KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG ĐẶNG THỊ THỦY NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ VÀ SINH HỌC CỦA CÁC CHỦNG NẤM MỐC GÂY HẠI CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC TẠI KHU PHỐ CỔ HỘI AN, QUẢNG NAM KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Đ
Trang 1KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
ĐẶNG THỊ THỦY
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ VÀ SINH HỌC CỦA CÁC CHỦNG NẤM MỐC GÂY HẠI CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC TẠI KHU PHỐ CỔ HỘI AN,
QUẢNG NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÀ NẴNG - Năm 2014
Trang 2KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
ĐẶNG THỊ THỦY
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ VÀ SINH HỌC CỦA CÁC CHỦNG NẤM MỐC GÂY HẠI CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC TẠI KHU PHỐ CỔ HỘI AN,
QUẢNG NAM
Ngành: SƯ PHẠM SINH HỌC
Người hướng dẫn: TS Đỗ Thu Hà
ĐÀ NẴNG - Năm 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả khóa luận tốt nghiệp
Đặng Thị Thủy
Trang 4Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn giúp đỡ, động viên em trong suốt thời gian làm khóa luận
Xin chân thành cảm ơn!
Đặng Thị Thủy
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 GIỚI THIỆU VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, ĐẶC ĐIỂM KIẾN TRÚC KHU PHỐ CỔ HỘI AN QUẢNG NAM 3
1.1.1 Lịch sử hình thành 3
1.1.2 Đặc điểm kiến trúc 3
1.2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ NẤM MỐC PHÁ HOẠI GỖ 4
1.2.1 Sự phân bố của nấm mốc phá hoại gỗ 4
1.2.2 Đặc điểm hình thái và cấu tạo của nấm mốc phá hoại gỗ 5
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của nấm mốc gây hại gỗ 6 1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NẤM GÂY HẠI CÁC CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 10
1.3.1 Những nghiên cứu trên thế giới 10
1.3.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam 11
1.4 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 12
1.4.1 Vị trí địa lý, địa hình 12
1.4.2 Điều kiện khí hậu 12
1.4.3 Thủy văn 13
Trang 6CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 14
2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 14
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 14
2.3 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 14
2.3.1 Địa điểm nghiên cứu 14
2.3.2 Thời gian nghiên cứu 15
2.3.3 phạm vi nghiên cứu 15
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.4.1 Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa 16
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 17
2.4.3 Phương pháp xác định mức độ gây hại của nấm 20
2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 20
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 22
3.1 THÀNH PHẦN NẤM MỐC GÂY HẠI CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC Ở KHU PHỐ CỔ HỘI AN – QUẢNG NAM 22
3.2 ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CỦA CÁC CHỦNG NẤM MỐC GÂY HẠI TRÊN CÁC CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC TẠI KHU PHỐ CỔ HỘI AN – QN THEO THÀNH PHẦN CƠ CHẤT 25
3.2.1 đặc điểm phân bố của các chủng nấm mốc gây hại trên các công trình kiến trúc tại khu phố cổ Hội An – QN theo thành phần cơ chất 25
3.2.2 đặc điểm phân bố của các chủng nấm mốc gây hại trên các công trình kiến trúc tại khu phố cổ Hội An – QN theo từng vị trí trên cơ chất gỗ 29
3.3 ĐỘNG THÁI PHÁT TRIỂN CỦA CÁC CHỦNG NẤM MỐC GÂY HẠI TRÊN MỘT SỐ CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC Ở KHU PHỔ CỔ HÔI AN – QUẢNG NAM THEO THỜI GIAN 33
Trang 73.4 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA MỘT SỐ CHỦNG NẤM XUẤT HIỆN PHỔ BIẾN VÀ GÂY HẠI CHÍNH TRÊN CÁC CÔNG TRÌNH
KIẾN TRÚC Ở KHU PHỐ CỔ HỘI AN – QUẢNG NAM 35
3.4.1 Xác định khả năng sinh enzim xenlulaza ngoại bào của các chủng nấm mốc xuất hiện phổ biến và gây hại chính trên công trình kiến trúc ở khu phố cổ Hội An 35
3.4.2 Đặc điểm sinh lý, sinh hóa của các chủng nấm xuất hiện phổ biến và gây hại chính trên công trình kiến trúc ở khu phố cổ Hội An – QN 38
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 41
1 KẾT LUẬN 41
2 KIẾN NGHỊ 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43
PHỤ LỤC 47
Trang 93.1 Thành phần nấm mốc gây hại công trình kiến trúc gỗ ở
một số địa điểm tại khu phố cổ Hội An - QN 21
3.2 Số lượng nấm mốc gây hại trong một số loại cơ chất lấy
tại khu phố cổ Hội An (06/2013) 24
3.3 Số lượng nấm mốc gây hại trong một số loại cơ chất lấy
tại khu phố cổ Hội An (12/2013) 25
3.4 Đặc điểm phân bố các chủng nấm mốc gây hại công trình
