiện ra kiến thức mới, giáo viên là người chuẩnhóa lại kiến thức cho học sinh để rút ra bài học.
*Thực hành, luyện tập: Hoạt động này cần được thiết kế sao cho mỗi họcsinh đều được tự mình giải quyết vấn đề rồi chia sẻ với bạn về cách giải quyết vấn
đề Khi thiết kế hoạt động này, giáo viên cần xác định được những thuận lợi và khókhăn của học sinh, dự kiến được những tình huống học sinh cần sự trợ giúp tronghọc tập Hoạt động này giúp học sinh củng cố kiến thức vừa học và huy động, liênkết với kiến thức đã có để thực hiện giải quyết vấn đề Giáo viên cần tổ chức cáchoạt động học tập phong phú để tránh sự nhàm chán cho học sinh
*Vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực tiễn: Mục đích của hoạt động này làgiúp học sinh vận dụng được kiến thức, kĩ năng, thái độ đã được tích lũy từ quátrình học tập môn Toán và những kinh nghiệm của bản thân vào giải quyết các vấn
đề trong thực tiễn học tập hoặc trong cuộc sống một cách sáng tạo; phát triển chohọc sinh năng lực tổ chức và quản lí hoạt động, năng lực tự nhận thức và tích cựchóa bản thân Giáo viên hướng dẫn học sinh kết nối, sắp xếp, vận dụng các kiếnthức kĩ năng đã học để giải quyết vấn đề đặt ra Giáo viên cũng có thể tổ chức hoặcđưa ra yêu cầu, dự án học tập để học sinh thực hiện theo cá nhân, theo nhóm
Như vậy, Dạy học theo hướng tiếp cận phát triển năng lực người học là cáchthức tổ chức quá trình dạy học thông qua một chuỗi các hoạt động học tập tích cực,độc lập, sáng tạo của học sinh, với sự hợp tác của bạn học và sự hướng dẫn, trợgiúp hợp lí của giáo viên, hướng đến mục tiêu hình thành và phát triển năng lựctoán học Quá trình đó có thể được tổ chức theo chu trình bốn bước là: Trải nghiệm
- Phân tích, khám phá, rút ra bài học - Thực hành, luyện tập - Vận dụng kiến thức,
kĩ năng vào thực tiễn
1.2 Cơ sở thực tiễn
Trong thực tiễn dạy và học Toán cho thấy đây là môn học khó cho đại đa sốhọc sinh nhất là khi mà yêu cầu học sinh làm các bài tập mức độ vận dụng trở lên.Với đối tượng là học sinh trung bình và yếu chúng ta chỉ cần yêu cầu học sinh biếttái hiện kiến thức, các em biết bắt chước các bài tập ví dụ mẫu, làm được các bàitập ở mức độ nhận biết và thông hiểu đã là một thành công nên việc đòi hỏi các emhiểu, vận dụng và nhìn nhận một khái niệm Toán học dưới nhiều cách khác nhau làrất khó khăn Với đối tượng học sinh trung bình khá và khá về môn Toán chúng ta
có thể yêu cầu các em phải làm thành thạo bài tập mức độ 1 và 2 và bước đầu biếtvận dụng khái niệm vào giải quyết các bài tập ở mức độ vận dụng Việc tiếp cận,nhìn nhận khái niệm Toán học dưới nhiều cách khác nhau có thể yêu cầu các emphải thực hiện dưới sự hướng dẫn khá cụ thể của giáo viên Với đối tượng học sinhgiỏi Toán chúng ta yêu cầu học sinh phải làm thành thạo các bài tập đến mức độvận dụng và giải quyết được cơ bản các bài tập mức độ vận dụng cao Việc tiếpcận, nhìn nhận khái niệm Toán học dưới nhiều cách khác nhau giáo viên có thể yêucầu các em ở mức độ tự tìm hiểu, tìm hiểu độc lập với giáo viên trong quá trình tự
Trang 11học Ở trên lớp công việc này giáo viên cũng có thể đặt ra yêu cầu các em tự tìmhiểu hoặc tìm hiểu có sự trợ giúp của giáo viên dưới dạng gới ý, gợi mở sau đó các
