Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu nguồn lợi cá có giá trị kinh tế khai thác ở vùng rừng ngập mặn xã Cẩm Thanh-Hội An” nhằm làm cơ sở cho cơ quan quản lý có các g
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN THỊ TRUNG
NGHIÊN CỨU NGUỒN LỢI CÁ CÓ GIÁ TRỊ KINH TẾ KHAI THÁC Ở VÙNG RỪNG NGẬP MẶN XÃ CẨM THANH-HỘI AN
ĐÀ NẴNG – NĂM 2014
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Đà Nẵng, ngày 25 tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Trung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện Khóa Luận Tốt Nghiệp và những gì đạt được hôm nay, thì đó không chỉ là những cố gắng, nỗ lực của riêng bản thân, mà trên hết là phần lớn công lao giảng dạy và hướng dẫn của các thầy giáo, cô giáo cũng như các
hỗ trợ, chia sẻ của mọi người ở nhiều phương diện
Em xin chân thành cảm ơn thầy T.S Chu Mạnh Trinh đã quan tâm, giúp đỡ, góp phần định hướng bài luận, cũng như hỗ trợ về tinh thần để em có thể thực hiện tốt Khóa Luận Tốt Nghiệp này
Em cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô, các anh chị cán bộ trong khoa Sinh-Môi trường, trường Đại học Sư Phạm-ĐH Đà Nẵng cũng như các thầy cô trong trường đã giảng dạy, giúp đỡ chúng em trong 4 năm học qua Các thầy cô đã xây dựng cho chúng em những kiến thức nền tảng và những kiến thức chuyên môn
để em có thể hoàn thành luận văn này
Cuối cùng em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến gia đình, người thân, bạn
bè và ban lãnh đạo cũng các cô, chú, bác ngư dân đã luôn động viên giúp đỡ em trong suốt thời gian học tập và hoàn thành khóa luận này!
Đà Nẵng, ngày 25 tháng 05 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Trung
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
bảng
3.2 Cơ cấu ngành nghề khai thác cá RNM Cẩm Thanh 13
3.3 Danh mục thành phần loài cá khai thác ở RNM Cẩm
Trang 7DANH MỤC HÌNH ẢNH, ĐỒ THỊ
Số hiệu
hình vẽ
3.1 Cơ cấu ghe tàu khai thác nguồn lợi cá ở RNM Cẩm Thanh 11
3.2 Cơ cấu ngành nghề khai thác nguồn lợi cá ở RNM Cẩm Thanh 13
3.3 Doanh thu của các đối tƣợng cá kinh tế chủ yếu ở RNM Cẩm
Thanh
21
Trang 8MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 10
2 Mục tiêu của đề tài 11
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài 11
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 12
1.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 12
1.1.1 Vị trí địa lý 12
1.1.2.Đặc điểm địa hình 12
1.1.3 Đặc điểm khí hậu thời tiết 12
1.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGUỒN LỢI CÁ 13
1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu nguồn lợi cá RNM trên thế giới 13
1.2.2 Tình hình nghiên cứu nguồn lợi cá ở Việt Nam 14
1.2.3 Tình hình nghiên cứu nguồn lợi cá ở RNM xã Cẩm Thanh, Hội An 17
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 18
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 18
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 18
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 18
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 18
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu hồi cứu số liệu 18
2.3.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu kết hợp với tham vấn cộng đồng 18
2.3.3 Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa 19
2.3.4 Phương pháp phân loại cá 19
2.3.5 Phương pháp xử lí số liệu 19