kiến trúc gỗ tại khu phố cổ Hội An (tháng 02/2013) 29
3.5 Đặc điểm phân bố các chủng nấm mốc gây hại gỗ tại khu
phố cổ Hội An (tháng 06/2012) Phụ lục 02
3.6
Số lượng nấm mốc tổng số theo thời gian (tháng) tại một
số địa điểm thuộc khu phố cổ Hội An – QN trên cơ chất
gỗ
32
3.7
Khả năng sinh enzim xenlulaza ngoại bào của các chủng
nấm mốc gây hại chính trên các công trình kiến trúc tại khu
3.9 Ảnh hưởng của pH đến sự phát triển của nấm mốc xuất
hiện phổ biến và gây hại chính 39
Trang 10Khuẩn lạc của một số chủng nấm mốc xuất hiện phổ biến
và gây hại trên các công trình kiến trúc tại khu phố cổ Hội
An – QN
23
3.2
Cuống sinh bào tử và bào tử của các chủng nấm mốc xuất
hiện phổ biến và gây hại trên công trình kiến trúc tại khu
phố cổ Hội An – QN
23
3.3 Ống giống của 7 chủng nấm mốc xuất hiện phổ biến và gây
hại trên công trình kiến trúc tại khu phố cổ Hội An – QN 23
3.4 Hình ảnh nấm mốc gây hại gỗ tại một số địa điểm thuộc
khu phố cổ Hội An – QN 27
3.5 Hình ảnh nấm mốc gây hại trên xi măng tại một số địa
điểm thuộc khu phố cổ Hội An – QN 28
3.6 Hình ảnh nấm mốc gây hại gỗ tại một số địa điểm thuộc
khu phố cổ Hội An – QN 31
3.7
Động thái phát triển của các chủng nấm mốc tổng số trung
bình theo thời gian (tháng) ở một số địa điểm tại khu phố cổ
Trang 11MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Việt Nam là một đất nước có nền văn hóa lâu đời, giàu truyền thống và mang nhiều bản sắc riêng Là đất nước với hàng nghìn di tích lịch sử trải dài từ Bắc vào Nam Trong đó, quần thể kiến trúc khu phố cổ Hội An - Quảng Nam là một trong mười di tích lịch sử nổi tiếng được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới Quần thể kiến trúc khu phố cổ Hội An – Quảng Nam nằm trong vùng có khí hậu thay đổi theo mùa, độ ẩm cao là môi trường lý tưởng cho các chủng nấm mốc phát triển đã gây ra nhiều tác hại như làm mục, thay đổi màu vật liệu, giảm tuổi thọ, mất giá trị thẩm mỹ của công trình và các hiện vật trưng bày Ngoài ra, Bào tử của nấm có thể gây hen suyễn hoặc các dị ứng khác ảnh hưởng đến sức khỏe của con người [34] Đó là lí do vì sao quần thể kiến trúc khu phố cổ Hội An - Quảng Nam đang đối mặt với sự xuống cấp nhanh chóng Tuy nhiên ở nước ta, việc nghiên cứu bảo vệ di sản, di tích chỉ mới tập trung điều tra thành phần loài sinh vật có trong khu
hệ nhưng chưa đánh giá được mức độ gây hại cũng như sự phân bố của sinh vật và xây dựng biện pháp phòng trừ phù hợp với điều kiện sinh thái tại từng di tích
Vì vậy, cần xây dựng một hệ thống các biện pháp quản lý di sản dựa trên quan điểm tiếp cận sinh thái học là rất cần thiết Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn và với mong muốn góp phần hạn chế tác động gây hại của nấm đến công
trình kiến trúc di sản, chúng tôi tiến hành chọn đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm phân
bố và sinh học của các chủng nấm mốc gây hại công trình kiến trúc tại khu phố
cổ Hội An, Quảng Nam”
Trang 122 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Xác định được thành phần, đặc điểm phân bố và động thái phát triển của các chủng nấm mốc gây hại trên các công trình kiến trúc ở khu phố cổ Hội An – Quảng Nam (QN), làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất các biện pháp sinh học phòng trừ nấm có hiệu quả cao tại các địa phương nghiên cứu
3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 GIỚI THIỆU VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH, ĐẶC ĐIỂM KIẾN TRÚC KHU PHỐ CỔ HỘI AN QUẢNG NAM
Đình Cẩm Phô xây dựng từ rất sớm và được trùng tu năm 1817 Đây là một đình làng người Việt có kiến trúc hoàn chỉnh, tiêu biểu với không gian cây đa, bến nước, sân đình và bố trí mặt bằng gồm bái đình ở giữa, phương hướng của đình phía trước kết hợp với nhà đông, nhà tây hai bên Hệ thống kiến trúc cột đình và kèo mái được sử dụng chủ yếu là gỗ sơn, kiền kiền và muông [22]
Chùa Cầu là kiến trúc biểu tượng của Hội An, được xây dựng vào năm 1593 được trùng tu lại năm 1997 Cầu dài khoảng 18 m, mái chùa lợp ngói âm dương che kín cầu, móng cầu được làm bằng vòm trụ đá, phần trên có kết cấu gỗ Gắn liền với cầu là một ngôi chùa nhỏ nằm về phía thượng nguồn của sông Hoài Chùa và cầu đều làm bằng gỗ sơn, có chạm trổ rất công phu, mặt chùa quay về phía bờ sông [22]
Trang 14Nhà cổ Tân Ký đặc trưng cho kiến trúc nhà cổ ở khu phố cổ Hội An Kiến trúc nhà hình ống luôn có một sân trời, được lát đá, trang trí bể nước, non bộ, cây cảnh,
để đón ánh sáng và tạo không gian xanh Toàn bộ không gian của ngôi nhà có hệ thống cột gỗ làm từ gỗ sơn và muông, đây là bộ phần tạo dựng nên khung nhà Một