em tự giải quyết vấn đề Như vậy về cơ sở thực tiễn cho việc khả thi của đề tài làhoàn toàn có thể thực hiện được, đồng thời khi triển khai thực hiện đề tài cá nhântác giả khẳng định rằng với đối tượng học sinh nào các em cũng sẽ thấy được sựhứng khởi nhất định đặc biệt với đối tượng học sinh giỏi các em sẽ rất hào hứng vàtích cực qua đó sẽ phát triển năng lực Toán học nói riêng đặc biệt là hai thành tố
“năng lực tư duy và lập luận toán học, năng lực giải quyết các vấn đề toán học” vànăng lực tư duy nói chung cho các em giúp các em linh hoạt hơn trong tư duy,trong giải quyết các tình huống thực tiễn cuộc sống
2 TIẾP CẬN, NHÌN NHẬN KHÁI NIỆM TOÁN HỌC DƯỚI NHIỀU CÁCH KHÁC NHAU ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TƯ DUY VÀ GIẢI QUYẾT VẤN
ĐỀ CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Trong phần này chúng tôi đưa ra những tình huống là các bài toán cụ thể
mà trong đó muốn giải được thì học sinh phải nắm được khái niệm đề cập đếntrong bài Toán đồng thời trong mỗi bài Toán đó chúng tôi sẽ dẫn dắt gợi mở giúphọc sinh được tiếp cận và nhìn nhận khái niệm đó dưới nhiều cách khác nhau qua
đó giúp các em hiểu sâu hơn khái niệm Toán học đồng thời giúp các em pháttriển tư duy lôgic và lập luận Toán học, phát triển năng lực giải quyết vấn đề,giúp các em linh hoạt hơn trong các tình huống là các bài Toán thực tế của cuộcsống hàng ngày
2.1 Bài Toán 1
Trong mặt phẳng với hệ tọa độ Oxy choA1;2 , B 3;1, C5;2 Chứng minh A B C, , là ba đỉnh của một tam giác.
Nhận xét: Ba điểm A B C, , là ba đỉnh của một tam giác khi và chỉ khi chúng
là ba điểm không thẳng hàng Như vậy bài Toán gián tiếp đề cập đến khái niệm Bađiểm không thẳng hàng
Cách tiếp cận thứ nhất: Ba điểm A B C, , không thẳng hàng nếu chúng không cùng thuộc một đường thẳng, chẳng hạn điểm A không nằm trên đường thẳng đi qua hai điểm B và C Với cách tiếp cận này ta có lời giải:
Lời giải: - Viết phương trình đường thẳng BC:
Ta có BC uuur 8;1
là VTCP của đường thẳng BC, n r 1; 8
là VTPT củađường thẳng BC
Phương trình đường thẳng BC: 1x 5 8y 2 0 x 8y 11 0
- Kiểm tra điểm A không thuộc đường thẳng BC: Thay tọa độ điểm A vàophương trình đường thẳng BC ta thấy 1.1 8.2 11 4 0 A BC Vậy A B C, ,
không thẳng hàng nên chúng là ba đỉnh của một tam giác
Cách tiếp cận thứ hai: Ba điểm A B C, , không thẳng hàng nếu chúng không
Trang 12cùng thuộc một đường thẳng, chẳng hạn điểm A không nằm trên đường thẳng đi qua hai điểm B và C điều này đồng nghĩa với khoảng cách từ A đến đường thẳng
BC là một số dương Với cách tiếp cận này ta có lời giải:
Lời giải: - Phương trình đường thẳng BC là: x 8y 11 0
- Khoảng cách từ điểm A đến đường thẳng BC:
Vậy A B C, , không thẳng hàng nên chúng là ba đỉnh của một tam giác
Cách tiếp cận thứ ba: Ba điểm A B C, , không thẳng hàng khi và chỉ khi hai véc tơ ABuuurvà ACuuur
không cùng phương Với cách tiếp cận này ta có lời giải:
Lời giải: Ta có uuurAB 4; 1
khác 00 và khác 180 0 Với cách tiếp cận này ta có lời giải:
Lời giải: Ta có uuurAB 4; 1
, uuurAC 4;0
4 65
Chứng tỏ A, B, C là ba đỉnh của một tam giác
Cách tiếp cận thứ sáu: Ba điểm A B C, , không thẳng hàng khi và chỉ khi chúng cùng thuộc một đường cong Parabol Với cách tiếp cận này chúng ta sẽ chỉ
ra có một đường Parabol đi qua 3 điểm A B C, , Ta có lời giải:
Lời giải: Xét parabol y ax 2 bx c a , 0 Thay tọa độ A B C, , vào phương
