1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vận dụng nghiên cứu bài học và dạy học tích hợp liên môn vào dạy học bài 16 sóng thủy triều dòng biển”, địa lí 10 THPT

62 21 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong các hoạt động đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở tổ - nhóm chuyên môn của bậc THP thì Sinh hoạt chuyên môn theo Nghiên cứu bài học là một phương pháp mới có nhiều ưu việt đảm bảo để họ

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN TRƯỜNG THPT QUỲNH LƯU 1

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

Đề tài:

VẬN DỤNG NGHIÊN CỨU BÀI HỌC VÀ DẠY HỌC TÍCH HỢP

LIÊN MÔN VÀO DẠY HỌC BÀI 16: SÓNG THỦY TRIỀU DÕNG BIỂN ĐỊA LÍ 10 – THPT

(LĨNH VỰC: ĐỊA LÍ)

Giáo viên thực hiện: Hồ Thị Nga

Tổ chuyên môn: Khoa học xã hội

Năm học: 2020 – 2021

Trang 2

MỤC LỤC

NỘI DUNG Trang

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ………1

I Lí do chọn đề tài……… 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài……… 1

1.2 Đóng góp của đề tài……… ……….2

II Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu……….3

2.1 Mục tiêu nghiên cứu……… ……… 3

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu……… 3

III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu……… 3

3.2 Phạm vi nghiên cứu……… 3

IV Phương pháp nghiên cứu……….4

V Tính mới của đề tài……… 4

PHẦN II NỘI DUNG……… ……5

Chương I Cơ sở lí luận và thực tiễn……… 5

1 Cơ sở lí luận……….…… 5

1.1 Vấn đề lí luận chung……… 5

1.2 Dạy học theo Nghiên cứu bài học……… ………….6

1.3 Dạy học tích hợp liên môn……… ……8

1.4 Dạy học theo Nghiên cứu bài học và Dạy học tích hợp liên môn với

bài 16: Sóng Thủy triều Dòng biển……… 10

2 Cơ sở thực tiễn……….……… 10

2.1 Thực trạng học tập của học sinh…….……… …… 10

2.2 Thực trạng dạy học của giáo viên ……… 12

2.3 Thực trạng về kiểm tra đánh giá……… …….……12

Chương II Giải pháp thực hiện đề tài ……… 13

Trang 3

1 Cách thức vận dụng Nghiên cứu bài học và Dạy học tích hợp liên môn

vào dạy học bài 16: Sóng Thủy triều Dòng biển ……… 13

1.1 Đối với giáo viên ……… 13

1.2 Đối với học sinh ……… … 16

2 Vận dụng Nghiên cứu bài học và Dạy học tích hợp liên môn vào dạy học

bài 16: Sóng Thủy triều Dòng biển ……… 16

2.1 Xác định mục tiêu cần đạt……….…….16

2.2 Xây dựng kế hoạch cho bài học nghiên cứu có tích hợp liên môn……… 17

2.2.1 Bảng mô tả các năng lực cần phát triển……… 17

2.2.2 Xây dựng bộ câu hỏi và bài tập theo định hướng năng lực………19

2.3 Kế hoạch dạy học bài học nghiên cứu có tích hợp liên môn………28

2.4 Giáo án thể nghiệm ……… 29

Chương III Thực nghiệm sư phạm ……… ……… 45

1 Mục đích thực nghiệm……… ………… 45

2 Phương pháp thực nghiệm……… ………45

3 Nội dung thực nghiệm……… 46

4 Tổ chức thực nghiệm……… 46

5 Kết quả thực nghiệm……….… 46

5.1 Phân tích định lượng ……… 46

5.2 Phân tích định tính…… ……… 47

PHẦN III KẾT LUẬN… ……… 48

1 Hiệu quả của đề tài……… … 48

2 Khả năng nhân rộng ……… 49

3 Một số đề xuất……….49 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG SÁNG KIẾN

GV : Giáo viên

HS : Học sinh HSG : Học sinh giỏi KTĐG : Kiểm tra đánh giá THPT : Trung học phổ thông PTNL : Phát triển năng lực SGK : Sách giáo khoa NCBH : Nghiên cứu bài học SKKN : Sáng kiến kinh nghiệm

TN : Thực nghiệm

ĐC : Đối chứng PPDH : Phương pháp dạy học PTDH : Phương tiện dạy học

Trang 5

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

I Lý do chọn đề tài

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận phát phát triển phẩm chất năng

lực của người học; từ chỗ quan tâm tới việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm tới việc học sinh học được, hình thành được, phát triển được năng lực gì qua

việc học Cũng vì lẽ đó các phương pháp dạy học tích cực được sử dụng trong quá trình dạy học ngày càng phổ biến

Mặt khác theo tinh thần của việc cải cách giáo dục với việc ban hành chương trình Giáo dục phổ thông mới năm 2018 thì dạy học tích hợp liên môn là nội dung được quan tâm chỉ đạo và vận dụng để thực hiện trong chương trình giáo dục phổ thông mới này

Thực tế đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và chủ trương trong đổi mới phương pháp dạy học Trong đó sinh hoạt chuyên môn tại trường là một hoạt động khoa học, bổ ích có giá trị và ý nghĩa thiết thực đối với giáo viên nhất là giáo viên dạy

bộ môn Địa lí Không những vậy, đó còn là một tiếp cận, một mô hình nghiên cứu mới nhằm đảm bảo cơ hội học tập thực sự có chất lượng cho học sinh Trong các hoạt động đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở tổ - nhóm chuyên môn của bậc THP thì Sinh hoạt chuyên môn theo Nghiên cứu bài học là một phương pháp mới có nhiều ưu việt đảm bảo để học sinh vừa lĩnh hội được kiến thức vừa phát triển tốt phẩm chất và năng lực Đối với giáo viên Sinh hoạt chuyên môn theo Nghiên cứu bài học là hoạt động bồi dưỡng tại cơ sở nhằm nâng cao năng lực chuyên môn Sinh hoạt chuyên môn dựa trên NCBH đang được coi là công cụ để chuẩn đoán, phát hiện rõ ràng, cụ thể từng vấn đề trong việc học tập của học sinh từ đó giúp giáo viên thiết kế, làm chủ các phương pháp dạy học tích cực, tạo ra các tiết dạy hấp dẫn, hiệu quả, thu hút học sinh

Từ xưa đến nay việc tìm hiểu dao động của nước trong các biển và đại dương luôn được con người quan tâm Hiện nay với chương trình giáo dục phổ thông hiện hành vấn đề này đã được đề cập trong phần Địa lí tự nhiên lớp 10 - chuyên đề 5: Thủy

quyển - Bài 16: Sóng Thủy triều Dòng biển Đây là một vấn đề lớn của Tự nhiên thế

giới Để tìm hiểu về vấn đề này trong một tiết học thì là một vấn đề khó nếu dạy theo phương pháp truyền thống Như vậy vấn đề đặt ra là phải vận dụng phương pháp dạy học làm sao để không chỉ dạy cho học sinh biết được dao động của nước trong các biển, đại dương hoạt động như thế nào mà qua đó còn định hướng cho các em thấy được nguyên nhân của các dao động đó, con người đã vận dụng các dao động đó vào sản xuất sinh hoạt như thế nào, khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của chúng ra sao Mặt khác vấn đề này lại có mối liên hệ với kiến thức của môn học khác nhất là môn Vật lí,

Trang 6

Lịch sử và Văn học Để tìm hiểu kĩ về nó thì thời lượng 45 phút trong một tiết học trên lớp khó có thể chuyển tải và giúp các em rút ra được nội dung của bài học

Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài “Vận dụng Nghiên cứu bài học và

Dạy học tích hợp liên môn vào dạy học bài 16: Sóng Thủy triều Dòng biển”, Địa lí 10-THPT làm đối tượng nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng dạy học của bản thân, phát triển phẩm chất năng lực toàn diện cho HS Từ đó đóng góp một phần nhỏ bé vào công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện của ngành giáo dục nước nhà và bồi dưỡng được ý thức tôn trọng nhìn nhận đúng về các hiện tượng trong tự nhiên; bồi dưỡng được tư tưởng, tình cảm, trách nhiệm của học sinh trong công cuộc xây dựng phát triển đất nước hiện nay

- Chất lượng học tập của học sinh được nâng cao hơn Điều này được minh chứng cụ thể ở lớp thực nghiệm với lớp đối chứng

- Xây dựng câu hỏi và bài tập theo hướng PTNL ở chuyên đề 5: “Thủy quyển”, Địa lí 10- THPT (phần câu hỏi theo các mức độ nhận thức)

- Vận dụng câu hỏi, bài tập để dạy bài 16, Địa lí 10 – THPT theo định hướng PTNL

- Xây dựng ma trận đề kiểm tra cho KTĐG thường xuyên, giữa kỳ, cuối kỳ Địa lí 10 - THPT về chuyên đề Thủy quyển

- Vì có sự tích hợp liên môn về kiến thức ở các môn học nên học sinh học tập tích cực hơn để nắm kiến thức một cách toàn diện, tình trạng học lệch được cải thiện rõ rệt