số vị trí khác vật liệu gỗ được thay thế bằng gỗ kiền kiền, mít, Đặc điểm kiến trúc này được chạm khắc với nhiều hoa văn tinh xảo [22]
Đặc điểm địa hình và khí hậu thủy văn của Hội An là điều kiện để hình thành thương cảng (từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XVIII) Trải qua những biến cố của thời gian, nhiều công trình kiến trúc tại đây bị xuống cấp nghiêm trọng Do đó, cần xây dựng hệ thống các biện pháp bảo tồn và quản lý để giữ gìn di sản văn hóa này [19]
1.2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ NẤM MỐC PHÁ HOẠI GỖ
1.2.1 Sự phân bố của nấm mốc phá hoại gỗ
Nấm mốc phân bố rất rộng rãi trong đất, nước, phân chuồng, bùn thậm chí cả trong cơ chất mà vi khuẩn và xạ khuẩn không phát triển được
Sự phân bố của nấm mốc trong không khí cũng khác nhau tùy vùng Không khí không phải là môi trường sống của nấm mốc nhưng trong không khí có rất nhiều nấm mốc tồn tại
Khả năng phá hoại gỗ mạnh hay yếu, số lượng loài và quả thể nhiều hay ít phụ thuộc vào đặc điểm của từng loài nấm, tuổi của vật liệu gỗ và các điều kiện ngoại cảnh như: địa hình, khí hậu, hoạt động của động vật và con người [15]
Vật liệu gỗ được sử dụng để xây dựng kiến trúc là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân bố của nấm Theo F G Browne (1968) hầu hết các loài nấm phá hoại
gỗ có đời sống kí sinh hoặc hoại sinh Quá trình phân hủy gỗ là một chuỗi kế tiếp các loại nấm Theo Clubbe (1980), Eaton và Hale (1993), nghiên cứu, loài tiên phong xâm hại cơ chất là vi khuẩn – nấm mốc cấp sơ cấp – nấm gây biến màu – nấm mục mềm – nấm mục (nấm mục khô, nấm mục trắng, nấm mục nâu) – nấm mốc thứ cấp [26] Những phần gỗ nào bị phá hủy nhanh thì tốc độ mọc của hệ sợi
và quả thể nấm nhanh và tập trung hơn
Trang 15Sự phân bố các loài nấm phá hoại gỗ còn phụ thuộc vào yếu tố địa lí và địa hình như: độ cao, hướng phơi, độ dốc của kiến trúc Đây là những nhân tố điều tiết đến tiểu vùng khí hậu, có ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng và phát triển của nấm [15] Ngoài ra, sự phân bố của nấm mốc còn phụ thuộc nhiều vào độ ẩm, độ thoáng khí và độ pH môi trường Chúng có nhiều trong các lớp đất thịt trung bình
và kiềm yếu hoặc axit yếu, trong giới hạn pH khoảng 6,8 – 7,5 Số lượng nấm mốc trong đất cũng thay đổi theo thời gian trong năm
Các nhân tố chính nêu trên đã ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, tác động trực tiếp hay gián tiếp trong suốt quá trình hoặc một giai đoạn phát sinh và phát triển của nấm mốc phá hoại gỗ
1.2.2 Đặc điểm hình thái và cấu tạo của nấm mốc phá hoại gỗ
Nấm mốc có cấu tạo hình sợi phân nhánh, những sợi này sinh trưởng ở đỉnh và phát triển rất nhanh, tạo thành một đám chằng chịt các sợi gọi là các khuẩn ty thể
hay hệ sợi nấm Nấm mốc có cấu tạo gồm khuẩn ty và bào tử [20], chiều ngang của
khuẩn ty thay đổi từ 3 – 10 µm Có hai loại khuẩn ty: khuẩn ty khí sinh mọc trên bề mặt môi trường, từ đây sinh ra cơ quan sinh dưỡng và khuẩn ty cơ chất mọc sâu vào môi trường [8] Tốc độ tăng trưởng của sợi nấm thay đổi rất lớn, phụ thuộc vào từng loài, tuỳ theo cơ chất mà hệ sợi nấm phát triển thành các dạng khác nhau Trên các vật thể rắn như gỗ, hệ sợi nấm thường rất mỏng và lan rộng [9]
Bào tử là cơ quan sinh sản chủ yếu của nấm mốc Khi nấm mốc trưởng thành
sẽ xuất hiện khuẩn ty khí sinh, từ các khuẩn ty khí sinh này sinh sản ra các bào tử Bào tử là các tế bào có hình dạng khác nhau hình bầu dục hoặc hình tròn, kích thước khoảng 10 µm, khối lượng khoảng 10-11 gam Bào tử nấm được tạo thành trong nang kín và chỉ được giải phóng ra ngoài khi nang mở, được gọi là bào tử kín Đối với mỗi loài nấm khác nhau thì khả năng phát tán của bào tử nấm mốc không giống nhau [9], [17]
Trang 161.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của nấm mốc gây hại gỗ
a Nhiệt độ
Nhiệt độ có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển và tồn tại của nấm hoại sinh trên
gỗ Một cuộc điều tra toàn diện của Humphrey và Siggers (1933), ngưỡng nhiệt độ tối thiểu của các loại nấm nói chung là 240C, nhiệt độ trung bình tối ưu từ 24 –
320C, và ngưỡng nhiệt độ tối đa 320C Tốc độ tăng trưởng của nấm tỉ lệ thuận với khả năng gây mục và phá hủy gỗ Tuy nhiên, mỗi loài khác nhau có thể tồn tại ở những ngưỡng nhiệt độ khác nhau [26]
Theo nghiên cứu của Jennings và Lysek (1999) [24] đối với một số loài nấm mốc, giới hạn dưới của hệ sợi nấm từ - 70C đến - 80