Trang 13Lời giải: Xét phương trình đường tròn x2 y2 2ax 2by c 0
6 29 57 0
x y x y nên chúng không thẳng hàng.Chứng tỏ A B C, , là ba đỉnh của một tam giác
Cách tiếp cận thứ tám: Ba điểm A B C, , không thẳng hàng khi và chỉ khi hai đường thằng AB và BC không trùng nhau Với cách tiếp cận này ta có lời giả:
Lời giải: - Phương trình đường thẳng BC là: x 8y 11 0
- Phương trình đường thẳng ABlà: x 4y 7 0, ta thấy ngay ABvà BClàhai đường thẳng cắt nhau vậy A B C, , là ba điểm không thẳng hàng nên chúng là bađỉnh của một tam giác
Lời bình: +) Trong bài Toán trên ta bàn đến việc chứng minh ba điểm
, ,
với học sinh lớp 10 THPT Bài Toán trên đã gián tiếp đề cập đến khái niệm bađiểm không thẳng hàng Một cách đơn giản ba điểm A B C, , không thẳng hàng khi
và chỉ khi chùng không cùng thuộc một đường thẳng thế thi với những cách tiếpcận như trên chúng ta đã chỉ ra cho học sinh thấy rằng khái niệm ba điểm khôngcùng năm trên một đường thẳng sẽ được hiểu trực tiếp rằng có một điểm khôngthuộc đường thẳng đi qua hai điểm còn lại, đồng thời cũng đã chỉ ra cho học sinhthấy rằng một điểm không thuộc đường thẳng đi qua hai điểm còn lại cũng cónghĩa rằng nó có khoảng cách khác 0 đến đường thẳng đó hoặc nó cùng với haiđiểm kia tạo thành một miền phẳng có diện tích khác không Ở đây tác giả muốnlưu ý thêm rằng, trong cách chứng minh ba điểm A B C, , tạo thành miền phẳng códiện tích khác 0 chúng ta đã đi tính giá trị biểu thức p p AB p BC p CA vàthấy nó khác 0 thì mới khẳng định A B C, , tạo thành tam giác chứ không phải thừa
Trang 14nhận A B C, , là ba đỉnh của một tam giác trước rồi mới đi tính diện tích của nó.Ngoài ra, chúng ta cũng đã cho học sinh thấy thêm hai cách tiếp cận, cách nhìnkhác về khái niệm ba điểm thẳng hàng đó là: Ba điểm không thẳng hàng cũng đồngnghĩa với chùng cùng thuộc một đường Parabol hoặc một đường tròn.
+) Việc cho học sinh tiếp cận với khái niệm ba điểm không thẳng hàng theonhiều cách, nhiều con đường khác nhau có tác dụng:
- Giúp các em hiểu sâu hơn về khái niệm, nhớ khái niệm lâu hơn
- Các em có cách nhìn phong phú hơn, linh hoạt hơn về khái niệm đó Giúpcác em phát triển tư duy lôgic và lập luận Toán học
- Giúp các em có nhiều hướng xử lí, nhiều cách giải cho một bài Toán giúpphát triển năng lực giải quyết vấn đề Toán học
- Trong quá trình giải bài Toán theo nhiều cách khác nhau cũng gián tiếpcho giúp các em vận dụng các khái niệm khác liên quan đến lời giải
- Về mặt thực tiễn cuộc sống: Giúp các em có kĩ năng nhìn nhận, phân tích,
mổ xẻ trước các vấn đề của bài Toán thực tế cuộc sống hàng ngày và các em cũng
sẽ có được kĩ năng xử lí tình huống, giải quyết tình huống gặp trong cuộc sồnghằng ngày một cách mềm dẻo và linh hoạt
+) Ngoài các cách tiếp cận và nhìn nhận khái niệm ba điểm thẳng hàng đã đềcập ở trên để giải quyết Bài Toán 1, thì chúng ta cũng có thể cho học sinh nhìnnhận bài Toán ở góc độ phản chứng Chúng ta sẽ đặt câu hỏi cho các em “Giả sửngược lại ba điểm A B C, , không là ba đỉnh của một tam giác thì dẫn tới điều gì?” vàbài Toán bây giờ chuyển về việc kiểm tra tính thẳng hàng của ba điểm A B C, ,
2.2 Bài Toán 2 (BT 11 trang 81 SGK HH12 Nâng cao NXB GD)
Trong không gian với hệ tọa độ Oxyzcho bốn điểm A1;0;0, B0;1;0,
0;0;1
C ,D 2;1; 2 Chứng minh A B C D, , , là bốn đỉnh của một hình tứ diện.
