năng sống thích hợp, có nhân cách tốt đẹp, có đầy đủ những ý thức và hành vi côngdân,… Từ đó góp phần thúc đẩy mối quan hệ tích cực giữa học sinh với giáo viên,đem đến hứng thú học tập,
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Trang 2“Một số biện pháp hình thành và phát triển kĩ năng mềm cho
học sinh lớp chủ nhiệm ở trường THPT”
LĨNH VỰC: CHỦ NHIỆM
Tác giả: VÕ THỊ MINH HẠNH (Giáo viên tổ Toán- Tin)
PHẠM THỊ VIỆT DUNG (Giáo viên tổ Văn- Ngoại ngữ)
Năm học 2020 - 2021
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Trang 3Cùng với sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, Việt Nam chúng
ta đã và đang bước vào một giai đoạn phát triển và hội nhập mới Với Đề án đổi mớicăn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, mục tiêu giáo dục đang chuyển hướng từtrang bị kiến thức nặng lý thuyết sang trang bị những năng lực cần thiết và phẩm chấtcho người học Điều đó khẳng định thêm tầm quan trọng và yêu cầu thiết yếu đưagiáo dục Kĩ năng sống vào trường học cùng với các môn học và các hoạt động giáodục Các em học sinh ngày càng chủ động tích cực và linh hoạt hơn trong mọi hoạtđộng của nhà trường và xã hội
Tuy nhiên, ta không thể phủ nhận được một thực trạng đó là bạo lực học đườngngày càng gia tăng, không ít bộ phận học sinh thiếu tính tự tin, tự lập, sống ích kỷ, vôtâm, thiếu trách nhiệm với gia đình và bản thân, vi phạm pháp luật, đạo đức, gây bứcxúc cho nhà trường, gia đình và xã hội Ngày càng nhiều học sinh vô cảm trước cáixấu Hiện tượng học sinh vô cảm trước bạo lực học đường, thậm chí không can ngăn
mà còn reo hò, cổ vũ khi chứng kiến bạn mình đánh nhau… là điều khiến nhiều chúng
ta thấy đáng lo ngại
Tình trạng đánh nhau ở học sinh trong thời gian gần đây đang gia tăng trở lại,đặc biệt là sau đợt nghỉ học do COVID-19 Trong thời gian dài nghỉ học, ở nhà họconline, các em lướt mạng, chơi game, chịu áp lực từ các vấn đề học tập, gia đình cókhó khăn về việc làm, kinh tế sa sút là một trong số nguyên nhân khiến một bộphận nhóm trẻ có những căng thẳng, bức xúc, “giận cá chém thớt”, dễ dẫn đến cáctình huống bạo lực
Ngoài ra, sự khác biệt của học sinh trong lớp, trong trường như học giỏi, xinhđẹp, ngoại hình nổi bật hoặc những học sinh quá khép kín (trầm tính, ít nói, không
có nhiều bạn bè ) có thể là nguyên nhân khiến các em dễ bị bắt nạt, bị đánh “Một lý
do khác thường thấy bắt nguồn từ những hiểu lầm đơn giản như “nhìn đểu”, “nóiđểu” Yêu đương cũng là nguyên nhân phổ biến khiến nhiều học sinh đánh nhau Việcđăng đàn, bình luận những lời lẽ khiếm nhã, khiêu khích lên mạng khiến các em nổinóng, muốn đánh nhau để “dằn mặt”
Nguyên nhân sâu xa là do các em thiếu hụt về kỹ năng sống Kỹ năng mềmcàng đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của lứa tuổi HS THPT Giáo dục
Kỹ năng mềm tại các trường THPT hiện nay đang được chú trọng và tạo điều kiệnthực hiện Trong đó, được tập trung ở những buổi ngoại khóa, hoạt động ngoài giờhay các tổ chức các câu lạc bộ chuyên đề giúp các em có cơ hội được tiếp cận và trảinghiệm thực tế trong việc rèn luyện Kỹ năng mềm
Xã hội đã giao phó và đòi hỏi người dạy học phải góp phần “xuất lò” nhữnghọc sinh “chính mác thế kỉ XXI”, nghĩa là những lớp người không chỉ toàn tài mà cònphải vẹn đức – có óc thông minh, nhạy bén, có tư duy sáng tạo, năng động, có kỹ
Trang 4năng sống thích hợp, có nhân cách tốt đẹp, có đầy đủ những ý thức và hành vi côngdân,… Từ đó góp phần thúc đẩy mối quan hệ tích cực giữa học sinh với giáo viên,đem đến hứng thú học tập, giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước các tìnhhuống trong cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tích cực với mọi người xung quanh,sống lành mạnh, chủ động trong cuộc sống.