C (Reiss 1997) [23] Những loài nấm ưa lạnh, có ngưỡng phát triển nhỏ hơn 200C Loài ưa nhiệt trung bình, phát triển tối ưu ở nhiệt độ từ 200C đến 400C, phát triển mạnh ở nhiệt độ 400C Nhiệt độ tối đa cho sự phát triển của sợi nấm và gỗ bị phá hủy từ 400C - 500C, nếu quá ngưỡng nhiệt độ này các thành phần của gỗ bị biến tính bởi nhiệt độ [28] Trong một số nghiên cứu cho biết để tiêu diệt một số loài nấm trong điều kiện khô phải mất nhiều thời gian hơn trong điều kiện ẩm ướt [29]
b Độ ẩm
Độ ẩm không khí là một yếu tố quan trọng thúc đẩy sự sinh trưởng và phát triển của nấm trên vật liệu gỗ Độ ẩm của gỗ cũng là yếu tố liên quan đến độ bền của cơ chất và khả năng phân hủy gỗ của nấm Sự hình thành lớp nước tự do trong thành tế bào gỗ tạo điều kiện cần thiết cho sự tăng trưởng của tế bào nấm (Deacon, 1984) Độ ẩm của gỗ có thể tăng lên đến 150 – 250% trong quá trình nấm phân hủy
gỗ [26], [39]
Hoạt độ của nước (aw) trong cơ chất được biểu thị bằng tỷ lệ giữa áp suất hơi nước trên bề mặt cơ chất (P), so với áp suất hơi nước trên bề mặt nước nguyên chất (P0) ở cùng một nhiệt độ (t) xác định
aw = P/ P0 Giảm aw của môi trường sẽ dẫn đến làm chậm quá trình phát triển của vi nấm, đến mức độ nào đó sẽ ức chế hoàn toàn sự phát triển của chúng Hoạt độ của
Trang 17nước tối thiểu cho hầu hết các vi khuẩn là 0,98 aw cao hơn nhiều so với nấm mốc phát triển ở hoạt độ 0,80 aw Đối với loài nấm hoại sinh trên gỗ thuộc lớp
Basidiomycetes phát triển trên cơ chất có aw = 0,97 Trong điều kiện môi trường
hiếu khí và kị khí của một số loài nấm mốc thuộc chi Aspergillus vẫn có khả năng
- Nhân tố ánh sáng: chu kỳ sáng – tối hằng ngày có mối quan hệ phức tạp đối với sự phát triển của nấm Theo nghiên cứu của A.S Bonderxev (1953) cho rằng, nếu thiếu ánh sáng hoặc ánh sáng quá mạnh đều ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của nấm phá hoại gỗ Nấm tiếp nhận và tương tác với các tín hiệu ánh sáng theo nhiều cách khác nhau, nhằm định hướng tăng trưởng phù hợp với điều kiện môi trường [15]
- Hàm lượng ôxi hay lượng không khí có trong gỗ cũng ảnh hưởng đến các giai đoạn phát triển của nấm Hầu hết các loại nấm đều sống trong điều kiện hiếu khí và ôxi là yếu tố tiên quyết để mở rộng sự phát triển của hệ sợi Ôxi trong môi trường không khí là 21%, nhưng sự phát triển của nấm cần rất ít Lượng ôxi cần nhiều hay ít phụ thuộc vào các loại nấm khác nhau [26]
- Nấm phá hoại gỗ phát triển cần các hợp chất hữu cơ, nước và một số khoáng
vô cơ khác để sinh trưởng Theo nghiên cứu của Bech – Andersen, (1987) nấm có thể tổng hợp các chất dinh dưỡng cần thiết có trong các vật liệu xây dựng như thạch cao, đá, gỗ, Các chất khoáng dinh dưỡng chính cần thiết cho sự phát triển của nấm như: cacbon, nitơ, photpho, lưu huỳnh, magiê và kali (Jennings và Lysek 1996, Zabel và Morrell, 1992, Hawker 1950) Trong đó, bốn khoáng chất cacbon, nitơ, photpho, lưu huỳnh chiếm hầu hết trong thành phần cấu trúc của tế bào nấm hoặc
Trang 18sợi nấm Riêng magiê là khoáng cần thiết để kích hoạt một số enzim quan trọng và khoáng kali đảm bảo môi trường ion thích hợp cho enzim hoạt động [26]
1.2.4 Sự phá hoại của nấm
a Đặc điểm của cơ chất gỗ
Gỗ là nhóm vật liệu phổ biến trong các công trình kiến trúc, độ bền và kết cấu của gỗ có thể bị biến tính trong quá trình sử dụng Sự thay đổi này liên quan đến khu hệ sinh vật tồn tại trong cơ chất [27] Sự phá hoại gỗ có liên quan đến hoạt động liên tục của khu hệ nấm, sự tương tác giữa nấm với nhóm sinh vật khác và các yếu tố môi trường Năm 2006, Elissetche et al đã khẳng định, sự hoạt động của nấm tiết vào môi trường cơ chất các enzim phân hủy polisaccarit của gỗ nên khả năng phá hủy mạnh mẽ và nhanh hơn so với khi vật liệu tiếp xúc với bề mặt đất [23], [40]
Theo một số nghiên cứu của Buggeln (1999), Garstang và cs (2002), Ashton
và cs (2007), Pis Kur (2009) cho thấy quá trình khử axit qua cơ chế phân giải xenluloza của vi sinh vật làm giảm độ pH của gỗ Axit axetic, axit oxalic và một số axit hữu cơ dễ bay hơi khác là sản phẩm làm suy giảm cấu trúc gỗ [25] Song song với việc giảm tính chất cơ học của gỗ, độ bền cơ chất gỗ giảm cũng là dấu hiệu của mục [2] Theo báo cáo của Humar et al (2006) cho rằng, sau 1 tuần tiếp xúc của
nấm Gloeophyllum trabeum với gỗ sẽ làm giảm độ đàn hồi của gỗ là 7,4% và loài Antrodia vaillantii là 8,3% [26]
Các loài nấm gây biến màu xâm nhập vào gỗ, lấy chất dinh dưỡng trong phần
gỗ dác làm thay đổi màu sắc là một biểu hiện của suy thoái gỗ Độ ẩm cơ chất lớn hơn 20% và một lượng nhỏ không khí trong gỗ là điều kiện phát triển của nấm gây biến màu [9]
b Khả năng phá hoại gỗ của nấm mốc
Nấm mốc phát triển trên bề mặt gỗ hoàn toàn giống như dạng mốc phát triển