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 20
Trang 93.1 CƠ CẤU GHE TÀU VÀ NGÀNH NGHỀ KHAI THÁC NGUỒN LỢI
CÁ RNM CẨM THANH 20
3.1.1 Cơ cấu ghe tàu khai thác cá ở RNM Cẩm Thanh, Hội An 20
3.1.2 Cơ cấu ngành nghề khai thác cá ở RNM Cẩm Thanh, Hội An 21
3.2 Nguồn lợi cá khai thác ở RNM xã Cẩm Thanh, Hội An 23
3.2.1 Thành phần loài cá kinh tế khai thác ở RNM xã Cẩm Thanh 23
3.2.2 Thành phần loài cá có giá trị kinh tế 26
3.3 Mùa vụ khai thác nguồn lợi cá có giá trị kinh tế ở RNM Cẩm Thanh 27
3.4 Sản lượng và doanh thu cá kinh tế khai thác ở RNM 29
3.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn lợi cá RNM Cẩm Thanh 32
3.5.1 Khai thác quá mức 32
3.5.2 Hoạt động phá rừng ngập mặn để nuôi trồng thủy sản 33
3.5.3 Ô nhiễm môi trường 34
3.6 Đề xuất biện pháp khai thác sử dụng hợp lí nguồn lợi cá RNM Cẩm Thanh 35
3.6.1 Khai thác hợp lí nguồn lợi thủy sản 35
3.6.2 Khôi phục phát triển thêm diện tích RNM 35
3.6.3 Phát triển sinh kế bền vững cho người dân 35
3.6.4 Giáo dục, đào tạo và khuyến khích kinh tế 36
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 37
KẾT LUẬN 37
KIẾN NGHỊ 37
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Rừng ngập mặn là môi trường thích hợp cho nhiều loài động thực vật vùng triều, đặc biệt là các loài thuỷ sản Chúng tạo nên hệ sinh thái độc đáo và giàu có về mặt năng suất sinh học so với các hệ sinh thái tự nhiên khác Kết quả đã thống kê được trong hệ sinh thái RNM có khoảng: 516 loài cá, 537 loài thực vật nổi, 662 loài rong biển, 15 loài cỏ biển, 468 loài ĐV phù du, 450 loài động vật đáy trong đó gồm giun nhiều tơ, giáp xác và thân mềm [4 ]
Trải dài trên nhiều vĩ tuyến và có khí hậu thay đổi từ Bắc đến Nam, hệ sinh thái (HST) rừng Việt Nam, nhất là rừng ngập mặn (RNM) có tính đa dạng sinh học cao và từ lâu RNM đã đem lại nhiều lợi ích về kinh tế xã hội cho cư dân vùng ven biển Việt Nam (Nguyễn Hoàng Trí, 1999) Theo Phan Nguyên Hồng (1984), chia RNM Việt Nam ra 4 khu vực chính theo đó vùng Hội An, Quảng Nam thuộc vùng 3
là khu vực chỉ có các sông ngắn, ít phù sa, bãi ngang gió mạnh tạo ra nhiều cồn cát dọc ven biển, do đó RNM chỉ phát triển bên trong các cửa sông, đầm phá, bán đảo [6]
Cẩm Thanh là xã nằm cách trung tâm thành phố Hội An chừng 3km về phía Đông Nam Nằm ở địa thế bốn bề là sông nước, khí hậu nơi đây mang tính đặc trưng của khí hậu ven biển, địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông rạch chằng chịt và
là vùng đất nằm giữa nơi hợp lưu của hạ nguồn sông Thu Bồn, Đế Võng, Trường Giang Vùng nước ở đây thường xuyên nhiễm mặn, là điều kiện thuận lợi cho hệ sinh thái rừng ngập mặn phát triển, rừng ngập mặn Cẩm Thanh là nơi nuôi dưỡng
ấu thể sinh vật, cung cấp giống các loài sinh vật biển có giá trị như: Cá Mú, cá Dìa,
cá Hồng, Cua Đá và cung cấp các sản phẩm từ Dừa nước cho các ngành dịch vụ [2]
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, hơn 50% diện tích rừng ngập mặn và thành phần loài trong hệ sinh thái RNM bị suy giảm do việc phá rừng để nuôi tôm [12] Nguồn lợi cá ở RNM cũng đang nằm trong tình trạng suy giảm về số lượng Điều này đã và đang gây những ảnh hưởng không tốt đến đời sống của ngư dân và
sự phát triển ngành khai thác thuỷ sản (Nguyễn Hữu Đại, 2006)
Trang 11Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu nguồn lợi cá có giá trị kinh tế khai thác ở vùng rừng ngập mặn xã Cẩm Thanh-Hội An” nhằm