Một người thành công ngoài xã hội thì kiến thức không thôi chưa đủ mà cần cónhững Kỹ năng mềm cần thiết Học sinh độ tuổi THPT là giai đoạn chuẩn bị bước racuộc đời nên là thời điểm quan trọng để giáo dục các em những Kỹ năng mềm Đó là
sự cần thiết để các em có đủ hành trang bước vào đời và thành công trong tương laisau này
Làm công tác chủ nhiệm lớp, gắn bó với các em học sinh nhiều hơn qua cáchoạt động giảng dạy và công tác lớp, chúng tôi nhận thấy việc giáo dục kỹ năng sốngcho học sinh, với bản chất là hình thành và phát triển cho các em khả năng làm chủbản thân, khả năng ứng xử phù hợp với những người chung quanh, khả năng ứng phótích cực trước các tình huống phức tạp, muôn hình, muôn vẻ của cuộc sống là vô cùngquan trọng
Bên cạnh đó, do đặc thù của thi cử theo khối nên ở trường đã có phân lớp theocác khối thi của học sinh Điều này cũng tạo ra sự chênh lệch về giới tính trong cáclớp Như các lớp khối A , A1 thì số lượng học sinh nam thường đông hơn học sinh nữ
Và trong các lớp khối D thì số lượng học sinh nữ chiếm ưu thế hoặc có khi là toàn bộ
sĩ số của một lớp Do đó việc giáo dục học sinh cũng có những nét đặc thù riêng màngười làm công tác chủ nhiệm phải linh hoạt, và có lúc cần kết hợp với nhau để tìmhiểu rõ hơn về học sinh của mình Bởi vì vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp đối với
sự hình thành nhân cách, đạo đức của học sinh là vô cùng quan trọng GVCN lớp làcầu nối giữa nhà trường với học sinh, với cha mẹ học sinh và các đoàn thể mà các emsinh hoạt, học tập
Trên cơ sở cả hai chúng tôi là giáo viên dạy cùng một trường THPT, đối tượnghọc sinh và các điều kiện trong nhà trường là gần như tương đồng Trong đó, cô VõThị Minh Hạnh là giáo viên dạy Toán và chủ nhiệm các lớp khối A; cô Phạm Thị ViệtDung là giáo viên dạy tiếng Anh và thường xuyên được phân công chủ nhiệm lớpkhối D Nếu kết hợp kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm sẽ có sự hiểu biết cặn kẽhơn các đối tượng học sinh của mình và có những giải pháp đề xuất phù hợp hơn, tốthơn
Chính vì vậy chúng tôi đã quyết định thực hiện chung đề tài :
“Vai trò của người giáo viên chủ nhiệm trong việc nâng cao kĩ năng sống và cải
thiện kĩ năng mềm cho học sinh ở trường THPT”
Trang 52 Mục đích nghiên cứu
Đề ra một số biện pháp để nâng cao chất lượng của việc giáo dục Kĩ năng sống
và Kĩ năng mềm cho học sinh ở giáo viên chủ nhiệm
3 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về giáo dục Kĩ năng sống ở học sinh THPT
Đánh giá thực trạng về công tác giáo dục Kĩ năng sống ở học sinh THPT nóichung và học sinh THPT Huỳnh Thúc Kháng nói riêng
Đề xuất một số giải pháp trong thực hiện giáo dục Kĩ năng sống và cải thiện kỹnăng mềm ở học sinh THPT
4 Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm: Tại trường THPT Huỳnh Thúc Kháng – Vinh – Nghệ an
- Thời gian: Năm học 2019-2020 và Học kỳ 1 Năm học 2020-2021
- Chủ thể: Học sinh lớp 10 D1 K100 và lớp 11 A 2 K99
5 Tính mới của sáng kiến
Linh hoạt trong việc tiếp cận và giải quyết các vấn đề nảy sinh trong quá trìnhgiảng dạy và lồng ghép giáo dục kỹ năng sống cho học sinh
