Vùng Đồng bằng sông Hồng là một vùng dân cơ đông đúc, nền kinh tế phát triển với quy mô ngày càng lớn, các xí nghiệp công nghiệp đơợc xây dựng ngày càng nhiều; mật độ dân số trung bình đ[r]
Trang 1Bản đồ phân bố các mỏ và khu công nghiệp
Năm 1998 nơớc ta có 617.805 cơ sở sản xuất công nghiệp, trong đó có 669 cơ sở có số vốn đầu tơnơớc ngoài Đến tháng 7/2000 cả nơớc có 68 khu công nghiệp (khu công nghiệp, khu chế xuất và khu côngnghệ cao) phân bố ở 27 tỉnh thành với các ngành sản xuất mũi nhọn, có chất lơợng cao, phục vụ xuất khẩu.Tổng số vốn khoảng 8 tỉ USD đang hoạt động Tỷ trọng đóng góp GDP từ 22,48% năm 1995 lên 26,89% năm
1999 Trong đó ngành công nghiệp chế biến và khai thác mỏ có mức tăng trơởng cao nhất
Công nghiệp khai thác mỏ cũng phát triển mạnh Năm 1999 đã khai thác 9.077.000 tấn than,15.000.000 tấn dầu thô, 603.000 tấn apatít, 971.000 tấn đá vôi, 20.012.000 m3 đá xây dựng,
Trong những năm tới tốc độ tăng trơởng của sản xuất công nghiệp và khai thác mỏ đơợc dự báo còn lớn hơnnữa Việc tăng trơởng này sẽ tác động đến môi trơờng ngày một mạnh hơn Hiện nay chỉ có khoảng 5 khucông nghiệp đã có trạm xử lý nơớc thải tập trung, tình trạng ô nhiễm nơớc và khí thải (SO2, NO2, CO, CO2,
và bụi), chất thải rắn và quỹ đất dành cho các khu công nghiệp đang là các vấn đề môi trơờng rất lớn ở nơớcta
Bản đồ phân bố các mỏ và khu công nghiệp thể hiện các những yếu tố cơ bản nhất của các hoạt độngkhai khoáng và công nghiệp: mỏ khai khoáng (vị trí, loại mỏ, quy mô mỏ), các khu công nghiệp (vị trí, têngọi), số doanh nghiệp có xử lý chất thải ở các mức độ khác nhau (theo tỉnh/thành) và các dữ liệu về các khucông nghiệp (tên khu, địa chỉ, quyết định thành lập, diện tích, số lao động, nhu cầu năng lơợng, nhu cầu nơớc,nguồn nơớc, số m3/ngày nước thải đã xử lý, ngành công nghiệp chính) và số cơ sở công nghiệp ngoài quốcdoanh, quốc doanh, có vốn đầu tơ từ nơớc ngoài tại thời điểm 31/12 các năm 1995, 1996, 1997, 1998
Vùng Đồng bằng sông Hồng: có các loại mỏ khoáng sản quan trọng nhơ: mỏ Than nâu, Atbet, Đá vôi
xi măng, Sét gốm chịu lửa, Dầu mỏ-khí đốt; Có 9 khu công nghiệp; Số cơ sở sản xuất công nghiệp cho đến31/12/1998 là 210.782 cơ sở, trong đó số cơ sở sản xuất công nghiệp khối kinh tế là 210.609 cơ sở gồm 600
cơ sở Quốc doanh và 210.009 cơ sở ngoài Quốc doanh, có 173 cơ sở có vốn đầu tơ nơớc ngoài; Tính đến ngày30/6/1998 số doanh nghiệp có hệ thống xử lý chất thải là 567 trên tổng số 1.831 doanh nghiệp- chiếm 30,9%,trong đó có 532 cơ sở xử lý trên 50% lơợng chất thải
Vùng Đông Bắc: là vùng có nhiều loại mỏ khoáng sản nhất trong cả nơớc: mỏ Antimoan, Apatit,
Barit, Chì-kẽm, Graphit, Mangan, Mica, Nhôm, Pirit, Puzơlan, Sét xi măng, Sắt, Than nâu, Than đá, Thiếc,Titan, Vàng, Đá quí, Đá vôi xi măng, Đá vôi; Có 5 khu công nghiệp; Số cơ sở sản xuất công nghiệp cho đến31/12/1998 là 72.107 cơ sở, trong đó số cơ sở sản xuất công nghiệp khối kinh tế là 72.083 cơ sở gồm 260 cơ
sở Quốc doanh và 71.823 cơ sở ngoài Quốc doanh, có 24 cơ sở có vốn đầu tơ nơớc ngoài; Tính đến ngày30/6/1998 số doanh nghiệp có hệ thống xử lý chất thải là 206 trên tổng số 579 doanh nghiệp- chiếm 35,58%,trong đó có 190 cơ sở xử lý trên 50% lơợng chất thải
Vùng Tây Bắc: có các loại mỏ khoáng sản quan trọng nhơ: mỏ Atbet, Kim loại phóng xạ,
Niken-đồng, Nơớc khoáng, Pỉit, Sét xi măng, Thạch anh, Đồng, Đất hiếm, Điatomit; Cho đến nay chơa có khu côngnghiệp nào; Số cơ sở sản xuất công nghiệp cho đến 31/12/1998 là 8.897 cơ sở, trong đó số cơ sở sản xuấtcông nghiệp khối kinh tế là 8.894 cơ sở gồm 41 cơ sở Quốc doanh và 8.853 cơ sở ngoài Quốc doanh, có 3 cơ
sở có vốn đầu tơ nơớc ngoài; Tính đến ngày 30/6/1998 số doanh nghiệp có hệ thống xử lý chất thải là 17 trêntổng số 60 doanh nghiệp- chiếm 28,33%, trong đó có 15 cơ sở xử lý trên 50% lơợng chất thải
Vùng Bắc Trung bộ: có các loại mỏ khoáng sản quan trọng nhơ: mỏ Cao lin, Chì-kẽm, Crôm, Cát thuỷ tinh,Fotforit, Kim loại phóng xạ, Sét gốm chịu lửa, Sắt, Than mỡ, Thiếc, Titan, Vàng, Đồng, Đá quí, Đá vôi ximăng; Có 6 khu công nghiệp; Số cơ sở sản xuất công nghiệp cho đến 31/12/1998 là 102.651 cơ sở, trong đó
số cơ sở sản xuất công nghiệp khối kinh tế là 102.641 cơ sở gồm 181 cơ sở Quốc doanh và 102.460 cơ sởngoài Quốc doanh, có 10 cơ sở có vốn đầu tơ nơớc ngoài; Tính đến ngày 30/6/1998 số doanh nghiệp có hệthống xử lý chất thải là 150 trên tổng số 416 doanh nghiệp- chiếm 36,06%, trong đó có 144 cơ sở xử lý trên50% lơợng chất thải
Vùng Duyên hải Nam Trung bộ: có các loại mỏ khoáng sản quan trọng nhơ: mỏ Antimoan,
Bentonit, Chì-kẽm, Cát thuỷ tinh, Fenspat, Graphit, Kim loại phóng xạ, Sét gốm chịu lửa, Than đá, Vàng,Đôlômit; Có 10 khu công nghiệp; Số cơ sở sản xuất công nghiệp cho đến 31/12/1998 là 48.732 cơ sở, trong
đó số cơ sở sản xuất công nghiệp khối kinh tế là 48.698 cơ sở gồm 146 cơ sở Quốc doanh và 48.552 cơ sởngoài Quốc doanh, có 34 cơ sở có vốn đầu tơ nơớc ngoài; Tính đến ngày 30/6/1998 số doanh nghiệp có hệ
Trang 2thống xử lý chất thải là 228 trên tổng số 477 doanh nghiệp- chiếm 47,80%, trong đó có 214 cơ sở xử lý trên50% lơợng chất thải.
Vùng Tây Nguyên: có các loại mỏ khoáng sản quan trọng nhơ: mỏ Bentônit, Nhôm, Đá vôi xi măng;
Cho đến nay chơa có khu công nghiệp nào; Số cơ sở sản xuất công nghiệp cho đến 31/12/1998 là 11.106 cơ
sở, trong đó số cơ sở sản xuất công nghiệp khối kinh tế là 11.102 cơ sở gồm 42 cơ sở Quốc doanh và 11.060
cơ sở ngoài Quốc doanh, có 4 cơ sở có vốn đầu tơ nơớc ngoài; Tính đến ngày 30/6/1998 số doanh nghiệp có
hệ thống xử lý chất thải là 61 trên tổng số 103 doanh nghiệp- chiếm 59,22%, 100% số cơ sở xử lý trên 50%lơợng chất thải
Vùng Đông Nam bộ: có các loại mỏ khoáng sản quan trọng nhơ: mỏ Antimoan, Bentonit, Cao lin,
Nhôm, Nơớc khoáng, Puzơlan, Sét xi măng, Thiếc, Thuỷ ngân, Điatomit, Đá quí, Đá vôi xi măng; Có 35 khucông nghiệp; Số cơ sở sản xuất công nghiệp cho đến 31/12/1998 là 57.430 cơ sở, trong đó số cơ sở sản xuấtcông nghiệp khối kinh tế là 56.842 cơ sở gồm 422 cơ sở Quốc doanh và 56.420 cơ sở ngoài Quốc doanh, có
588 cơ sở có vốn đầu tơ nơớc ngoài; Tính đến ngày 30/6/1998 số doanh nghiệp có hệ thống xử lý chất thải là1.080 trên tổng số 2.770 doanh nghiệp- chiếm 39,99%, trong đó có 1.004 cơ sở xử lý trên 50% lơợng chấtthải
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: có các loại mỏ khoáng sản quan trọng nhơ: mỏ Than bùn,
Molipđen, Đá vôi, Bentônít; Có 8 khu công nghiệp; Số cơ sở sản xuất công nghiệp cho đến 31/12/1998 là81.243 cơ sở, trong đó số cơ sở sản xuất công nghiệp khối kinh tế là 81.198 cơ sở gồm 129 cơ sở Quốc doanh
và 81.069 cơ sở ngoài Quốc doanh, có 45 cơ sở có vốn đầu tơ nơớc ngoài; Tính đến ngày 30/6/1998 số doanhnghiệp có hệ thống xử lý chất thải là 1.345 trên tổng số 3.077 doanh nghiệp- chiếm 43,71%, trong đó có 1.214
cơ sở xử lý trên 50% lơợng chất thải
Nguồn dữ liệu:
- Bản đồ Khoáng sản, 1/2.000.000 Nhà Xuất bản Bản đồ
- Trung tâm Tơ liệu - Tổng Cục Thống Kê
- Niên giám thống kê, Tổng Cục Thống Kê
- Trung tâm Tơ liệu - Bộ Kế hoạch và Đầu Tơ
Bản đồ công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng
Công nghiệp ở đồng bằng sông Hồng đặc trơng bởi sự tập trung cao các xí nghiệp công nghiệp chếbiến Là một vùng công nghiệp sớm phát triển ở nơớc ta, ngay từ thời Pháp thuộc đã có các trung tâm côngnghiệp Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định; trong quá trình công nghiệp hóa XHCN ở miền Bắc có các trung tâmcông nghiệp mới nhơ Hải Dơơng, Phủ Lí, Ninh Bình, và trong những năm gần đây hàng loạt khu công nghiệptập trung đã đơợc xây dựng, nhất là ở Hà Nội và Hải Phòng, trong vùng ảnh hơởng trực tiếp của vùng kinh tếtrọng điểm Bắc Bộ Đó là các KCN Nội Bài, KCN Thăng Long, KCN Hòa Lạc, KCN Daewoo-Hanel, KCNSài Đồng (Hà Nội), KCN Nomura, KCN Đình Vũ, KCN Hải Phòng 96 (Hải Phòng), KCN Đồng Văn (HàNam) Đồng bằng sông Hồng một mặt có các xí nghiệp công nghiệp hiện đại, nhơng cũng có những xí nghiệp
đã có trên dơới 100 năm tuổi nhơ Nhà máy xi măng Hải Phòng, mà công nghệ đã lạc hậu vài thế hệ Nhiều cơ
sở công nghiệp có qy mô nhỏ, khả năng đổi mới công nghệ bị hạn chế Đây là những khó khăn không nhỏtrong việc nâng cao hiệu quả sản xuất và hạn chế chát thải gây ô nhiễm môi trơờng Mặt khác, sự tập trungcao các cơ sở công nghiệp chế biến ở các khu công nghiệp cũng có thể gây ra các vấn đề về môi trơờng, nhất
là khi nhiều cơ sở công nghiệp tìm cách giảm chi phí về môi trơờng
Trong cơ cấu công nghiệp ở đồng bằng sông Hồng có các cơ sở công nghiệp sản xuất vật liệu xâydựng quy mô lớn nhơ các nhà máy xi măng Hoàng Thạch, Ching Fon, Bút Sơn; Các nhà máy sản xuất đồ gốm
sứ vệ sinh, gạch ngói, gạch ốp lát, trang trí Đây là những cơ sở công nghiệp có thể gây tác động đến môitrơờng do bụi, khí thải và gây ô nhiễm nguồn nơớc Các ngành công nghiệp chế biến nổi bật là công nghiệphóa chất, cán thép, cơ khí - điện tử, sản xuất da giầy, dệt may, chế biến thực phẩm Có nhứng cơ sở sản xuấtgây ô nhiễm nguồn nơớc do kim loại nặng do các hợp chất clo hữu cơ, các chất gây ô nhiễm nguồn gốc hữucơ Các chất thải rắn và chất thải lỏng, chất thải độc hại đều có và đòi hỏi phải có các thiết bị xử lí và thựchiện xử lí đúng quy trình kĩ thuật
Trang 3Tuy nhiên, số doanh nghiêp có hệ thống xử lí chất thải không nhiều Hà Nội có 810 doanh nghiệp, thì chỉ có
248 cơ sở có hệ thống xử lí chất thải, trong đó 13 cơ sở chỉ xử lí dơới 50% chất thải Hải Phòng có 369 doanhnghiệp thì cũng chỉ có 113 doanh nghiệp có hệ thống xử lí chất thải Số doanh nghiệp có hệ thống xử lí chấtthải càng ít hơn ở các tỉnh khác nhơ Hải Dơơng (28/103), Hơng Yên (12/67), Hà Tây (35/116), Hà Nam(17/52), Thái Bình (46/137), Nam Định (30/129), Ninh Bình (18/48) Đáng chú ý là ngay cả các khu côngnghiệp hiện đại cũng chỉ có hệ thống xử lí dơới 50% chất thải
Nguồn dữ liệu:
- Bản đồ Khoáng sản, 1/2.000.000 Nhà Xuất bản Bản đồ
- Trung tâm Tơ liệu - Tổng Cục Thống Kê
- Niên giám thống kê, Tổng Cục Thống Kê
- Trung tâm Tơ liệu - Bộ Kế hoạch và Đầu Tơ
Dân số
Cho tới đầu thế kỷ XX, dân số Việt Nam gia tăng rất chậm Nhơng từ đó tới nay tốc độ gia tăng ngàycàng nhanh Giai đoạn 1921-1955 (35 năm) dân số tăng khoảng 9,5 triệu ngơời Giai đoạn 1955-1995 (40năm) dân số tăng khoảng 48 triệu ngơời Tính gộp cả 2 giai đoạn, dân số Việt Nam tăng khoảng 4,5 lần trongkhi dân số thế giới tăng 2,9 lần, thể hiện sự "bùng nổ dân số" diễn ra dữ dội ở Việt Nam
Tại thời điểm Tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 1/4/1999 dân số Việt Nam là 76.324.753 ngơời,đứng hàng thứ ba ở Đông Nam á (sau In-đô-nê-xi-a và Phi-líp-pin) và thứ 14 trong tổng số hơn 200 nơớc trênthế giới Dân số Việt Nam còn có thể tăng nhanh trong vài thập kỷ tới do hàng năm số phụ nữ bơớc vào độtuổi sinh đẻ vẫn lớn Những phơơng án dự báo mới nhất cho thấy, vào năm 2024 dân số Việt Nam có thể đạtkhoảng 95-100 triệu ngơời
Dân số Việt Nam, các vùng và các tỉnh chia theo giới tính, thành thị, nông thôn qua 2 cuộc Tổng điềutra dân số
Việt Nam thuộc những nơớc có dân số trẻ Số ngơời dơới 15 tuổi chiếm tỷ lệ khá cao nhơ 42,55%(năm 1979), 39,16% (1989), 34% (1999), trong khi đó tỷ lệ này ở Nhật Bản là 15% Số ngơời cao tuổi (từ 60tuổi trở lên) tăng dần qua các năm
Tỷ lệ nam, nữ nhìn chung chênh lệch không lớn Tỷ lệ giới tính của dân số (số nam trên 100 nữ) quaTổng điều tra dân số năm 1999 là 97 Các vùng Tây Bắc và Tây Nguyên có tỷ lệ giới tính cao nhất trên cảnơớc với 100,3 và 102,7 Đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long có tỷ lệ giới tính thấp hơn mức chung của
cả nơớc là 95 và 96 Tỷ lệ giới tính lúc sinh là 107 nam/100 nữ Tỷ lệ này giảm dần, đặc biệt là ở nhóm tuổilớn phản ánh khả năng sống của nữ giới cao hơn nam giới Tuổi thọ bình quân của nữ lớn hơn tuổi thọ bìnhquân của nam khoảng 5 tuổi
Tỷ trọng dân số có vợ/có chồng ở Việt Nam tơơng đối cao ở độ tuổi từ 15 trở lên, 66% nam và 62%
nữ hiện đang có vợ hoặc có chồng Một phần ba nam và một phần tơ nữ chơa lập gia đình chủ yếu do namgiới kết hôn muộn hơn Tỷ trọng nữ goá/ly hôn/ly thân cao gấp 4 lần so với nam giới (13% so với 2,7%)
Mật độ dân số của Việt Nam và các vùng.
Dân số chủ yếu tập trung ở nông thôn (chiếm gần 80% tổng số dân) do quá trình định canh định cơtrong lịch sử và tốc độ gia tăng dân số rất nhanh ở khu vực nông thôn Những nơi có điều kiện tự nhiên thuậnlợi, kinh tế - xã hội phát triển, dân cơ thơờng tập trung đông và mật độ dân số cao
Phân bố dân số giữa các vùng kinh tế - xã hội có sự chênh lệch lớn Đồng bằng sông Hồng với diện tích hẹpnhất so với các vùng, nhơng có số dân lớn và mật độ dân số cao nhất (752,5 ngơời/km2) Các vùng Tây Bắc,Đông Bắc và Tây nguyên có mật độ dân số rất thấp Mật độ dân số vùng Tây nguyên chỉ có 59,3 ngơời/km2.Dơới tác động của cơ chế thị trơờng, sự phân bố dân số giữa các vùng tiếp tục có sự chênh lệch lớn, ở nhữngvùng đồng bằng và những đô thị lớn dân số và mật độ dân số tiếp tục tăng nhanh
Trang 4Tốc độ tăng dân số của các vùng.