- Việc phải tìm hiểu, thu thập, tổng hợp kiến thức cho bài học từ thực tế được đề cập đối với bài học có tính vận dụng thực tiễn cao như bài học này nên đã tạo cho học sinh tâm thế quan tâm đến những vấn đề của tình hình thế giới cũng như ở nước ta về Địa lí tự nhiên; ảnh hưởng của các vấn đề tự nhiên đối với đời sống kinh tế xã hội nói chung cũng như về vấn đề biển đảo nói riêng

- Sử dụng trong công tác dạy bồi dưỡng học sinh giỏi phần Địa lí tự nhiên đại cương thế giới

+ Dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng PTNL được GV thực hiện nhuần nhuyễn, sáng tạo sẽ góp phần phát hiện HS khá, giỏi, có năng lực yêu thích bộ môn thực sự, từ đó sẽ tạo được nguồn bồi dưỡng HS giỏi có hiệu quả hơn

Trang 7

+ Đề thi HS giỏi khối 11 trước đây và từ năm học 2020 -2021 là khối 12 tỉnh Nghệ

An ta, cấu trúc bao gồm cả chương trình Địa lí tự nhiên lớp 10, trong đó có nội dung các quyển của Trái Đất – chuyên đề Thủy quyển rất quan trọng Câu hỏi được xây dựng theo cấu trúc: 50% ở mức độ nhận biết, thông hiểu và 50 % ở mức độ vận dụng chủ yếu mức độ cao, câu hỏi mở

Vì vậy GV và HS có thể sử dụng đề tài trong việc dạy và học ôn thi HSG

II Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu

Vận dụng Nghiên cứu bài học và Dạy học tích hợp liên môn để tích cực hóa hoạt

động nhận thức của học sinh khi dạy học bài 16: Sóng Thủy triều Dòng biển (Địa lí

10 – THPT) nhằm góp phần đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy học bộ môn ở nhà trường phổ thông; đảm bảo phát triển phẩm chất năng lực HS

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng Nghiên cứu bài học và Dạy học tích hợp liên môn để tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học

chuyên đề thủy quyển, Bài 16: Sóng Thủy triều Dòng biển, Địa lí 10 THPT

- Sử dụng hình thức Sinh hoạt chuyên môn theo Nghiên cứu bài học và Dạy học tích hợp liên môn để tích cực hóa hoạt động nhận thức, phát huy năng lực của HS trong việc nâng cao chất lượng dạy học bài 16 – Địa lí 10 THPT

- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính khả thi của đề tài

III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là phương pháp dạy học dựa trên Nghiên cứu bài

học và Dạy học tích hợp liên môn đối với HS lớp 10 khi dạy học bài 16: Sóng Thủy

triều Dòng biển

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu khả năng vận dụng Nghiên cứu bài học và Dạy học tích

hợp liên môn để dạy học bài 16: Sóng Thủy triều Dòng biển (Địa lí 10 THPT) để

tích cực hóa hoạt động nhận thức và phát huy phẩm chất năng lực của HS

Tiến hành nghiên cứu và thực nghiệm sư phạm đối với HS lớp 10 – THPT tại bốn trường THPT của huyện Quỳnh Lưu và thị xã Hoàng Mai

Sự thành công của đề tài sẽ là tài liệu bổ ích, thiết thực cho các em HS và thầy cô trong học tập và giảng dạy môn Địa lí; có thể tham khảo để tiến hành với những nội dung chuyên đề có tính tích hợp khác

Trang 8

IV Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:

Tiến hành nghiên cứu tài liệu liên quan đến đề tài như khai thác đầy đủ các kênh thông tin trong SGK đồng thời khai thác thêm thông tin từ phương tiện thông tin đại chúng, các tài liệu sách báo, các trang thông tin mạng…

- Phương pháp thu thập, xử lí thông tin để xây dựng nội dung nghiên cứu

- Soạn giảng, tổ chức thực nghiệm, rút kinh nghiệm:

- Phương pháp thống kê: thông qua các cuộc trao đổi thảo luận lấy ý kiến của đồng nghiệp, ý kiến của HS sau tiết thực nghiêm bằng phiếu Từ đó tổng hợp rút ra kết luận

và đề xuất các kiến nghị

V Tính mới của đề tài

Đề tài đã đề xuất được cách thức soạn giảng, các bước lên lớp, hệ thống các câu hỏi theo Nghiên cứu bài học, định hướng phát triển PCNL với bốn mức độ nhận thức (nhận biết, thông hiểu, vận dụng, vận dụng cao); cũng như đã liên hệ tích hợp được nội dung kiến thức các môn học khác: Vật lý, Lịch sử, Ngữ văn khi vận dụng vào dạy

học bài 16: Sóng Thủy triều Dòng biển (Địa lí 10 – THPT) một cách khoa học làm

chất lượng dạy học được nâng cao

Đề tài đã vận dụng đồng thời cả Nghiên Cứu bài học và Dạy học tích hợp liên môn vào để dạy một tiết học nên hiệu quả dạy học cao hơn

Vì vậy các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là tài liệu tham khảo để GV Địa lí triển khai nội dung dạy học theo NCBH và Tích hợp liên môn cũng như áp dụng để dạy bồi dưỡng HSG chuyên đề Thủy quyển – Địa lí 10 THPT

Trang 9

PHẦN II NỘI DUNG

Chương I Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

1 Cơ sở lí luận

1.1 Vấn đề lí luận chung

Ngay từ thời cổ đại, vấn đề phát huy tính tích cực của HS đã được nhiều nhà giáo dục quan tâm Ở nước ta, vấn đề phát huy tính tích cực nhận thức của HS đã được quan tâm những năm 1960 Nhiều nhà giáo dục trong nước cũng đã khẳng định: phải cần thiết phát huy tính tích cực trong học tập của HS Đây là một biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường

Từ năm 2000 trở lại đây, với việc thực hiện chương trình đổi mới giáo dục ở nước

ta, đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu hơn nữa đến vấn đề phát huy tính tích cực nhận thức trong học tập của HS Điển hình có các tác giả như: Thái Duy Tuyên với công trình “Giáo dục hiện đại”(2001); Trần Bá Hoành: “Đổi mới phương pháp giáo dục, chương trình và sách giáo khoa”(2007); Trong dạy học Địa lí, đã có một số tác giả nghiên cứu về vấn đề phát huy tính tích cực trong học tập của HS như: tác giả Đặng Văn Đức – Nguyễn Thị Thu Hằng với công trình: “Phương pháp dạy học Địa lí theo hướng tích cực”,…

Trong các phương pháp dạy học tích cực thì dạy học theo NCBH là một vận dụng

có nhiều ưu việt NCBH cũng đã được triển khai có hiệu quả ở nhiều trường và nhiều tỉnh trong cả nước Trong chương trình Địa lí THPT có một số bài (nội dung) để giúp học sinh nhận thức và hiểu được nội dung thì việc sử dụng kiến thức Địa lí không đủ

mà phải vận dụng kiến thức ở một số môn học khác Tuy nhiên, qua việc trao đổi, thăm dò các GV giảng dạy bộ môn Địa lí ở các trường THPT tỉnh Nghệ An và một số

tỉnh thành khác, tôi thấy vẫn chưa có trường nào vận dụng “Nghiên cứu bài học và

Dạy học tích hợp liên môn vào dạy học bài 16: Sóng Thủy triều Dòng biển”, Địa lí

10 – THPT

Nghị quyết TW2 khóa VIII khẳng định phải “Đổi mới phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh

Định hướng trên đây đã được pháp chế hóa trong Luật giáo dục, điều 24.2 có ghi

“phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng

tạo cho học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh”

Trang 10

Các văn kiện của Đảng và Nhà nước về đổi mới chương trình, SGK GDPT như Nghị quyết 29, Nghị quyết 88 và Quyết định 404 đều xác định mục tiêu đổi mới chương trình GDPT là góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của người học; chuyển

từ dạy học: “Học xong chương trình học sinh BIẾT được những gì?” sang dạy học:

“Học xong chương trình, học sinh LÀM được những gì?”