làm cơ sở cho cơ quan quản lý có các giải pháp quản lý, bảo vệ nguồn lợi cá ở vùng rừng ngập mặn một cách hợp lý, đồng thời bổ sung nguồn tư liệu khoa học cho những nghiên cứu mới về nguồn lợi cá sau này
2 Mục tiêu của đề tài
Nghiên cứu nguồn lợi cá có giá trị kinh tế ở rừng ngập mặn xã Cẩm Thanh, Hội An nhằm cung cấp dữ liệu quan trọng làm cơ sở cho cơ quan quản lý có kế hoạch bảo vệ và khai thác bền vững nguồn lợi cá tại vùng rừng ngập mặn xã Cẩm Thanh – Hội An
3 Ý nghĩa khoa học của đề tài
Kết quả của đề tài là cơ sở dữ liệu cho các cơ quan, ban ngành lập kế hoạch quản lý và phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản ở đây và là thông tin ban đầu cho những công trình nghiên cứu tiếp theo về nguồn lợi cá trong tương lai
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.1.1 Vị trí địa lý
Cẩm Thanh là xã nằm về phía Đông Nam TP Hội An, cách trung tâm thành phố 3km về phía Đông Nam, có tổng diện tích tự nhiên 895,43 ha, được chia làm 8 thôn ( Thôn 1; thôn 2; thôn 3; thôn 4; thôn 5; thôn 6; thôn 7; thôn 8) Ranh giới được xác định:
- Phía Bắc: giáp phường Cửa Đại và phường Cẩm Châu
- Phía Nam: giáp huyện Duy Xuyên
- Phía Tây: giáp phường Cửa Đại
- Phía Đông: giáp phường Cẩm Nam
Xã nằm ven đô thị cổ Hội An, có hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy khá thuận lợi, tạo điều kiện cho giao lưu phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội, bên cạnh đó trên địa bàn có nhiều khu di tích lịch sử có giá trị cấp quốc gia, cấp tỉnh
và xã còn nhiều nơi vẫn giữ nét hoang sơ, là điều kiện lí tưởng để phát triển du lịch sinh thái [15]
1.1.2 Đặc điểm địa hình
Đi ̣a hình xã Cẩm Thanh thuô ̣c da ̣ng đi ̣a hình đồng bằng ven biển , bị chia cắt mạnh bởi các sông lạch, độ cao trung bình khoảng 5 -7m so với mực nước biển, độ dốc nhỏ, có xu hướng thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam [15]
1.1.3 Đặc điểm khí hậu thời tiết
Xã Cẩm Thanh nằm trong khu v ực khí hậu nhi ệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều, nhiệt độ cao và ít biến động, tuy nhiên do nằm gần biển khí hâ ̣u tương đối mát mẻ Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài Vào mùa mưa thì thường mưa nhiều và khí hậu rất ẩm ướt,
do nằm cạnh biển nên thường hay bị ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và bão vào các tháng cuối năm [11]
Trang 131.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGUỒN LỢI CÁ
1.2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu nguồn lợi cá RNM trên thế giới
Từ lâu các nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu RNM vì nó không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ môi trường, khoa học mà nó còn có ý nghĩa lớn
về kinh tế Trước năm 1969, trong số hơn 5000 thư mục nghiên cứu RNM (Rollet, 1981) nhưng chưa có một tài liệu nào đề cập đến vai trò của RNM đối với hải sản [25]
Đến năm 1969, W.E.Odum là nhà khoa học người Mỹ đầu tiên khám phá ra tác dụng của mùn bã thực vật ngập mặn khi nghiên cứu chuỗi thức ăn ở vùng cửa sông Sau đó, Odum cùng với Heald (1972), Snedaker và Lugo (1973) tiếp tục công
bố một số tài liệu về vai trò của mùn bã thực vật trong mạng lưới thức ăn của quần
xã RNM vùng cửa sông Ông và cộng sự đã mô tả và cho rằng, các động vật ăn phân sẽ làm mồi cho những động vật lớn hơn là các loài cá kinh tế, chim, rái cá Công trình nghiên cứu là cơ sở cho nhiều nghiên cứu nguồn lợi cá RNM sau này [27]