Tốc độ tăng dân số giữa các vùng có khác nhau và phụ thuộc vào hiện trạng chuyển cơ Đồng bằngsông Hồng là nơi có mức sinh và mức chết thấp, nên dân số tăng chậm Tây Nguyên có mức sinh và mức chếtcao nhất, đồng thời là nơi đến của các dòng chuyển cơ, nên tốc độ tăng dân số hàng năm cũng cao nhất.Các tỷ suất sinh thô, chết thô, tăng tự nhiên và tỷ suất chết trẻ em dơới 1 tuổi của cả nơớc là 19,9%o, 5,6%o,14,3%o và 36,7%o tơơng ứng Các con số này cao nhất ở Tây Bắc và Tây Nguyên Đáng chú ý là có sự khácbiệt đáng kể về mức chết trẻ em dơới 1 tuổi giữa thành thị và nông thôn: tỷ suất chết trẻ em dơới 1 tuổi củakhu vực nông thôn (41%o) cao hơn hai lần của khu vực thành thị (18,3%o) Mức sinh giảm khá nhanh trong
10 năm qua Năm 1989 trung bình mỗi phụ nữ có 3,8 con, thì năm 1999 có 2,3 con Đồng bằng sông Hồng,Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long đã đạt mức sinh thay thế, nhơng ở Tây Bắc và Tây Nguyên mứcsinh vẫn còn cao (gần 4 con trên 1 phụ nữ)
Từ năm 1994 đến 1999, 6 trong số 8 vùng có dân đi khỏi nơi sinh sống cũ, nhiều nhất là Bắc Trung bộ(279 nghìn ngơời) Đông Nam bộ và Tây Nguyên là những vùng nhận dân từ các vùng khác đến (601 nghìn
và 198 nghìn ngơời tơơng ứng) Trong thời gian này, hơn 1,2 triệu ngơời chuyển đến sống ở các khu đô thị(chủ yếu vào thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội), trong khi số chuyển đến các vùng nông thôn chỉ bằng 1/3
Tỷ lệ tham gia lực lơợng lao động qua Tổng điều tra dân số năm 1999 là 73,5 %, trong đó 2,9% là thất nghiệp(giảm 1% so với năm 1989) Gần 80% nam giới tham gia hoạt động kinh tế so với 68% nữ Tỷ lệ tham gia lựclơợng lao động của nam giới ở cả nông thôn và thành thị đều cao hơn so với nữ (81,6% và 74,5% so với71,7% và 56,4%)
Nguồn dữ liệu:
Tổng cục Thống kê và Uỷ ban Quốc gia dân số - Kế hoạch hoá gia đình
Các khu bảo tồn đất ngập nước, bảo tồn biển
Việt Nam có đơờng bờ biển dài 3260 km, diện tích vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam lớn gấp
2 lần diện tích đất liền Sự phong phú và đa dạng các hệ sinh thái và nguồn lợi thuỷ sinh vật biển là yếu tốquan trọng đơa Việt Nam trở thành một trong 20 nơớc trên thế giới có sản lơợng nghề cá trên 1 triệu tấn/năm Ngoài hải sản, vùng biển Việt Nam còn có nhiều cảnh quan biển, đảo và cảnh quan ngầm của các rạn san hôphân bố rộng khắp từ bắc vào nam, tạo ra các quần thể du lịch-thể thao-nghỉ dơỡng hấp dẫn Tổng hợp tài liệunghiên cứu trong nhiều năm, các nhà khoa học Việt Nam đã đề xuất hệ thống bảo tồn biển với 15 khu phân bố
từ vùng đảo Bạch Long Vĩ (miền bắc) vào đến vùng đảo Phú Quốc (miền nam) đại diện cho các hệ sinh tháibiển thuộc vùng biển Việt Nam
Năm 1983, trên cơ sở 2 khu vơờn Quốc gia trên đảo, Chính phủ đã cho phép khoanh thêm 2 vùng biểnbao quanh đảo để kết hợp xây dựng thành những khu bảo tồn biển đầu tiên của Việt Nam
Tài liệu chi tiết về 15 khu bảo tồn biển đã đơợc trình Chính phủ phê duyệt Đây là những khu bảo tồn biển cógiá trị ở tầm quốc gia Trong những năm tới, hệ thống bảo tồn biển sẽ không giới hạn ở số lơợng này, cùngvới quá trình xây dựng 15 khu đã có, dựa trên các kết quả nghiên cứu mới, có thể mở rộng và phát triển thêmnhiều khu bảo tồn biển mới
Việt Nam có khoảng 2500 con sông lớn nhỏ, hàng ngàn hồ chứa nơớc tự nhiên và nhân tạo đã tạonên các hệ sinh thái đất ngập nơớc (ĐNN) phong phú và đa dạng
Hệ sinh thái ĐNN là hệ sinh thái bao gồm nhiều loại từ ao, hồ, đầm, lạch, sông ngòi đến rừng ngập mặn(RNM) phát triển trên đất lầy mặn, rừng tràm phát triển trên đất chua phèn, các vùng ven biển với các bãi cá,bãi thuỷ sản và rạn san hô ĐNN đã cung cấp cho xã hội nhiều loại sản phẩm lâm nghiệp, nông nghiệp, thuỷsản có giá trị kinh tế cao, cung cấp nơớc dùng trong sinh họat, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp đồng thờiđây cũng là nơi sống, nơi cung cấp thức ăn cho nhiều loài động vật hoang dã, đặc biệt là các loài chim nơớc,trong đó có nhiều loài quý hiếm
Hệ sinh thái ĐNN còn có ý nghĩa về mặt môi trơờng: điều hoà khí hậu, chắn sóng gió bảo vệ bờ biển,
bờ sông khỏi bị xói lở, góp phần cố định và mở rộng b•i bồi ven biển Nhiều nơi còn có giá trị về cảnh quan,
du lịch, có giá trị bảo tồn thiên nhiên và các nguồn gen
Trang 5Mặc dù ĐNN có vai trò to lớn nhiều mặt, nhơng nhận thức chung về ĐNN để có những biện pháp khai thác sửdụng hợp lý, bền vững nguồn tài nguyên này (còn thơờng đơợc gọi là "sử dụng khôn ngoan") chơa đựơc quantâm đúng mức, đặc biệt các giá trị về bảo vệ môi trơờng và đa dạng sinh học lại càng ít đơợc chú ý bảo vệ
Các khu bảo tồn biển và đất ngập nơớc bao gồm nhiều sinh cảnh khác nhau trên đất liền, ven biển vàbiển Các khu bảo tồn biển và đất ngập nơớc rất phong phú và vô cùng quan trọng đối với môi trơờng và sựphát triển kinh tế bền vững Đó không chỉ là các địa điểm du lịch lý tơởng, nơi cơ ngụ, nơi cung cấp thức ăncho con ngơời và nhiều loài động thực vật sống trên đó mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với đa dạng sinhhọc và cảnh quan môi trơờng
Công tác bảo tồn biển và đất ngập nơớc ở nơớc ta đơợc thực hiện từ rất sớm Trong số các khu bảo tồnnày đáng chú ý có một số khu bảo tồn đất ngập nơớc nhơ Xuân Thủy (Nam Định), Tiền Hải (Thái Bình),Động Phong Nha (Quảng Bình), Phá Tam Giang (Thừa Thiên - Huế), Sân Chim Bạc Liêu (Bạc Liêu), vàcác khu bảo tồn biển nhơ Cát Bà, Hải Vân - Hòn Sơn Trà, Hòn Mun, Côn Đảo,
Sau khi kiểm kê toàn bộ các vùng đất ngập nơớc ven biển, các vực nơớc nội địa (tự nhiên và nhân tạo),các nhà khoa học Việt Nam đ• phát hiện hầu hết các loại hình đất ngập nơớc của thế giới mà Công ơớcRAMSAR đ• thống kê đều có ở Việt Nam Để thuận tiện cho quản lý, các nhà khoa học đ• gộp nhóm thành 11loại hình chính và đ• xác định 68 vùng đất ngập nơớc có giá trị đa dạng sinh học và bảo vệ môi trơờng (Trong
đó có 17 khu có rừng che phủ đ• đơợc xếp vào diện rừng đặc dụng) Diện tích của các vùng đát ngập nơớccũng rất khác nhau, vùng hồ chứa nơớc Hoà Bình có diện tích mặt nơớc 27.000 ha, có nhiều vùng chỉ khoảngvài chục ha, diện tích phổ biến các vùng này biến động từ vài ngàn ha đến vài chục ha
Trên vùng đất ngập nơớc, chứa nhiều loài sinh vật thuỷ sinh đặc hữu, có sinh khối cao và giá trị kinh
tế cũng lớn, phần lớn những vùng này lại chịu áp lực dân cơ và cuộc sống của những cơ dân này phụ thuộc rấtlớn vào nguồn lợi thuỷ sinh của đất ngập nuớc
Vùng Đồng bằng sông Hồng: có 12 khu bảo tồn đất ngập nơớc với các khu nghỉ dơỡng du lịch nổi
tiếng nhơ Hồ Tây, Hồ Đồng Mô-Ngải Sơn, Hồ Suối Hai, các khu bảo tồn thiên nhiên mà đặc biệt là bảo tồncác loài chim nơớc di cơ, rừng ngập mặn ven biển có thể kể đến khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải, XuânThuỷ, Thái Thụy; 2 khu bảo tồn biển là Đảo Bạch Long Vĩ và vơờn Quốc gia biển Cát Bà với đối tơợng bảo
vệ chủ yếu là rạn san hô, nguồn lợi thuỷ sản quan trọng
Vùng Đông bắc: có 8 khu bảo tồn đất ngập nơớc với các khu nghỉ dơỡng du lịch nổi tiếng nhơ Hồ
Núi Cốc, Hồ Thác Bà, Hồ Ba Bể; khu bảo tồn biển đảo Cô Tô, Đảo Trần với đối tơợng bảo vệ chủ yếu là rạnsan hô và rừng ngập mặn
Vùng Tây Bắc: có 1 khu bảo tồn đất ngập nơớc là Hồ Hoà Bình với chức năng chủ yếu là hồ chứa
nơớc, thuỷ điện, ngoài ra còn có tính đa dạng sinh học với nhiều loài động thực vật phù du
Vùng Bắc Trung bộ: có 8 khu bảo tồn đất ngập nơớc, đặc biệt là các đầm phá ven biển với đối tơợng
bảo vệ chính là các loài chim nơớc di cơ, nguồn lợi thuỷ sản trong đó phải kể đến Phá Tam Giang-Cầu Hai,khu du lịch nổi tiếng Động Phong Nha; có 4 khu bảo tồn biển: Đảo Cồn Cỏ, Hải Vân-Hòn Sơn Trà, Phá TamGiang-Cầu Hai và Hòn Mê với đối tơợng bảo vệ chính là san hô, cỏ biển và tính đa dạng sinh học
Vùng Duyên hải Nam Trung bộ: có 12 khu bảo tồn đất ngập nơớc với nguồn lợi thuỷ sản phong phú
đặc biệt là ở các đầm phá ven biển nhơ Đầm Ô Loan, Đầm Thị Nại, Đầm Trà Ô; 4 khu bảo tồn biển với đốitơợng bảo vệ chính là các rạn san hô, nguồn lợi thuỷ sản và tính đa dạng sinh học cao: Trơờng Sa, Vơờn Quốcgia Hòn Mun-Bích Đầm, Vơờn Quốc gia đảo Lý Sơn, Cù Lao Chàm
Vùng Tây Nguyên: có 7 khu bảo tồn đất ngập nơớc với đặc điểm chính là các hồ chứa nơớc ngọt có
tác dụng vô cùng quan trọng trong việc phát triển kinh tế, dân sinh của vùng nhơ: Ayun Hạ, Hồ Lak, Hồ Ialy
Vùng Đông Nam bộ: có 10 khu bảo tồn đất ngập nơớc trong đó có những vùng có chức năng thuỷ
điện quan trọng nhơ: Hồ Trị An, Hồ Dầu Tiếng, Hồ Đa Nhim, Vơờn Quốc gia Cát Tiên và đặc biệt là khurừng ngập mặn Cần Giờ đơợc UNESCO công nhận là "Khu Dự trữ Sinh quyển"; có 3 khu bảo tồn biển: VơờnQuốc gia biển đảo Côn Sơn (Côn Đảo), Hòn Cau-Vĩnh Hảo, Đảo Phú Quý với đối tơợng bảo vệ chính là rạnsan hô, nguồn lợi thuỷ sản và b•i đẻ của các loài động vật biển
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: có 20 khu bảo tồn đất ngập nơớc với đối tơợng bảo vệ chính là
các loài chim di cơ, rừng ngập mặn, tính đa dạng sinh học, là vùng có nhiều sân chim nhất trong toàn quốc, cóthể kể đến các sân chim nổi tiếng nhơ: Tràm Chim Tam Nông nay đ• đơợc công nhận là Vơờn Quốc gia,Tràm Chim Bạc Liêu, Vàm Hồ, Cái Nơớc, Duyên Hải, Thới An, Chùa Hang; có 1 khu bảo tồn biển là Vơờn
Trang 6Quốc gia biển Phú Quốc với đối tơợng bảo vệ chính là tính nguyên vẹn của các hệ sinh thái rạn san hô, tính đadạng sinh học.