Trong định hướng xây dựng chương trình giáo dục phổ thông mới (2018) ở môn Địa lí bên cạnh nhấn mạnh đến việc dạy học lấy người học làm trung tâm thì còn chú trọng dạy học tích hợp Tính tích hợp được thể hiện ở nhiều mức độ và hình thức khác nhau: tích hợp giữa các kiến thức địa lí tự nhiên, địa lí dân cư, xã hội và địa lí kinh tế trong môn học; lồng ghép các nội dung liên quan (giáo dục môi trường, biển đảo, phòng chống thiên tai, biến đổi khí hậu; giáo dục dân số giới tính, di sản, an toàn giao thông…) vào nội dung địa lí; vận dụng kiến thức các môn học khác (Vật lí, Hóa học,

Sinh học, Lịch sử….) trong việc làm sáng tỏ các kiến thức địa lí Ở đề tài này tôi lựa chọn vấn đề tích hợp là vận dụng kiến thức các môn học khác (Vật lí, Lịch sử, Văn học…) để làm sáng tỏ các kiến thức địa lí

Để đảm đương được yêu cầu trên, đòi hỏi người giáo viên dạy Địa lí phải luôn trau dồi, vận dụng những phương pháp dạy học tích cực trong bài dạy để biến Địa lí không phải là những kiến thức khoa học khô khan mà là luôn hiện hữu và có ý nghĩa thiết thực sâu sắc trong đời sống hằng ngày Học sinh học Địa lí không mang tính đơn thuần là những kiến thức riêng biệt về môn học này mà còn thấy được mối liên quan

giữa chúng với các môn học khác trong nhà trường Vì vậy tôi đã Vận dụng Nghiên

cứu bài học và Dạy học tích hợp liên môn vào dạy học bài 16: “ Sóng Thủy triều

Dòng biển”, Địa lí lớp 10 THPT nhằm nâng cao hiệu quả dạy học cho bản thân

và phát triển phẩm chất năng lực học sinh

1.2 Dạy học theo “Nghiên cứu bài học”

a Triết lí cơ bản của Nghiên cứu bài học

Thứ nhất, NCBH đảm bảo cơ hội học tập cho mọi em học sinh: Mỗi học sinh phải

là một nhân vật chính trong trường học không kể đến trình độ nhận thức hoàn cảnh gia đình hay bất kể điều gì khác Theo đó, NCBH đặt trọng tâm tạo cơ hội cho mọi học sinh được học tập và học tập thực sự, có ý nghĩa Điều này thể hiện ở chỗ trong NCBH luôn quan tâm học sinh học hay ngừng học? Học sinh học như thế nào? Vấn

đề gặp phải của học sinh là gì, những nguyên nhân nào, do đâu? Làm thế nào để giải quyết vấn đề đó? Như vậy, NCBH luôn hướng đến quyền lợi học tập của từng học sinh cụ thể

Thứ hai, NCBH đảm bảo cơ hội phát triển chuyên môn giáo viên Trong thời đại này mọi giáo viên đều phải có các khả năng như: hiểu những điều HS suy nghĩ và

Trang 11

cảm nhận; có kiến thức đầy đủ về môn học để dạy; quyết định các chiến lược và sắp xếp việc dạy học phù hợp nhất Để đạt được điều đó, NCBH đảm bảo cơ hội học hỏi

từ thực tế cho mọi giáo viên thông qua cộng tác, chia sẻ

Cuối cùng, NCBH đảm bảo cơ hội cho nhiều phụ huynh học sinh tham gia vào quá trình học tập của con em họ Bởi vì vai trò của phụ huynh học sinh là người nuôi dưỡng và phát triển học sinh Họ có thể là nguồn cung cấp bằng chứng, thông tin hay tài liệu, đồ dùng, biết mức độ chăm chỉ của HS khi học ở nhà

Như vậy, hiệu quả việc học của học sinh luôn được đặt ra trong NCBH và gắn liền với những thay đổi của giáo viên cũng như cho mọi học sinh trong quá trình dạy học

ở mỗi lớp học, trường học, ở nhà

b Quy trình NCBH

Có nhiều cách phân chia các giai đoạn của quá trình NCBH Nhìn chung, qui trình

đó chia thành 4 bước cụ thể sau:

+ Xác định mục tiêu bài học được nghiên cứu

+ Xây dựng kế hoạch cho bài học nghiên cứu

+ Dạy, suy ngẫm và thảo luận về bài học nghiên cứu

+ Áp dụng cho thực tiễn dạy học hằng ngày

c Ý nghĩa của dạy học theo Nghiên cứu bài học

Đối với giáo viên:

+ Thông qua quá trình hợp tác trong xây dựng giáo án, dự giờ, rút kinh nghiệm giáo viên cảm thấy tập trung hơn và tăng sự thích thú trong công việc dạy học

+ NCBH là để cải tiến nội dung dạy học cụ thể nên thông qua quá trình hợp tác với các giáo viên trong nhóm, họ hiểu sâu hơn về nội dung kiến thức của bài học, qua đó năng lực sư phạm được cải thiện Giáo viên có thể dự kiến được những kết quả đối với một bài học và phản ứng của học sinh trong lớp

+ NCBH thúc đẩy duy trì sự hợp tác của các giáo viên, giúp các giáo viên phát triển kĩ năng làm việc nhóm, góp phần phát triển không khí hợp tác, đoàn kết trong nhà trường NCBH tạo cơ hội cho GV có thể quan tâm tới tất cả các học sinh trong lớp, tạo cơ hội phát triển cho mọi học sinh Từ đó nâng cao chất lượng học tập

+ NCBH là cái cầu kết nối các nội dung kiến thức, giữa các bộ môn để thu được sự hỗ trợ bổ sung tốt nhất giữa các bộ môn góp phần đào tạo toàn diện cho học sinh, giữa các cấp học để thu được chương trình đào tạo mạch lạc, thông suốt

Đối với học sinh

Trang 12

+ Bài học dựa trên Nghiên cứu bài học chú trọng nhiều đến hoạt động học của HS,

GV là người hướng dẫn HS đi tìm, khám phá và lĩnh hội kiến thức Để đạt được điều

đó thì nhiệm vụ của học sinh sẽ nhiều hơn từ khâu chuẩn bị bài ở nhà đến khâu học tập, thảo luận, báo cáo ở trên lớp Chính vì vậy các em sẽ năng động chăm chỉ hơn trong học tập

+ Học sinh tự tin hơn, tham gia tích cực vào các hoạt động học, không có học sinh nào bị bỏ quên

+ Thông qua việc báo cáo nội dung được giáo viên phân công các kĩ năng thu thập xử

lí thông tin, lập báo cáo, thuyết trình, tranh luận sẽ được nâng lên rõ rệt

1.3 Dạy học theo “Tích hợp liên môn”

a Khái niệm dạy học tích hợp liên môn

môn học

Ở mức độ thấp thì dạy học tích hợp liên môn mới chỉ là lồng ghép những nội dung giáo dục có liên quan vào quá trình dạy học một môn học như: lồng ghép giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục pháp luật; giáo dục chủ quyền quốc gia về biên giới, biển, đảo; giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường, an toàn giao thông…

Mức độ tích hợp cao hơn là phải xử lí các nội dung kiến thức trong mối liên quan với nhau, bảo đảm cho học sinh vận dụng được tổng hợp các kiến thức đó một cách hợp lí để giải quyết các vấn đề trong học tập

Bài học (chủ đề) tích hợp liên môn là những bài học (chủ đề) có nội dung kiến thức liên quan đến hai hay nhiều môn học, thể hiện ở sự ứng dụng của chúng trong cùng một hiện tượng, quá trình trong tự nhiên hay xã hội Hay để làm sáng tỏ các nội

dung của bài học này phải vận dụng kiến thức của các môn học khác Ở đề tài SKKN này vấn đề tích hợp liên môn được sử dụng là vận dụng kiến thức môn Văn học, Vật lí, Lịch sử,… để làm rõ kiến thức về Địa lí: Sóng biển, Thủy triều, Dòng biển

b Ý nghĩa của dạy học tích hợp liên môn

Mỗi tình huống xảy ra trong cuộc sống đều có mối liên hệ nào đó với những tình huống khác Do vậy cần phối hợp kiến thức, kĩ năng của nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó trong học tập, trong đời sống hằng ngày

Dạy học tích hợp liên môn tạo động lực để học sinh tích cực học tập, giúp học sinh học tập thông minh, vận dụng sáng tạo kiến thức, kĩ năng một cách toàn diện, hài hòa

và hợp lí, hạn chế tình trạng học lệch; để giải quyết các tình huống mới mẻ, đa dạng trong học tập cũng như cuộc sống hiện đại

Trang 13

Tích hợp liên môn góp phần giúp đào tạo những người học có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn đề của cuộc sống hiện đại Tích hợp liên môn cũng góp phần đào tạo giáo viên biết cách xử lí các tình huống giáo dục một cách linh hoạt hiệu quả

c Ưu điểm của dạy học tích hợp liên môn

Nếu như cách dạy cũ còn nhiều đơn điệu, thiên về lý thuyết nhiều hơn thực hành, dạy học rập khuôn, máy móc sẽ khiến học sinh bị hạn chế sức sáng tạo, trí tưởng tượng thì dạy học tích hợp liên môn sẽ giúp học sinh tìm tòi nắm kiến thức các môn học vững hơn, hứng thú hơn trong giờ học, giúp học sinh hiểu bài học sâu sắc ở nhiều khía cạnh hơn Tăng cường tư duy tổng hợp, khả năng tự nghiên cứu, tự học tốt hơn Học sinh nắm kiến thức một cách linh hoạt, vận dụng theo cách riêng của mình Học sinh sẽ học đều kiến thức các môn, hạn chế tình trạng học lệch

- Đối với giáo viên

Khi dạy học tích hợp liên môn, giáo viên sẽ phải tìm hiểu thông tin nhiều hơn để chuẩn bị cho bài học chứ không chỉ giảng dạy kiến thức một môn như trước Điều này

có thể tạo ra ít nhiều khó khăn cho giáo viên nhưng sẽ không khó khắc phục Bởi vì: + Trong bài giảng của mình dù là dạy môn học nào đi chăng nữa, giáo viên cũng thường phải dạy thêm những kiến thức liên quan của những môn học khác ở bên ngoài để bổ sung cho nội dung bài học cho học sinh Vì vậy, mỗi giáo viên không chỉ

có sự am hiểu về riêng môn học mình dạy mà còn có những kiến thức liên môn khác được tích lũy trong quá trình dạy học nhiều năm của bản thân