Ở miền Nam Senegal- Sierra, sản lượng đánh bắt ở các cửa sông có thể lên tới 150000 tấn/năm, trung bình 100 tấn/năm/km bờ biển (Charles-Dominique, 1994) Ở Đông Nam Á, khai thác ở cửa sông ước tính đóng góp khoảng 1,4 triệu tấn hoặc 21% tổng số hải sản đánh bắt năm 1990 (Chong và Sasekumar, 1994) [21]
Theo điều tra của Yvonne (1997) và cộng sự thì sản lượng đánh bắt hàng năm ở vùng cửa sông ở Nam Phi ước đạt trên 24.800 tấn Số lượng ngư dân có khoảng 73.000 người và thu nhập hàng năm của tổng số ngư dân này là khoảng R430,000.000 [24]
Bên cạnh những nghiên cứu nguồn lợi cá vùng cửa sông, cũng có những nghiên cứu nguồn lợi cá ở rừng ngập mặn
Nếu tính cả các loài hải sản đánh bắt được ở các vùng ven biển, cửa sông có RNM hoặc liên quan với RNM thì sản lượng lên tới 925.000 tấn, tức là tương đương với 1% tổng sản lượng thủy sản đánh bắt được trên toàn thế giới Những nghiên cứu gần đây cho thấy RNM tạo ra sản lượng cá khoảng từ 2,000 USD đến
Trang 149,000 USD trên hecta mỗi năm, nhiều hơn so với nuôi trồng thuỷ sản, du lịch và nông nghiệp [7]
Người ta ước tính trên mỗi hecta RNM năng suất hàng năm là 91 kg thủy sản (Snedaker, 1975) Riêng đối với các loài tôm, cá, cua sống trong RNM, hàng năm thu hoạch khoảng 750.000 tấn, mỗi năm 1ha RNM có thể tạo ra 257-900kg cá qui ra tiền là 475-713 USD (Ronnback, 1999) [25]
Trong năm 1978, Indonesia đánh bắt được 550.000 tấn cá trực tiếp có quan
hệ với RNM cửa sông (Salm, 1981)
Ở Thái Lan, mỗi năm 1ha RNM cho thu hoạch 1000 USD từ nghề cá và sản phẩm của rừng (Midas, 1995) Ở phía tây Malaysia với 40.000ha RNM đã hỗ trợ cho ngành thuỷ sản 100 triệu USD, mỗi hecta thu 2.500 USD/năm (Talbot và Wilkenson ,2001) Cứ 1km dải RNM là đường viền bờ biển ở vịnh Panama cũng thu hoạch được 85.000 USD từ đánh bắt cá và các loại giáp xác [26]
Ở miền tây Australia, người ta đánh giá là 67% toàn bộ các loài thủy sản có giá trị thương mại đánh bắt được đều phụ thuộc vào RNM Hamilton và Snedaker (1984) cho rằng 90% các loài sinh vật biển sống ở RNM trong suốt nhiều giai đoạn trong chu trình sống của chúng; đối với nhiều loài thủy sản mối quan hệ đó là bắt buộc Bản thân RNM đã là một hệ thống nuôi trồng thủy sản tự nhiên, nó lại cung cấp vật liệu làm nhà, nhuộm lưới, làm dụng cụ đánh bắt trong nghề cá, đồng thời cung cấp nguyên vật liệu xây dựng cho làng đánh cá [22]
Hiện nay việc nghiên cứu về nguồn lợi, phân bố, đặc điểm sinh học trữ lượng của các loài cá, thủy sản ở RNM đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm nhiều hơn và một số công trình nghiên cứu đã bổ sung về thành phần loài nguồn lợi, phân bố cá ở một số nơi trên thế giới vẫn đang được tiến hành
1.2.2 Tình hình nghiên cứu nguồn lợi cá ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu về RNM phải kể đến ở Việt Nam, GS Phan Nguyên Hồng là nhà khoa học đi tiên phong và gắn bó lâu nhất với công việc nghiên cứu rừng ngập mặn, trở thành chuyên gia đầu ngành của VN về lĩnh vực này
Trang 15Công trình nghiên cứu của Phan Thị Thúy, Lê Xuân Tuấn (1998), đã xác định việc phục hồi rừng ngập mặn đóng vai trò quan trọng tạo ra nguồn lợi thủy sản
to lớn từ đó đem lại lợi ích kinh tế cho người dân [17]