Hệ thống các vùng đất ngập nơớc chủ yếu sẽ do chính quyền các cấp và cơ dân địa phơơng tự quản lý,kết hợp bảo tồn đa dạng sinh học và bảo vệ môi trơờng địa phơơng với khai thác bền vững các giá trị kinh tế.Việc giới thiệu những vùng đất ngập nơớc này không nhằm đơa tất cả vào bảo tồn, tách rời khỏi chức năngkinh tế của chúng, mà mang tính định hơớng cho chính quyền địa phơơng các cấp có trách nhiệm sử dụng
"khôn khéo", kết hợp duy trì các chức năng cơ bản của đất ngập nơớc
Địa chất khoáng sản vùng Đồng bằng Sông Hồng
Đồng bằng sông Hồng, từ góc độ địa chất là đơn vị kiến tạo, một trũng dạng địa hào, một bồn tích tụtrầm tích Kainozoi
Trên diện tích Đồng bằng sông Hồng phân bố đất đá có tuổi từ Proterozoi đến hiện đại, bao gồm cácthành tạo biến chất, mắc ma và trầm tích
Các thành tạo biến chất thuộc loại hệ sông Hồng có tuổi Proterozoi (PR, sh), phân bố dơới dạng núisót ở đông nam thị x• Sơn Tây, ở huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, ở núi Gôi, huyện ý Yên, tỉnh Nam Định Cácthành tạo biến chất phân bố ở huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dơơng với một diện tích nhỏ thuộc hệ tầng Tấn mài
Hệ tầng Cát Bà có tuổi cacbon sớm (c,cb) với thành phần trầm tích khá đồng nhất gồm đá vôi phân lớpmỏng đến dày, màu đen Phân bố chủ yếu ở đảo Cát Bà, bắc Thủy Nguyên và Tây núi Voi (Kiến An)
Đá vôi màu xám sáng phân bố ở bắc và tây bắc Gia Luận, Phù Long, bắc núi Bụt, gềnh Vẩn thuộc
hệ tầng lơỡng kỳ (Dovjicov.A.E-1965) hoặc hệ tầng Quang Hanh (Nguyễn Công Lơợng-1979) có tuổicacbon-Pecmi (C-Plk)
Đá Porphyrit bajan đôi nơi gặp d•n kết, cuội, kết vôi lộ ra ở tây nam huyện Ba Vì - Hà Tây thuộc hệtầng Cẩm Thuỷ, tuổi Pacmi muộn (P2ct)
Đá phiến sét, bột kết tinh với các thấu kính đá vôi, phân bố ở Ba Vì (Hà Tây), Kim Bảng (Hà Nam),Nho Quan (Ninh Bình) thuộc hệ tầng Cò Nòi (T1cn)
Đá vôi xám sẫm phân lớp mỏng, đá vôi xám sáng dạng khối phân bố ở khu di tích Chùa Hơơng (HàTây), Kim Bảng (Hà Nam), Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lơ, Yên Mô thuộc hệ tầng Đồng Giao có tuổi Triasgiữa (T2đg)
Đất đá có tuổi Trias giữa phân bố ở Chí Linh, Kinh Môn (Hải Dơơng), Sóc Sơn (Hà Nội) thuộc hệtầng Nà Khuất (T2nk) Tại Chí Linh (Hải Dơơng) có một diện tích nhỏ phân bố ryolit, cát kết tuf xen đá phiếnsét đơợc giả định xếp vào hệ tầng Sông Hiến có tuổi Trias giữa (T2sh)
Đá sạn kết, cát kết hàng chục vỉa than, đá phân bố ở Chí Linh (Hải Dơơng) thuộc hệ tầng Hòn Gai, cótuổi Triat muộn (T3hg) Trong khi đó đá cát kết dạng quanzit, bột kết màu đỏ cũng phân bố với một diện tíchnhỏ ở Chí Linh (Hải Dơơng) lại thuộc hệ tầng Mẫu Sơn (T3ms)
Đá sét vôi, bột kết chứa các thấu kính đá vôi phân bố ở Ba Vì (Hà Tây) thuộc hệ tầng Nậm Thẳm, tuổiTrias giữa-muộn (T2-3nt) Đá cát kết tuf, phun trào mafic, sét vôi phân bố ven rìa tây, tây nam vùng Đồngbằng thuộc hệ tầng Mơờng Trại tuổi Trias giữa-muộn
Đá cát kết, bột kết, cuội kết phân bố thành một dải theo hơớng tây bắc đông nam ở khu vực Trung Hà
- Suối Hai (Hà Tây) thuộc hệ tầng Nà Dơơng (có tuổi Neogen (N nd)
Các thành tạo mắc ma phân bố chủ yếu ở d•y núi (Ba Vì/Hà Tây) thuộc phía hệ tầng Ba Vì có tuổi Paleozoimuộn (? 1bv)
Trang 7Nhơ vậy, đất đá có tuổi trơớc Đệ Tứ phân bố chủ yếu ven rìa Đồng bằng sông Hồng Các thành tạotrầm tích bở rời có tuổi Đệ tứ phủ khắp Đồng bằng sông Hồng Vùng ven rìa gặp các thành tạo hạt thô nhơcuội, sạn thuộc hệ tầng Hà Nội, có tuổi pleistocen giữa muộn (aQII – III) với nguồn gốc trầm tích sông VùngSóc Sơn, Đông Anh (Hà Nội), Chí Linh (Hải Dơơng), Gia Viễn (Ninh Bình) gặp các thành tạo cát, bột, sét cómàu vàng loang lổ, có tuổi pleistocen muộn, guồn gốc sông hoặc biển (aQIII, mQIII) Những thành tạoPleistocen phân bố vùng ven rìa, còn đại bộ phận diện tích Đồng bằng sông Hồng phủ các thành tạo trầm tích
có tuổi Holocen sớm – giữa hoặc Holocen giữa-muộn (QIV1-2 và QIV 2-3)
Khoáng sản vùng Đồng bằng sông Hồng gặp chủ yếu các loại khoáng sản: cháy (năng lơợng) nhơthan, than nâu và than bùn, kim loại đen nhơ sắt, kim loại màu nhơ đồng, vàng, bô xít, thủy ngân, vật liệu xâydựng nhơ sét xi măng, cát xây dựng, đá vôi xi măng, phi kim loại nhơ cao lanh sét, asbet, pyrit, photphorit,photphát Ngoài ra vùng Đồng bằng sông Hồng còn là một bồn trũng chứa dầu khí Các loại khoáng sản ởvùng Đồng bằng sông Hồng không lớn về trữ lơợng, thực chất chỉ là các điểm quặng, trừ vật liệu xây dựng
Vùng Đồng bằng sông Hồng với sự có mặt của hệ thống đứt g•y sâu tái hoạt động trong Kainozoi vàquá trình địa động lực hiện đại đ• để lại hoặc còn tiếp diễn các quá trình hình thành khe nứt hiện đại Các quátrình ngoại sinh cũng gây ra những tai biến nhơ xói lở bờ sông, bờ biển, hiện tơợng đất lún ảnh hơởngkhông nhỏ tới môi trơờng
Bản đồ thủy văn vùng Đồng bằng sông Hồng
Đồng bằng sông Hồng hay còn gọi là Châu thổ sông Hồng, đây là phần hạ du của hệ thống sông Hồng.Mạng lơới thủy văn vùng Đồng bằng sông Hồng khá dày đặc
Sông Hồng, con sông chính của vùng Đồng bằng sông Hồng chảy vào Đồng bằng từ Thành phố ViệtTrì, tỉnh Phú Thọ qua Sơn Tây, Hà Tây, Hà Nội, Hơng Yên, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình Tại
Hà Nội sông Đuống nối với sông Hồng rồi đổ về hệ thống sông Thơơng Tại Phùng, Hoài Đức, Hà Tây vớiđập đáy, sông Hồng đổ vào sông Đáy Tại Ba Thá-Hà Tây sông Đáy hợp lơu với sông Tích, sông Đáy chảyqua Mỹ Đức-Hà Tây, Phủ Lý-Hà Nam, chảy qua tỉnh Ninh Bình Sông Đáy còn là ranh giới hành chính củatỉnh Ninh Bình và Nam Định, rồi đổ ra cửa sông Đáy thuộc huyện Kim Sơn-Ninh Bình và Nghĩa Hơng-NamĐịnh Tại Tứ thôn-Hà Nam, sông Đáy tiếp sông Hoàng Long chảy từ sông Hồng về phía Phủ Lý Tại Độc Bộ,sông Đáy tiếp sông Quần Liên chảy từ sông Hồng về Chảy ra cửa Đáy, sông Đáy còn tiếp nhận nguồn nơớccủa một hệ thống sông nhỏ chảy từ vùng núi đá vôi của tỉnh Ninh Bình đổ vào sông Vạc ra sông Đáy TừHơng Yên nơớc của sông Hồng chảy vào sông Luộc để đổ vào sông Thái Bình rồi ra cửa Thái Bình SôngHồng tại Quyết Chiến-Hơng Hà-Thái Bình phân nơớc sang sông Trà Lý để đổ ra cửa sông Trà Lý Tại TrúcPhơơng-huyện Xuân Trơơng-Nam Định, nơớc sông Hồng chảy vào sông Ninh Cơ để đổ ra cửa Ninh Cơ.Dòng chính của sông Hồng đổ ra cửa Ba Lạt Tại Quỳnh Phụ-Thái Bình một nhánh sông nhỏ bắt nguồn từsông Luộc chảy về sông Diêm Hộ rồi đổ ra cửa biển Diêm Hộ thuộc huyện Thái Thuỵ-Thái Bình Các nhánhsông nhỏ nhơ sông Hoá chảy vào sông Thái Bình, hoặc sông Đào nối sông Hoàng Long vào sông Hồng
Đông Bắc vùng Đồng bằng sông Hồng với hệ thống các con sông nhơ: sông Kinh Thầy, sông KinhMôn, sông Giá, sông Cấm, sông Rạng, sông Lạch Tray, sông Văn úc và sông Bạch Đằng Sông Bạch Đằng đổ
ra cửa Nam Triệu, sông Cấm đổ ra cửa Cấm, sông Lạch Tray đổ ra cửa Lạch Tray, sông Văn úc đổ ra cửa Văn
úc Ngoài ra còn có các con sông Lặt, sông Đào đều bổ sung nguồn nơớc để đổ ra cửa sông Văn úc Mạngsông suối ở đông bắc vùng Đồng bằng sông Hồng chằng chịt, mật độ sông khá dày vì đây là một vùng sụt,lơợng bồi tích không đủ để bù đắp cho việc sụt lún tạo nên cửa sông có dạng hình phễu
Hệ thống thủy văn vùng Đồng bằng sông Hồng do có một hệ thống đê và các công trình thuỷ nôngphần nào bổ sung phù sa cho Đồng bằng, song không đơợc phủ khắp Đồng bằng Mặt khác lòng sông ngàycàng cao hơn so với Đồng bằng trong đê Vì vậy việc bảo vệ, tu tạo đê là một công việc tốn kém phải làmhàng năm vào thời kỳ lũ Những sự cố nhơ vỡ đê, mơa gây úng ảnh hơởng không nhỏ tới môi trơờng Dokhông đơợc bồi đắp phù sa hàng năm cũng làm cho môi trơờng đất, đặc biệt đất nông nghiệp bị ảnh Do mạngsông suối vùng Đồng bằng sông Hồng khá dày nên việc giao thông đơờng thuỷ thuận tiện và phát triển
Nguyễn Văn Thịnh
Trang 8Làng nghề nông thôn Đồng bằng sông hồng và vấn đề môi trơờng
Khoảng 10 năm qua, làng nghề nông thôn ở nơớc ta đ• có bơớc phát triển khá mạnh mẽ cả về quy mô
và số lơợng Cùng với sự phát triển đó, nhiều vấn đề về môi trơờng đang đặt ra hết sức bức xúc Yêu cầu của
sự phát triển bền vững đặt ra đối với các cơ quan nhà nơớc ở Trung ơơng và địa phơơng là cần phải có mộtquy hoạch phát triển các làng nghề và đi cùng với nó là quy hoạch về bảo vệ môi trơờng; phải có các cơ chếchính sách trong việc hỗ trợ đầu tơ xây dựng cơ sở hạ tầng, trong việc đổi mới công nghệ sản xuất; và trơớcmắt là cần có các giải pháp công nghệ thích hợp đối với việc xử lý ô nhiễm môi trơờng cho các loại làng nghề
I Hiện trạng phát triển làng nghề
Hơn 10 năm qua, với những chính sách khuyến khích của Nhà nơớc, làng nghề nông thôn ở nơớc ta đ•phát triển rất nhanh và đóng góp một phần quan trọng vào việc giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập chongơời lao động nông thôn, góp phần ổn định kinh tế – x• hội ở khu vực này
Theo số liệu gần đây nhất, hiện nay cả nơớc có 1450 làng nghề truyền thống, riêng Đồng bằng sông Hồng cókhoảng 800 làng nghề trong đó có trên 500 làng nghề truyền thống Theo số liệu thống kê của các cơ sở côngnghiệp các tỉnh thì tỉnh Hà Tây có 88 làng; Bắc Ninh có 58 làng/cụm x•, Vĩnh Phúc có 24 làng/cụm x•; HơngYên có 33 làng; Nam Định có 113 làng; Hà Nam có 10 làng; Hải Dơơng có 36 làng; Thái Bình có 82 làng/x•nghề Trong vòng 10 năm qua, làng nghề nông thôn có tốc độ tăng trơởng khá nhanh, trung bình hàng nămđạt 8% tính theo giá trị đầu ra
Sản phẩm và phơơng thức sản xuất của các làng nghề khá phong phú, đa dạng với hàng trăm loạingành nghề khác nhau Nếu căn cứ vào đối tơợng, nguyên liệu và công nghệ sản xuất thì có thể chia thành 3nhóm ngành nghề: Chế biến nông lâm thuỷ sản (chiếm 1,99% tổng số hộ phi nông nghiệp); tiểu thủ côngnghiệp và xây dựng (3,66%); dịch vụ sản xuất và đời sống (5,64%) Nếu dựa trên sản phẩm và phơơng thứcsản xuất chính để phân loại thì có 6 loại làng nghề:
1 Làng nghề thủ công: Làm ra các mặt hàng sử dụng thơờng nhật nhơ dao kéo, máy tre đan gia
dụng, chiếu Đặc điểm của các làng nghề loại này là sản xuất thủ công bằng tay và các công cụ đơn giản Dochi phí ban đầu thấp nên loại hình này rất phổ biến
2 Làng nghề thủ công mỹ nghệ: Làm ra các mặt hàng có giá trị về văn hóa và trang trí nhơ đồ mỹ
nghệ chạm khảm, chạm khắc tơợng gỗ, đá, đồ thêu ren và các đồ mỹ nghệ bằng bạc, chế biến mây tre đan, dệtthảm
3 Làng nghề công nghiệp: Sản xuất các hàng hóa thành phẩm và bán thành phẩm nhơ sản xuất giấy,
dệt, may mặc, gốm sứ, tái chế nhựa, kim loại, thuộc da
4 Làng nghề chế biến lơơng thực thực phẩm: Chế biến các loại nông sản nhơ xay sát, sản xuất
miến dong, bún, bánh, sản xuất bia, giết mổ vật nuôi, nấu rơợu, chế biến hoa quả
5 Làng nghề sản xuất và cung ứng nguyên vật liệu: Sản xuất vật liệu xây dựng nhơ gạch, ngói, vôi,
cát,
6 Làng nghề buôn bán và dịch vụ: Thực hiện bán buôn, bán lẻ và cung cấp dịch vụ, ví dụ nhơ các
làng Đình Bảng (Bắc Ninh) và Ninh Hiệp (Hà Nội)
Việc phát triển làng nghề đ• đem lại hiệu quả kinh tế – x• hội cho vùng nông thôn, tuy nhiên, bên cạnh
đó sự phát triển làng nghề nông thôn đ• có những tác động tiêu cực đến môi trơờng sống, gây ảnh hơởngkhông nhỏ đến sức khoẻ của cộng đồng Do trình độ công nghệ thấp lại chậm đơợc đổi mới; cơ sở vật chất,kết cấu hạ tầng kém; trình độ quản lý còn hạn chế đ• làm cho môi trơờng ở hầu hết các làng nghề bị ô nhiễmtrầm trọng
II ảnh hơởng của làng nghề tới môi trơờng và sức khoẻ cộng đồng
1 Tính chất phát thải của các loại làng nghề:
Đi đôi với việc tăng sản lơợng hàng hóa, sự phát triển làng nghề nông thôn đ• tạo ra một khối lơợnglớn các chất thải Cũng nhơ sự đa dạng của các nguồn nguyên liệu sản xuất, nguồn chất thải từ hoạt động sảnxuất của các làng nghề rất đa dạng Nhiều loại chất thải với số lơợng lớn đ• gây nguy hại lớn tới môi trơờng
Trang 9xung quanh, ảnh hơởng tới sức khoẻ của ngơời sản xuất và của cả cộng đồng Tuỳ theo loại hình và quy môsản xuất, mức độ và tính chất ô nhiễm cũng khác nhau
Làng nghề thủ công mỹ nghệ: Chất thải thơờng là chất rắn, khí Ví dụ làng nghề mây tre đan, trong
công đoạn sấy thơờng dùng diêm sinh (S) đ• tạo ra khí thải độc hại Thơờng 1 tấn mây tre qua 5 lần sấy cần
10 kg S Riêng làng nghề chế biến mây tre đan x• Bình Minh (Hơng Yên) hàng năm sử dụng khoảng 3,5 tấn S
để hun sấy, xông nguyên liệu đ• làm cho không khí bị ô nhiễm, tạo nên một mùi rất khó chịu trong làng
Làng nghề công nghiệp: Chất thải của các làng nghề này rất đa dạng, nhơ chất thải khí (bụi, khí độc)
tạo ra trong quá trình phơi, sấy khô, đốt ở làng nghề gốm sứ, do quá trình nấu chảy nguyên liệu ở làng nghềtái chế chì, tái chế nhôm; chất thải lỏng và rắn do quá trình xử lý, rửa nguyên liệu tái chế ở làng nghề tái chếkim loại, thuộc da Ví dụ trong làng nghề tái chế nhựa, nguyên liệu chính là các vỏ bình ắc quy hỏng, cácloại vỏ chai, lọ bằng nhựa, các túi, mảnh nilon, vỏ dây điện hỏng đơợc thu thập từ rất nhiều nguồn, trong đórất nhiều loại chứa các hóa chất độc hại, các dung môi hữu cơ, thuốc trừ sâu diệt cỏ và việc súc rửa, làmsạch chúng đ• thải ra một lơợng lớn chất thải làm ô nhiễm môi trơờng nơớc, nhiều ao hồ bị ô nhiễm rất nặngkhông thể tiếp tục sử dụng Hay nhơ làng nghề thuộc da đ• thải ra một lơợng không nhỏ thịt, mỡ, lông thốirữa; thêm vào đó là một lơợng muối, vôi, hóa chất khác (có Cr) đi vào nguồn nơớc thải gây mùi hôi thối, nơớc
có màu đen, đặc sánh, phát sinh nhiều ruồi, muỗi Ước tính cứ thuộc 1 tấn da tơơi sẽ thải ra khoảng 80- 100m3 nơớc thải nhơ vậy
Làng nghề chế biến lơơng thực thực phẩm: Phụ phế thải trong nghề chế biến lơơng thực thực phẩm
rất đa dạng Ví dụ: Sản xuất 1 triệu tấn đơờng sẽ tạo ra 30 triệu tấn ngọn, lá, gốc mía; 1 triệu tấn b• mía; 0,5triệu tấn rỉ đơờng; 0,1 triệu tấn b• lọc Sản xuất 100 nghìn tấn nhân điều tạo ra 1 triệu tấn thịt quả điều và vỏhạt điều có hàm lơợng dinh dơỡng rất cao, là môi trơờng rất thuận lợi cho vi sinh vật phát triển, gây ô nhiễmmôi trơờng Xay xát 100 tấn thóc cần giải quyết 10 nghìn tấn trấu, 1 nghìn tấn cám Nuôi 1 nghìn tấn lợn thịttạo ra 10- 20 nghìn tấn phân, 20- 30 nghìn mét khối nơớc tiểu, 50- 200 nghìn mét khối nơớc rửa chuồng trại.Sản xuất 1 nghìn tấn tinh bột tạo ra 3- 4 nghìn tấn b• tơơi Nhìn chung phụ phế thải trong nghề chế biếnlơơng thực thực phẩm là những chất hữu cơ dễ bị phân huỷ, gây ô nhiễm môi trơờng, tạo mùi khó chịu, nếukhông đơợc xử lý tốt
Làng nghề sản xuất và cung ứng nguyên vật liệu: Thơờng tạo ra các chất thải rắn (xỉ than, gạch vỡ,
gạch phồng ) và chất thải khí (bụi, HF, SO2, CO, NOx, F2 ) Ví dụ làng nghề sản xuất vôi Duyệt Lễ (HơngYên) hàng năm sử dụng hết khoảng 6000 tấn than, 100 tấn củi nhóm lò, 250 tấn bùn, 10 nghìn mét khối đá, vànhơ vậy đ• thải vào môi trơờng một lơợng lớn chất thải gây ô nhiễm
2 ảnh hơởng của phát thải ô nhiễm làng nghề tới môi trơờng:
Việc phát triển các làng nghề nông thôn tạo ra một khối lơợng các chất thải lớn, đa dạng nhơ trên;cùng với khả năng quản lý, xử lý chất thải còn rất hạn chế đ• gây ảnh hơởng không nhỏ tới chất lơợng môitrơờng xung quanh ảnh hơởng này có nguy cơ ngày càng trầm trọng hơn khi quy mô và số lơợng các làngnghề ngày càng phát triển Dơới đây là những tác động chính của các làng nghề tới môi trơờng đất, nơớc vàkhông khí
* Với môi trơờng nơớc:
- Ô nhiễm hữu cơ thơờng nặng nề nhất ở các làng nghề chế biến lơơng thực, thực phẩm và sản xuấtchế biến gỗ, mây tre đan bởi nơớc thải của các làng nghề này thơờng có hàm lơợng chất hữu cơ rất cao, dễ bịphân huỷ Nơớc thải không đơợc xử lý chảy trực tiếp vào cống r•nh ao hồ, hàm lơợng các chất hữu cơ trongnơớc thải quá lớn vơợt khả năng phân huỷ, đồng hóa của các vi sinh vật cũng nhơ các loài động thực vật thuỷsinh gây hiện tơợng phú dơỡng, ô nhiễm môi trơờng nơớc đ• tác động xấu tới các thuỷ vực Ví dụ nhơ làngnghề chế biến nông sản thực phẩm Dơơng Liễu (Hà Tây) thải ra khoảng 7 nghìn mét khối nơớc thải/ngàyđêm, các chỉ tiêu COD, BOD, SS đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép (TCCP) 1- 3 lần
- Ô nhiễm nguồn nơớc do tác nhân là các hợp chất vô cơ độc hại nhơ acid, xút, muối kim loại nặng thơờng thấy ở các làng nghề cơ khí, mạ, đúc, tẩy nhuộm Đây là nguồn ô nhiễm nguy hiểm, không những gâytác động trực tiếp tới nguồn nơớc mặt mà còn ảnh hơởng tới nguồn nơớc ngầm, gây nhiều bệnh hiểm nghèocho nhân dân làng nghề Ví dụ, chỉ tính riêng làng nghề Vân Chàng (Nam Định) có 14 bể mạ, hàng ngày thảitrực tiếp ra sông Vân Chàng 40- 50 m3 nơớc thải chơa đơợc xử lý, chứa nhiều hóa chất độc hại nguy hiểm
Trang 10nhơ: HCL H2SO4, NaOH, Cr, HCN… Kết quả phân tích nơớc thải năm 1997 cho thấy hàm lơợng Cr6+ vơợt1,8 lần, Cu2+ vơợt 1,7 lần, BOD và COD vơợt TCCP 3- 4 lần, Niken vơợt 8 lần, đặc biệt hàm lơợng CN-trong nơớc thải vơợt 65- 117 lần
- Ô nhiễm nguồn nơớc do tác nhân là các chất màu, xơ sợi thơờng thấy ở các làng nghề dệt, tẩynhuộm, sơn mài, ơơm tơ đ• làm cho nơớc chuyển màu, tăng hàm lơợng chất hữu cơ trong nơớc, gây mùikhó chịu, giảm lơợng oxy hòa tan trong nơớc, ảnh hơởng tới môi trơờng sống của các loài động thực vật thuỷsinh, ô nhiễm nguồn nơớc sinh hoạt của nhân dân
* Với môi trơờng không khí:
- Ô nhiễm môi trơờng không khí thơờng xảy ra ở các làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ, cơkhí do quá trình sử dụng than, dầu với số lơợng lớn đ• tạo ra các khí nhơ SO2, CO2, CO, NOx, ngoài ra còn
do sử dụng các loại hóa chất bay hơi nhơ HCL, aldêhyt, axeton, phenol Các loại khí này hầu hết chơa qua
xử lý, thải trực tiếp ra môi trơờng xung quanh gây biến đổi thành phần môi trơờng không khí của làng nghề
Ví dụ, kết quả xác định thông số môi trơờng tại làng nghề Vân Chàng năm 1997 cho thấy hàm lơợng khí SO2
là 2,61 mg/m3, vơợt TCCP 5 lần
- Ô nhiễm môi trơờng không khí do tác nhân bụi (bụi lắng và bụi lơ lửng) thơờng thấy ở hầu hết cáclàng nghề ở các mức độ khác nhau ở làng nghề cơ khí, dệt, sản xuất đồ mộc, hàm lơợng bụi lớn hơn nhiều sovới làng nghề mây tre đan, chế biến thực phẩm Các làng nghề tái chế kim loại nhơ: Nấu nhôm, sắt thép, gang,đúc kim loại; dệt; làm chăn bông; chế biến gỗ; đặc biệt là công đoạn đánh bóng kim loại không những gâybụi lắng mà còn tạo ra hàm lơợng bụi lơ lửng rất cao Ví dụ ở làng nghề Vân Chàng, hàm lơợng bụi lơ lửngcực đại năm 1997 là 4,28 mg/m3, vơợt TCCP 5- 10 lần, khu vực đánh bóng kim loại hàm lơợng bụi lơ lửngvơợt quá TCCP tới 34 lần ở các làng nghề sản xuất gốm sứ và vật liệu xây dựng, hàm lơợng bụi lắng và bụi
lơ lửng vơợt 6- 9 lần TCCP Làng nghề tái chế nhựa, trong quá trình vận chuyển, phơi khô, nghiền hạt gây ônhiễm bụi với hàm lơợng cao, có nơi cao hơn TCCP 4 lần, tại vị trí sản xuất cao gấp 8 lần Hay ở làng nghềtái chế chì Đông Mai (Hơng Yên), hàm lơợng chì trong môi trơờng không khí lên tới 46,411 mg/m3, vơợtTCCP tới hàng nghìn lần
- Ô nhiễm môi trơờng do tiếng ồn tập trung ở một số làng nghề cơ khí, đúc, mộc, dệt Các thiết bị gây
ồn là máy cơa, máy bào, máy cán sắt, máy mài, máy đột dập, máy dệt Ví dụ, kết quả đo tiếng ồn ở làng nghềVân Chàng trong khu dân cơ là 65- 87,5dB, vơợt quá TCCP 1,2- 1,5 lần; đo tại khu vực máy cán và máy miếtxoong nhôm tiếng ồn lên tới 95- 100dB
- Ô nhiễm môi trơờng do các tác nhân tạo mùi: Một số làng nghề trong hoạt động đ• tạo ra các chấtgây mùi khó chịu, có thể ảnh hơởng tới cả các làng lân cận cách xa 1- 2 km Qua thống kê cho thấy 100% cáclàng nghề mây tre đan, sản xuất đồ mộc, chế biến lơơng thực đều gây ô nhiễm môi trơờng nơớc và tạo ra mùikhó chịu
* Với môi trơờng đất:
Các chất ô nhiễm từ các làng nghề thải vào môi trơờng đất đ• làm thay đổi thành phần hóa, lý của đất,làm cho năng suất vật nuôi, cây trồng giảm và gây ảnh hơởng xấu tới sức khoẻ con ngơời
Ô nhiễm môi trơờng đất xảy ra nghiêm trọng nhất ở các làng nghề tái chế kim loại Theo số liệu điềutra sơ bộ, hàm lơợng các kim loại nặng trong nơớc thải của các làng nghề tái chế kim loại hầu hết đều cao hơnTCCP nhiều lần và thải trực tiếp vào môi trơờng mà không qua xử lý Một ví dụ điển hình về các làng nghềtái chế kim loại gây ảnh hơởng tới môi trơờng đất là làng nghề tái chế chì ở x• Chỉ Đạo (Hơng Yên) Nguyênliệu để sản xuất của làng nghề này là các bình ắc quy hỏng, nhiên liệu sử dụng để nấu là than đ• qua sử dụng
từ các xơởng đúc kim loại, lò vôi Các kim loại nặng có trong chất thải phát sinh từ quá trình sản xuất chì ở x•Chỉ Đạo xâm nhập vào môi trơờng đất chủ yếu qua hai con đơờng là phát tán vào không khí rồi theo nơớcmơa lắng đọng vào đất và theo nơớc thải đổ vào nơớc tơới ruộng Kết quả nghiên cứu của TS Lê Đức chothấy, một số mẫu đất ở x• Chỉ Đạo có hàm lơợng Cu2+ 43,68- 69,68 ppm; hàm lơợng Pb2+ 147,06- 661,2ppm, cao hơn TCCP của Anh, Đức, Ba Lan; hàm lơợng Zn2+ 23,6- 42,3 ppm, thuộc loại đất có hàm lơợngkẽm linh động cao Môi trơờng bị ô nhiễm đ• ảnh hơởng đến năng suất cây trồng và sức khoẻ của ngơời dânx• Chỉ Đạo Theo kết quả tính toán của Trơờng đại học khoa học tự nhiên, thiệt hại gây ra cho vấn đề sứckhoẻ cộng đồng ở đây là 93,5 triệu/năm, chiếm 17,1% tổng thu nhập do hoạt động này mang lại
Trang 113 ảnh hơởng của làng nghề tới sức khoẻ cộng đồng:
Chất thải trong hoạt động sản xuất của các làng nghề ảnh hơởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới sức khỏecủa ngơời sản xuất và của cộng đồng nói chung Số liệu thống kê của các phòng y tế các huyện và trạm y tế x•
về tình hình sức khoẻ của nhân dân làng nghề cho thấy, ở các làng nghề khác nhau thì các bệnh nghề nghiệpcũng nhơ tỷ lệ ngơời mắc bệnh nghề nghiệp có khác nhau: ở làng nghề cơ khí, đúc, sản xuất nguyên vật liệu…
do sử dụng lơợng than lớn nên tỷ lệ ngơời mắc các bệnh về phổi, phế quản cao; làng nghề tẩy nhuộm vải sợi,
mạ kim loại sử dụng nhiều hóa chất độc hại, kim loại nặng thì tỷ lệ ngơời bị bệnh ung thơ cao, tuổi thọ giảm;làng nghề gây ô nhiễm nguồn nơớc nhơ chế biến lơơng thực, mây tre đan, chế biến gỗ thì tỷ lệ ngơời mắcbệnh ngoài da, bệnh mắt hột, bệnh phụ khoa tăng; làng nghề gây tiếng ồn lớn thì tỷ lệ ngơời mắc bệnh thầnkinh, bệnh n•o cao, tuổi thọ giảm Ví dụ nhơ: ở làng nghề chế biến lơơng thực thực phẩm vùng Cát Quế,Dơơng Liễu (Hà Tây) hàng năm có tỷ lệ ngơời mắc bệnh ngoài da, đau mắt hột chiếm hơn 70% dân số do ônhiễm nguồn nơớc Theo số liệu điều tra tại làng nghề tái chế chì thuộc x• Chỉ Đạo (Hơng Yên) thì tỷ lệ cácloại bệnh nhơ ỉa chảy, đau mắt hột, các bệnh đơờng hô hấp, hiện tơợng sẩy thai, thai chết lơu, hiện tơợng pháttriển trí tuệ không bình thơờng ở trẻ em của x• cao hơn các x• khác trong vùng do nguồn nơớc bị ô nhiễm chì.Làng nghề thuộc da x• Liễu Xá (Hơng Yên), do ô nhiễm nguồn nơớc với các dơ lơợng nhơ Cr, phèn, vôi nên các bệnh liên quan thể hiện rất rõ ràng và phổ biến nhơ bệnh về phổi, n•o, máu, da, những bệnh về hôhấp, mắt ở làng gốm Bát Tràng, ô nhiễm môi trơờng không khí đ• ảnh hơởng rất lớn đến sức khoẻ của ngơờidân Qua điều tra sức khoẻ của 223 ngơời dân Bát Tràng thì có 76 ngơời bị bệnh về đơờng hô hấp và 23 ngơời
bị bệnh lao Trong năm 1995 có 23 ngơời làng này chết vì bệnh ung thơ Cơ dân làng gốm này chiếm 70% sốbệnh nhân bị bệnh ung thơ ở các bệnh viện Hà Nội năm 1996
III Nguyên nhân và các giải pháp
1 Nguyên nhân
* Do điều kiện tự nhiên và x• hội:
Thực tế cho thấy những vùng nông thôn có làng nghề phát triển là những vùng có mật độ dân cơ đôngđúc, đất thổ cơ chật chội, đất canh tác ít Vì vậy các làng nghề thiếu mặt bằng sản xuất, các nhà xơởng sảnxuất phải nằm xen lẫn trong khu vực dân cơ, trong nhà hoặc vơờn của các hộ; không đủ mặt bằng để bố tríkhu chứa và xử lý chất thải Mặt khác một số ao hồ làm nhiệm vụ điều hòa nơớc thải, điều hòa khí hậu, xử lý
ô nhiễm đ• bị san lấp để làm nhà ở, làm cơ sở sản xuất, số còn lại thì quá tải, tù đọng, vì vậy mức độ ô nhiễmngày càng tăng Trong mùa mơa, do tiêu thoát kém nên tình trạng ngập úng kéo dài, gây nên ô nhiễm môitrơờng nghiêm trọng và bệnh tật phát triển Ngoài ra, do thời tiết nóng ẩm đ• tạo điều kiện thuận lợi cho quátrình phân huỷ, lên men của các chất hữu cơ, phát sinh các loại nấm mốc và vi khuẩn gây bệnh Một nguyênnhân nữa là do nhận thức của cộng đồng về bảo vệ môi trơờng còn thấp kém, xuất phát từ nền sản xuất nhỏ,đơn lẻ, nên ý thức của ngơời dân về giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trơờng thấp, khi sản xuất đơợc mở rộng thìcác thói quen đó khó sửa và nhơ thế ô nhiễm càng gia tăng
* Công nghệ và quy trình sản xuất thô sơ, lạc hậu:
Phần lớn sản xuất ở các làng nghề là do tự phát, sản xuất theo từng hộ đơn lẻ nên vốn đầu tơ cho sảnxuất nhỏ, các công nghệ sản xuất thô sơ lạc hậu, chủ yếu làm bằng thủ công đ• dẫn đến không tận dụng hếttinh chất của vật liệu Đặc biệt là ở các làng nghề chế biến lơơng thực thực phẩm, b• thải sau khi sản xuất vẫnchứa một lơợng lớn các chất tinh bột, dầu nên vừa l•ng phí vật liệu vừa gây ô nhiễm môi trơờng do sự phânhuỷ các chất hữu cơ Ví dụ nhơ làng nghề sản xuất tinh bột ở Dơơng Liễu, Cát Quế (Hà Tây), trong công đoạntách tinh bột khỏi b• ngơời lao động phải làm bằng các biện pháp thủ công nhơ dẫm, vò nên rất vất vả vàlơợng tinh bột còn lại trong b• thải vẫn còn rất lớn Hoặc tại Bát Tràng, nhiều lò nung hiện nay rất lạc hậu,không đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật nên không tận dụng đơợc năng lơợng, tạo ra nhiều bụi than độc hại chomôi trơờng xung quanh, tỷ lệ phế phẩm còn cao
* Thiếu qui hoạch và quản lý các làng nghề:
Mặc dù tổ chức sản xuất ở các làng nghề theo từng hộ đơn lẻ nhơng quy mô sản xuất tăng nhanh, trongkhi đó công tác qui hoạch quản lý các làng nghề chơa đơợc quan tâm đúng mức Mặt bằng sản xuất đơợc bốtrí phân tán, manh mún Hầu hết các làng nghề đều không có vị trí chứa thải, tiện đâu đổ đấy, chất thải có thể
Trang 12đổ xuống ao, mơơng, góc vơờn, đầu ngõ càng làm cho nguy cơ ô nhiễm cao hơn Do không có qui hoạch nênkhông có cơ sở hạ tầng nhơ cống r•nh thoát nơớc, nơi thu gom phế thải rắn nên diện ô nhiễm tràn lan Điềunày không chỉ tác động đến sức khoẻ của con ngơời mà còn ảnh hơởng đến mỹ quan làng x• và nhiều ngànhsản xuất khác Cũng do thiếu qui hoạch phát triển nên chơa tận dụng đơợc các phế thải để sản xuất ra các sảnphẩm phụ nhơ xỉ than ở các làng nghề sản xuất gốm sứ có thể tận dụng để sản xuất gạch xỉ, rải đơờng nôngthôn; b• thải của các làng nghề chế biến lơơng thực thực phẩm có thể sử dụng để chăn nuôi, chế biến phânhữu cơ
2 Một số kiến nghị
Qua hiện trạng phát triển của làng nghề nông thôn, chúng tôi có một số kiến nghị sau:
Thứ nhất: Cần phải có một qui hoạch phát triển các làng nghề Hiện nay làng nghề đang đóng một vai
trò quan trọng trong phát triển kinh tế khu vực nông thôn nhơ giải quyết công ăn việc làm cho lực lơợng laođộng dôi dơ, tạo thêm việc làm trong thời kỳ nông nhàn, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho nông dân, tạothêm sản phẩm cho x• hội, tăng lơợng hàng hóa xuất khẩu… Vì vậy phải coi các làng nghề là một bộ phậnkinh tế quan trọng trong khu vực nông thôn để có định hơớng phát triển đúng Trong qui hoạch phát triển cầnđịnh rõ các loại làng nghề đối với từng địa phơơng cho phù hợp để phát huy đơợc thế mạnh của làng nghềtruyền thống, sử dụng hợp lý nguồn nguyên liệu và lực lơợng lao động Quy hoạch cũng cần định rõ bơớcphát triển thích hợp cho từng loại hình sản xuất với từng địa phơơng, xác định đầy đủ các điều kiện đầu vào,đầu ra để đảm bảo sản xuất ổn định cho các làng nghề
Thứ hai: Từ qui hoạch phát triển cần xây dựng qui hoạch môi trơờng cho các làng nghề Kinh nghiệm
của các tỉnh Bắc Ninh, Hơng Yên là việc quy hoạch cho các làng nghề cần đơợc xem xét một cách cụ thể, từxác định khu vực sản xuất, xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở nhơ làng xơởng, hệ thống cấp thoát nơớc , khu xử
lý chất thải, đa dạng hoá trong sản xuất để từng bơớc đơa ra các làng nghề vào hoạt động có hiệu quả, đảmbảo đơợc sự phát triển ổn dịnh, hạn chế ô nhiễm, bảo vệ môi trơờng nông thôn, góp phần xây dựng nông thônxanh, sạch đẹp và văn minh
Thứ ba: Nhà nơớc cần có chính sách hỗ trợ cho các làng nghề: Hỗ trợ đầu tơ cơ sở hạ tầng các làng
ngề thông qua các dự án hoặc vay vốn ơu đ•i; hỗ trợ đầu tơ đổi mới trang thiết bị sản xuất; xây dựng hệ thốngchính sách cũng nhơ tổ chức quản lý các làng nghề, tạo hành lang pháp lý cho các làng nghề hoạt động vàphát triển
Cuối cùng: Cần khẩn trơơng đầu tơ nghiên cứu các giải pháp công nghệ hợp lý xử lý ô nhiễm (nơớc,
đất, không khí, tiếng ồn) cho từng loại làng nghề để giải quyết kịp thời những bức xúc về môi trơờng đang đặt
ra Bên cạnh đó cần đầu tơ xây dựng một số mô hình mẫu để ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào thực tế.Các mô hình này cần kết hợp việc ứng dụng công nghệ tiên tiến vào xử lý ô nhiễm với qui hoạch môi trơờng
để những làng nghề trở thành những mô hình kinh tế đa thành phần và làng văn hoá phục vụ cho mục tiêuphát triển kinh tế – x• hội nông thôn
Nguyễn Quang Trung, Hoàng Thu Thuỷ
Vấn đề ô nhiễm môi trơờng vùng đồng bằng sông hồng
Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ (viết tắt là VKTBB) bao gồm các thành phố Hà nội, Hải phòng và cáctỉnh Hơng yên, hải dơơng, Quảng ninh là bộ phận l•nh thổ nằm giữa châu thổ sông Hồng và sơờn núi Đôngbắc Tổng diện tích 10.900km2, số dân là 7,4 triệu ngơời (năm 1994) trong đó dân vùng đô thị là 2.170 triệungơời chiếm 29,3% số dân trong vùng, tập trung chủ yếu ở 1 đô thị loại 1 (Hà nội), 1 đô thị loại 2 (hải phòng),
1 đô thị loại 3 (Hạ long), 2 đô thị 4 (Hải dơơng, Hơng yên), trong bảng phân loại đô thị Việt nam
VKTBB đ• chính thức đơợc Thủ tơớng chính phủ phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - x•hội thời kỳ 1996 0 2010 với mục tiêu "xây dựng VKTBB trở thành một trong những vùng kinh tế phát triểnnhanh, có tốc độ phát triển kinh tế cao hơn so với các vùng khác trong nơớc, phấn đấu đơa ra tỷ trọng GDPcủa VKTBB đạt 18 - 19% só với GDP cả nơớc vào năm 2010" Theo quy hoạch này, đến năm 2000 đân sốtoàn VKTBB sẽ là 8,5 triệu ngơời: Trong đó dân đô thị là 3,25 triệu ngơời và đến năm 2010 số dân sẽ là 10,8triệu ngơời trong đó dân đô thị sẽ là 6,08 triệu ngơời (chiếm 56%)
Trang 13Với sự tăng nhanh dân số đô thị và các khu công nghiệp tập trung ở VKTBB sẽ làm cho mức độ ônhiễm môi trơờng ngày càng gia tăng, nếu không có biện pháp kịp thời, đúng đắn nhằm ngăn ngừa, giảmthiểu các chất gây ô nhiễm Đối tơợng nghiên cứu trong bài này là ô nhiễm do chất thải lỏng và rắn từ các khudân cơ, công nghiệp tập trung.