Nhận xét: Bài Toán đề cập đến khái niệm “Hình tứ diện” Theo định nghĩa
(trang 52 SGK HH11 NXBGD; trang 49 SGK HH11 nâng cao NXB GD) thì:Trong không gian cho bốn điểm A B C D, , , không đồng phẳng Hình tạo thành bởibốn tam giác ABC, ACD, ABD và BCD gọi là hình tứ diện Các điểm A B C D, , , gọi
là đỉnh của tứ diện Như vậy để chứng minh bốn điểm A B C D, , , là bốn đỉnh củamột tứ diện ta chứng minh chúng không đồng phẳng Chúng ta sẽ giúp học sinhhiểu khái niệm bốn điểm không đồng phẳng theo nhiều cách tiếp cận và nhìn nhậnkhác nhau
Cách tiếp cận thứ nhất: Bốn điểm A B C D, , , không đồng phẳng nghĩa là có một điểm không nằm trên mặt phẳng chứa ba điểm còn lại, chẳng hạn điểm D không thuộc mặt phẳng ABC. Ta có lời giải:
Lời giải: - Viết phương trình mp (ABC):
Trang 15- Thay tọa độ điểm D vào phương trình mp (ABC) ta có:
Lời giải: - Phương trình mpABC: x y z 1 0
x y
không thể biểu thị theo hai véc tơ uuurAC
và uuurAD nên bốn điểm A B C D, , , khôngđồng phẳng Vậy A B C D, , , là bốn đỉnh của một tứ diện
Cách tiếp cận thứ tư: Bốn điểm A B C D, , , không đồng phẳng uuur uuur uuurAB AC AD, ,
uuur uuur uuur
suy ra bốn điểm A B C D, , , khôngđồng phẳng Vậy A B C D, , , là bốn đỉnh của một tứ diện
Cách tiếp cận thứ năm: Bốn điểm A B C D, , , là bốn đỉnh của một tứ diện
Trang 16bốn miền tam giác ABC , ABD,ACD và BCD tạo thành một vật thể chiếm chỗ không gian có thể tích khác 0 Ta có lời giải:
Lời giải: Ta có: uuurAB 1;1;0
Vậy A B C D, , , là bốn đỉnh của một tứ diện
Cách tiếp cận thứ sáu: Bốn điểm A B C D, , , không đồng phẳng khi và chỉ khi có hai bộ mỗi bộ ba điểm trong bốn điểm thuộc hai mặt phẳng phân biệt, chẳng hạn ba điểm A B C, , cùng thuộc một mặt phẳng, ba điểm A B D, , cùng thuộc một mặt phẳng và hai mặt phẳng này khác nhau Ta có lời giải:
Lời giải: Ta có: uuurAB 1;1;0
Cách tiếp cận thứ bảy: Bốn điểm A B C D, , , không đồng phẳng khi và chỉ khi có hai bộ mỗi bộ ba điểm trong bốn điểm thuộc hai mặt phẳng phân biệt, chẳng hạn ba điểm A B C, , cùng thuộc một mặt phẳng, ba điểm A B D, , cùng thuộc một mặt phẳng và hai mặt phẳng này khác nhau điều này cũng có nghĩa là hai mặt phẳng này sẽ tạo với nhau một góc nhọn Ta có lời giải:
Lời giải: - Phương trình mpABC: x y z 1 0 , VTPT n ur 1 1;1;1
3;1; 2
AD uuur
: VTCP của đường thẳng AD
Trang 171 0
y t z
1 3 0
t t t
nên hai đường thẳng AB và CD
chéo nhau Vậy bốn điểm A B C D, , , không đồng phẳng nên chúng là bốn đỉnh củamột tứ diện
Cách tiếp cận thứ mười: Bốn điểm A B C D, , , không đồng phẳng tương đương với hai đường thẳng AB và CD là hai đường thẳng chéo nhau đồng nghĩa với AB kCD kuuur uuur ,
và khoảng cách giữa AB và CD là một số dương Ta có lời giải:
Lời giải: Ta có uuurAB 1;1;0
Cách tiếp cận thứ mười một: Bốn điểm A B C D, , , không đồng phẳng tương đương với hai đường thẳng AB và CD là hai đường thẳng chéo nhau tương đương với có duy nhất một mặt phẳng chứa AB và song song với CD Ta có lời giải:
Lời giải: Ta có uuurAB 1;1;0
uuur uuur
làm VTPT
(P): 3x 1 3y 0 1z 0 0 3x 3 y z 3 0 Dễ thấy (P) chính làmặt phẳng chứa AB và song song với CD (P) hoàn toàn xác định chứng tỏ AB và
CD chéo nhau Vậy bốn điểm A B C D, , , không đồng phẳng nên chúng là bốn đỉnhcủa một tứ diện
Cách tiếp cận thứ mười hai: Bốn điểm A B C D, , , không đồng phẳng khi và chỉ khi chúng cùng nằm trên một mặt cầu Ta có lời giải:
Lời giải: Xét phương trình x2 y2 z2 2ax 2by 2cz d 0, 2 2 2
0
a b c d Thay tọa độ A B C D, , , vào phương trình trên ta có hệ phương trình:
Trang 18Lời bình: + Việc giải bài toán chứng minh bốn điểm A B C D, , , trong khônggian tọa độ Oxyz là bốn đỉnh của một tứ diện là một bài toán bình thường mà đa sốhọc sinh lớp 12 đều giải quyết được, điều đáng nói ở đây là chúng tôi đã dẫn dắt đểcác em thấy được có thể nhìn nhận việc chứng minh bốn điểm A, B, C, D là bốnđỉnh của một tứ diện được chuyển về chứng minh chúng không đồng phẳng Vàkhái niệm bốn điểm không đồng phẳng đã được thay thế bằng nhiều cách hiểukhác nhau với những cách thay thế tương đương khác nhau đã giúp học sinh cónhiều cách suy luận và lời giải tương ứng Việc này giúp các em có cách nhìn đachiều trước một bài Toán, một khái niệm, giúp các em phát triển khả năng phântích, phân chia, biện luận trường hợp làm phát triển khả năng tư duy logic và lậpluận Toán học.
+ Việc giải được một bài Toán theo nhiều cách khác nhau đi từ việc dẫn dắt,phân tích, thay thế khái niệm bằng các khái niệm tương đương cũng sẽ giúp các emphát triển sự linh hoạt trong giải quyết vấn đề, giúp các em biết phân tích so sánh
và sẽ chọn lựa được phương án tối ưu khi giải quyết bài Toán hay một vấn đề thựctiễn cuộc sống giúp các em phát triển năng lực giải quyết vấn đề
2.3 Bài Toán 3 (BT 12c trang 84 SGK HH10 nâng cao NXBGD)
Tìm hình chiếu vuông góc của điểm P3; 2 trên đường thẳng
: 5x 12y 10 0
Nhận xét: Bài Toán đề cập đến khái niệm hình chiếu vuông góc của một
điểm lên một đường thẳng trong mặt phẳng
Cách tiếp cận thứ nhất: Gọi H là hình chiếu vuông góc của điểm P trên
đường thẳng Khi đó H là giao điểm của đường thẳng đi qua P vuông góc với
với đường thẳng Ta có lời giải:
Lời giải: Đường thẳng d đi qua P và vuông góc với đường thẳng cóphương trình: 12x 3 5y 2 0 12x 5y 26 0
H là giao điểm của d và Tọa độ H là nghiệm của hệ phương trình:
x y
Cách tiếp cận thứ hai: Cho điểm H chạy trên đường thẳng đến khi ta có
PH vuông góc với thì ta được H chính là hình chiếu vuông góc của điểm P trên
Trang 19đường thẳng Ta có lời giải:
Cách tiếp cận thứ ba: H là hình chiếu vuông góc của P trên đường thẳng
khi và chỉ khi H và PH d P ; Ta có lời giải:
Cách tiếp cận thứ tư: H là hình chiếu vuông góc của P trên đường thẳng
khi và chỉ khi H và PH ngắn nhất Ta có lời giải:
Cách tiếp cận thứ năm: H là hình chiếu vuông góc của P trên đường thẳng
khi và chỉ khi H là tiếp điểm của đường tròn (P; R)), R= d(P;) với đường thẳng điều này đồng nghĩa với H là giao điểm của đường thẳng với đường tròn P R; Ta có lời giải:
Trang 20Cách tiếp cận thứ sau: H là hình chiếu vuông
góc của P trên đường thẳng khi và chỉ khi H là
giao điểm thứ hai của đường tròn đường kính AP
với đường thẳng Trong đó A là điểm ta chọn
bất kỳ trên đường thẳng ,(trong trường hợp đăc
biệt nếu ta chọn ngẫu nhiên mà PA vuông góc với
thì H trùng với A) Ta có lời giải:
Lời giải: Chọn điểm A 2;0 , 1; 1
2
I
, AP 29 Đường tròn đườngkính APcó tâm I bán kính 1
Lời bình: Trên đây chúng ta đã cho học sinh tiếp cận khái niệm hình chiếu
vuông góc của điểm lên đường thẳng theo nhiều cách khác nhau, từ đó giúp họcsinh hiểu sâu và nắm vững hơn về khái niệm đồng thời giúp các em phát triển tưduy và phát triển năng lực giải quyết vấn đề