trên các cơ chất khác Nhiệt độ và độ ẩm có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát
triển của nấm mốc Hệ sợi của nấm mốc chỉ phát triển trên bề mặt, không ảnh
hưởng đến tính chất cơ lý của gỗ Bởi vậy, khi bề mặt gỗ bị nấm xâm hại có thể lây
Trang 19nhiễm mốc sang các cơ chất khác như: tường xi măng, đá, vật dụng nội thất Đặc biệt, nấm mốc có khả năng gây dị ứng đối với da hoặc hô hấp ở người khi tiếp xúc [8], [20]
c Cơ chế quá trình phân giải xenluloza của nấm
Xenluloza là một polisaccarit, đây là phân tử không hòa tan và khó phân giải Xenluloza có nhiều trong tế bào thực vật, chiếm 60 – 70% [13] Rất nhiều loài nấm
và vi khuẩn có khả năng phân hủy xenluloza bằng cơ chế yếm khí hay hiếu khí, ưa nhiệt hoặc ưa nhiệt trung bình Hiện nay, có rất nhiều ý kiến khác nhau về cơ chế thuỷ phân xenluloza, như là cơ chế phân huỷ của enzim xenlulaza theo Mandels và Reese (1964) [17]
Xenluloza Xenluloza xenlobioza glucoza
tự nhiên C1 vô định hình Cx β-glucozidaza
Theo Reese thì C1 là enzim “tiền nhân tố thuỷ phân” có tác dụng chuyển hóa xenluloza tự nhiên, chuỗi này bị phân cắt bởi Cx tạo thành xenlobioza và cuối cùng tạo glucoza nhờ β-glucôzidaza
Hệ enzim xenlulaza được sản sinh bởi nhiều loại nấm khác nhau: Aspergillus niger,Aspergillus oryzae, Trichoderma viride, Phanerochaete chrysoglucozaorium,
Do đó, hoạt tính của enzim xenlulaza phụ thuộc vào từng loài nấm và các yếu tố môi trường như độ pH, nhiệt độ
d Cơ chế quá trình phân giải lignin của nấm
Lignin là một chất hóa học phổ biến chiếm 17% đến 33% thành phần gỗ, giúp màng tế bào thực vật cứng chắc và giòn Nấm mục có khả năng phân hủy hoàn toàn lignin thành H2O2 và H2O Sự phân hủy lignin xảy ra trong giai đoạn chuyển hóa thứ cấp của nấm bắt đầu khi có sự hạn chế các chất như: nitrogen, cacbon hay sulphur [16] Hai enzim giữ vai trò chủ đạo trong việc phân giải lignin là manganaza peroxidaza (MnP) và lignin peroxidaza (LiP) tạo ra H2O2 Enzim MnP
có thể hình thành H2O2 từ O2 khi có mặt NADH, NADPH hay glutathione và enzim glyoxal oxidaza (GLOX) mới được tạo ra trong giai đoạn chuyển hóa thứ cấp của nấm mục và hoạt động như LiP [26]
Trang 20Quá trình phân hủy lignin được hệ thống hóa như sau :
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NẤM GÂY HẠI CÁC CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.3.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Những thiệt hại do nấm gây ra đối với các công trình kiến trúc không thể tính bằng tiền và rất khó khôi phục lại được Chính vì vậy việc quản lí bảo tồn các công trình kiến trúc tại các nước tiên tiến đã được quan tâm và tiến hành từ rất sớm Vào đầu thế kỷ XX nấm học đã phát triển mạnh mẽ và trở thành một trong những ngành mũi nhọn được con người quan tâm [37] Nhiều nghiên cứu về nấm đã xuất hiện ở các khu vực khác nhau trên thế giới [29]
Năm 1981, Strzelczyk báo cáo trong đề tài nghiên cứu sơ bộ đánh giá tác hại của nấm mốc lên vật liệu xây dựng ở các công trình di sản văn hóa Mỹ Latinh, tác giả cho rằng các nhóm vật liệu xây dựng bằng đá bị suy thoái nghiêm trọng, chủ
yếu là do chủng nấm mốc Aspergillus glaucus tiết ra các axit vô cơ và hữu cơ lâu
ngày làm bào mòn, thay đổi màu của vật liệu [21]
Năm 2008, Keopannha tập trung nghiên cứu tác hại của nấm mốc lên các bộ sưu tập nghệ thuật, văn hóa thuộc bảo tàng các di sản văn hóa Lào Keopannha đã xác định nấm mốc phát triển trên bề mặt vật liệu gây biến thoái như làm đổi màu, mất màu Nấm mốc thường gây hại đối với các vật liệu có nguồn gốc xenluloza
như gỗ, giấy, ván… đa số là các chủng Aspergillus, Alternaria, Cladoglucozaorium, Penicillium, Curvularia, … [31]
Theo Viitane et al, 2010 cho rằng các chủng nấm mốc đã có những tác động tiêu cực lên các nhóm vật liệu khác nhau Trong đó, một số chủng nấm mốc được tìm thấy trên bề mặt gỗ, gạch, xi măng, đá, một số có mặt bên trong của các vật liệu này [21]
manganaza peroxidaza Nitrogen + Oxalic + Glutathione Lignin
Lignin peroxidaza H2O2 + H2O
Trang 211.3.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam
Cho đến nay ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về nấm gây hại và mức
độ gây hại của chúng trên các trong công trình kiến trúc nói chung và đối với di sản nói riêng vẫn chưa có hệ thống
Năm 1966, Hoàng Thị Mỹ đã nghiên cứu và mô tả được 15 loài nấm phá hoại
gỗ với công trình: “Luận khảo về các bệnh thường hại cây cối tại miền Nam Việt Nam” [2]
Từ năm 1995 – 1997 nhóm tác giả của Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tiến hành nghiên cứu về nấm mốc gây hại các hiện vật của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, đã xác định 2 chi