Nguồn cung câp nứoc chính cho VKTBB là hệ thống sông hồng và hệ thống Thái bình, riêng hệ thônág sôgnthái bình và các phân lơu nằm trọn vẹn trong vùng kinh tế Hàng năm hệ thống sông thái bình cung cấp chovùng một lơợng nơớc 35 - 45 tỷ m3, trong đó có 3/4 là lơợng nơớc của sông Hồng chuyển sang qua sôngđuống và sôgn Luộc Khu vực Quảng ninh do đặc điểm cấu tạo địa hình đồi núi cao, sát biển, hầu hết các sôngtrong tỉnh có lơu vực nhỏ, độ dốc lớn Tổng lơợng nơớc sông hàng năm không lớn, thơờng cạn kiệt về mùakhô nên nguồn nơớc mặt ở Quảng ninh kém phong phú Nơớc mặt hiện nay ở Quảng ninh chủ yếu là chứatrong các hồ Đồng h, Diễn vọng, Yên lập
Chất lơợng nơớc sông, hồ trong vùng hiện nay đ• bị suy giảm do ảnh hơởng bởi các hoạt động của conngơời trong lĩnh vực kinh tế văn hoá và đơì sống Nguồn nơớc thải sinh hoạt, công, nông nghiệp với các chấtcặn lơ lửng hữu cơ, vô cơ và các thành phần khác từ các hoạt động trên hàng ngày và từ nhiều năm đổ vàonguồn nơớc làm cho một số thuỷ vực nơớc bị ô nhiễm
Hiện nay nguồn nơớc thải trong hoạt động nông nghiệp là rất lớn Cùng với nguồn nơớc thải sinh hoạtcủa số dân sống trong lĩnh vực này có ảnh hơởng mạnh đến chất lơợng nơớc mặt
Thời gian qua ở các địa phơơng cũng nhơ nhiều cơ quan nghiên cứu về chất lơọng môi trơờng nơớc đ•tập trung điều tra, nghiên cứu các thuỷ vực chính, các thành phố, thị x• và các khu công nghiệp tập trung, vìvậy số liệu về chất lơợng nơớc khá phong phú, nhất là số lơợng về tổng lơợng nơớc thải cùng với hàm lơợngcác chất thải của các nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp cùng với tổng lơợng, hàm lơợng các chất trongnơớc thải sinh hoạt của thành phố, khu đô thị, nơi đổ nguồn nơớc thải
Theo số liệu thống kê của các sở KHCNMT thuộc các tỉnh, thành phố trong vùng kinh tế trọng điểm,hiện nay mỗi ngày lơợng nơớc thải sinh hoạt và công nghiệp vào khoảng 520.000 - 640.000 m3, trong đólơợng nơớc thải sinh hoạt cớ 400.000 - 500.000 m3, còn lại là nơớc thải công nghiệp và các bệnh viện (không
kể lơợng nơớc thải do nhà máy nhiệt điện Phả lại với lơợng nơớc thải mỗi ngày khoảng 1,5 - 2,4 triệu m3)
Nơớc thải công nghiệp và sinh hoạt hiện chơa đơợc xử lý mà thải thẳng vào nguồn nơớc mặt của sôngngòi, ao hồ, với hàm lơợng các chất ô nhiễm hữu cơ, COD, BOD và dinh dơỡng, vì vậy gây ô nhiễm cácnguồn nơớc mặt trầm trọng, nhiều sông hồ đ• trở thành nơi chứa nơớc thải, gây ô nhiễm cho môi trơờng xungquanh
Nhận định chung: Hiện nay các nguồn nơớc mặt ao, hồ và hệ thống sông chính trong vùng đ• có hiệntơợng bị ô nhiễm bởi các chất chứa nitơ, NH3, và NO2 kể cả trong nơớc sông hồng, sông Đuống và hệ thốngsông Thái bình Vì vậy, nơớc thải từ các nhà máy, khu công nghiệp avf nơớc thải sinh hoạt cần phải đơợckiểm tra và hạn chế nguồn thải hữu cơ chứa nhiều đạm vì trong quá trình phân huỷ cũng sẽ gây ra các chất ônhiễm trên
Hàm lơợng các kim loại nặng trong nơớc ở hầu hết các sông hiện nay còn khá nhỏ so với giới hạn chophép đối với nơớc mặt loại A, trừ Mn đ• vơợt qú giới hạn cho phép đối với nguồn nơớc loại A (TCVN 5942 -1998) và Fe đ• có nhiều lần quan trắc đơợc với hàm lơợng vơợt quá giới hạn cho phép theo tiêu chuẩn trên (fe
= 1 mg/l)
Nguồn nơớc thải sinh hoạt và công nghiệp từ khu vực thành phố, thị x• có số dân lớn, các nhà máy, khu côngnghiệp tập trung nhơ: Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dơơng đ• làm cho nơớc mặt trong khu vực và vùng lân cận bị ônhiễm nặng, nhất là các sông hồ trong khu vực nội thành (tại đây các thông số môi trơờng có giá trị hàmlơợng cao tơơng đơơng với giới hạn cho phép của nơớc thải A hoặc hơn) Thậm chí, một số ao hồ, sôngmơơng đ• trở thành nơi chứa nơớc thải với hàm lơợng một số chất cao hơn giới hạn cho phép của nơớc thảiloại C (nơớc thải phải đổ vào nơi đơợc quy định)
Nơớc trong các sông chính đóng vai trò cấp nuớc cho toàn vùng nhơ: sông Hồng, sông Thái Bình,sông Kinh Thầy đ• bị ô nhiễm về: dầu, NH3, vi sinh, ở vùng cuối thuỷ vực sông Thái Bình và sông Kinh Thầyhàm lơợng NO2 cũng đ• cao hơn giới hạn cho phép của mặt nơớc dùng cho các cơ sở cấp nơớc trơớc khi xử
lý (nơớc mặt loại A-TCVN 5942-1995)
Nơớc biển ven bờ trong vùng đ• bị ô nhiễm về: độ đục, hàm lơợng dầu, NH3, kim loại (Cu, Fe, Zn)
Đối với một số kim loại nhơ: Mn, Fe, chát dinh dơỡng NH3, Ho2, hàm lơợng của chúng trong nơớchiện đ• xấp xỉ hoặc vơợt quá dơới hạn cho phép của tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN, 5942-1995) đối với nơớc
Trang 14mặt loại A-Nơớc mặt dùng cho các cơ sở cấp nơớc trơớc khi xử lý Vì vậy việc đổ thêm một số lơợng nhỏchất thải cũng đủ làm cho nơớc bị ô nhiễm nặng hơn Nên hạ thấp giá trị giới hạn cho phép đối với nơớc thải
có chứa các thông số này Với một số sông vừa đóng vai trò cấp nơớc: nhơ sông Nhuệ-ở Hà Nội sông Sặt-ởHải Dơơng, sông Lạch Tray-ở Hải Phòng, nên hạ thấp giới hạn cả về hàm lơợng các chất hữu cơ, Fe, Mn, dầu
và coliform
Khả năng chịu tải của sông và tổng lơợng thải tối đa của nguồn nơớc thải có chứa các kim loại (trừMn) có giá trị rất lớn, nhơng trong thực tế đổ thải cần lơu ý đến khả năng tải ô nhiễm của sông ra biển
Hệ thống giao thông vận tải
Đến năm 1999 Việt Nam đ• hình thành một hệ thống giao thông vận tải tơơng đối hoàn chỉnh, đáp ứngđơợc nhu cầu vận tải trong nơớc và thông thơơng quốc tế Đặc điểm địa lý nơớc ta có bờ biển dài suốt biêngiới phía đông, có mạng lơới sông kênh dầy đặc và có hai vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam bộ
là nơi thuận tiện cho sự phát triển kinh tế nằm ở phía Bắc và phía Nam Do đó hệ thống giao thông đơờng bộ,đơờng sắt, đơờng thuỷ và đơờng không ở nơớc ta có điều kiện để phát triển Hiện trạng cơ sở hạ tầng giaothông gồm có: 150.000 km đơờng bộ (bao gồm cả đơờng quốc lộ, tỉnh lộ và đơờng nội đô), 3106 km đơờngsắt (gồm các tuyến chính và đơờng nhánh), 19500 km đơờng sông cho tàu bè đi lại (trong đó 6250 km có sựquản lý, duy tu, bảo dơỡng), có 60 cảng biển (7 cảng lớn), khoảng 90 cảng sông và 15 sân bay (3 sân bay quốctế) Hệ thống GTVT của Việt Nam đang trong thời gian đơợc chú trọng đầu tơ cải tạo, nâng cấp, mở rộng đểđáp ứng đơợc tốc độ tăng trơởng kinh tế chung của đất nơớc
Cùng với sự phát triển của hệ thống giao thông là sự tăng trơởng của các loại phơơng tiện giao thông
để đáp ứng nhu cầu đi lại, du lịch của hành khách và vận chuyển hàng hoá thông thơơng trong nơớc và quốc
tế Tốc độ tăng trung bình của phơơng tiện đơờng bộ trong khoảng những năm đầu thập niên 90 vào khoảng6-8%, vào khoảng những năm cuối thập niên tốc độ tăng trơởng lên tới 15% Theo thống kê chơa đầy đủ, tínhđến 1999 Việt Nam có hơn 478.000 ôtô các loại, 5,4 triệu xe máy; 377 đầu máy, 5372 toa xe; 800 tàu biển vớitổng dung tích 1,2 triệu DWT (trong đó có 200 tàu tham gia vào hành trình quốc tế), trên 35000 tàu sông cácloại Đa số phơơng tiện đơợc chế tạo từ những năm 1960-1980, đ• qua sử dụng nhiều năm, có tình trạng kỹthuật thấp, suất hao nhiên liệu và độ độc trong khí xả cao Trong những năm gần đây, đối với các loại phơơngtiện nhập mới, yêu cầu về chất lơợng kỹ thuật cao, suất hao nhiên liệu nhỏ, bảo đảm tính an toàn khai thác đ• đơợc quan tâm Đặc biệt các phơơng tiện bay dùng trong các tuyến bay quốc tế đ• theo kịp với các h•nghàng không trong khu vực
L•nh thổ Việt Nam bao gồm 8 vùng kinh tế sau: Vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Đông Bắc, vùngTây Bắc, vùng Bắc Trung bộ, vùng duyên hải Nam trung bộ, vùng Tây Nguyên, vùng Đông Nam bộ và vùngĐồng bằng sông Cửu Long Trên các bản đồ phản ánh hiện trạng giao thông vận tải Việt Nam các số liệu vềgiao thông vận tải trên từng vùng kinh tế đơợc thể hiện bao gồm: tên gọi và vị trí của các tuyến đơờng bộchính, đơờng sắt chính, các cảng biển và các sân bay chính Số lơợng phơơng tiện vận tải đơờng bộ (ô tôkhách và ô tô tải) và số lơợng phơơng tiện vận tải thuỷ (tàu chở khách và tàu chở hàng) - các số liệu này đơợccho theo từng năm 1996, 1997 và 1998, theo từng tỉnh và trên mỗi vùng kinh tế
Bên cạnh các bản đồ hiện trạng giao thông vùng còn có các số liệu phụ trợ nếu ngơời dùng cơ sở dữliệu này cần biết các thông tin tỉ mỉ hơn Số liệu phụ trợ bao gồm:
•Các đồ thị phản ánh số lơợng xe máy theo dung tích xi lanh của từng vùng, cho biết số xe máy củatừng tỉnh trong vùng
•Các bảng biểu cho biết số lơợng xe máy năm 1995 và 1996 của từng tỉnh chia theo dung tích
•Các bảng cho biết về số lơợng xe tải, xe khách, tàu chuyên chở hàng và tàu thuyền chở khách trongcác năm 1996, 1997, 1998 theo từng tỉnh của các vùng kinh tế
Trong thời gian gần đây, nhiều dự án nâng cấp và mở rộng các cơ sở hạ tầng GTVT đ• đơợc tiến hành(nâng cấp và cải tạo các quốc lộ NH1, NH5, NH18A, đơờng Hồ Chí Minh - Mộc Bài, Hồ Chí Minh - VũngTàu/ NH51, NH7 ; nâng cấp và mở rộng các cảng chính nhơ Hải Phòng, Cái Lân, Vũng áng, Dung Quất,Thị Vải, Cần Thơ ; nâng cấp và mở rộng các sân bay quốc tế sẽ gây nên một số tác động bất lợi tới môitrơờng nhơ: chiếm dụng vĩnh viễn một diện tích đất mà trơớc kia là đất nông nghiệp (đất trồng lúa, rau màu,cây ăn quả, đất trồng cỏ dùng cho chăn nuôi, đất có ao hồ/ nơớc mặt dùng cho tơới tiêu ), đất lâm nghiệp (đất
Trang 15có rừng tự nhiên và rừng nhân tạo), đất ngập mặn, đất định cơ của nhân dân và đất hoang Từ năm 1994 đếnnăm 2000 tổng diện tích đất giành cho giao thông tăng thêm khoảng 4.100 ha, số hộ gia đình buộc phải dichuyển để giành đất cho các dự án giao thông lên tới hơn 30.100 hộ và một số đền chùa và mộ phần cũngbuộc phải di chuyển Tuy nhiên tỉ lệ quỹ đất dành cho giao thông ở Việt Nam hiện nay vẫn chỉ bằng 1/3 so vớicác nơớc đ• phát triển.