2.4 Bài Toán 4 (BT3.41 trang 114 SBT HH12 NXBGD).
Trong không gian Oxyz cho điểm M1; 1;2 và mp : 2x y 2z 12 0 Tìm tọa độ điểm H là hình chiếu vuông góc của điểm M trên mp .
Nhận xét: Bài Toán đề cập đến khái niệm hình chiếu vuông góc của một
điểm lên một mặt phẳng Chúng ta sẽ giúp học sinh có nhiều cách tiếp cận với kháiniệm này
Cách tiếp cận thứ nhất: Điểm H là hình chiếu vuông góc của điểm M lên
Trang 22 Dấu “=” xảy ra khi
x z
Lời bình: Chúng ta vừa có năm cách tiếp cận khác nhau với khái niệm hình
chiếu vuông góc của một điểm trên một mặt phẳng Trong quá trình hình thành cáccách tiếp cận cho học sinh chúng ta cũng đã đề cập đên hoặc dựa trên một số cơ sởxác định khái niệm khác chẳng hạn như qua ba điểm không thẳng hàng xác địnhmột mặt phẳng, làm cơ sở cho cách tiếp cận số năm Hay là trên cơ sở khái niệmkhoảng cách ta thấy khoảng cách từ một điểm đến một mặt phẳng chính là độ dàiđoạn MH đồng thời nó là độ dài ngắn nhất giữa điểm M và một điểm bất kỳ trên
mp để giúp các em có cách tiếp cán thứ tư Nghĩa là trong quá trình trăn trở,phân tích để tìm hiểu khái niệm chúng ta đã sử dụng sự liên tưởng liên kết với kháiniệm khác có liên qua để lầm rõ thêm khái niệm chính đang tìm hiểu qua đó cũngphát triển tư duy cho học sinh
2.5 Bài Toán 5 (Trích VD3 trang 94 SGK HH12 nâng cao NXBGD).
Trong không gian Oxyz cho hai mặt phẳng :x 2y z 1 0 và
:x y 2z 3 0 Chứng tỏ hai mặt phẳng đó cắt nhau và viết phương trình giao tuyến của hai mặt phẳng đó.
Nhận xét: Bài Toán có đề cập đên khái niệm giao tuyến của hai mặt phẳng.