+ Đồng thời, việc dạy học theo phương pháp mới hiện nay không đơn thuần giáo viên giảng bài còn học sinh ở dưới lớp ghi chép nữa Hiện nay, giáo viên vừa là người tổ chức, định hướng và hướng dẫn cho học sinh đi tìm kiến thức, sau đó chốt lại kiến thức mới trên cở sở những nội dung được học sinh tìm tòi khám phá ra

+ Với cách dạy học tích hợp liên môn này, các giáo viên giảng dạy những môn học liên quan có thể chủ động, thuận tiện hơn khi cùng hỗ trợ, phối hợp với nhau trong dạy học

Như vậy, với dạy học theo tích hợp liên môn giáo viên sẽ được bồi dưỡng, nâng cao kiến thức, nghiệp vụ sư phạm giúp tạo ra đội ngũ giáo viên có kiến thức sâu rộng, không chỉ trong môn mình dạy chuyên trách mà cả kiến thức liên môn, kiến thức tích hợp

Tuy nhiên dạy học theo tích hợp liên môn cũng có một số khó khăn đối với giáo viên trong việc liên hệ với kiến thức các môn khác nếu không hiểu biết và chuẩn bị chưa kĩ càng

Trang 14

1.4 Dạy học Nghiên cứu bài học và Dạy học tích hợp liên môn với bài 16: Sóng Thủy triều Dòng biển

Chương trình giáo dục phổ thông mới (2018) đang hương tới mục tiêu đổi mới là góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của người học; chuyển từ dạy học: “Học xong

chương trình học sinh BIẾT được những gì?” sang dạy học: “Học xong chương trình, học sinh LÀM được những gì?” Trên lộ trình thực hiện điều đó các phương pháp,

quan điểm dạy học mới được vận dụng ngày càng phổ biến

Trong định hướng xây dựng chương trình giáo dục phổ thông mới (2018) ở môn Địa lí bên cạnh nhấn mạnh đến việc dạy học lấy người học làm trung tâm còn chú trọng dạy học tích hợp Tính tích hợp được thể hiện ở nhiều mức độ và hình thức khác nhau: tích hợp giữa các kiến thức địa lí tự nhiên, địa lí dân cư, xã hội và địa lí kinh tế trong môn học; lồng ghép các nội dung liên quan (giáo dục môi trường, biển đảo, phòng chống thiên tai, biến đổi khí hậu; giáo dục dân số giới tính, di sản, an toàn giao thông…) vào nội dung địa lí; vận dụng kiến thức các môn học khác (Vật lí, Hóa học, Sinh học, Lịch sử….) trong việc làm sáng tỏ các kiến thức địa lí Ở chương trình Địa

lí 10 – THPT hiện hành bài 16: Sóng Thủy triều Dòng biển là bài học có nội dung

dài, lại có mối liên hệ với kiến thức của môn học khác như Vật lí, Lịch sử, Ngữ văn Cho nên GV phải vận dụng phương pháp dạy học làm sao để học sinh vừa lĩnh hội được kiến thức một cách chủ động nhất, vừa tích hợp được kiến thức của môn học khác vào bài để phát triển phẩm chất năng lực một cách toàn diện

Để đảm đương được yêu cầu trên, đòi hỏi người giáo viên dạy Địa lí phải vận dụng phương pháp dạy học tích cực nhằm biến Địa lí không phải là những kiến thức khoa học khô khan mà là luôn hiện hữu và có ý nghĩa thiết thực; sâu sắc trong đời sống hằng ngày Học sinh học Địa lí không mang tính đơn thuần là những kiến thức riêng biệt về môn học này mà còn thấy được mối liên quan giữa chúng với các môn học

khác trong nhà trường Vì vậy đề tài “Vận dụng Nghiên cứu bài học và Dạy học tích

hợp liên môn vào dạy học bài 16: Sóng Thủy triều Dòng biển”, Địa lí lớp 10 THPT

là cần thiết và khoa học nhằm nâng cao hiệu quả dạy học và đảm bảo phát triển toàn

diện phẩm chất năng lực học sinh

2 Cơ sở thực tiễn

2.1 Thực trạng học tập của học sinh

Để có kết luận xác đáng, chúng tôi đã tiến hành khảo sát tìm hiểu thực trạng học tập của học sinh Cụ thể, chúng tôi đã phát phiếu điều tra cho học sinh của các trường trên địa bàn để các em phát biểu những cảm nhận và nêu ý kiến, nguyện vọng của mình về việc vận dụng Nghiên cứu bài học và Dạy học tích hợp liên môn vào dạy học

bài 16: Sóng Thủy triều Dòng biển, Địa lí 10 Nội dung khảo sát như sau:

Trang 15

Phiếu khảo sát thực trạng học tập của học sinh

Em đã từng được học bài 16: Sóng Thủy triều Dòng biển,

Địa lí 10 bằng phương pháp dạy học Nghiên cứu bài học kết

hợp tích hợp liên môn hay chưa?

Em có mong muốn học bài 16: Sóng Thủy triều Dòng biển,

Địa lí 10 bằng phương pháp dạy học Nghiên cứu bài học kết

hợp tích hợp liên môn để phát triển năng lực hay không?

- Kết quả như sau:

Bảng: Kết quả khảo sát học sinh việc vận dụng Nghiên cứu bài học và Dạy học tích hợp liên môn vào dạy học bài 16: Sóng Thủy triều Dòng biển, Địa lí 10 – THPT

Chưa từng tham gia

Có mong muốn

Không mong muốn

190/200 95%

10/200 5%

184/200 92%

16/200 8%

180/200 90%

20/200 10%

170/200 85%

30/200 15%

- Kết quả trên cho thấy:

+ Tỉ lệ học sinh được trải nghiệm phương pháp Nghiên cứu bài học và Dạy học tích hợp liên môn khi học bài 16: Sóng Thủy triều Dòng biển, Địa lí 10 không cao Điều

đó cho thấy việc thực hiện kết hợp hai phương pháp giáo dục này ở các trường chưa được quan tâm

Trang 16

+ Phần lớn học sinh các trường đều có mong muốn nguyện vọng được học bài 16:

Sóng Thủy triều Dòng biển, Địa lí 10 bằng phương pháp Nghiên cứu bài học có tích

hợp liên môn để có cơ hội phát triển năng lực, phẩm chất của bản thân

2.2 Thực trạng dạy học của Giáo viên

Qua điều tra phỏng vấn 18 giáo viên dạy môn Địa lí ở 4 trường THPT trên địa bàn thị xã Hoàng Mai và huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An (THPT Quỳnh Lưu 1, THPT Quỳnh Lưu 2, THPT Hoàng Mai, THPT Hoàng Mai 2) về thực trạng vận dụng phương pháp dạy học phát triển PCNL là Nghiên cứu bài học kết hợp Dạy học tích

hợp liên môn vào dạy học bài 16: Sóng Thủy triều Dòng biển, Địa lí 10 – THPT, kết

quả thu được như sau:

Bảng: Thực trạng vận dụng Nghiên cứu bài học và dạy học tích hợp liên môn vào dạy học bài 16: Sóng Thủy triều Dòng biển, Địa lí 10 – THPT

TT Các phương pháp và hình thức

tổ chức dạy học

Số GV sử dụng (% số GV)

Số GV không sử dụng (% số GV)

1 Vận dụng NCBH vào dạy bài

16: Sóng Thủy triều Dòng

biển, Địa lí 10 - THPT

2 (11,1%) 16 (88,9%)

2 Vận dụng Dạy học tích hợp liên

môn vào dạy bài 16: Sóng

Thủy triều Dòng biển, Địa lí 10

– THPT

8 (44,4%) 10 (55,6%)

3 Vận dụng NCBH kết hợp dạy

học tích hợp liên môn vào dạy

bài 16: Sóng Thủy triều Dòng

biển, Địa lí 10 - THPT

1 (5,6%) 17 (94,4%)

- Kết quả điều tra trên cho thấy:

GV ở các trường THPT ít vận dụng Nghiên cứu bài học và Tích hợp liên môn vào

dạy học bài 16: Sóng Thủy triều Dòng biển nên chất lượng dạy học chưa cao

Hiện nay các thầy cô giáo đã có những nỗ lực trong việc nâng cao chất lượng dạy học; đầu tư cho việc dạy và soạn bài Tuy nhiên vẫn còn nhiều GV có tư tưởng ngại nghiên cứu, ngại đầu tư đổi mới PPDH, vẫn còn nhiều GV soạn giảng, dạy học theo phương pháp truyền thống Chính vì vậy, chưa phát triển được năng lực cho HS, sức hấp dẫn của bài học bị hạn chế