Tiếp theo công trình khác của Lê Xuân Tuấn, Đỗ Thành Trung (1998), đã cho thấy sự phát triển của rừng ngập mặn có tác dụng bảo vệ đê biển, cải thiện môi trường đồng thời làm gia tăng nguồn hải sản trong đó có cá đến cư trú và sinh sống [20]
Một công trình về mối quan hệ của hệ sinh thái rừng ngập mặn và nguồn lợi hải sản Phan Nguyên Hồng và cộng sự (2003), đã cho thấy rừng ngập mặn là nơi nuôi dưỡng các loài hải sản và hỗ trợ nghề cá [8]
Nghiên cứu, đánh giá nguồn lợi thủy sản và đa dạng sinh học của một số vùng rừng ngập mặn điển hình để khai thác hợp lý và phát triển bền vững của Viện nghiên cứu hải sản đã cho thấy rừng ngập mặn Đồng Rui, Hưng Hòa, Long Sơn, vườn Quốc gia Mũi Cà Mau có 83 loài, tập chung chính vào 3 nhóm loài gồm cá, giáp xác và động vật thân mềm Tổng trữ lượng tức thời nguồn lợi thủy sản (cá, giáp xác và động vật thân mềm) ước tính tại 4 vùng RNM (48.284 ha) đạt 36.173 tấn và khả năng khai thác bền vững khoảng 18.086 tấn Tổng trữ lượng tức thời nguồn lợi các loài thủy sản kinh tế chủ yếu (cá, giáp xác và động vật thân mềm) ước tính tại đây đạt 25.039 tấn, chiếm khoảng 70% tổng trữ lượng nguồn lợi thủy sản phân bố trong hệ sinh thái rừng ngập mặn Trứng cá con và ấu trùng trứng cá phân
bố tập trung với mật độ cao hơn tại các vùng bãi bồi và phía gần cửa sông so với các vùng lạch rừng [4]
Trong nghiên cứu rừng ngập mặn vùng ven biển đồng bằng sông Hồng, huyện Giao Thuỷ, Nam Định cho thấy khu hệ cá phía bắc huyện Giao Thuỷ khá đa dạng gồm 107 loài loài thuộc 44 họ và 12 bộ (bảng 6), chủ yếu thuộc các loài cá của các bộ cá điển hình cho vùng cửa sông như Perciformes, Siluriformes, Beloniformes, Mugiliformes Bộ cá trích tuy chỉ có 2 họ nhưng có tới 12 loài, là những loài có giá trị kinh tế không chỉ đối với địa phương mà còn đối với cả vịnh Bắc Bộ (Cường và Khoa, 2004) [9]
Trang 16Ở khu vực miền Trung, vấn đề nghiên cứu về cá chủ yếu được thực hiện tại các đầm phá ven biển với các công trình nghiên cứu nỗi bật như: công trình nghiên cứu của Vũ Trung Tạng, Đặng Thị Sỹ về “Nguồn lợi thuỷ sản các đầm phá phía nam Sông Hương và những vấn đề khai thác hợp lý nguồn lợi đó” (năm 1976-1977) [14]
Một nghiên cứu “Bảo vệ rừng ngập mặn vì sự phát triển nghề cá bền vững” (Phan Nguyên Hồng, 2006), đã xác định sau khi trồng rừng ngập mặn thỉnh thoảng ngư dân vùng cửa sông Nam Định, Thái Bình bắt được loài cá thủ vàng được người Hồng Kông mua với giá 1000-2500USD/con [10]
Công trình nghiên cứu của TS Nguyễn Quang Hùng (2008-2010) cho biết tổng trữ lượng tức thời nguồn lợi thủy sản (cá, giáp xác và động vật thân mềm) ước tính tại 4 vùng rừng ngập mặn Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau, Đông Rui, Long Sơn, Hưng Hòa (48.284 ha) đạt 36.173 tấn và khả năng khai thác bền vững khoảng 18.086 tấn Tổng trữ lượng tức thời nguồn lợi các loài thủy sản kinh tế chủ yếu (cá, giáp xác và động vật thân mềm) ước tính tại đây đạt 25.039 tấn, chiếm khoảng 70% tổng trữ lượng nguồn lợi thủy sản phân bố trong hệ sinh thái rừng ngập mặn [4]
Theo nghiên cứu của Nguyễn Xuân Hòa (2010), những đối tượng nguồn lợi
cá chính khai thác trong rừng ngập mặn và vùng nước lân cận trong đầm Thủy Triều gồm: cá Bống, cá Dìa, cá Đối lá, cá Đục, cá Giò, cá Liệt, cá Móm Tổng sản
lượng khai thác các đối tượng nguồn lợi này khoảng 338 tấn/năm [3]
Báo cáo khoa học của Tống Xuân Tám và cộng sự về “Góp phần nghiên cứu