Theo tính chất thừa nhận 4 trang 43 SGK HH11 nâng cao NXB GD thì: Nếu haimặt phẳng phân biệt có một điểm chung thì chúng có một đường thẳng chung duy
Trang 23nhất chứa tất cả các điểm chung của hai mặt phẳng đó Đường thẳng chung đó gọi
là giao tuyến của hai mặt phẳng Chúng ta sẽ dẫn dắt để học sinh có nhiều cáchtiếp cận khác nhau với khái niệm này, giúp các em hiểu sâu nắm vững hơn về kháiniệm giao tuyến của hai mặt phẳng và có được nhiều cách giải cho bài Toán đồngthời qua đó phát triển năng lực tư duy và năng lực giải quyết vấn đề Ta dễ dàngkiểm tra được hai mặt phẳng và là hai mặt phẳng cắt nhau
Bây giờ chúng ta chỉ bàn đến việc tìm giao tuyến của hai mặt phẳng
Cách tiếp cận thứ nhất: Giao tuyến của hai mặt phẳng là một đường thẳng
chứa tất cả các điểm chung của hai mặt phẳng đó, vậy để xác định giao tuyến của hai mặt phẳng ta chỉ cần xác định hai điểm chung phân biệt A, B của chúng khi đó giao tuyến là đường thẳng đi qua hai điểm A, B Ta có lời giải:
Lời giải: -) Tìm tọa độ hai điểm chung A, B của và
Cách tiếp cận thứ hai: Đường thẳng d là giao tuyến của hai mặt phẳng
và là đường thẳng đi qua một điểm chung của chúng và vuông góc với giá của hai VTPT của hai mặt phẳng và nên d có VTCP un n,
Trang 24Lời giải: Ta có điềm M x y z ; ; khi và chỉ khi tọa độ M là nghiệmcủa hệ phương trình 2 3 0**
Ta lấy một điểm M bất kỳ trong mp , cho M di động trên cho đến khi M gặp
mp ta lưu các vết của những điểm M gặp mp lại thì M sẽ vẽ nên giao tuyến
Cách tiếp cận thứ năm: Gọi d là giao tuyển của và Lấy một điểm
M thay đổi trên mp gọi là đường thẳng qua M và có phương là đường thẳng
d M thay đổi, khi M gặp mp thì hai đường thẳng d và trùng nhau, khi đó ta
có phương trình đường thẳng d Ta có lời giải:
Lời giải: M t t t 1 ; ; 2 1 2t2 1 là điểm bất kỳ trên un n, 5;3;1
1 2
1 2
5 3
Trang 25Ta có phương trình đường thẳng d là
5
1 3 1
Cách tiếp cận thứ sáu: Giả sử d là giao tuyển của hai mặt phẳng và
Lấy M là một điểm cụ thể trên mp , (P) là mặt phẳng qua M và nhận
,
un n
r uur uur
làm VTPT khi đó (P) vuông góc với d Chọn B là một điểm chung của
và Khi đó d đi qua B và vuông góc với (P) Ta có lời giải:
đó phát triển tư duy và năng lực giải quyết vấn đề cho các em
+ Trên đây chúng đã đề cập đến những bài Toán cụ thể nhưng thông qua đócũng chứa đựng những quy trình giải các bài Toán điển hình đó là bài toán chứngminh ba điểm thẳng hàng hoặc không thẳng hàng, bài toán chứng minh bốn điểmkhông đồng phẳng, bài toán tìm hình chiếu vuông góc của một điểm lên một đườngthẳng trong mặt phẳng, bài toán tìm hình chiếu vuông góc của một điểm trên mộtmặt phẳng trong không gian, bài Toán tìm giao tuyến của hai mặt phẳng trongkhông gian Đây đều là những bài Toán quan trọng của chương trình Hình họctrung học phổ thông
+ Trong quá trình dạy học dựa vào cách tiếp cận sự xác định các đối tượnghình học cơ bản khác nhau chúng ta cũng có thể hình thành cho học sinh cách phânloại các dạng bài tập Toán qua đó phát triển năng lực tư duy, năng lực giải quyếtvấn đề Giúp các em có sự linh hoạt trong tư duy nhìn nhận vấn đề từ đó các em cónhững xử lý linh hoạt hơn trong các vấn đề của cuộc sống
3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM VÀ ĐIỀU TRA QUAN SÁT
Để kiểm chứng tính hiệu quả của đề tài chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm
sư phạm với 4 tiết dạy trên hai giáo án
3.1 Giáo án thực nghiệm số 1
Trang 26Tiết Tự chọn Hình học chương trình Hình học 10:
LUYỆN TẬP KHOẢNG CÁCH TỪ MỘT ĐIỂM ĐẾN MỘT ĐƯỜNG THẲNG
TRONG MẶT PHẲNG TỌA ĐỘ OXYThời lượng 1 tiết = 45 phút Hình thức tổ chức dạy học: Tập trung trên lớp
- Thể hiện được sự tự tin khi trình bày, diễn đạt, nêu câuhỏi, thảo luận, tranh luận các nội dung, ý tưởng liên quanđến khoảng cách từ một điểm đến một đường thẳng vàứng dụng của khoảng cách trong thực tiễn