nấm mốc gây hại chủ yếu: Aspergillus và Penicillium [12]
Năm 1998, Ngô Anh báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở:
“Nghiên cứu khu hệ nấm lớn (Macrofungi flora) ở Thừa Thiên Huế” tác giả đã công
bố 272 loài nấm lớn, trong đó có 3 loài nấm phá hủy gỗ ở các công trình kiến trúc,
di tích lịch sử thuộc di sản văn hóa thế giới ở Huế [2] Đến cuối năm 2000 tác giả cũng đã công bố kết quả công trình “Nghiên cứu họ Coriolaceae Sing ở Huế” được
78 loài, 21 chi thuộc họ Coriolaceae Sing Trong đó đa số các loài thuộc họ này là loài hoại sinh gây mục trắng và mục nâu phá hủy gỗ rừng, kiến trúc nhà ở, di tích lịch sử [3]
Bên cạnh đó, cũng có một số công trình nghiên cứu liên quan đến bảo tồn các công trình kiến trúc khác như : “Phòng chống nấm mốc cho gỗ di tích bằng hoá chất” của Đỗ Ngọc Cương (2007); “Nghiên cứu chất bảo quản bề mặt đá di tích” của Đoàn Hồng Minh (2001); “Nghiên cứu chất bảo quản bề mặt gạch tại di tích Thành cổ” của Nguyễn Trọng Oánh (2003), Các công trình nghiên cứu này đều đặt ra mục tiêu là lựa chọn loại hóa chất diệt nấm mốc cao, không tương tác với vật liệu và ít gây ô nhiễm môi trường Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu chưa đưa ra được quy trình xử lý hợp lý và có thể áp dụng rộng rãi [12]
Vì vậy, việc nghiên cứu sinh vật gây hại trên công trình kiến trúc nói chung
và các loài nấm gây hại nói riêng có ý nghĩa quan trọng Đây cũng là cơ sở khoa
Trang 22học cần thiết nhằm góp phần xây dựng hệ thống biện pháp bảo tồn, trùng tu các di sản và kiến trúc xây dựng đạt hiệu quả cao
1.4 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
108023'10" Phía Ðông giáp biển Ðông Phía Nam giáp huyện Duy Xuyên
Phía Tây và Bắc giáp huyện Ðiện Bàn
Thành phố Hội An cách quốc lộ 1A khoảng 9 km về phía Đông, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 25 km về phía Đông Nam, cách thành phố Tam Kỳ khoảng 50
km về phía Đông Bắc, phía Đông là bờ biển
b Địa hình
Địa hình Hội An nhìn chung thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, độ dốc thoải trung bình 0,0150 Địa hình các vùng đồng bằng của Hội An chia thành ba vùng: vùng cồn cát, vùng thấp trũng, vùng mặt nước Khu phố cổ Hội An nằm trọn trong phường Minh An, diện tích rộng khoảng 30 ha, với những con đường ngắn và hẹp, có đoạn uốn lượn, chạy dọc ngang theo kiểu bàn cờ Nằm trong vùng thấp trũng nên thường ngập nước trong mùa mưa, lũ
1.4.2 Điều kiện khí hậu
a Nhiệt độ trung bình năm
Khí hậu ở đây là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc và miền Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh thoảng có những đợt rét mùa đông nhưng không đậm và không kéo dài Năm 2013, Hội An có thời gian nhiệt độ trung bình tăng 28 – 330
C ở vào tháng 6, 7, 8 Các tháng mùa đông như 12, 1, 2 nhiệt độ chỉ vào khoảng 18 – 230C
Trang 23b Độ ẩm không khí
Độ ẩm không khí tương đối dao động từ 82%, tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 12, với giá trị nhiều năm là 90%, tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 7 với giá trị trung bình nhiều năm là 75% Trong mùa khô, khi có sự hoạt động của gió Tây nam khô nóng mạnh, độ ẩm không khí thấp nhất có thể xuống 25 – 30%
c Lượng mưa
Ở Hội An không có mùa đông lạnh Mùa khô từ khoảng tháng 3 đến tháng 8, mùa mưa thường kéo dài từ tháng 10 đến tháng Giêng năm sau Lượng mưa trung bình năm 2066 mm Tháng 12 là tháng có lượng mưa lớn nhất, tháng 3 có lượng
Trang 24CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Các chủng nấm mốc phân lập từ các mẫu nấm mốc lấy trên cơ chất gạch, gỗ
và xi măng ở khu phố cổ Hội An – QN
2.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Xác định thành phần các chủng nấm mốc gây hại trên một số công trình kiến trúc ở khu phố cổ Hội An – QN
- Nghiên cứu đặc điểm phân bố và động thái phát triển của các chủng nấm mốc gây hại trên các công trình kiến trúc ở khu phố cổ Hội An – QN theo thành phần cơ chất (gạch, gỗ và xi măng) và từng vị trí của cơ chất trên gỗ
- Nghiên cứu đặc điểm phân bố và động thái phát triển của các chủng nấm mốc gây hại trên một số công trình kiến trúc gỗ ở khu phố cổ Hội An – QN theo thời gian (tháng)
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học của chủng nấm mốc xuất hiện phổ biến và gây hại chính, trên một số công trình kiến trúc gỗ ở khu phố cổ Hội An – QN
2.3 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.3.1 Địa điểm nghiên cứu
a Địa điểm thu mẫu ngoài thực địa
Lấy mẫu nấm mốc trên các cơ chất là gỗ tại khu phố cổ Hội An – Quảng Nam: đình Cẩm Phô, chùa Cầu và nhà cổ Tân Ký Mỗi địa điểm lấy 3 mẫu trên các vị trí