Khi vận hành các phơơng tiện giao thông, tất cả các chất có trong khí thải của phơơng tiện giao thôngnhơ cacbonmonoxit (CO), nitơoxit (NO2), sunfua oxit (SO2), hydrocacbon (CH), bụi chì (Pb) và các hạt rắn
lơ lửng (TSP) là các chất chủ yếu gây ô nhiễm không khí và gây ảnh hơởng không tốt tới sức khoẻ của conngơời Khối lơợng các chất ô nhiễm do GTVT thải ra có thể ơớc tính tỉ lệ thuận với khối lơợng nhiên liệu màphơơng tiện vận tải tiêu thụ, có nghĩa là nơi nào có độ tập trung phơơng tiện càng cao và chất lơợng phơơngtiện càng xấu sẽ là nơi có nguồn phát thải ô nhiễm càng lớn Có thể nhận thấy rằng phơơng tiện vận tải đơờng
bộ đơợc tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn, Hà Nội và đặc biệt là TP Hồ Chí Minh là nơi có lơợng ôtô, xemáy nhiều nhất nơớc ta (1996, Hà Nội chiếm 9,05% số xe tải, 5,33% số xe khách, 13,83% số xe máy và TP
Hồ Chí Minh chiếm 19,11% số xe tải, 22,78% số xe khách, 28,7% số xe máy Đến năm 1998 Hà Nội chiếm11,04% số xe tải, 5,68% số xe khách và TP Hồ Chí Minh chiếm 18,75% số xe tải, 25,02% số xe khách của cảnơớc) Vận tải đơờng sông đặc biệt đơợc phát triển tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, riêng vùng này chiếm70,3% số tàu chở hàng và 74,13% số tàu chở khách của cả nơớc Hai tỉnh có số lơợng phơơng tiện vận tảithuỷ lớn nhất là Cần Thơ và Vĩnh Long, số tàu thuyền chở hàng và chở khách của hai tỉnh này lần lơợt là11,66%, 12% và 12,77%, 10,32% của cả nơớc Tình trạng ô nhiễm không khí tại các trục đơờng giao thôngchính tại các thành phố lớn đ• đạt gần tới các trị số mà tiêu chuẩn Việt Nam cho phép (TCVN 5937-1995),riêng nồng độ bụi tại ven các trục đơờng giao thông đều vơợt gấp 2-6 lần trị số cho phép Ngoài ô nhiễmkhông khí giao thông đơờng bộ còn gây tiếng ồn lớn Theo các kết quả đo mức ồn đơợc tiến hành trong nhữngnăm gần đây cho thấy mức ồn tại ven các đơờng quốc lộ, đơờng liên tỉnh đi qua thành phố, thị x• cũng nhơcác đơờng nội đô đều đ• vơợt qua 70 dBA/ mức mà tiêu chuẩn cho phép (TCVN 5949-1998) Đặc biệt, mức
ồn ở các thành phố lớn đều có chiều hơớng gia tăng Mức ồn cao nhất của các đơờng phố chính ở Hà Nội, HảiPhòng, Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh đều cao hơn 90 dBA Khác với giao thông đơờng bộ, ô nhiễm nơớc tạicác dòng sông do phơơng tiện thuỷ gây ra là đáng đơợc quan tâm Hiện tại nồng độ dầu tại các bến cảng đ• ởmức xấp xỉ giá trị cho phép (TCVN 1942-1995 và TCVN 5943-1995), ngoài ra luôn có mối đe doạ về các vụđâm va tàu thuyền sẽ dẫn đến sự cố tràn dầu làm ô nhiễm nặng nề vùng nơớc có xảy ra tai nạn Giao thôngđơờng sắt và đơờng không gây ra tiếng ồn lớn làm ảnh hơởng đến dân cơ sống gần đơờng sắt và gần sân bay
Độ ồn lớn nhất do ở vị trí cách đơờng sắt 100 m khi có đoàn tàu chạy qua là 85 dBA, và khi đoàn tàu vào lúc
có máy bay cất cánh và hạ cánh lên tới 100-110 dBA
Rõ ràng là ảnh hơởng tới môi trơờng của GTVT ngoài sự tiêu thụ năng lơợng có liên quan đến ônhiễm không khí do khí thải, ô nhiễm tiếng ồn, ô nhiễm nơớc bởi dầu mỡ còn có các ảnh hơởng tới mặt bằng
sử dụng đất, ảnh hơởng đến những ngơời dân tái định cơ hoặc đang sống gần đơờng giao thông, đơờng sắt,bến cảng Các ảnh hơởng đó gây tác động xấu tới sức khoẻ con ngơời, đến hệ sinh thái tự nhiên và chất lơợngsống Quản lý đúng đắn về mặt môi trơờng của ngành GTVT là một điều kiện tiên quyết để phát triển lâu bền.Nguồn dữ liệu:
về dân số so với cả nơớc, đứng thứ 51 về diện tích và thứ 11 về dân số trong số 61 tỉnh, thành phố
Hải Dơơng là 1 bộ phận l•nh thổ năm trong địa bàn kinh tế trọng điểm phía bắc Hà Nội, Hải Phòng,Quảng Ninh, có các tuyến đơờng bộ, đơờng sắt quan trọng của quốc gia chạy qua nhơ các quốc lộ 5,18,183,37
Trang 16Hải Dơơng là trung điểm giữa thủ đô Hà Nội và cảng Hải Phòng theo trục quốc lộ 5 cách Hải Phòng 45 km vềphía đông cách Hà Nội 57 km về phía tây, Phía Bắc của tỉnh có hơn 20 km quốc lộ 18 chạy qua, nối sân bayNội Bài với biển qua cảng Cái Lân Quốc lộ 18 tạo điều kiện giao lơu hàng hoá từ nội địa vùng Bắc Bộ và từtam giác tăng trơởng kinh tế phía bắc ra biển, giao lơu với các nơớc trong khu vực và thế giới, đồng thời tạo
cơ sở hạ tầng cho việc phát triển hành lang công nghiệp
Đó là những điều kiện thuận lợi về vị trí địa lý để phát triển nhanh nền kinh tế - x• hội của tỉnh
2.Địa hình
Địa hình Hải Dơơng đơợc chia làm 2 phần rõ rệt: phần đồi núi thấp có diện tích 140 km2 (chiếm 9%diện tích tự nhiên) thuộc 2 huện Chí Linh (13x•) và Kim Môn (10x•) Độ cao trung bìng dơới 1000m Đây làkhu vực địa hình đơợc hình thành trên miền núi tái sinh có nền địa chất trầm tích trung sinh Trong vận độngtân kiến tạo vùng này đơợc nâng lên với cơờng độ từ trung bình đến yếu Hơớng núi chính chạy theo hơớngtây bắc - đông nam Tại địa phận bắc huyện Chí Linh có d•y núi Huyền Đính với đỉnh cao nhất là dây diều
618 m, ngoài ra còn có đèo chê 533 m, núi đai 508 m ở huyện Kinh Môn có d•y Yên Phụ chạy dài 14 km gầnnhơ song song với quốc lộ 5, với đỉnh cao nhất là Yên Phụ 246 m Vùng Côn Sơn – Kiếp Bạc tuy địa hìnhkhông cao nhơng nổi lên 1 số đỉnh nhơ Côn Sơn gần 200 m, Ngũ Lạc 238 m
Vùng đồi núi thấp phù hợp với việc trồng cây công nghiệp, cây ăn quả và phát triển du lịch
Vùng đồng bằng có diện tích 1521,2 km2 chiếm 91% diện tích tự nhiên Vùng này đơợc hình thành doquá trình bồi đắp phù sa, chủ yếu của sông Thái Bình và sông Hồng Độ cao trung bình 3-4 m, đất đai bằngphẳng màu mỡ, thích hợp với việc trồng lúa, cây thực phẩm, cây công nghiệp ngắn ngày Địa hình nghiêng vàthấp dần từ tây bắc xuống đông nam Phía đông của tỉnh có 1 số vùng trũng xen lẫn vùng đất cao, thơờng bịảnh hơởng của thuỷ triều và úng ngập vào mùa mơa
Hải Phòng
1.Vị trí l•nh thổ
Hải Phòng nằm trong khoảng từ 200 01’ đến 210 01’ vĩ độ Bắc, và từ 1060 29’ đến 1070 05’ kinh độđông; phía Bắc giáp Quảng Ninh, Phía tây giáp Hải Dơơng, phía nam giáp Thái Bình và phía đông giáp VịnhBắc Bộ với đơờng bờ biển dài 125 km Diện tích tự nhiên toàn thành phố là 1507,6 km2, dân số (tính đến 1-4-1999) là 1673 nghìn ngơời, đứng thứ 53 về diện tích và thứ 12 về dân số trong số 61 tỉnh, thành phố ở nơớcta
Trong số 4 thành phố trực thuộc Trung ơơng, Hải phòng đứng thứ 2 về diện tích ( sau thành phố HồChí Minh) và thứ 3 về số dân ( sau thành phố Hồ chí minh và Hà Nội)
Hải Phòng nằm trọn trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, là một trong ba đỉnh của tam giác tăng trơởngkinh tế ( hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh), với cảng biển cùng tên là cửa ngõ ra biển chủ yếu của vùng đồngbằng sông Hồng nói riêng và cả Bắc Bộ nói chung, đầu mối phía đông của các quốc lộ 5, 10 và tuyến đơờngsắt Hà Nội - Hải Phòng Vị trí này tạo điều kiện thuận lới cho việc phát triển kinh tế - x• hội của thành phố,
mà trơớc hết là giao lơu gi•ơ các vùng trong nơớc, với các nơớc trong khu vực và trên thế giới
Dựa vào các chỉ tiêu về độ cao, độc dốc và mật độ chia cắt, có thể chia thành các kiểu hình thái sauđây:
- Đồi và núi thấp bị chia cắt mạnh:
Trang 17Địa hình đồi bị chia cắt chiếm khoảng 5 % diện tích tự nhiên của thành phố, tập trung chủ yếu ở phíabắc huyện Thuỷ Nguyên, quận Kiến An và thị x• Đồ Sơn Các đồi có dạng dải với độ cao phần lớn trongkhoảng 40-100 m, kéo dài theo hơớng tây bắc - đông nam.
Địa hình núi thấp cũng bị chia cắt rất mạnh, tập trung ở quần đảo Cát Bà, Long Châu và phía bắchuyện Thuỷ Nguyên Hầu hết các đỉnh có độ cao từ 100m đến 250m (cao nhất 331m ở phần tây đảo Cát Bà).Đặc điểm nổi bật nhất là đỉnh sắc nhọn, sơờn dạng răng cơa dốc đứng, lởm chởm tai mèo và có nhiều hangđộng tiêu biểu cho địa hình cacxtơ nhiệt đới ở vùng Đông Bắc nơớc ta
- Đồng bằng tơơng đối bằng phẳng:
Địa hình đồng bằng chiếm phần lớn diện tíhc thành phố với độ cao trung bình 0,8 – 1,2 m Tuy nhiên,
ở mỗi nơi lại có những nét khác biệt ở Thuỷ Nguyên phần phía tây đồng bằng có độ cao 1,0 – 1,2m trong khi
đó ở phía đông bị hạ thấp chỉ còn 0,5 – 1,0m, còn ở Kiến Thuỵ là 1,0 – 1,2m
Hà Nội và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ
2 Địa hình
Hà Nam nằm trong vùng trũng của Đồng bằng sông Hồng, tiếp giáp với dải đá trầm tích ở phía tây Địahình đa dạng vừa có đồng bằng, vừa có vùng bán sơn địa, vừa có vùng trũng Ngay trong 1 khu vực cũng có
độ chênh lệch về độ cao Địa hình Hà Nam có 2 vùng khá rõ:
-Vùng đồi núi phía tây có nhiều tài nguyên khoáng sản, dặc biệt là đá vôi điều kiện để phát triển congnghiệp vật liệu xây dựng, đặc biệt là sản xuất xi măng có tiềm năng lớn để phát triển du lịch
-Vùng đồng bằng đất đai màu mỡ với các b•i bồi ven sông Hồng, sông Châu là điều kiện để phát triểnnông nghiệp hàng hoá, đi theo đó là phát riển công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm
Hà Nam có điều kiện để phát triển nền kinh tế đa dạng, với hơớng kết hợp kinh tế của vùng đồng bằngvới kinh tế của vùng đồi núi Tuy nhiên địa hình cũng gây không ít khó khăn trong đó phải kể đến tình trạngngập úng cho 1 số diện tích của tỉnh khi lơợng mơa đến (150 mm/ngày)
Vùng đồng bằng sông Hồng
Trang 18Về môi trơờng tự nhiên, vùng Đồng bằng sông Hồng là một vùng đồng bằng châu thổ tam giác đơợcbồi đắp, hình thành bởi phù sa của hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình, đất đai màu mỡ; mạnglơới sông, kênh mơơng thuỷ lợi rất dày Đây là một vùng có nền văn minh lúa nơớc phát triển khá sớm, nôngnghiệp phát triển Địa hình vùng đồng bằng sông Hồng khá bằng phẳng, có triền dốc thấp dần từ Tây - Bắcxuống Đông - Nam Tuy nhiên trong vùng Đồng bằng sông Hồng cũng có những vùng trũng nhơ ô trũng Hà -Nam - Ninh và khu Cháy thuộc tỉnh Hà Tây Trong những mùa mơa lũ thì nhân dân các vùng trũng này gặpkhá nhiều khó khăn trong sản xuất và đời sống ở rìa phía Tây Bắc, phía Tây Nam, thuộc tỉnh Hà Tây là vùngđồi, núi thấp và trên địa phận tỉnh Ninh Bình là vùng đá vôi Diện tích rừng trên những vùng núi này cũng đ•
bị khai thác kiệt, chỉ còn lại những cánh rừng diện tích nhỏ, phân bố rời rạc Trong vùng có các vơờn quốc giaquan trọng là vơờn Quốc gia Ba Vì và vơờn Quốc gia Cúc Phơơng là những trung tâm nghiên cứu và bảo tồnthiên nhiên, bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên và tính đa dạng sinh học của l•nh thổ
Vùng Đồng bằng sông Hồng là một vùng dân cơ đông đúc, nền kinh tế phát triển với quy mô ngàycàng lớn, các xí nghiệp công nghiệp đơợc xây dựng ngày càng nhiều; mật độ dân số trung bình đạt tới 1124ng/km2, tốc độ đô thị hoá rất cao, nhất là trong 10 năm gần đây cũng làm phát sinh nhiều vấn đề môi trơờng,cần đơợc quan tâm giải quyết tích cực Ví dụ, vấn đề xử lý chất thải đô thị (chất thải sinh hoạt, chất thải bệnhviện, rác thải), xử lý ô nhiễm môi trơờng đất và môi trơờng nơớc từ các nghĩa trang, xử lý chất thải côngnghiệp (Chất thải từ các xí nghiệp, nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng, chất thải từ các nhà máy chế biến thựcphẩm, chất thải từ các nhà máy dệt, nhuộm, sản xuất đồ da, cao su, sản xuất giấy , nhất là chất thải (khí thải,nơớc thải và chất thải rắn) từ các nhà máy hoá chất Đối với các vùng nông thôn thì việc sử dụng các loạithuốc bảo vệ thực vật, phân bón hoá học và các hoá chất bảo quản sản phẩm nông nghiệp sau thu hoạch cũng
là những nguồn ô nhiễm môi trơờng không nhỏ mà việc xử lý cũng rất phức tạp
Đối với môi trơờng x• hội, vùng Đồng bằng sông Hồng cũng là vùng có những vấn đề lớn, đòi hỏinhững biện pháp xử lý tổng hợp, toàn diện và phối hợp chặt chẽ từ trung ơơng đến địa phơơng, dơới nhiềuhình thức linh hoạt, đa dạng Ví dụ, những biện pháp tổng hợp để xoá bỏ các tệ nạn x• hội, các bệnh x• hội,những biện pháp giải quyết việc làm và hàng loạt những vấn đề về y tế, giáo dục và văn hoá
Những vấn đề môi trơờng này sẽ lần lơợt đơợc trình bày trong các bản đồ chuyên đề của Atlas
Vùng Đông Bắc
Vùng Đông Bắc gồm 13 tỉnh:
1 Hà Giang, 7 Yên Bái,
2 Cao Bằng, 8 Thái Nguyên,
Trang 19Về đặc điểm môi trơờng tự nhiên của vùng kinh tế Đông Bắc có thể nêu một số nét chính nhơ sau:Đông Bắc là một vùng núi có cấu trúc sơn văn dạng cánh cung, với các d•y chủ yếu nhơ: cánh cung SôngGâm, cánh cung Ngân Sơn, cánh cung Bắc Sơn, cánh cung Đông Triều, cánh cung Yên Tử Hai d•y núi chạydài theo hơớng Tây Bắc xuống Đông Nam là d•y núi Con Voi và d•y Tam Đảo, song song với thung lũngSông Hồng Rìa phía Nam là một vùng đồi - vùng trung du Bắc Bộ - đới chuyển tiếp giữa vùng núi xuốngvùng đồng bằng sông Hồng Đất của vùng Đông Bắc chủ yếu là feralit Thảm phủ thực vật bị khai thác tànphá nghiêm trọng Trong những năm gần đây mới đơợc chú ý bảo vệ và phục hồi Do thảm thực vật rừng bịtàn phá, hiện tơợng xói mòn đất diễn ra mạnh mẽ Tính đa dạng sinh học cũng do đó giảm sút nghiêm trọng.Nhiều loài động vật quý hiếm không cơ trú trong vùng này Để khắc phục tình trạng môi trơờng tự nhiên bịsuy thoái nói trên, nhiều khu bảo tồn, khu dự trữ thiên nhiên và các vơờn quốc gia đ• đơợc thành lập và hoạtđộng đạt kết quả tốt Trong số đó có các vơờn quốc gia Tam Đảo, vơờn quốc gia Ba Bể
Đặc điểm môi trơờng x• hội của vùng Đông Bắc, có thể tóm tắt một số nét chủ yếu sau: Vùng ĐôngBắc là một vùng kinh tế phát triển còn có nhiều khó khăn, song trong quá trình phát triển, tiến tới công nghiệphoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân, những hiện tơợng ô nhiễm môi trơờng, suy thoái môi trơờng cũng đặt
ra nhiều vấn đề cấp bách, đòi hỏi những biện pháp giải quyết đồng bộ, khoa học
Tuy chơa đạt đến mức độ tập trung cao, công nghiệp vùng Đông Bắc đang phát triển với tốc độ đáng
kể Trong vùng có những trung tâm công nghiệp nhơ khu gang thép Thái Nguyên, cụm công nghiệp SôngCông, cụm công nghiệp Việt Trì, và rất nhiều xí nghiệp, nhà máy, vùng khai thác khoáng sản lớn nhơ: Công
ty giấy B•i Bằng, nhà máy phosphat Lâm Thao, vùng mỏ Quảng Ninh, mỏ thiếc Tĩnh Túc (Cao Bằng), vànhiều điểm khai thác vàng, khai thác đá quý v.v rải rác ở nhiều nơi thuộc các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn,Cao Bằng, Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ mà chất thải của chúng ảnh hơởng không nhỏ đến môi trơờng.Mặt khác, vùng Đông Bắc là địa bàn cơ trú của đồng bào các dân tộc ít ngơời, tập quán du canh, du cơ vẫncòn tồn tại, làm tổn hại đến diện tích rừng, tăng cơờng quá trình xói mòn, thoái hoá đất Tại các cửa khẩu nhơLạng Sơn, Móng Cái (Quảng Ninh), Lào Cai tình trạng buôn lậu qua biên giới, và các tệ nạn x• hội diễn rakhá phức tạp
Sự nghiệp phát triển văn hoá, giáo dục, y tế trong những năm gần đây đ• đạt đơợc những thành tíchđáng kể Song cũng chơa đáp ứng kịp nhu cầu ngày càng lớn của quá trình phát triển Nhiều x• vùng núi vẫnchơa có đơờng ô tô, chơa có điện thoại đến, thậm chí chơa có điện thắp sáng nhơ một số x• vùng cao củacác tỉnh Hà Giang, Bắc Kạn, Lào Cai,
Những đặc điểm nói trên về môi trơờng vùng Đông Bắc đặt ra cho Nhà nơớc và các cơ quan quản lý môitrơờng và tài nguyên những nhiệm vụ nặng nề, cấp bách trên tất cả các mặt hoạt động nhằm mục tiêu pháttriển bền vững, môi trơờng trong sạch, lành mạnh
ba tỉnh: Lai Châu, Sơn La và Lào Cai Ngoài ra, các đỉnh Pu Luông, Tả Lèng, Pu Sam Sao, Pu Đen Đinh cũng là những đỉnh cao nổi tiếng của nơớc ta
Địa hình vùng Tây Bắc chia cắt mạnh mẽ cả theo chiều ngang và chiều sâu, rất khó khăn cho xây dựng
và phát triển giao thông vận tải Một hệ thống cao nguyên carste (đá vôi) chạy dài từ Phong Thổ (thơợngnguồn sông Nậm Na - cao nguyên Tả Phìn) qua Tủa Chùa - cao nguyên Sín Chải, Thuận Châu, đến Mộc Châutới tận Ninh Bình Điều kiện tự nhiên và môi trơờng vùng Tây Bắc phân dị khá phức tạp Đất đai của vùngTây Bắc cũng biến động rất mạnh mẽ dơới tác động của quá trình sản xuất, khai thác tài nguyên thiên nhiêncủa con ngơời Đây là một vùng núi có đất feralit có mùn trên núi, phát triển trên các loại đá mẹ khác nhauchiếm ơu thế Thảm thực vật rừng của vùng Tây Bắc cũng trong tình trạng chung của vùng núi Việt Nam, bị
Trang 20khai thác kiệt Diện tích rừng ngày càng thu hẹp, tài nguyên rừng (động vật và thực vật) chỉ còn lại ở mức tốithiểu, việc phục hồi và bảo vệ rất khó khăn Đa dạng sinh học của l•nh thổ cũng do đó bị giảm sút đến mứcđáng lo ngại Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến những thiên tai trầm trọng nhơ lũ ống, lũ quét, trơợt lở núi.Điển hình mới nhất là vào năm 2000 vụ lũ ống diễn ra ở huyện Sìn Hồ tỉnh Lai Châu gây thiệt hại về ngơời vàtài sản của nhân dân thật là lớn lao: chết hơn 40 ngơời, làm đổ và hơ hỏng nặng hầu hết nhà cửa, mùa màng.Tần suất của các hiện tơợng thiên tai trầm trọng nhơ thế ngày càng lớn.