về đa dạng thành phần loài cá ở hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ, TP Hồ Chí Minh” đã cho biết hệ sinh thái RNM Cần Giờ có 178 loài cá, thuộc 111 giống, 56
họ, 19 bộ Trong đó có 13 loài cá nuôi làm thực phẩm; 16 loài cá nuôi làm cảnh; 3 loài có giá trị làm thuốc; 9 loài trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) [19]
Riêng ở RNM cá khai thác chủ yếu là các loài nhỏ, hầu hết trong số chúng chưa đạt kích thước quy định Cá thương phẩm quan trọng nhất là đại diện của Clueid, Engraulid, cá Đối Cơ cấu nhóm tuổi của chúng rất đơn giản, được bao gồm chỉ có bốn hoặc năm nhóm tuổi Hầu hết các loài ăn mảnh vụn ăn tạp và do đó tạo thành một chuỗi thức ăn ngắn (Vũ Trung Tạng, 1987) [18]
Trang 17Tất cả các công trình nghiên cứu trên đã tạo nên một dữ liệu hữu ích để phục
vụ các lĩnh vực khoa học khác, đặc biệt là lĩnh vực quản lý và khai thác thuỷ sản bền vững
1.2.3 Tình hình nghiên cứu nguồn lợi cá ở RNM xã Cẩm Thanh, Hội An
Cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu cụ thể về nguồn lợi cá kinh tế ở vùng rừng ngập mặn xã Cẩm Thanh, Hội An Hầu hết các nghiên cứu về rừng ngập mặn xã Cẩm Thanh chỉ tập trung vào điều kiện tự nhiên, nuôi trồng, tài nguyên sinh học rừng ngập mặn như: Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Đại (2006), chỉ mới đánh giá tài nguyên đất ngập nước hạ lưu sông Thu Bồn và đề suất giải pháp bảo vệ, phục hồi Tác giả đã nghiên cứu vùng đất ngập nước (RNM, thảm cỏ biển) tại Hội An và một số địa phương lân cận như Duy Xuyên, Điện Bàn Báo cáo đã xác định RNM ở Hội An chủ yếu là cây DN, ngoài ra cũng đã phát hiện ở vùng Cửa Đại một số loài
cây ngập mặn khác như Đước Đôi Rhizhophora apiculataBl, Vẹt Dù Bruguiera
gymnorhiza (L.Lamk) hay Ráng Đại Acrostychum aureum [2]
Một số nghiên cứu khác như: nghiên cứu của Đoàn Thị Tâm (2010), hiện trạng phân bố của quần thể DN tại xã Cẩm Thanh, thành phố Hội An (Ngô Thị Trà
My, 2011) Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất một số định hướng khai thác, sử dụng hợp lý nguồn lợi dừa nước tại xã Cẩm Thanh của Nguyễn Thị Gia Thạnh (2011) và Nghiên cứu “Trồng và phục hồi rừng dừa nước xã Cẩm Thanh-Hội An” (Lê Thị Dung, 2012) Tất cả chỉ mới tập trung nghiên cứu về cây DN là loài cây ngập mặn chủ yếu tại hạ lưu sông Thu Bồn và hướng khai thác, sử dụng hợp lý [1]
Theo thống kê hành phần động thực thực vật hệ sinh thái RNM dừa nước Cẩm Thanh - Hội An, có 6 loài thực vật, 21 loài cá, 3 loại tôm, 11 loại động vật đáy
có giá trị kinh tế RNM dừa nước tại xã Cẩm Thanh có các thảm cỏ biển phân bố tập trung ở khu vực gần Cửa Đại, nơi có độ mặn tương đối cao [21]
Đó là những tư liệu góp phần nghiên cứu chuyên sâu hơn về nguồn lợi thủy sản ở xã Cẩm Thanh
Trang 18CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Nguồn lợi cá kinh tế ở vùng rừng ngập mặn xã Cẩm Thanh, Hội An, Quảng Nam
2.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Vùng rừng ngập mặn xã Cẩm Thanh, Hội An, Quảng Nam
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 11 năm 2013 đến 15/05/2014
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Cơ cấu ghe tàu và ngành nghề khai thác nguồn lợi cá ở vùng rừng ngập
mặn xã Cẩm Thanh, Hội An
- Thành phần loài cá có giá trị kinh tế ở rừng ngập mặn xã Cẩm Thanh, Hội
An
- Các nhân tố ảnh hưởng đến nguồn lợi cá ở vùng rừng ngập mặn xã Cẩm
Thanh, Hội An