2.3 Thực trạng về kiểm tra đánh giá

Trang 17

Trong những năm gần đây, song song với việc đổi mới phương pháp dạy học là vấn

đề đổi mới kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực Tuy nhiên, việc đánh giá của GV còn nặng theo chuẩn kiến thức, kĩ năng thông qua các bài kiểm tra thường xuyên, định kì và đánh giá từ một kênh là giáo viên đánh giá học sinh Giáo viên chưa chú trọng đến đánh giá quá trình học tập và sản phẩm học tập của học sinh từ nhiều kênh khác nhau Như vậy, việc vận dụng nghiên cứu bài học và dạy học tích hợp liên môn vào dạy học bài 16: Sóng Thủy triều Dòng biển tạo cơ hội cho GV đánh giá học sinh theo định hướng phát triển năng lực ở nhiều phương diện khác nhau

Kết luận phần cơ sở lí luận và thực tiễn

Từ cơ sở lí luận và thực tiễn trên ta thấy, chương trình sách giáo khoa Địa lí 10

– THPT hiện hành, bài 16: Sóng Thủy triều Dòng biển là bài học có nội dung dài lại

có sự tích hợp với các môn học khác, được bố trí dạy học trong 1 tiết nên phần lớn giáo viên vẫn đang dạy theo phương pháp truyền thống để hoàn thành nội dung tránh

bị “cháy giáo án” Chính vì vậy, học sinh khó có thể lĩnh hội được các kiến thức về các vấn đề dao động của nước trong các biển, đại dương; con người vận dụng các dao động đó vào đời sống hằng ngày như thế nào; hay trả lời các câu hỏi vừa mang tính khoa học vừa mang tính thực tiễn như: “Tại sao Bắc Mĩ, Nhật Bản lại có ngành khai thác thủy sản rất phát triển? Do vậy, năng lực, phẩm chất và sự liên hệ kiến thức với môn học khác cũng như thực tiễn của HS không đạt được như mong muốn Vì vậy cần phải vận dụng Nghiên cứu bài học và Dạy học tích hợp liên môn để dạy bài học bài này Bởi lẽ thông qua Nghiên cứu bài học và Dạy học tích hợp liên môn các hoạt động học được thực hiện không những đảm bảo được yêu cầu về chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ mà điều quan trọng đã góp phần to lớn vào việc phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, học sinh nắm kiến thức một cách toàn diện tránh hiện tượng học lệch từ đó đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất

và năng lực toàn diện của học sinh, nâng cao hiệu quả dạy học

Chương II Giải pháp thực hiện đề tài

1 Cách thức “Vận dụng Nghiên cứu bài học và Dạy học tích hợp liên môn”

vào dạy học bài 16: Sóng Thủy triều Dòng biển

Qua tìm hiểu thực trạng dạy học NCBH có tích hợp liên môn trong nhà trường, để

vận dụng sao cho tốt NCBH và dạy học tích hợp liên môn vào dạy học bài 16: Sóng

Thủy triều Dòng biển, tôi xin mạnh dạn đưa ra một số giải pháp như sau:

1.1 Đối với giáo viên

a Xác định được mục tiêu của bài dạy, cụ thể:

* Về năng lực:

Trang 18

Bài học góp phần phát triển các năng lực sau

- Năng lực đặc thù:

+ Năng lực nhận thức khoa học Địa lí: Trình bày được khái niệm sóng, thủy triều, dòng biển Tích hợp liên hệ với kiến thức đã được học ở các môn học khác như Vật lí, Lịch sử, Ngữ văn… và nội dung bài học giải thích được nguyên nhân sinh ra

sóng biển, thủy triều; hiện tượng triều cường và triều kém

Trình bày được nơi phát sinh, hướng chuyển động của các dòng biển trong các đại dương thế giới Chứng minh được tính đối xứng của các dòng biển qua bờ các đại dương; chứng minh được ảnh hưởng của các loại dòng biển đối với khí hậu tự nhiên ven bờ nơi chúng chảy qua So sánh được sóng thường với sóng thần; triều cường

với triều kém; dòng biển nóng với dòng biển lạnh

Tích hợp liên hệ được với kiến thức môn Vật lí, Lịch sử, Ngữ văn…có liên quan đến nội dung bài học kết hợp hiểu biết của bản thân để từ đó phân tích được ý nghĩa, ảnh

hưởng của sóng biển, thủy triều đối với phát triển kinh tế xã hội, đời sống cả trong lịch sử và hiện nay

Nhận thức thế giới quan theo quan điểm không gian

+ Năng lực tìm hiểu Địa lí: Sử dụng các hình ảnh, video, số liệu, tư liệu để rút ra được nguyên nhân sinh ra sóng biển, thủy triều; nhận xét được thuận lợi, khó khăn

của các khu vực chịu ảnh hưởng của triều cường, dòng biển nóng và dòng biển lạnh chảy qua

+ Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học: Đề xuất được một số biện pháp để

giảm thiểu ảnh hưởng không mong muốn của sóng biển, sóng thần, triều cường đối

với khu vực ven bờ biển; đặc biệt nơi địa phương đang sinh sống; viết được báo cáo

Địa lí về chủ đề Sóng Thủy triều Dòng biển

- Năng lực chung:

+ Năng lực tự học: Khai thác được tài liệu phục vụ cho bài học

+ Năng lực giao tiếp và hợp tác: Làm việc nhóm có hiệu quả, báo cáo

+ Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Biết sử dụng công cụ, phương tiện Công nghệ thông tin phục vụ bài học, phân tích và xử lí tình huống

* Về phẩm chất

Bài học góp phần phát triển phẩm chất yêu nước, trách nhiệm: Chủ động, tích cực tham gia và vận động người khác tham gia các hoạt động tuyên truyền bảo vệ thiên nhiên biển – đảo, ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu; sử dụng hợp lí tài nguyên biển; tích cực phòng chống ô nhiễm biển và đại dương

Trang 19

b Xây dựng kế hoạch nghiên cứu có tích hợp liên môn bao gồm:

- Đưa ra được bảng mô tả các năng lực cần phát triển theo bốn cấp độ nhận thức Trong bảng này phải thể hiện rõ tính tích hợp của các nội dung trong bài học với nội dung của môn học khác Cụ thể đó là tích hợp kiến thức môn Ngữ văn, Vật lí, Lịch

sử

- Định hướng các năng lực hình thành, gồm năng lực đặc thù bộ môn và năng lực chung

c Xác định nội dung tích hợp trong bài:

Phần Sóng biển: Tích hợp môn Ngữ văn, nội dung tích hợp: nêu câu thơ, bài thơ nói về nguyên nhân hình thành sóng

Phần Thủy triều: Tích hợp môn Vật lí, nội dung tích hợp: Nguyên nhân của hiện tượng thủy triều, nguyên nhân sinh ra triều cường và triều kém (bài 11: Lực hấp dẫn, định luật vạn vật hấp dẫn, Vật lí 10 - THPT) Tích hợp môn Lịch sử: Vận dụng thủy triều trong quân sự

d Xây dựng bộ câu hỏi và bài tập theo định hướng năng lực

Câu hỏi xây dựng theo bốn cấp độ nhận thức nhận biết, thông hiểu, vận dụng, vận dụng cao; bao gồm cả hai hình thức trắc nghiệm và tự luận

e Lập kế hoạch dạy học nghiên cứu có tích hợp liên môn

Nội dung Hình thức tổ chức dạy

f Thực hiện thiết kế tiến trình dạy học:

Xác định tiết dạy NCBH có tích hợp liên môn cần tổ chức những hoạt động nào Mỗi hoạt động như vậy cần đưa ra được thời gian, nhiệm vụ học tập, phương pháp phương tiện dạy học, cách thức tiến hành, dự kiến sản phẩm và một số hình ảnh minh họa

g Giao nhiệm vụ về nhà tìm hiểu cho học sinh:

Xem kĩ nội dung ở các môn có tích hợp với kiến thức trong bài, trả lời các câu hỏi theo bộ câu hỏi đã được xây dựng với bốn cấp độ nhận thức, liên hệ thực tế nội dung bài học với địa phương, đất nước

h Chuẩn bị phương tiện dạy học:

Trang 20

Máy tính, máy chiếu hoặc tivi, phiếu học tập, bút dạ, giấy Ao

1.2 Đối với học sinh

- Tiếp nhận nhiệm vụ học tập được GV chuyển giao khi học xong bài 15 (hoạt động

nối tiếp)

- Thực hiện các yêu cầu theo nhiệm vụ chuyển giao

+ Tìm hiểu các thông tin liên quan đến bài được học bài 16: Sóng Thủy triều Dòng

biển trên các phương tiện thông tin

+ Ghi nhớ Nắm kĩ kiến thức các môn học khác có liên quan đến nội dung trong bài:

Vật lí, Ngữ văn, Lịch sử

+ Trả lời nội dung các câu hỏi đã được GV hướng dẫn chuẩn bị

+ Sẵn sàng tâm thế cho bài học nghiên cứu có tích hợp liên môn

2 Vận dụng nghiên cứu bài học và dạy học tích hợp liên môn vào dạy học

bài 16: Sóng Thủy triều Dòng biển, Địa lí 10 – THPT.