Môi trơờng x• hội của vùng Tây Bắc cũng tơơng tự nhơ ở vùng Đông Bắc - nơi cơ trú của đồng bàocác dân tộc ít ngơời Điều đáng chú ý cũng là trình độ dân trí chơa cao, trình độ phát triển của cơ sở hạ tầngrất thấp Nền kinh tế công nghiệp chơa phát triển, do đó những vấn đề về ô nhiễm chơa trầm trọng nhơ ở cácvùng khác Tuy nhiên, việc xây dựng các công trình công nghiệp lớn nhơ công trình thuỷ điện Hoà Bình, vàcông trình thuỷ điện Sơn La trong tơơng lai cũng làm phát sinh những vấn đề môi trơờng đáng quan tâm Ví
dụ vấn đề di dân tái định cơ,
Những vấn đề môi trơờng tự nhiên của vùng Bắc Trung Bộ vừa có những đặc điểm của các vùng núi,thể hiện ở phần l•nh thổ phía Tây của vùng - bộ phần phía Bắc của d•y Trơờng Sơn, vừa có những đặc điểmcủa vùng đồng bằng - thể hiện ở phần phía Đông của vùng - vùng đồng bằng ven biển Bắc Trung Bộ Nhữnghiện tơợng thiên tai, xảy ra ở vùng Bắc Trung Bộ đa dạng và khá phức tạp Bởi lẽ, đây là một vùng l•nh thổrất hẹp, núi chạy song song và ra sát biển, có những nhánh đâm ra tận bờ biển và tiếp tục kéo dài ở địa hìnhđáy biển ven bờ Đặc điểm này của địa hình vùng Bắc Trung Bộ ảnh hơởng trực tiếp đến chế độ khí hậu vàthuỷ văn của vùng Về mùa mơa b•o, những trận mơa lớn do b•o mang đến thơờng gây ra những trận lũ vớicơờng độ lớn, có sức tàn phá khốc liệt, gây thiệt hại lớn về mùa màng, tài sản và tính mạng của nhân dântrong vùng Tiếp sau những trận lũ lụt đó, là những hậu quả trầm trọng về môi trơờng, vệ sinh môi trơờng, màNhà nơớc và nhân dân trong vùng phải giải quyết khá lâu dài
Về kinh tế - x• hội, vùng Bắc Trung Bộ có trình độ phát triển khá cao Cơ sở hạ tầng phát triển tơơngđối tốt Trong vùng có những thành phố lớn nhơ Thanh Hoá, Vinh, Đồng Hới, Đông Hà và Huế có nền kinh tếkhá phát triển là tụ điểm và là đòn bảy cho quá trình xây dựng và phát triển kinh tế của toàn vùng Song, tạinhững thành phố này, những vấn đề môi trơờng đô thị cũng là những vấn đề cần đơợc hết sức quan tâm và cónhững biện pháp tích cực để hạn chế những mặt tiêu cực; mặc dù quy mô và mức độ trầm trọng của nhữngvấn đề môi trơờng đô thị trong vùng còn ở mức độ chơa cao lắm Nhất là những vấn đề ô nhiễm môi trơờng
do chất thải công nghiệp
Nguồn dữ liệu:
- Cục Môi trơờng
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ gồm có 6 tỉnh và thành phố:
1 TP Đà Nẵng 2 Quảng Nam 3 Quảng Ng•i
4 Bình Định 5 Phú Yên 6 Khánh Hòa
Trang 21Tổng diện tích tự nhiên 6 014,2 km2; tổng dân số 6.571.499 ngơời (1/4/1999).
Đặc điểm tự nhiên của vùng này có một số điểm tơơng tự đặc điểm môi trơờng tự nhiên vùng đồngbằng ven biển Bắc Trung Bộ Đây là vùng đồng bằng ven biển mở rộng hơn, địa hình có hơớng dốc từ Tâysang Đông, chịu ảnh hơởng mạnh mẽ của tơơng tác biển - lục địa
Đặc điểm chủ yếu về môi trơờng tự nhiên của vùng Duyên hải Nam Trung Bộ là ở vùng này khôngcòn mùa đông Trong vùng, không có tháng nào có nhiệt độ không khí trung bình nhỏ hơn 20oC Những loàicây nhiệt đới phát triển mạnh, nhơ dừa ở Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà và các loài cây ăn quả nhiệt đớikhác Đất đai khá phì nhiêu do phù sa các sông lớn nhơ sông Thu Bồn, Trà Khúc, Bồng Sơn bồi đắp Trongvùng cũng có những nơi có đất đỏ phát triển trên đá bazalt, nhơ các đồi từ Sông Cầu đến Tuy Hoà
Đặc điểm môi trơờng x• hội của vùng duyên hải Nam Trung Bộ tơơng tự nhơ những đặc điểm của môitrơờng x• hội vùng Bắc Trung Bộ Trong vùng này, chỉ có các thành phố Đà Nẵng và Nha Trang là nhữngthành phố lớn, các hoạt động kinh tế, phát triển công nghiệp ở quy mô khá lớn, còn các nơi khác, trình độ pháttriển còn nhiều hạn chế, cơ sở hạ tầng phát triển ở trình độ trung bình Tuy nhiên chúng có chức năng củanhững tụ điểm và là những điểm tựa cho sự phát triển kinh tế vùng Do đó cũng cần quan tâm thích đáng đếnviệc quản lý và xử lý tốt các vấn đề môi trơờng đô thị và công nghiệp, tránh những tổn thất môi trơờng trầmtrọng trong tơơng lai
Nguồn dữ liệu:
- Cục Môi trơờng
Vùng Tây Nguyên
Vùng Tây Nguyên gồm 3 tỉnh:
1 Gia Lai, 2 Kontum, 3 Đăk Lăk
Tổng diện tích là 2710,0 km2 Tổng số dân là 3.072.891 ngơời (1/4/1999)
Vùng Tây Nguyên là một hệ thống các cao nguyên và núi cao trung bình từ 900m trở lên Đây là địabàn cơ trú của đồng bào các dân tộc Stiêng, K’Ho, Ê Đê, Mơ Nông,
Đặc điểm môi trơờng tự nhiên của vùng cao nguyên và núi này là: Front lạnh từ phơơng Bắc hầu nhơkhông có ảnh hơởng đến vùng này Các đặc điểm khí hậu của vùng núi thể hiện khá rõ nét Đất đai của vùngTây Nguyên rất đa dạng vì chúng phát triển trên rất nhiều loại đá mẹ khác nhau nhơ Bazalt, Rhiolite, đá phiến,
sa thạch, trong đó phát triển trên đất Bazalt khá phổ biến, là loại đất màu mỡ, thuận lợi cho việc phát triểntrồng các loại cây công nghiệp và cây ăn quả lâu năm nhơ cao su, cà phê, chè, bơ v.v
Đặc điểm môi trơờng x• hội của vùng Tây Nguyên rất khác biệt với các vùng đồng bằng ven biển vàcác vùng đồng bằng châu thổ các sông Cơ sở hạ tầng phát triển còn hạn chế Công nghiệp còn rất kém pháttriển, trong vùng còn chơa có các cơ sở sản xuất công nghiệp qui mô lớn Quá trình đô thị hoá diễn ra tơơngđối nhanh, song vẫn chơa có những thành phố quy mô lớn Do đó những vấn đề môi trơờng x• hội và môitrơờng đô thị chơa ở mức trầm trọng Tuy nhiên cũng nhơ ở các vùng núi khác, tập quán du canh, du cơ, phárừng làm nơơng r•y sản xuất nông nghiệp đ• và đang làm tổn hại đến môi trơờng tự nhiên và suy thoái tàinguyên thiên nhiên Đất bị xói mòn ngày càng nghiêm trọng, diện tích rừng ngày càng nghèo kiệt đi Đối vớivùng Tây Nguyên cũng nhơ các vùng núi khác, cần quan tâm nhiều đến phát triển văn hoá, giáo dục, nâng caodân trí, chống mê tín dị đoan; Quan tâm nhiều đến đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng, tăng cơờng giao lơukinh tế giữa các vùng
Vùng Đông Nam Bộ
Vùng Đông Nam Bộ gồm 9 tỉnh và thành phố:
1 TP Hồ Chí Minh 2 Lâm Đồng 3 Ninh Thuận
4 Bình Phơớc 5 Tây Ninh 6 Bình Dơơng
7 Đồng Nai 8 Bình Thuận 9 Bà Rịa - Vũng TàuTổng diện tích tự nhiên là 9.998,0 km2, tổng số dân là 12.735.376 (1/4/1999) ngơời
Tơơng tự nhơ vùng Bắc Trung Bộ, vùng Đông Nam Bộ là một vùng có địa hình rất đa dạng Đồngbằng ven biển mở rộng từ Ninh Thuận, Bình Thuận vào Nam Rộng nhất là địa phận các tỉnh nằm dọc theolơu vực sông Bé, sông Sài Gòn Địa hình núi và đồi gò phân bố ở phía tây bắc và bắc các tỉnh Ninh Thuận,
Trang 22Bình Thuận, Đồng Nai và toàn bộ diện tích tỉnh Lâm Đồng Đất đai vùng Đông Nam Bộ khá tốt, có nhiềuvùng đất xám và đất đỏ bazalt, phù hợp với trồng cây công nghiệp nhơ cao su, cà phê, chè Dải ven biển NinhThuận, Bình Thuận là một vùng khô hạn, quá trình hoang mạc hoá diễn ra khá mạnh mẽ Sản xuất lúa gặpnhiều khó khăn Song, lại phù hợp với sản xuát bông và một số loài cây ăn quả chịu hạn nhơ nho, thanh long Khí hậu vùng Đông Nam Bộ gồm hai kiểu chủ yếu là: (a) nhiệt đới gió mùa, mơa mùa hạ - bao gồm địa phậntỉnh Lâm Đồng và vùng núi của tỉnh Đồng Nai, Bình Thuận, Ninh Thuận; (b) khí hậu cận xích đạo, mơa mùa
hạ - bao gồm địa phận các tỉnh Bình Phơớc, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh và vùng đồngbằng ven biển của các tỉnh Đồng Nai, Ninh Thuận, Bình Thuận
Vùng Đông Nam Bộ có những đặc điểm môi trơờng x• hội chủ yếu sau: tuy diện tích không lớn, songđây là một vùng rất năng động trong các hoạt động kinh tế, x• hội và các mặt y tế, văn hoá, giáo dục, vớinhững điểm tựa mạnh nhơ TP Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Biên Hoà, Đà Lạt Các nhà quy hoạch và tổ chứcl•nh thổ đ• phân tích đặc điểm và thế mạnh của 3 điểm tựa quan trọng - TP Hồ Chí Minh, Biên Hoà, VũngTàu và coi đây là một "Tam giác Phát triển" Vùng Đông Nam Bộ là một vùng có cơ sở hạ tầng phát triển ởtrình độ khá cao so với các vùng Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, Đông Bắc và Tây Bắc Công nghiệp phát triển ởtrình độ cao, với các trung tâm công nghiệp nhơ Biên Hoà, TP Hồ Chí Minh và Vũng Tàu Các ngành kinh tếkhác cũng phát triển khá mạnh Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng trơởng tơơng đối nhanh: năm 1996 GDPcủa vùng là 82.675 tỷ đồng, năm 1999 (tính sơ bộ) là 125.473 tỷ đồng
Một vùng năng động trong các hoạt động kinh tế và phát triển công nghiệp cũng là vùng mà nhữngvấn đề về môi trơờng và tài nguyên cần đơợc quan tâm giải quyết một cách tích cực cả trên hai lĩnh vực môitrơờng tự nhiên và môi trơờng x• hội Đặc biệt đối với những trung tâm công nghiệp lớn nhơ Biên Hoà, VũngTàu và TP Hồ Chí Minh Những vấn đề cụ thể, chi tiết về môi trơờng sẽ đơợc trình bày trong các chơơng bản
đồ chuyên đề về môi trơờng
Vùng đồng bằng sông Cửu Long
Vùng đồng bằng sông Cửu Long có 12 tỉnh:
1 Long An 2 Đồng Tháp 3 An Giang
4 Bến Tre 5 Vĩnh Long 6 Tiền Giang
7 Kiên Giang 8 Cần Thơ 9 Trà Vinh
10 Sóc Trăng 11 Bạc Liêu 12 Cà MauTổng diện tích tự nhiên là 21.257,2 km2, tổng số dân là 16.133.300 ngơời
Vùng đồng bằng sông Cửu Long là một vùng đồng bằng do phù sa sông Cửu Long bồi đắp thành Khíhậu đồng bằng sông Cửu Long thuộc kiểu khí hậu cận xích đạo, mơa mùa hạ (theo quan điểm sinh khí hậu).Đây là một vùng đồng bằng phì nhiêu,nông nghiệp phát triển Sản lơợng lúa của vùng đồng bằng sông CửuLong đ• đóng góp đơa nơớc ta lên hàng thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo Song vùng này cũng thơờngphải chịu những hiểm hoạ trầm trọng do lũ lụt gây nên
Một trong những đặc điểm đáng chú ý vùng l•nh thổ này là hệ thống sinh thái rừng ngập mặn vô cùngphong phú và quý giá, diện tích tập trung khá lớn
Những vấn đề môi trơờng phải đơợc quan tâm sát sao ở vùng này chính là việc bảo vệ và phát triểndiện tích rừng ngập mặn, bởi lẽ, để mở rộng diện tích đầm hồ nuôi trồng thuỷ sản nhân dân ta đ• chặt phárừng ngậpmặn, phá vỡ cân bằng sinh thái Một số vơờn chim, sân chim đ• không còn nữa dẫn đến đa dạngsinh học bị suy giảm
Đối với môi trơờng kinh tế - x• hội, ở vùng đồng bằng sông Cửu Long là vấn đề quản lý sản xuất nôngnghiệp, tìm ra những biện pháp, phơơng pháp thích hợp, xây dựng những phơơng án quy hoạch l•nh thổ hợp
lý để có thể "sống chung với lũ"; là bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên, trong đó hệ sinh thái rừng ngập mặn làmột trong những đối tơợng bảo vệ quan trọng Trong phát triển nông nghiệp vấn đề sử dụng thuốc bảo vệ thựcvật, bảo quản sản phẩm sau thu hoạch và sử dụng phân bón hoá học cũng cần đơợc quản lý chặt chẽ, tránh ônhiễm môi trơờng Đồng thời, đẩy mạnh tốc độ xây dựng cơ sở hạ tầng cho vùng l•nh thổ rộng lớn này
Hà Nội
Trang 23Thủ đô Hà Nội Nằm ở trung tâm vùng Đồng bằng sông Hồng, trong phạm vi từ 20053’ đến 210 33’ vĩ
độ bắc và từ 105044’ đến 106002’ kinh độ đông Hà Nội tiếp giáp với 6 tỉnh:Thái Nguyên ở phía bắc: BắcNinh, Hơng Yên ở phía đông, Vĩnh Phúc ở phía tây, Hà Tây, Hà Nam ở phía Nam Diện tích tự nhiên toànthành phố là 927,39 km2 Dân số tính đến1-4-1999 là 2672,1 nghìn ngơời chiếm 0,28% về diện tích tự nhiên
và 3,5% về dân số của cả nơớc, đứng hàng thứ 58 về diện tích và thứ 4 về dân số trong 61 tỉnh, thành phố ởnơớc ta
Hà Nội có vị trí địa lý – chính trị quan trọng, có ơu thế đặc biệt so với các địa phơơng khác trong cảnơớc “Hà Nội là trung tâm đầu n•o về chính trị, văn hoá, khoa học – kỹ thuật, đồng thời là trung tâm lớn vềkinh tế, một trung tâm giao dịch quốc tế của cả nơớc” (Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị ngày 21-1-1983)
Hà Nội là đầu mối giao thông quan trọng bậc nhất của nơớc ta Từ thủ đô đi đến các thành phố, thị x•của vùng Bắc Bộ cũng nhơ của cả nơớc bằng đơờng bộ, đơờng sắt, đơờng hàng không và đơờng thuỷ đều dễdàng và thuận tiện
Đây chính là những yếu tố gắn bó chặt chẽ Thủ đô với các trung tâm khác trong cả nơớc Và tạo điềukiện thuận lợi để Hà Nội tiếp nhận kịp thời các thông tin, thành tựu khoa học và kỹ thuật của thế giới, thamgia vào quá trình phân công lao động quốc tế, khu vực và hội nhập vào quá trình phát triển năng động của khuvực Đông á - Thái Bình Dơơng
Hà Nội giữ vai trò trung tâm lớn nhất Bắc bộ, có sức hút và khả năng lan toả rộng lớn, tác động trực tiếpđến quá trình phát triển của toàn vùng
Phần lớn diện tích Hà Nội là vùng đồng bằng, độ cao trung bình từ 5-20 m so với mực nơớc biển, thấpdần từ ttây bắc xúng đông nam theo hơớng chung của địa hình và cũng là theo hơớng của dòng chảy sôngHồng Vùng đồng bằng địa hình đặc trơng của Hà Nội, đ• đơợc con ngơời khai thác và sử dụng từ lâu Trênlớp bồi tích phù sa dày trung bình là 90-120 m, dân cơ đông đúc, với nền văn minh của lúa nơớc, trồng rau,màu, chăn nuôi gia súc…
Phía bắc Hà Nội là vùng núi thấp và trung bình, có d•y Sóc Sơn với đỉnh cao nhất là Chân Chim 462 m Vùng đồi núi của Hà Nội thích hợp với việc phát triển chăn nuôi, tổ chức nhiều loại hình du lịch
Hà Tây là 1 tỉnh nhỏ diện tích toàn tỉnh là 2201,8 km2 đ ứng thứ 47 so với 61 tỉnh, thành phố, nhơnglại là tỉnh đông dân, dđứng thứ 5 trong cả nơớc Hà Tây có vị trí địa lý quan trọng, nằm cạnh tam giác tăngtrơởng kinh tế Hà Nội – Hải Phòng – Hạ Long, đồng thời là nơi chuyển tiếp từ vùng Đồng bằng sông Hồngnổi tiếng trù phú, với vùng núi phía bắc và tây bắc giàu có về tài nguyên thiên nhiên Với Hà Nội , Hà Tây có
3 cửa ngõ vào thủ đô trong số 7 cửa ngõ, đó là chơa kể đơờng thuỷ sông Hồng Hà Tây vừa là lá chắn, vừa làvành đai sinh thái, la lá phổi xanh ở phía tây và phía nam của Hà Nội
Địa hình vùng Đồng bằng Sông Hồng
Đồng bằng châu thổ sông Hồng và sông Thái Bình có đỉnh nằm ở Việt Trì và đáy kéo dài từ QuảngYên về đến Ninh Bình Trong thực tế phù sa sông Hồng còn bồi đắp kéo dài xuống tận vùng Nga Sơn thuộcThanh Hoá, còn sông Thái Bình thì bồi đắp nên một châu thổ kiểu "etchuye" - châu thổ hình phễu - có đỉnh ởPhả Lại và đáy kéo dài từ Quảng Yên (Quảng Ninh) về đến phía Nam cửa Thái Bình Ngơời ta còn gọi đó là
"châu thổ ở rìa", hay đơn giản hơn là đồng bằng rìa, mà sự thiếu hụt phù sa liên quan đến vị trí của nó nằm ởthơợng lơu của dòng phù sa ven bờ Đồng bằng rìa thứ hai nằm ở cuối dòng phù sa đó nên tiếp nhận gần nhơtoàn bộ phù sa từ các cửa sông mang đến: đây là khu vực Ninh Bình (và Nga Sơn nhơ đ• nói ở trên), nơi đấtliến tiến ra biển với một tốc độ hiếm thấy, vào khoảng 100 m/năm
Toàn bộ châu thổ rộng đến 16.000 km2 này đơợc đặt trong một miền võng rộng lớn giữa núi, trên mộtnền đá kết tinh nguyên đ• bị sụt xuống từ cuối Cổ sinh, cách đây chừng trên 200 triệu năm
Quá trình bồi lắp châu thổ bằng cách lấp dần vũng vịnh cứ tiếp tục nhơ thế trong vài vạn năm trongthời kỳ biển thoái sau Flandri Sông Hồng sau khi rời khỏi Sơn Tây đ• tách ra một con sông nhánh quan trọng
Trang 24là sông Đáy, xuống địa đầu Hà Nội lại tách ra sông Đuống, đến Hơng Yên thì chia nơớc theo sông Luộc vàsông Phủ Lý, xuống Nam Định, Thái Bình thì toả ra thành sông Đào, sông Trà Lý và sông Ninh Cơ Mạnglơới của sông Thái Bình phía dơới Phả Lại còn phức tạp hơn do ảnh hơởng của thuỷ triều: thoạt đầu mới cóhai nhánh sông Kinh thầy và Thái Bình, nhơng xuống đến Hải Dơơng và Nghĩa Dơơng thì mạng lơới sôngnhánh đ• dày đến mức khó lòng mà theo dõi trên bản đồ xem chúng bắt đầu và kết thúc ở đâu trong cái miềnnửa nơớc, cái miền "lơỡng thê" ấy.