Áp dụng nhiều hình thức, địa điểm, áp dụng nhiều kiến thức các môn học khácnhau để giáo dục học sinh
Sử dụng mạng xã hội, và các thiết bị điện tử như một công cụ hỗ trợ nhanh nhất
và thuận tiện nhất trong quá trình làm công tác chủ nhiệm
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện sáng kiến kinh nghiệm này, chúng tôi đã sử dụng các phươngpháp cơ bản nhất là:
- Quan sát, phỏng vấn, nghiên cứu sản phẩm, so sánh giữa các số liệu thu được
Và nghiên cứu các tài liệu, thu thập thông tin lí lịch liên quan
- Phương pháp khảo sát: Chúng tôi tiến hành khảo sát tâm lí học sinh, khảo sátcác phương pháp, cách thức tiến hành, khảo sát kết quả đã đạt được
- Phương pháp thống kê số liệu trong quá trình khảo sát
- Phương pháp phân tích, phân loại: phân tích những nguyên nhân và nhữngkết quả đạt được trong hoạt động giáo dục
- Phương pháp so sánh trong thực trạng vấn đề và so sánh kết quả thu được saukhi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Trang 6- Sử dụng mạng xã hội và các ứng dụng lấy ý kiến trên các apps
PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Cơ sở lí luận
1.1 Khái niệm Kĩ năng mềm
Kỹ năng là khả năng thực hiện một công việc nhất định, trong một hoàn cảnh, điềukiện nhất định, đạt được một chỉ tiêu nhất định Các kỹ năng có thể là kỹ năng sống,
kỹ năng mềm và kỹ năng nghề nghiệp
Kỹ năng mềm (Soft skills) là một thuật ngữ xã hội học chỉ những kỹ năng có liênquan đến việc sử dụng ngôn ngữ, khả năng hòa nhập xã hội, thái độ và hành vi ứng xử
áp dụng vào việc giao tiếp giữa người với người Chúng quyết định bạn là ai, làm việcthế nào, là thước đo hiệu quả cao trong công việc
Hiện nay, Kỹ năng sống và Kỹ năng mềm là hai thuật ngữ đều được quan tâm khánhiều trong giáo dục nói riêng và xã hội nói chung Thực trạng cho thấy, khi đề cậpđến một vấn đề mà cá nhân không thích ứng hay giải quyết trong cuộc sống thì đượcđánh giá theo khía cạnh "thiếu Kỹ năng sống" Mặt khác, khi cá nhân không xin đượcviệc làm, gặp thất bại trong công việc thì xã hội thường gán là "thiếu Kỹ năng mềm"
Kỹ năng sống nằm trong phạm trù mang nghĩa phổ quát và rộng hơn nhiều so với
Kỹ năng mềm Kỹ năng sống bao hàm tất cả các kỹ năng thuộc về mặt tâm lý xã hộigiúp cá nhân giải quyết có hiệu quả các yêu cầu, thách thức đặt ra của cuộc sống vàthích nghi với cuộc sống Hay nói một cách đơn giản hơn đó là những kỹ năng giúpcon người phản ứng hiệu quả trước những vấn đề đặt ra trong cuộc sống
Kỹ năng mềm trước hết liên quan đến mặt tương tác với người khác bằng nhữngyếu tố liên quan đến mặt cảm xúc, ngôn ngữ, thái độ nhằm thiết lập ra những mốiquan hệ xã hội tích cực để đạt được hiệu quả cao trong công việc Kỹ năng mềm chỉ
hỗ trợ đắc lực cho cá nhân đạt được hiệu quả cao trong công việc nhưng không hoàntoàn đầy đủ để giúp cá nhân thích ứng được với các vấn đề nảy sinh từ cuộc sống
Nếu căn cứ vào sự phân loại Kỹ năng sống, dựa vào khái niệm có thể nhận thấy Kỹ năng mềm là một bộ phận quan trọng của Kỹ năng sống.