cơ chất gỗ
Trang 25Chùa Cầu Đình Cẩm Phô Nhà cổ Tân Ký
Hình 2.1 Sơ đồ địa điểm lấy mẫu tại khu phố cổ Hội An – QN
b Địa điểm nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
+ Phòng thí nghiệm Hóa sinh – Vi sinh, khoa Sinh – Môi trường, trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
+ Phòng thí nghiệm Vi sinh – Hóa sinh, trường Cao Đẳng Lương Thực Thực Phẩm
+ Phòng Vi sinh - Trung tâm Môi trường thành phố Đà Nẵng
2.3.2 Thời gian nghiên cứu
Thời gian thực hiện: từ tháng 06/2012 đến tháng 04/2014
2.3.3 phạm vi nghiên cứu
Do thời gian có hạn nên chúng tôi chỉ tiến hành nghiên cứu trong phạm vi như sau:
- Lấy mẫu nấm mốc nghiên cứu tại 3 địa điểm đình Cẩm Phô, chùa Cầu, nhà
cổ Tân Ký ở khu phố cổ Hội An – QN
- Xác định thành phần nấm mốc gây hại trên các công trình kiến trúc gỗ, gạch,
xi măng tại 3 địa điểm đình Cẩm Phô, Chùa Cầu, nhà cổ Tân Ký ở khu phố cổ Hội
An – QN
1
Trang 26- Nghiên cứu đặc điểm phân bố và động thái phát triển của các chủng nấm mốc gây hại trên các công trình kiến trúc ở khu phố cổ Hội An – QN theo thành phần cơ chất (gạch, gỗ và xi măng) và từng vị trí của cơ chất trên gỗ
- Nghiên cứu đặc điểm phân bố và động thái phát triển của các chủng nấm mốc gây hại trên các công trình kiến trúc gỗ ở 3 khu vực (đình Cẩm Phô, chùa Cầu, nhà cổ Tân Ký) tại khu phố cổ Hội An – QN theo thời gian (tháng), trong khoảng từ tháng 06/2012 – 04/2014
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học của chủng nấm mốc xuất hiện phổ biến và gây hại chính trên một số công trình kiến trúc gỗ ở khu phố cổ Hội An – QN
2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.4.1 Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa
- Ẩm kế đo nhiệt độ, độ ẩm không khí và kính lúp
b Nguyên tắc thu mẫu [6] [7]
- Yêu cầ
- Ghi phiếu điều tra mẫu: khi thu mẫu cần ghi lại thông tin về giá thể, địa điểm, số lượng, ngày thu, nhiệt độ, độ ẩm không khí nơi lấy mẫu và tên người thu mẫu
- Lấy mẫu nấm theo mùa: mùa khô (tháng 6, 7), mùa mưa (tháng 11, 12), mùa xuân (2, 3) Mỗi tháng lấy mẫu 2 lần vào đầu tháng và giữa tháng
- ấy mẫu lần tiếp theo
Trang 27c Cách thu mẫu
Khi thu mẫu dùng dao cạo nhẹ trên bề mặt cơ chất gỗ bị mốc, rồi cho mẫu thu được vào túi nilông Để hạn chế sự nhiễm mẫu trong quá trình thu cần lưu ý sử dụng dao lấy mẫu một lần đã vô trùng và cần khử trùng lại dưới ngọn lửa đèn cồn tại địa điểm thu mẫu
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm
a Phương pháp phân lập nấm mốc
- Phân lập các mẫu dựa trên phương pháp phân lập của Egorov [10]
- Phân lập trên môi trường Czapek
- Chọn khuẩn lạc riêng rẽ và cấy truyền vào các ống thạch nghiêng để bảo quản giống
- Cách tiến hành:
+ Cân 0,1 gam mẫu đem nghiền, cho vào bình tam giác 250 ml có chứa 99 ml nước cất vô trùng, lắc mẫu trên máy lắc ngang với tốc độ 100 vòng/phút trong thời gian 15 phút Dịch mẫu thu được có độ pha loãng 10-2
+ Dùng pipet vô trùng hút 1 ml dung dịch trên cho sang ống nghiệm chứa sẵn
9 ml nước vô trùng, lắc đều ta được độ pha loãng 10-3 Tiếp tục pha loãng như vậy cho đến độ pha loãng 10-4, 10-5 Dùng pipet vô trùng hút ở mỗi độ pha loãng 0,1 ml dịch mẫu và nhỏ vào hộp petri có chứa môi trường Czapek vô trùng Sau đó dùng que trang đều giọt dịch trên mặt thạch Mỗi độ pha loãng cấy trên 3 đĩa petri, bao gói cẩn thận và nuôi cấy trong tủ ấm ở nhiệt độ 28 – 300C trong 3 - 5 ngày để tạo
thành các khuẩn lạc riêng rẽ Chọn những khuẩn lạc riêng rẽ, mọc tốt, cấy truyền sang ống thạch nghiêng chứa cùng môi trường phân lập cho đến khi thuần chủng Bảo quản giống ở nhiệt độ 4 - 60C [10]
b Phương pháp giữ giống và bảo quản mẫu vật
- Đối với nấm mốc: để bảo quản giống cho những nghiên cứu tiếp theo, chúng tôi thực hiện theo phương pháp của Egorov Ống giống được giữ ở nhiệt độ 4 – 60C, hằng tháng cấy lại một lần [10]
Trang 28c Phương pháp xác định số lượng tế bào vi sinh vật
Số lượng tế bào sống trong các cơ chất phân lập trên môi trường dinh dưỡng đặc được biểu thị bằng đơn vị CFU (Colony Forming Unit), 1 CFU tương ứng với 1 khuẩn lạc phát triển từ 1 tế bào ban đầu của 1 loại vi sinh vật trên môi trường dinh dưỡng trong đĩa thạch Tính số lượng tế bào vi sinh vật trong 1gam cơ chất theo công thức [7]:
W
Df A n
N
Trong đó:
N: tổng số CFU/g mẫu
A: số lượng khuẩn lạc trung bình trên 1 hộp petri ở từng độ pha loãng
n: số giọt dung dịch trung bình trong 1ml dịch pha loãng
Df: độ pha loãng
W: trọng lượng khô của 1gam mẫu [7]
d Phương pháp phân loại các chủng nấm
+ Các cấu trúc khác: bó sợi, bó giá, các cấu trúc mang bào tử trần như đĩa giá, túi giá, đệm nấm, hạch nấm, …