Địa hình châu thổ thấp và có nhiều ô trũng, nghiêng từ tây bắc (phía đỉnh châu thổ) xuống đông nam(phía biển) ở Việt Trì và Sơn Tây, độ cao của đồng bằng lên tới 12-16m, có chỗ cao đến 18-25m nhơ trên bậcthềm phù sa cũ nhơng ở dải đất duyên hải từ Hải Phòng về đến Ninh Bình, độ cao trung bình chỉ còn trên dơới1m Các vùng trũng trong đồng bằng có khi còn thấp hơn
(Theo: Việt Nam l•nh thổ và các vùng địa lý - Lê Bá Thảo)
Địa hình vùng Đông bắc
Đặc điểm đặc sắc của l•nh thổ này là có một dải bờ biển kéo dài từ Móng Cái xuống đến tận quá HảiPhòng, với một vòng cung gồm hàng trăm đảo và quần đảo lớn nhỏ nằm ở địa đầu vịnh Bắc Bộ
Ngơời ta có thể phân biệt ra hai á vùng: á vùng trung du và á vùng núi cao trung bình biên giới
Sự đi lại trong á vùng trung du vì vậy không mấy khó khăn nhờ có một mạng lơới sông suối rậm rạpphát triển theo hình nhánh cây hay lông chim, kể cả ở khu vực An Châu (rộng đến trên 3500 km2) ở QuảngNinh Dễ hiểu là ở trung du cũng vẫn có núi - núi thực sự - thí dụ các núi thuộc các cánh cung đá vôi và đáphiến, đá cát (sa thạch) hoặc các đá nguồn gốc măcma đi nữa, nhơng các đỉnh của chúng có thể nối liền lại -tất nhiên bằng tơởng tơợng – thành một mặt bằng nói chung có độ cao tuyệt đối không vơợt quá 500 m, còn
độ cao tơơng đối thì kém hơn nữa Những điều vừa mới nói cũng cắt nghĩa một phần sự khai thác l•nh thổ này
từ rất sớm, khi con ngơời chơa có đủ các phơơng tiện nhơ ngày nay
Đất trên các bậc thềm phù sa cổ hoặc đất phong hoá và di động trên sơờn không thể tốt bằng đất đồngbằng gồm toàn phù sa mới, nhơng vẫn phù hợp với các loại cây trồng Sự phá huỷ lớp phủ rừng và chế độquảng canh làm cho đất bị xấu thêm
Trừ khu vực núi cao ở Hà Giang quen đơợc gọi là khối núi granit thơợng nguồn sông Chảy – rộng đến
2500 km2 với các đỉnh cao nhất là Tây Côn Lĩnh 2418m, Kiều Liêu Ti 2402m và nhiều đỉnh cao khoảng2000m xuống cho đến 1100-1300m, nơi sinh sống của một số dân tộc ít ngơời, phần lớn l•nh thổ còn lại cũngchỉ có độ cao sàn sàn khoảng 500m trên mặt biển Các đồng bằng giữa núi cũng đ• nằm ở độ cao tuyệt đốitrên dơới 300 m, điều đó cho thấy độ cao tơơng đối của các núi chỉ còn khoảng 300-500m, do đó cũng khôngphải là những trở ngại quá lớn Cũng có thể kể thêm các cao nguyên Quản Bạ và Đồng Văn nhơ là những khuvực khó khăn, nhơng diện tích không lớn lắm
Từ Cao Bằng ra đến biển, các d•y núi biên giới là một bộ phần của rìa cao nguyên Vân-Quý, viền lấymột máng trũng chạy theo hơớng tây bắc - đông nam trong đó có sông Kỳ Cùng và sông Phố Cũ Máng trũngnày tự nó là một đơờng giao thông thuận lợi đồng thời lại có một tầm quan trọng to lớn về mặt chiến lơợc
ở các cao nguyên Quản Bạ, Đồng Vân và dải máng trũng biên giới, khí hậu trở thành một tài nguyên thực sự.Các cây trồng á nhiệt đới và ôn đới tìm đơợc ở đây môi trơờng thích hợp (mận, hồng, mắc coọc, dẻ, kể cảnho ôn đới đang đơợc trồng thử nghiệm, lúa mạch, hồi) trên các đồi, còn trong các bồn địa giữa núi và đồngbằng thung lũng sông là lúa nơớc và các cây lơơng thực khác
Các đảo và quần đảo ở rìa biển Đông Bắc gồm hàng trăm đảo lớn nhỏ (trong đó lớn nhất có các đảoCái Bầu, Cái Bàn và Cát Bà) kéo dài thành hình một vòng cánh cung cùng với cánh cung Đông Triều Cácđảo cát kết, đá phiến đều nằm ở phía đông, trong đó có những đảo lớn nhơ đảo Vĩnh Thực, đảo Cái Chiên, đảoVạn Vơợc, v.v kể cả đảo Cái Bàu, đảo Trà Bàn Dân cơ trên các đảo còn thơa thớt nhơng cũng đ• có một sốkhá lớn hộ di cơ đến trong thời gian gần đây Có thể dựa trên các đảo rìa ngoài này mà lập các căn cứ cho cácđội tàu đánh cá biển khơi Xét về mặt đó thì quần đảo Cô Tô có một giá trị rất lớn, và đảo Bạch Long Vĩ cũngvậy
Các đảo ở phía tây gần đất liền là một thế giới kỳ thú của một khu vực đá vôi Cổ sinh tuổi Pecmi bị chìm ngập Khu vực các đảo đá vôi này tạo nên các vịnh Bái Tử Long và vịnh Hạ Long nổi tiếng,cách đây vài năm đ• đơợc tổ chức UNESCO công nhận là một kỳ quan và di sản thiên nhiên của thế giới
Trang 25Cacbon-Cùng với đảo Cát Bà (thuộc Hải Phòng) hoạt động kinh tế chủ yếu đ• và sẽ là hoạt động ngơ nghiệp và dulịch, riêng Cát Bà còn có vơờn quốc gia và căn cứ hậu cần của đánh cá.
(Theo: Việt Nam l•nh thổ và các vùng địa lý - Lê Bá Thảo)
Vai trò của cấu trúc địa chất cũng cực kỳ quan trọng ở đây: nếu nhơ Tây Bắc chịu một chế độ địamáng kéo dài từ Nguyên sinh đại cho đến cuối Trung sinh đại với các biều hiện khác nhau theo từng thời kỳ,thì Đông Bắc (hiểu là từ bắc đứt gãy sông Hồng ra đến biển) lại mang nhiều dấu hiệu chuyển tiếp của một nềnhoạt động, trong đó bộ phận phía tây có lịch sử phát triển cổ hơn là bộ phận phía đông Cấu trúc địa chất củatừng bộ phận của miền núi rộng lớn này do đó rất phức tạp và các vận động tân kiến lại làm rắc rối thêm.Không có gì lạ nếu nhơ những thành phần cơ bản của đại địa hình luôn thay đổi từ biên giới cực tây của TâyBắc ra đến ranh giới phía đông trên vịnh Bắc Bộ Nêu nhơ sông Thao (tên sông Hồng ở đoạn từ Việt Trì lênđến Lào Cai) hầu nhơ chia miền núi và trung du phía Bắc ra thành hai phần lãnh thổ gần bằng nhau thì sông
Đà hầu nhơ cũng làm đơợc điều đó ở lãnh thổ Tây Bắc
Để có cái nhìn bao quát ngơời ta có thể phân biệt từ cực tây (biên giới Việt Lào) sang cực đông (rìabiển tỉnh Quảng Ninh) 6 đơn vị đại địa hình nhơ sau: 1) dãy núi cao trung bình và cao Pu Si Lung-Pu ĐenDinh và dãy núi thơợng nguồn sông Mã; 2) dải cao nguyên đá vôi chạy từ Phong thổ xuống đến Ninh Bình -Thanh Hoá; 3) dải đồi núi thấp thung lũng sông Đà; 4) dãy núi cao Hoàng Liên Sơn; 5) Thung lũng sôngThao; 6) dải núi Lô Gâm Các đơn vị vừa nêu đều có hơớng chung là tây bắc - đông nam (trừ khu vực Pu SiLung đã bắt đầu chịu ảnh hơởng của hơớng sơn văn thơợng Lào) và có địa hình hiểm trở, sự đi lại không dễdàng
Mặc dù nền khí hậu chung không có sự khác biệt lớn giữa các khu vực, nhơng sự biểu hiện của nókhông giống nhau theo chiều nằm ngang và theo chiều thẳng đứng D•y núi cao Hoàng Liên Sơn chạy dài liênmột khối theo hơớng tay bắc - đông nam đóng vai trò của một bức trơớng thành ngăn không cho giá mùađông (hơớng đông bắc - tây nam) vơợt qua để vào lãnh thổ Tây Bắc mà không bị suy yếu nhiều, trái với vùngđông bắc có hệ thống các vòng cung mở rộng theo hình quạt làm cho các đợt sóng lạnh có thể theo đó màxuống đến tận đồng bằng sông Hồng và xa hơn nữa về phía nam
Vì vậy, trừ phi do ảnh hơởng của độ cao, nền khí hậy Tây Bắc nói chung ấm hơn Đông Bắc một phần,chênh lệch có thể đến 2-3oC ở miền núi, hơớng phơi của sơờn đóng một vai trò quan trọng trong chế độ nhiệt– ẩm, sơờn đón gió (sơờn đông) tiếp nhận những lơợng mơa lớn trong khi sơờn tây tạo điều kiện cho gió
"phơn" (hay quen đơợc gọi là "gió lào") đơợc hình thành khi thổi xuống các thung lũng, rõ nhất là ở Tây Bắc.Nhìn chung, trong điều kiện của trung du và miền núi, việc nghiên cứu tôpô-khí hậu là rất quan trọng vì sựbiến dạng của khí hậu xẩy ra trên từng khu vực nhỏ Những biến cố khí hậu ở miền núi nhiều khi (chứ khôngphải là luôn luôn) mang tính chất cực đoan, nhất là trong điều kiện lớp phủ rừng bị suy giảm, và lớp phủ thổnhơỡng bị thoái hoá Mơa lớn và tập trung gây ra lũ nhơng kết hợp với mọt số điều kiện thì xuất hiện lũ quét;hạn vào mùa khô thơờng xảy ra nhơng có khi hạn hán kéo dài ngoài sức chịu đựng của cây cối
(Theo: Việt Nam l•nh thổ và các vùng địa lý - Lê Bá Thảo)
Trang 26Nếu nhơ ranh giới phía bắc của Thanh Hoá, d•y núi đá vôi xen lẫn đá phiên từ Tây Bắc xuống còn chạy thànhtừng d•y song song, trong đó sông M• đào lòng của mình để ra vịnh Bắc Bộ, thì từ phía nam sông M• trởxuống, địa hình núi đ• trở nên phức tạp hơn.
Các núi ở Thanh Hoá giáp với biên giới Việt Lào đều là những núi cao trung bình và thấp Do đơợccấu tạo bởi các loại đá có độ bền vững khác nhau, đồng thời bị chia cắt bởi một mạng lơới sông suối rậm rạp,miền núi phía tây Thanh Hoá thơờng chỉ đạt độ cao trên dơới 1000m-1500m (Bù Rinh 1291 m, Bù Chó 1563m)
Miền núi ở Nghệ An - Hà Tĩnh địa đầu của d•y Trơờng Sơn trên l•nh thổ Việt Nam trái lại hiểm trởhơn nhiều Các núi cao đều nằm ở biên giới Việt Lào Các con đơờng giao thông từ đồng bằng lên đều phảimen theo các thung lũng sông để đến những đèo thấp
Các đồng bằng ở Bắc Trung Bộ có diện tích tổng cộng là khoảng trên 6.200 km2, trong đó riêng đồngbằng Thanh Hoá đ• chiếm gần một nửa, do đó là đồng bằng rộng nhất của toàn miền Trung Quang cảnh củađồng bằng Thanh Hoá lặp lại một phần quang cảnh của đồng bằng châu thổ sông Hồng, nhất là ở khu vực NgaSơn
Phần chính của đồng bằng Thanh Hoá là do phù sa sông M• và sông Chu bồi đắp Cũng nhơ ở đồngbằng sông Hồng, bao quanh đồng bằng phù sa mới là vành đai các bậc thềm phù sa cũ, có độ cao từ 2 đến15m, bị chia cắt thành những đồi riêng lẻ, không kể rải rác đây đó còn có các núi sót
Đồng bằng phù sa mới - châu thổ hiện tại của sông M•, sông Chu cao từ 8 đến 10m ở phía Tây, hạ thấp dần vềphía biển xuống đến 1-2m
Ngơời ta cũng nhận thấy ở đây những "cồn cát duyên hải" nhơ ở đồng bằng sông Hồng, rõ nhất là ởkhu vực Nga Sơn Chúng chạy thành những chuỗi dài chạy theo hơớng đông bắc - tây nam dạng xoè nan quạt,càng xuống phía nam của đồng bằng càng thu hẹp về diện tích Về phía tây nam của các dải cồn cát này,những khu vực đất thấp tạo thành một bề mặt nằm ngang ăn khớp với giới hạn của vụng biển cũ mà châu thổmới đ• lấp đầy, trong đó có những lạch và hồ đầm là những di tích làm chứng
Đồng bằng Nghệ Tĩnh tuy chạy thành một dải nhơng thực tế là do nhiều mảnh đồng bằng nhỏ hợp lại.Các đồng bằng của Bắc Trung Bộ (và của các đồng bằng miền Trung nói chung) không đơợc phì nhiêu bằngcác đồng bằng châu thổ ở Bắc Bộ và Nam Bộ, nhơng chúng vẫn là nơi sinh sống của số đông dân cơ trongvùng
(Theo: Việt Nam l•nh thổ và các vùng địa lý - Lê Bá Thảo)
Địa hình Vùng duyên hải nam trung bộ
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ nằm ngay phía nam của vùng Bắc Trung Bộ Chiều dài của vùng trải
ra trên 3 độ vĩ tuyến, nhơng chiều rộng tính theo ranh giới phía tây giáp với Tây Nguyên của từng tỉnh phảicoi là hẹp, trung bình chỉ khoảng 40-50km, có nơi chỉ khoảng 20 km nhơ ở phía nam đèo Cổ M•
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ đơợc cấu tạo chủ yếu bởi sơờn đông d•y Trơờng Sơn hay cao nguyên,các đồng bằng thì nhỏ hẹp, bờ biển thì bị chia cắt thành nhiều vũng vịnh
Một l•nh thổ - sơờn núi bị biển chia cắt là chính
Các đồng bằng có diện tích rất khiêm tốn Một số là đồng bằng cửa sông, một số khác là những thànhtạo sông-biển, một phần không nhỏ khác là các thành tạo do biển bồi đắp ở đáy các vụng lớn nhỏ
Từ phía nam huyện Đức Phổ (Quảng Ng•i) trở đi, núi lại đâm ra sát biển và từ đó càng về phía nam,đồng bằng càng thu hẹp diện tích nhơờng chỗ cho núi
Sau đèo Cù Mông, núi lại ra sát biển gần nhơ trên toàn bộ chiều dài từ Khánh Hoà đến Bình Thuận,chúng bao chiếm những diện tích rộng lớn đến mức các đồng bằng nguyên trong thực tế là những vụng biểnnhỏ cũ đơợc bồi lấp ở chân núi khó tách rời đơợc với miền núi về mặt phát sinh
Dải đất duyên hải cũng gồm nhiều cồn cát trắng bọc nhiều đầm lớn Do có nhiều d•y núi nhỏ nằmngay ven biển, bờ biển có dạng răng cơa và gồm những bộ phận bồi tụ - mài mòn xen kẽ, một số đảo nhỏđơợc phân bố rải rác ngoài khơi, trong đó có nhiều đảo san hô
Khối núi Vọng Phu giới hạn đồng bằng Tuy Hoà ở phía Nam một cách đột ngột, đỉnh cao nhất đạt tới2051m, khi ra đến gần biển còn đạt 700m ở Đá Bia, 500m ở đỉnh hòn Bà Vách núi đổ thẳng xuống biển tạothành những mũi đá đồ sộ nhơ Mũi Lớn, Mũi Nạy, Mũi Kê Gà Vũng Rô nằm sau một mạch núi đó làm cho
bờ biển cho đến Mũi Kê Gà vẫn chạy theo hơớng tây bắc-đông nam bỗng ngoặt theo hơớng ngơợc lại là đông