2.1 Xác định mục tiêu cần đạt

a Về năng lực:

Bài học góp phần phát triển các năng lực sau

- Năng lực đặc thù:

+ Năng lực nhận thức khoa học Địa lí: Trình bày được khái niệm sóng, thủy triều,

dòng biển Tích hợp liên hệ với kiến thức đã được học ở các môn học khác như

Vật lí, Lịch sử, Ngữ văn… và nội dung bài học giải thích được nguyên nhân sinh ra

sóng biển, thủy triều; hiện tượng triều cường và triều kém

Trình bày được nơi phát sinh, hướng chuyển động của các dòng biển trong các đại

dương thế giới Chứng minh được tính đối xứng của các dòng biển qua bờ các đại

dương; chứng minh được ảnh hưởng của các loại dòng biển đối với khí hậu tự nhiên

ven bờ nơi chúng chảy qua So sánh được sóng thường với sóng thần; triều cường

với triều kém; dòng biển nóng với dòng biển lạnh

Tích hợp liên hệ được với kiến thức môn Vật lí, Lịch sử, Ngữ văn…có liên quan đến

nội dung bài học kết hợp hiểu biết của bản thân để từ đó phân tích được ý nghĩa, ảnh

hưởng của sóng biển, thủy triều đối với phát triển kinh tế xã hội, đời sống cả trong

lịch sử và hiện nay

Nhận thức thế giới quan theo quan điểm không gian

+ Năng lực tìm hiểu Địa lí: Sử dụng các hình ảnh, video, số liệu, tư liệu, lược đồ, bản

đồ để rút ra được nguyên nhân sinh ra sóng biển, thủy triều; nhận xét được thuận

Trang 21

lợi, khó khăn của các khu vực chịu ảnh hưởng của triều cường, dòng biển nóng và dòng biển lạnh chảy qua

+ Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học: Đề xuất được một số biện pháp để

giảm thiểu ảnh hưởng không mong muốn của sóng biển, sóng thần, triều cường đối

với khu vực ven bờ biển; đặc biệt nơi địa phương đang sinh sống; viết được báo cáo

Địa lí về chủ đề Sóng Thủy triều Dòng biển

- Năng lực chung:

+ Năng lực tự học: Khai thác được tài liệu phục vụ cho bài học

+ Năng lực giao tiếp và hợp tác: Làm việc nhóm có hiệu quả

+ Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Biết sử dụng công cụ, phương tiện Công nghệ thông tin phục vụ bài học, phân tích và xử lí tình huống

b Về phẩm chất

- Bài học góp phần phát triển phẩm chất yêu nước, trách nhiệm: Chủ động, tích cực tham gia và vận động người khác tham gia các hoạt động tuyên truyền bảo vệ thiên nhiên biển – đảo, ứng phó với thiên tai và biến đổi khí hậu; sử dụng hợp lí tài nguyên biển; tích cực phòng chống ô nhiễm biển và đại dương

2.2 Xây dựng kế hoạch cho bài học nghiên cứu có tích hợp liên môn

2.2.1 Bảng mô tả các năng lực cần phát triến

Hiểu được nguyên nhân sinh ra sóng biển, sóng bạc đầu, sóng thần

Tích hợp với

môn Ngữ văn

(bài thơ Sóng- tác giả Xuân Quỳnh)

để giải thích nguyên nhân hình thành sóng biển

-Lập bảng so sánh sóng thường và sóng thần

Liên hệ giải thích được nguyên nhân tại sao một số nước trên thế

có xuất hiện sóng thần

Trang 22

2 Thủy triều Trình bày

được khái niệm thủy triều

Hiểu được nguyên nhân sinh ra thủy triều

Phân tích được đặc điểm hiện tượng thủy triều

Tích hợp với

môn Vật lí,

để giải thích nguyên nhân hiện tượng triều cường

và triều kém

- So sánh triều cường

và triều kém

- Liên hệ phân biệt được 2 loại thủy triều là nhật triều và bán nhật triều

môn Lịch sử,

kiến thức đã học và hiểu biết của bản thân giải thích được vai trò của thủy triều đối với đời sống kinh tế - xã hội ở nước ta nói riêng và trên thế giới nói chung

3 Dòng biển Trình bày

được đặc điểm, nơi xuất phát, hướng

chuyển động của các dòng biển trong đại dương thế giới

Xem hình 16.4 (sgk Địa

lí 10) chứng minh được tính phân bố đối xứng của các dòng biển qua bờ các đại dương

Kết hợp vận dụng kiến thức đã học (bài 12, 13…) giải thích được sự khác nhau về khí hậu giữa 2 bờ của đại dương vùng

Ôn đới và vùng Chí tuyến; nơi có dòng biển nóng và nơi

có dòng biển lạnh chảy qua

Liên hệ giải thích được vai trò của dòng biển đối với ngành thủy sản của một số nước trên thế giới

Định hướng năng lực được hình thành

- Năng lực đặc thù:

+ Năng lực nhận thức khoa học Địa lí: Trình bày được khái niệm sóng, thủy triều, dòng biển Tích hợp liên hệ với kiến thức đã được học ở các môn học khác như Vật

Trang 23

lí, Lịch sử, Ngữ văn… và nội dung bài học giải thích được nguyên nhân sinh ra sóng

biển, thủy triều; hiện tượng triều cường và triều kém

Trình bày được nơi phát sinh, hướng chuyển động của các dòng biển trong các đại dương thế giới Chứng minh được tính đối xứng của các dòng biển qua bờ các đại dương; chứng minh được ảnh hưởng của các loại dòng biển đối với khí hậu tự nhiên ven bờ nơi chúng chảy qua So sánh được sóng thường với sóng thần; triều cường

với triều kém; dòng biển nóng với dòng biển lạnh

Tích hợp liên hệ được với kiến thức môn Vật lí, Lịch sử, Ngữ văn…có liên quan đến nội dung bài học kết hợp hiểu biết của bản thân để từ đó phân tích được ý nghĩa, ảnh

hưởng của sóng biển, thủy triều đối với phát triển kinh tế xã hội, đời sống cả trong lịch sử và hiện nay

Nhận thức thế giới quan theo quan điểm không gian

+ Năng lực tìm hiểu Địa lí: Sử dụng các hình ảnh, video, số liệu, tư liệu, lược đồ, bản

đồ để rút ra được nguyên nhân sinh ra sóng biển, thủy triều; nhận xét được thuận

lợi, khó khăn của các khu vực chịu ảnh hưởng của triều cường, dòng biển nóng và dòng biển lạnh chảy qua

+ Năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học: Đề xuất được một số biện pháp để

giảm thiểu ảnh hưởng không mong muốn của sóng biển, sóng thần, triều cường đối

với khu vực ven bờ biển; đặc biệt nơi địa phương đang sinh sống; viết được báo cáo

Địa lí về chủ đề Sóng Thủy triều Dòng biển

- Năng lực chung:

+ Năng lực tự học: Khai thác được tài liệu phục vụ cho bài học

+ Năng lực giao tiếp và hợp tác: Làm việc nhóm có hiệu quả

+ Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Biết sử dụng công cụ, phương tiện Công nghệ thông tin phục vụ bài học, phân tích và xử lí tình huống

2.2.2 Xây dựng bộ câu hỏi và bài tập theo định hướng năng lực

A MỨC ĐỘ NHẬN BIẾT

- Trắc nghiệm:

Câu 1: Sóng biển là một hình thức dao động của nước biển:

A Theo chiều thẳng đứng C Nằm ngang

B Do sức hút của Mặt Trăng D Sức hút của Mặt Trời

Trả lời: Đáp án A

Câu 2: Khi Mặt Trời, Trái Đất và Mặt Trăng nằm thẳng hàng nhau thì sẽ xảy ra hiện

tượng nào sau đây?

Trang 24

A Triều kém C Gió mạnh

B Động đất D Triều cường

Trả lời: Đáp án D

Câu 3: Hiện tượng nước lên xuống thường xuyên theo chu kỳ ở các biển và đại

dương được gọi là:

A Dòng biển C Sóng biển

B Thủy triều D Lũ lụt

Trả lời: Đáp án B

Câu 4: Các dòng biển nóng thường xuất phát ở đâu?

A Vĩ tuyến 30º - 40º C Hai bên xích đạo

* Nguyên nhân chủ yếu tạo nên sóng là do gió Gió càng mạnh thì sóng càng to mặt biển càng nhấp nhô

Câu 2: Em hãy trình bày nơi xuất phát, hướng chảy của dòng biển trong đại dương thế giới?

* Ở bán cầu Bắc còn có những dòng biển lạnh xuất phát từ vùng cực men theo bờ Tây các đại dương chảy về phía Xích đạo

* Ở vùng gió mùa xuất hiện các dòng biển đổi chiều theo mùa

Trang 25

Ở Bắc Án Độ Dương về mùa hạ dòng biển nóng chảy theo vòng từ Xri Lan ca lên vịnh Ben Gan rồi xuống In đô nê xi a, vòng sang phía tây…rồi trở về Xri Lan ca Về mùa đông dòng nước này chảy theo chiều ngược lại

* Các dòng biển nóng và lạnh đối xứng nhau qua bờ các đại dương

B MỨC ĐỘ THÔNG HIỂU

- Trắc nghiệm:

Câu 1 Đây không phải là nguyên nhân gây ra sóng thần?