Theo quan niệm của WHO có 3 nhóm Kỹ năng sống gồm:
• Nhóm 1: Nhóm kỹ năng nhận thức
• Nhóm 2: Nhóm kỹ năng liên quan đến cảm xúc
• Nhóm 3: Nhóm kỹ năng xã hội
Trang 7Kỹ năng mềm thuộc nhóm thứ 3 - nhóm kỹ năng xã hội của Kỹ năng sống, tức
là hệ thống những kỹ năng giúp cá nhân thiết lập và duy trì các mối quan hệ trong xãhội Tuy nhiên, cách nhìn này vẫn chưa nhấn mạnh được ý nghĩa quan trọng của Kỹnăng mềm là thúc đẩy công việc và hỗ trợ công việc đạt được hiệu quả cao
Theo quan điểm của UNESCO
Kỹ năng sống phải được phân chia dựa trên những kỹ năng nền tảng cơ bảncũng như những kỹ năng chuyên biệt trong đời sống cá nhân của con người ở nhữngmối quan hệ khác nhau cũng như ở những lĩnh vực khác nhau Như vậy, dưới góc độphân loại này có thể nhận thấy Kỹ năng mềm thuộc trong nhóm kỹ năng chung mà cụthể hơn là nhóm kỹ năng liên quan đến cảm xúc và các kỹ năng cơ bản về xã hội
Ở một góc nhìn khác, có thể nhận thấy rằng: Kỹ năng sống mang tính hệ thống và ổn định hơn so với Kỹ năng mềm.
Kỹ năng sống mang tính hệ thống và có thể "ổn định" tương đối với nhiềungười dù rằng họ có sự khác biệt về văn hóa, dân tộc, độ tuổi
Kỹ năng mềm sẽ rất "cơ động" và dù nó hướng đến vấn đề giúp con người thíchnghi trong việc tương tác hiệu quả với người khác hay thúc đẩy công việc đạt hiệuquả cao nhưng bản thân nó lại phụ thuộc khá nhiều vào tính chất của nghề nghiệp màđặc biệt là tính đối tượng của nghề nghiệp
Nói tóm lại, Kỹ năng mềm không đồng nhất với Kỹ năng sống nhưng không phải là một phạm trù tách biệt với Kỹ năng sống Kỹ năng mềm là một bộ phận quan trọng của Kỹ năng sống
1.2 Vai trò của giáo viên chủ nhiệm ( GVCN)
GVCN là nhà quản lí, nhà sư phạm đại diện cho Hiệu trưởng truyền đạt nhữngchủ trương, yêu cầu, kế hoạch giáo dục của nhà trường đến với HS và tập thể họcsinh Bằng phương pháp thuyết phục, sự gương mẫu, kinh nghiệm sư phạm và uy tíncủa mình, GVCN giúp cho mỗi học sinh và tập thể lớp có trách nhiệm tuân thủ và tựgiác thực hiện nghiêm túc những yêu cầu này
Nói như PGS.TS Đặng Quốc Bảo - Học viện quản lý giáo dục thì: GVCN lớp
là nhà quản lý không có dấu đỏ Ngày nay, với sự nhận thức ngày càng đúng đắn và
sâu sắc về giáo dục, có thể coi GVCN như một nhà quản lý với các vai trò: Ngườilãnh đạo lớp học; người điều khiển lớp học; người làm công tác phát triển lớp học;người làm công tác tổ chức lớp học; người giúp hiệu trưởng bao quát lớp học; ngườigiúp hiệu trưởng thực hiện việc kiểm tra sự tu dưỡng và rèn luyện của học sinh; người
có trách nhiệm phản hồi tình hình lớp Một người GVCN giỏi sẽ góp phần xây dựngnên một tập thể lớp giỏi, nhiều tập thể lớp giỏi sẽ xây dựng nên một nhà trường vững
Trang 8công công tác chủ nhiệm sẽ góp phần giáo dục học sinh sau này trở thành thế hệ trẻnăng động, sáng tạo và tài năng.