- Các biện pháp khai thác hợp lý nguồn lợi cá vùng rừng ngập mặn xã Cẩm Thanh, Hội An
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu hồi cứu số liệu
Các thông tin về cơ cấu ghe tàu, ngành nghề khai thác được cung cấp bởi UBNB xã Cẩm Thanh để làm tài liệu nghiên cứu cho đề tài
2.3.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu kết hợp với tham vấn cộng đồng
+Số lượng phiếu điều tra: 40 phiếu
+ Đối tượng điều tra là các ngư dân chuyên khai thác cá ở vùng rừng ngập mặn Cẩm Thanh, Hội An
+ Nội dung tham vấn gồm có loại nghề khai thác, phương tiện khai thác, đối tượng khai thác, khu vực khai thác, sản lượng và doanh thu, sự tăng, giảm số lượng loài Nội dung phiếu điều tra được trình bày và đính kèm trong mẫu phiếu điều tra (Phụ lục)
Trang 192.3.3 Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa
Đã tiến hành thu mẫu 4 đợt tại các bến cá, chợ cá (phải xác định mẫu cá này được đánh bắt ở vùng cửa rừng ngập mặn Cẩm Thanh), hai lần đi theo ngư dân khi ngư dân đánh bắt rồi thu mẫu
Tiến hành thu mẫu từ tháng 2/2014 đến hết tháng 4/2014
2.3.4 Phương pháp phân loại cá
Mẫu cá được tiến hành định loại theo cuốn sách Động vật chí Việt Nam của các tác giả Nguyễn Văn Lục, Lê Thị Thu Thảo, Nguyễn Phi Uy Vũ, Nguyễn Khắc Hường, Trương Sĩ Kì; Khoa học và kĩ thuật Hà Nội, năm 2007 [5]
2.3.5 Phương pháp xử lí số liệu
- Sử dụng phần mềm Microsolf Excel để xử lí số liệu
- Sản lượng khai thác được tính theo FAO (2004):
P = CPUE * Số ngày hoạt động tìm năng * Số lượng tàu/ ghe * BAC
Trong đó:
+ CPUE ( Catch Per Unit Effort) : là năng suất khai thác của một tàu làm một
loại nghề cụ thể ( con (kg)/ ghe/ngày)
+ BAC ( Boat Active Coefficient) = Số lượng ghe đi khai thác / tổng số ghe
hiện có
Trang 20CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN 3.1 CƠ CẤU GHE TÀU VÀ NGÀNH NGHỀ KHAI THÁC NGUỒN LỢI CÁ RNM CẨM THANH
3.1.1 Cơ cấu ghe tàu khai thác cá ở RNM Cẩm Thanh, Hội An
Theo số liệu thống kê từ UBND xã Cẩm Thanh, có 60 hộ làm nghề đánh bắt
cá trong RNM Tổng số ghe tàu khai thác cá ở RNM Cẩm Thanh có 87 chiếc gồm
có ghe bơi, ghe công suất <10 CV, ghe công suất 10 – 20 CV Cơ cấu ghe tàu khai thác cá ở RNM Cẩm Thanh được thể hiện cụ thể qua bảng sau :
Bảng 3.1 Cơ cấu ghe tàu khai thác cá RNM Cẩm Thanh
2 Ghe công suất < 10 CV 10 11,49%
Ghe bơi Ghe công suất<
10cv Ghe công suất 11- 20cv
Trang 21Qua bảng và biểu đồ trên, số phương tiện ghe bơi có 75 chiếc trong tổng 87 chiếc chiếm tỷ lệ 86,21%, ghe công suất < 10 CV chiếm 11,49%, ghe công suất 11 – 20 CV 2,3% Như vậy, ghe bơi được ngư dân ở RNM Cẩm Thanh sử dụng phổ biến nhất, ghe công suất < 20 CV có số lượng sử dụng ít, ghe công suất > 20 CV không sử dụng để đánh bắt trong RNM Cẩm Thanh
Ở RNM Cẩm Thanh, trước đây ngư dân còn sử dụng thúng thủ công để đánh bắt cá nhưng hiện nay không còn sử dụng Vì thúng thủ công khi đánh bắt không đem lại năng suất cao, sức chuyên chở kém, kĩ thuật đánh bắt còn thô sơ Tuy nhiên, hiện nay thúng thủ công được dùng để chuyên chở du khách tham quan, du lịch quanh rừng dừa nước và đem lại cuộc sống ổn định hơn cho người dân
3.1.2 Cơ cấu ngành nghề khai thác cá ở RNM Cẩm Thanh, Hội An
Qua số liệu thống kê từ UBND xã Cẩm Thanh, điều tra ngư dân đánh bắt cá