A Động đất C Núi lửa phun ngầm

B Bão cấp độ lớn D Lũ lụt

Trả lời: Đáp án D

Câu 2: Nguyên nhân sinh ra hiện tượng thủy triều là:

A Sức hút của Vũ trụ với Trái Đất

B Sức hút của Mặt Trăng và Mặt Trời với Trái Đất

C Lực Coriolit

D Do động đất

Trả lời: Đáp án B

Câu 3: Ý nào không thể hiện đặc điểm của dòng biển nóng?

A Thường phát sinh hai bên Xích đạo

B Chảy về hướng Tây

C Đối xứng với dòng biển lạnh qua bờ các đại dương

D Xuất phát từ vùng cực

Trả lời: Đáp án D

Câu 4: Đây không phải là đặc điểm của dòng biển lạnh?

A Phát sinh hai bên Xích đạo

B Chảy về xích đạo

C Đối xứng với dòng biển nóng qua bờ các đại dương

D Xuất phát khoảng vĩ tuyến 30 - 40º gần bờ đông các đại dương

Trả lời: Đáp án A

- Tự luận:

Câu 1 a, Dựa vào hình 16.1 và 16.2, hãy cho biết vào các ngày triều cường, ở Trái Đất sẽ thấy sẽ thấy Mặt trăng như thế nào?

b, Dựa vào hình 16.1 và 16.3, hãy cho biết vào các ngày triều kém, ở Trái Đất

sẽ thấy Mặt Trăng như thế nào?

Hướng dẫn trả lời:

Trang 26

a, Vào các ngày triều cường, ở trái Đất sẽ thấy Mặt Trăng tròn (vị trí số 3) hoặc không trăng (vị trí số 1)

b, Vào các ngày triều kém, ở Trái Đất sẽ thấy Mặt Trăng khuyết (vị trí số 2 và vị trí số 4)

Câu 2 Dựa vào hình 16.4 (SGK trang 61) hãy chứng minh có sự đối xứng nhau của các dòng biển nóng và lạnh ở bờ Đông và bờ Tây của các đại dương?

Hướng dẫn trả lời:

- Bắc Đại Tây Dương

+ Khoảng 30ºB: bờ Đông Đại Tây Dương có dòng biển lạnh Canari, bờ Tây của Đại Tây Dương có dòng biển nóng Gơnxtrim

+ Khoảng 60ºB: ở bờ Đông Đại Tây Dương có dòng biển nóng Bắc Đại Tây Dương,

bờ Tây của Đại Tây Dương có dòng biển lạnh Labrado

- Do gió - Chủ yếu do động đất, núi lửa

phun ngầm dưới đáy biển, bão cấp độ lớn (siêu bão)

Đặc điểm - Gió càng mạnh, sóng càng

to

- Chiều cao: 20-40m

- Vận tốc có thể lên tới 800km/h

400-Ảnh hưởng - Xâm thực bờ biển, hình

thành các dạng địa hình ven biển (hàm ếch sóng vỗ, vách biển, bậc thềm sóng

vỗ, vịnh biển…)

- Phá hủy cảnh quan vùng biển

- Gây thiệt hại nặng nề cho sản xuất và đời sống

C MỨC ĐỘ VẬN DỤNG THẤP

- Trắc nghiệm:

Câu 1 Các dòng biển nóng và dòng biển lạnh có chung đặc điểm nào sau đây?

Trang 27

A Ảnh hưởng đến lượng mưa C Ảnh hưởng đến nhiệt độ

B Ảnh hưởng đến khí áp D Ảnh hưởng đến gió

Trả lời: Đáp án A

Câu 2: Dựa vào hình 16.4 (SGK Trang 61)- các dòng biển trên thế giới, cho biết nhận

định nào dưới đây đúng?

A Các dòng biển chảy ven bờ Tây các lục địa là các dòng biển nóng, ven bờ Đông là các dòng biển lạnh

B Các dòng biển chảy ven bờ Tây các lục địa là các dòng biển lạnh, ven bờ Đông là dòng biển nóng?

C Các dòng biển ở bán cầu Bắc và bán cầu Nam có đặc điểm và hướng chảy ngược nhau

D Ở Bắc Ấn Độ Dương, các dòng biển có đặc điểm và hướng chảy thay đổi theo mùa

Trả lời: Đáp án D

Câu 3 Về dao động thủy triều nhận định nào sau đây đúng?

A Lực tạo triều mà Mặt Trăng tạo ra với Trái Đất nhỏ hơn lực tạo triều của Mặt Trời với Trái Đất vì kích thước của Mặt Trăng nhỏ hơn Mặt Trời

B Sức hút của Mặt Trăng với Trái Đất bằng sức hút của Mặt Trời với Trái Đất

C Lực tạo triều mà Mặt Trời tạo ra với Trái Đất nhỏ hơn lực tạo triều của Mặt Trăng với Trái Đất vì Mặt Trời cách xa Trái Đất hơn Mặt Trăng

D Thủy triều được hình thành chủ yếu do sức hút của các hành tinh khác với Trái Đất

Trả lời: Đáp án C

Trả lời: Đáp án B

- Tự luận

Câu 1 Liên hệ với kiến thức bài 11 Lực hấp dẫn Định luật vạn vật hấp dẫn (SGK Vật

lí 10- trang 67) đã được học và hiểu biết của bản thân, hãy giải thích:

a Tại sao khi Mặt Trời, Trái Đất và Mặt Trăng nằm thẳng hàng thì dao động thủy triều lớn nhất (triều cường)

b.Tại sao khi Mặt Trời, Trái Đất và Mặt Trăng nằm vuông góc thì dao động thủy triều nhỏ nhất ( triều kém)

Hướng dẫn trả lời:

a Khi Mặt Trời, Trái Đất, Mặt Trăng nằm thẳng hàng thì lực tạo triều đạt giá trị lớn nhất (bằng tổng của lực hút của Mặt Trăng – Trái Đất và Mặt Trời – Trái Đất) nên dao động thủy triều lớn nhất gọi là triều cường

Trang 28

b Khi Mặt Trời, Trái Đất, Mặt Trăng nằm vuông góc với nhau thì lực tạo triều đạt nhỏ nhất (bằng hiệu của lực hút Mặt Trăng – Trái Đất và Mặt Trời – Trái Đất)

Câu 2 Dựa vào hiểu biết của mình và kiến thức đã được học môn Văn học, em hãy trình bày câu thơ nói về nguyên nhân hình thành sóng?

Hướng dẫn trả lời:

Câu thơ đó là: “ Sóng bắt đầu từ gió”

(Sóng – Xuân Quỳnh)

Như vậy thi sĩ Xuân Quỳnh cũng đề cập đến nguyên nhân hình thành sóng là do gió

Câu 3 Liên hệ với kiến thức đã được học và hiểu biết của bản thân, em hãy nêu dấu hiệu nhận biết sắp có trận sóng thần? Trình bày hậu quả trận sóng thần gần đây gây thiệt hại lớn mà em biêt?

Hướng dẫn trả lời:

- Dấu hiệu nhận biết sắp có trận sóng thần:

+ Cảm thấy động đất Nếu cảm thấy nền đất rung lắc mạnh đến mức không còn đứng vững được, thì nhiều khả năng sẽ xảy ra một trận sóng thần

+ Các bong bóng chứa khí gas nổi lên trên mặt nước làm ta có cảm giác như nước đang bị sôi

+ Nước có mùi trứng thối hay mùi xăng, dầu, nước làm da bị mẩn ngứa

+ Có vệt sáng đỏ ở đường chân trời

+ Biển lùi về sau một cách đáng chú ý

+ Khi sóng thần ập vào bờ, sẽ có tiếng gầm rú giống như chuyến tàu hỏa đang đến gần

+ Hàng triệu con chim hải âu bay ngược biển, động vật côn trùng ở gần bờ cảm giác được sự nguy hiểm và bỏ chạy lên vùng đất cao trước khi những con sóng tràn tới + Cuối cùng một bức tường nước khổng lồ sẽ đột ngột tiến nhanh vào bờ, tàn phá tất

cả những gì trên đường sóng đi qua

- Trận sóng thần xảy ra gần đây gây thiệt hại lớn xảy ra vào ngày 11/3/2011 gần thành phố Senđai, cách thủ đô Tokyo 373km về phía nam Nhật Bản, để lại hậu quả nặng nề: + Ảnh hưởng đến Nhật Bản và hơn 20 quốc gia khác tại Châu Đại dương, Châu Á, Bắc Mĩ và Nam Mĩ

+ Lũ lụt cho các tỉnh Fukusima, Iwate, Miyako…

+ Hàng trăm ngôi nhà, trường học, bệnh viện sụp đổ

+ Gây thảm họa hạt nhân nghiêm trọng nhất Nhật Bản thời hiện đại, khi chúng tàn phá vào nhà máy điện hạt nhân FUkusima, gây rò rỉ phóng xạ, hậu quả đến nay chưa

Trang 29

+ Làm 15.900 người chết, gần 2.300 người mất tích, thiệt hại vật chất lên tới 309 tỷ USD

Câu 4 Liên hệ với kiến thức đã học và hiểu biết từ thực tế nêu lợi ích và tác hại của thủy triều