Để trở thành một GVCN chân chính thì người GV đó cần hội tụ đủ những yếu
tố sau: Có hiểu biết rộng về văn hóa chung, có tri thức sâu sắc; vững vàng về môn họcphụ trách ở lớp chủ nhiệm; có khả năng sáng tạo trong công tác giáo dục, dạy học; cókhả năng thu thập tích lũy tri thức để ngày càng nâng cao hoặc mở rộng tầm hiểu biếtcủa mình; có khả năng kích hoạt, gây hào hứng nhằm khơi dậy sự hứng thú và động
cơ học tập, rèn luyện đạo đức ở học sinh; GVCN cần tự trang bị cho mình nhiều kĩnăng sư phạm như: giao tiếp sư phạm trước đám đông, biểu lộ và kiềm chế tình cảm,cảm xúc khi cần thiết, ứng xử các tình huống sư phạm linh hoạt,… Và trên hết,GVCN phải thực sự là một tấm gương sáng cho HS noi theo
Theo Điều lệ trường THCS, THPT và trường PT có nhiều cấp học, ban hành kèm theo Thông tư sổ 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3 /2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, giáo viên chủ nhiệm có những vai trò sau:
Giáo viên chủ nhiệm thay mặt hiệu trưởng quản lí một lớp học
Giáo viên chủ nhiệm lớp do hiệu trưởng phân công và thay mặt hiệu trưởng đểquản lí và tổ chức các hoạt động giáo dục học sinh ở một lớp học
Vai trò quản lí của giáo viên chủ nhiệm lớp thể hiện trong việc xây dựng và tổchức thực hiện các kế hoạch giáo dục, đôn đốc, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập
và tu dưỡng của học sinh trong lớp
Giáo viên chủ nhiệm phải trả lời các câu hỏi về chất lượng học tập và hạnh kiểmcủa học sinh trong lớp trước hiệu trưởng, trước Hội đồng sư phạm của nhà trường vàtrước phụ huynh học sinh của lớp khi tổng kết năm học
Giáo viên chủ nhiệm xây dựng tập thể học sinh thành một khối đoàn kết
Giáo viên chủ nhiệm lớp là linh hồn của lớp, bằng các biện pháp tổ chức, giáodục, bằng sự gương mẫu và quan hệ tình cảm, giáo viên chủ nhiệm xây dựng khốiđoàn kết trong tập thể, dìu dắt các em nhỏ như con em mình trưởng thành theo từngnăm tháng
Học sinh kính yêu giáo viên chủ nhiệm như cha mẹ mình, đoàn kết thân ái vớibạn bè như anh em ruột thịt, lớp học sẽ trở thành một tập thể vững mạnh Tình cảmcủa lớp càng bền chặt, tinh thần trách nhiệm và uy tín của giáo viên chủ nhiệm càngcao thì chất lượng giáo dục càng tốt
Rất nhiều giáo viên cùng giảng dạy trong một lớp, nhưng giáo viên chủ nhiệmbao giờ cũng để lại những ấn tượng sâu sắc đối với từng học sinh trong suốt cuộc đời
họ Bởi vì, người giáo viên không chỉ dạy kiến thức mà còn dành nhiều thời gian, sức
Trang 9lúc, tình cảm cảm hóa, dạy học sinh Họ kết gắn các thành viên trong lớp học thôngqua những câu chuyện, những trò chơi, hoạt động.