ở rừng ngập mặn Cẩm Thanh, Hội An, Quảng Nam Chúng tôi nhận thấy hiện tại rừng ngập mặn xã Cẩm Thanh có 5 nghề khai thác cá chủ yếu bao gồm: nhủi, lờ Trung Quốc, lưới bén, soi, trủ điện Tùy vào mùa vụ và đặc điểm vùng khai thác mà mỗi hộ ngư dân có thể chỉ chuyên một nghề hay phối hợp, luân chuyển giữa nghề này với nghề khác Dựa vào đối tượng khai thác và cách thức đánh bắt mà mỗi nghề khai thác có những điểm khác nhau về kích cỡ mắt lưới, thời gian đánh bắt hay khu vực đánh bắt Kết quả điều tra tỉ lệ thu được giữa các ngành nghề thể hiện cụ thể trong bảng 3.2 và biểu đồ 3.2 dưới đây:
Trang 22Bảng 3.2 Cơ cấu ngành nghề khai thác nguồn lợi cá RNM Cẩm Thanh
STT Nghề khai thác Đối tượng khai thác Số hộ Tỷ lệ %
1 Trủ điện cá Đối, cá Mú, cá Bống, cá Hồng, cá
Dìa
2 Lờ Trung Quốc Tất cả các loại cá (cá Bống, cá Hồng,
cá Mú, cá Dìa, cá Rô phi, cá Căn, cá Sơn)
3 Lưới bén Cá Đối, cá Móm, cá Căn, cá Dìa, cá
Ngạnh
5 Nhủi Các loại cá khai thác làm giống: cá
Trang 23Từ bảng và biểu đồ cho thấy nghề lờ Trung Quốc là nghề chiếm tỉ lệ cao nhất 66,7% Xếp sau đó là nghề soi chiếm 15% Xếp thứ 3 là nghề trủ điện chiếm 8,3% Tiếp theo là nghề nhủi chiếm 3,3%
Nghề lờ Trung Quốc được ngư dân sử dụng nhiều nhất, đánh bắt thâu tóm được tất cả các loại cá, kể cá những cá có kích thước cỡ nhỏ Đặc điểm ngư cụ lờ Trung Quốc mang tính hủy diệt cao, chúng gồm nhiều lồng bẫy riêng lẽ, liên kết thành 1 tay lờ dài 8 – 10 cm Kích thước mắt lưới nhỏ từ 10 – 16 mm
Nghề soi được ngư dân ở RNM sử dụng nhiều để đánh bắt các đối tượng cá Đối, cá Móm, cá Dìa, cá Mú
Nghề trủ điện vẫn còn hoạt động ở nhiều hộ xã Cẩm Thanh Đây là ngư cụ mang tính sát thương cao, đang cấm sử dụng vì dùng điện để đánh bắt cá, làm suy giảm nguồn lợi nghiêm trọng
Nghề lưới bén được ngư dân sử dụng để đánh bắt các đối tượng cá Đối, cá Móm, cá Dìa, cá Ngạnh Đặc điểm của ngư cụ: kích thước mắt lưới 15 mm, chiều dài lưới 30 m, cao khoảng 50 -60 cm Khai thác hiệu quả nhất khi trời động, mùa nước lớn Nghề lưới bén khai thác triệt để cả cá lớn và cá nhỏ RNM Cẩm Thanh, nghề lưới bén ít được sử dụng vì ngư dân chuyển sang nghề lờ Trung Quốc để đánh bắt cá
Nghề nhủi ngư dân ở RNM ít sử dụng, nhủi để đánh bắt các loại cá giống Đặc điểm ngư cụ nhủi được đan bằng các ngọn tre chéo nhau, giữa hai ngọn tre là một tấm “sáo” bện bằng những cọng tre vót nhỏ, đầu là một miếng gỗ có lưới mỏng Kích thước mắt lưới khoảng 2 mm Với kích thước rất nhỏ khi đến mùa cá giống kích cỡ hạt dưa di cư về rừng dừa nước, rong lá hẹ để trú ẩn thì hầu hết các
hộ đều đổ xô làm nghề này dẫn đến hệ sinh thái rừng ngập mặn bị ảnh hưởng nghiêm trọng
3.2 Nguồn lợi cá khai thác ở RNM xã Cẩm Thanh, Hội An
3.2.1 Thành phần loài cá kinh tế khai thác ở RNM xã Cẩm Thanh
Qua kết quả 4 đợt thu mẫu cá trực tiếp từ các nghề khai thác thủy sản trong vùng rừng ngập mặn xã Cẩm Thanh, Hội An Ngoài ra, nhiều mẫu cá còn được thu trực tiếp tại các điểm lên cá, chợ cá (chợ Bà Lê, chợ phố Hội An) và các người thu
Trang 24mua trong khu vực nghiên cứu Phân tích toàn bộ số mẫu thu đƣợc của các đợt khảo sát, xác định đƣợc thành phần loài cá khai thác trong rừng ngập mặn Cẩm Thanh, Hội An gồm 23 loài thuộc 3 bộ, 16 họ khác nhau
Kết quả phân tích các mẫu khảo sát dựa vào cuốn Động vật chí Việt Nam đƣợc trình bày ở bảng sau:
Bảng 3.3 Danh mục thành phần loài cá kinh tế khai thác ở RNM Cẩm
5 Pelates quadrilineatus (Bloch) Cá Căng 4 sọc *
6 Terapon jarbua (Forsskal) Cá Ong căng *
7 Siganus fuscescens (Houttuyn,
1782)