Hướng dẫn trả lời:

- Lợi ích của thủy triều:

+ Có giá trị về thủy điện (thủy triều lên làm quay tuabin phát điện), thủy lợi, du lịch + Lợi dụng thủy triều để làm muối

+ Trong quân sự: Lợi dụng thủy triều để đóng cọc lên sông dụ quân giặc vào, khi triều rút bắt đầu đánh trả (ba lần chiến thắng giặc ngoại xâm trên sông Bạch Đằng)

+ Về giao thông vận tải: Triều cường lên làm nước biển dâng vào các vịnh, cảng biển tạo điều kiện để tàu thuyền dễ dàng ra khơi

Các trận sóng thần xảy ra gần đây trên thế giới:

+ Sóng thần Ấn Độ Dương năm 2004: Xảy ra vào ngày 26/12/2004, nguyên nhân do động đấtt xảy ra dưới đáy biển ngoài khơi bờ biển phía tây của miền bắc Sumatra, Indonesia Trận đông đất này đã kích hoạt một chuỗi các đợt sóng thần khủng khiếp lan tỏa khắp Ấn Độ Dương, những con sóng cao 30m tàn phá các cộng đồng dân cư sinh sống ven biển Inddonssia, Srilanka, Ấn Độ, Thái Lan, Mianma và những nơi khác như cảng Elizabeth, Nam Phi – 8000km cách xa tâm chấn cả một đại dương, làm chết 230.000 người thuộc 11 quốc gia Cho đến nay thiên tai này là một trong những thảm họa gây nhiều tử vong nhất trong lịch sử thế giới hiện đại

+ Trận sóng thần xảy ra vào ngày 11/3/2011 gần thành phố Senđai, cách thủ đô Tokyo 373km về phía nam Nhật Bản, để lại hậu quả nặng nề:

* Ảnh hưởng đến Nhật Bản và hơn 20 quốc gia khác tại Châu Đại Dương, Châu Á, Bắc Mĩ và Nam Mĩ

* Lũ lụt cho các tỉnh Fukusima, Iwate, Miyako…

Trang 30

* Hàng trăm ngôi nhà, trường học, bệnh viện sụp đổ

* Gây thảm họa hạt nhân nghiêm trọng nhất Nhật Bản thời hiện đại, khi chúng tàn phá vào nhà máy điện hạt nhân Fukusima, gây rò rỉ phóng xạ, hậu quả đến nay chưa khắc phục xong

* Làm 15.300 người chết, gần 2.300 người mất tích, thiệt hại vật chất lên tới 309 tỷ USD

+ Trận Sóng thần ở In-đô-nê-xia: xảy ra vào ngày 23/12/2018 tấn công bờ biển quanh

eo biển Sunđa của In-đô-nê-xia Nguyên nhân gây ra trận sóng thần này có thể là do

lở đất dưới đáy biển sau khi núi lử Krakatoa phun trào Sóng thần tấn công các eo biển Sunđa, giữa đảo Sumatra và Java Trận sóng thần này làm hơn 1.500 người bị thương vong và gây thiệt hại lớn về tài sản

Câu 2 Chứng minh tính quy luật của các dòng biển chảy trong đại dương thế giới?

Hướng dẫn trả lời

Các dòng biển chảy trong đại dương thế giới có tính quy luật, cụ thể là :

- Trong các đại dương, dòng biển đều chảy thành những hệ thống vòng quanh gọi là các vòng hoàn lưu Ở Bán cầu bắc, các vòng hoàn lưu chảy theo chiều kim đồng hồ, ở Nam bán cầu theo chiều ngược kim đồng hồ : Dòng biển Bắc Xích đạo

- Đại Tây dương, Gơn-xtrim và Canari… dòng biển Nam xích đạo Đại Tây Dương, Braxin, Bengheela…

- Các dòng biển chuyển động trong đại dương thế giới đều chịu ảnh hưởng của giới hạn các bờ lục địa Các dòng biển nóng gặp lục địa thì chuyển hướng chảy về cực, dòng biển lạnh thì men theo bờ các lục địa chảy về xích đạo, ví dụ : dòng biển nóng Guyan na chảy từ Bắc xích đạo theo hướng Tây gặp lục địa Bắc mĩ chảy về cực ; dòng biển lạnh Caliphoocnia chảy từ 40ºB chảy về Xích đạo

- Nói chung, những dòng biển chảy từ vĩ độ thấp lên vĩ độ cao là những dòng biển nóng, còn những dòng biển chảy từ vĩ độ cao xuống vĩ độ thấp là những dòng biển lạnh Các dòng biển nóng và lạnh phân bố đối xứng nhau qua hai bờ đại dương : dòng biển nóng Guyana, Mô dăm bích…., dòng biển lạnh Labraddo, Canari…

- Các dòng biển chảy ven bờ có ảnh hưởng đến lượng mưa, cụ thể :

+ Ven bờ đại dương, nơi có dòng biển nóng đi qua mưa nhiều, vì không khí trên dòng biển nóng chứa nhiều hơi nước, gió mang hơi nước và bờ gây mưa ; nơi có dòng biển lạnh đi qua mưa ít, vì không khí trên dòng biển lạnh bị lạnh làm cho hơi nước không bốc hơi lên được nên ít mưa

+ Do vậy, ở vùng Chí tuyến, bờ Đông của lục địa có khí hậu ẩm, mưa nhiều, còn bờ Tây có khí hậu khô khan Ở vùng Ôn đới, bờ Đông của đại dương có khí hậu ấm áp, mưa nhiều, còn bờ Tây thì có khí hậu lạnh và ít mưa

Câu 3 Dựa vào kiến thức đã học và hiểu biết của bản thân, em hãy cho biết :

a Tại sao thủy triều lại có chu kì 24h50´ ?

Trang 31

b Tại sao cùng nằm ven bờ các đại dương nhưng rìa phía Tây của lục địa Nam

Mĩ hình thành hoang mạc lớn( hoang mạc Atacama) còn rìa phía Đông của lục địa này lại là rừng xích đạo Amazon rộng lớn?

c Tại sao các vòng hoàn lưu ở vĩ độ thấp của Bán Cầu Bắc chuyển động cùng chiều kim đồng hồ còn ở Bán Cầu Nam lại có chiều ngược lại ?

Hướng dẫn trả lời

a Thủy triều có chu kì 24h50´ vì :

+ Chu kỳ một vòng quay của Mặt Trăng xung quanh Trái Đất là 27,32 ngày Như vậy trong một ngày – đêm Mặt Trăng di chuyển được : 23h56´04´´ (27,32 :360º)= 86164´ : 6557 = 13º/ ngày –đêm

+ Do hướng vận động của Mặt Trời xung quanh Trái Đất trùng với hướng tự quay của Trái Đất quanh trục, nên muốn thủy triều xảy ra tại điểm ngày hôm trước thì trái Đất phải di chuyển thêm một thời gian tương ứng với 13º ( 23h56´04´´ : 360º) x 13º = 52´ Như vậy Trái Đất cần phải quay thêm thời gian khoảng 50´ Vì vậy chu kỳ thủy triều

là 24h50´

b Ở rìa phía Tây lục địa Nam Mĩ – ven Thái Bình Dương, có hoang mạc Atacama vì chịu ảnh hưởng của dòng biển lạnh Pêru Không khí trên dòng biển lạnh không bốc hơi lên được nên không gây mưa Qua thời gian dài lượng mưa rất ít hoặc không có nên đã hình thành nên hoang mạc này

Còn ở phía Đông của lục địa Nam Mĩ – ven Đại Tây Dương, có rừng rậm Amazon

vì chịu ảnh hưởng của dòng biển nóng Braxin Không khí trên dòng biển nóng ẩm nên lượng bốc hơi nhiều, lại có gió thổi từ biển vào nên gây mưa Qua thời gian lượng mưa lớn kết hợp với độ ẩm cao,… đã làm cho hệ sinh vật ở đây rất phát triển và hình thành nên rừng rậm Amazon nổi tiếng thế giới

c Các vòng hoàn lưu được hình thành do sự kết hợp của dòng biển nóng và dòng biển lạnh ở khoảng vĩ độ 30 -40º trong các đại dương ở từng bán cầu

- Ở Bán Cầu Bắc các vòng hoàn lưu chảy theo chiều kim đồng hồ, ở Bán Cầu Nam hướng chảy theo chiều ngược lại vì các vòng hoàn lưu xét cho cùng là các hiện tượng chuyển động trên Trái Đất nên đều chịu ảnh hưởng của lực Cô-ri-ôlit, còn các nguyên nhân thứ yếu như là chịu ảnh hưởng của dạng địa hình ven bờ nơi chúng chảy qua, hướng gió…

Câu 4 Dựa vào kiến thức đã học và hiểu biết thực tế của mình em hãy:

b Chứng minh vai trò của dòng biển

a Khi nào xảy ra triều cường lớn vừa, triều cường lớn nhất ?

Hướng dẫn trả lời

a Chứng minh vai trò của dòng biển :

- Ảnh hưởng đến khí hậu ven bờ mà nó đi qua

Ngày đăng: 21/05/2021, 22:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w