- Quan sát các đặc điểm vi học dưới kính hiển vi quang học các đặc điểm như: sợi nấm (có vách ngăn, không có vách ngăn, có mấu), bào tử trần, bộ máy mang bào
tử, bộ máy mang bào tử trần, tế bào sinh bào tử trần
Trang 29e Nghiên cứu đặc điểm sinh lý, sinh hóa của một số chủng nấm gây hại chính phổ biến
* Xác định nhiệt độ tối ưu
Nuôi cấy các chủng nấm trên môi trường đặc thích hợp ở nhiệt độ 10, 15, 20,
25, 28, 30 và 350C Mỗi ngưỡng nhiệt độ có 3 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc lại là 3 đĩa petri Sau thời gian 2 – 8 ngày lấy ra quan sát khả năng sinh trưởng HSCC, HSKS ở các điều kiện nhiệt độ khác nhau Đo đường kính khuẩn lạc (mm)
* Xác định pH tối ưu
+ Các ngưỡng pH thí nghiệm là 5; 5,5; 6; 6,5; 7; 7,5; 8
+ Chuẩn bị môi trường cho vào cốc với các ngưỡng pH (5; 5,5; 6; 6,5; 7; 7,5; 8) + Nuôi cấy các chủng nấm mốc trên môi trường Czapek, ở nhiệt độ thích hợp điều chỉnh pH = 5,0 – 8,0, sau thời gian 2 - 8 ngày lấy ra quan sát khả năng sinh trưởng ở các pH khác nhau và xác định pH tối ưu
+ Cách đo pH: cho máy đo pH vào mỗi cốc môi trường, bật công tắc điện cho quay Khi nhìn màn hình hiện lên pH cần sử dụng, nếu cần pH < 6 tiến hành thêm HCl vào, nếu cần pH > 6 cho thêm NaOH vào Sau khi được pH ở các ngưỡng khác nhau, đổ môi trường này sang các bình tam giác, dùng nút bông đậy kín Sau đó, cho vào nồi hấp ở nhiệt độ 1210C, áp suất 1,5 atm, thời gian 25 phút Khi cốc môi trường đã nguội (550C), rót ra đĩa petri, để tiến hành cấy nấm Mỗi công thức có 3 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc lại là 3 đĩa petri Đo đường kính khuẩn lạc (mm) sau 8 ngày nuôi cấy nấm [21]
* Xác định khả năng sinh enzim xenlulaza ngoại bào
Sử dụng phương pháp khối thạch bằng cách đục lỗ, nhỏ dịch lên men rồi đo vòng phân giải (D - d, mm), D là đường kính vòng phân giải, d là đường kính lỗ khoan Sử dụng môi trường cơ sở có công thức (g/100 ml), NaHPO4 – 0,615, axit xitric – 2,25, thạch – 2,0, nước 100 ml Sau đó bổ sung cơ chất: CMC tỷ lệ 1% vào từng bình môi trường, khử trùng 0,8 – 1atm/30 phút Đổ ra hộp petri khoan thạch, nhỏ dịch nuôi cấy vào các lỗ khoan, để ở nhiệt độ 28 – 300C trong 1 – 2 giờ lấy ra tráng thuốc thử tương ứng lên trên hộp petri, để yên đến khi xuất hiện vòng phân
Trang 30giải thì đổ thuốc thử thừa rồi đo vòng phân giải Đối với CMC hiện bằng bằng thuốc thử lugol [7]
2.4.3 Phương pháp xác định mức độ gây hại của nấm
Tiêu chí để đánh giá mức độ gây hại của nấm mốc phá hoại công trình kiến trúc căn cứ vào [11]:
- Khả năng phá hoại của các chủng nấm đối với mỗi di tích
- Đặc điểm sinh học hình thái của loài bắt gặp
- Sự gây hại của nấm, tác động đến mĩ quan di tích
Bảng 2.1 Tiêu chí đánh giá mức độ gây hại của nấm đến công trình kiến trúc
1 Gây hại rất nhẹ Mức độ gây hại từ 10 – 20% +
2 Gây hại nhẹ Mức độ gây hại >20 – 40% ++
3 Gây hại vừa Mức độ gây hại >40 – 60% +++
4 Gây hại nặng Mức độ gây hại >60 – 80% ++++
5 Gây hại nghiêm trọng Mức độ gây hại > 80% +++++
2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thu thập được phân tích theo hai phương pháp:
* Phương pháp thống kê trên phần mềm GLUCOZASS (Statistical Package for the Socical Sciences) và sử dụng phép thử Duncan để kiểm định mức độ có ý nghĩa của các trung bình nghiệm thức
* Phương pháp xử lí và đánh giá theo phương pháp toán thống kê sinh học với các thông số sau:
1
Trong đó: X : giá trị trung bình
n: số lần nhắc lại
i: số lần lấy mẫu
Trang 31n i
Trang 32CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 3.1 THÀNH PHẦN NẤM MỐC GÂY HẠI CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC Ở KHU PHỐ CỔ HỘI AN – QUẢNG NAM
Qua phân tích với 36 mẫu lấy tại 03 địa điểm: đình Cẩm Phô, chùa Cầu, nhà
cổ Tân Ký thuộc khu phố cổ Hội An – QN Dựa vào đặc điểm hình thái khuẩn lạc, hình dạng tế bào dưới kính hiển vi và dựa vào khóa phân loại của Bùi Xuân Đồng (1984) [9], Robert A Samson (1984) [38] và Katsuhiko Ando (2002) [30 ] Tại khu phố cổ Hội An – QN đã xác định được 31 chủng nấm mốc thuộc 07 chi, kí hiệu là
HA – 1HA – 31 Kết quả được trình bày tại bảng 3.1
Bảng 3.1 Thành phần nấm mốc gây hại công trình kiến trúc gỗ ở một số
địa điểm tại khu phố cổ Hội An - QN
HA6 HA8 Nhà cổ Tân Ký
2 Penicillium HA9 Đình Cẩm Phô
03 HA10 HA11 chùa Cầu
3 Fusarium
HA12HA13 chùa Cầu
06 HA14HA15 Đình Cẩm Phô
HA16 HA17 Nhà cổ Tân Ký
4 Curvularia HA18HA20 chùa Cầu 03
5 Botrytis HA21 HA22 Đình Cẩm Phô 02
6 Aureobasidium
HA23 HA25 chùa Cầu
06 HA26 HA27 Đình Cẩm Phô
HA28 Nhà cổ Tân Ký
7 Cladoglucozaorium
HA29 Đình Cẩm Phô
03 HA30 HA31 chùa Cầu