Giáo viên chủ nhiệm tổ chức các hoạt động giáo dục học sinh trong lớp
Vai trò tổ chức của giáo viên chủ nhiệm thể hiện trong việc thành lập bộ máy tựquản của lớp, phân công trách nhiệm cho từng cá nhân, các tổ, nhóm, đồng thời tổchức thực hiện các mặt hoạt động theo kế hoạch giáo dục được xây dựng hàng năm.Các hoạt động của lớp được tổ chức đa dạng và toàn diện, giáo viên chủ nhiệmlớp quán xuyến tất cả các hoạt động một cách cụ thể, chặt chẽ
Các phong trào thi đua học tập đi vào thực chất, các cuộc sinh hoạt các đoàn thể
có nội dung hấp dẫn thanh, thiếu niên, phong trào văn hóa, văn nghệ, thể thao đượctiến hành thường xuyên… Chất lượng học tập và tu dưỡng đạo đức của học sinh phụthuộc rất nhiều vào trật tự, kỉ luật, vào tinh thần đoàn kết và truyền thống của tập thểlớp cũng như các hoạt động đa dạng của lớp
Giáo viên chủ nhiệm - Cố vấn đắc lực cho các đoàn thể của học sinh trong lớp
Giáo viên chủ nhiệm lớp phải nắm vững điều lệ, tôn chỉ mục đích, nghi thức vànội dung hoạt động của các đoàn thể
Với tinh thần trách nhiệm, với kinh nghiệm công tác của mình làm tham mưucho chi Đoàn thanh niên của lớp lập kế hoạch công tác, bầu ra ban lãnh đạo chi đoàn,
tổ chức các nội dung hoạt động và phối hợp với ban cán sự lớp để xây dựng tập thể,đem lại hiệu quả giáo dục tốt nhất
Giáo viên chủ nhiệm giữ vai trò chủ đạo trong việc phối hợp với các lực lượng giáo dục
Gia đình, nhà trường và xã hội là ba lực lượng giáo dục, trong đó nhà trường là
cơ quan giáo dục chuyên nghiệp, hoạt động có mục tiêu, nội dung, chương trình vàphương pháp giáo dục dựa trên cơ sở khoa học, do vậy giáo viên chủ nhiệm phải làngười chủ đạo trong điều phối các hoạt động giáo dục cùng với các lực lượng giáodục đó một cách có hiệu quả nhất Năng lực, uy tín chuyên môn, kinh nghiệm côngtác của giáo viên chủ nhiệm lớp là điều kiện quan trọng để tập hợp lực lượng, phối
hợp thành công các hoạt động giáo dục cho học sinh trong lớp
Như vậy, GVCN là người đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục để hìnhthành và phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh Để thực hiện tốt chức trách,nhiệm vụ của mình, việc học hỏi và không ngừng trau bản thân là yếu tố tiên quyếtcủa một GVCN
1.3 Đặc điểm của học sinh THPT
Trang 10Học sinh THPT ở lứa tuổi khoảng từ 15-18 tuổi, đây là lứa tuổi có nhiều biếnđổi về tâm sinh lí Độ tuổi này tâm lí, tình cảm của các em đa dạng, phong phú vàcũng rất phức tạp Điểm nổi bật ở lứa tuổi này là dễ xúc động, dễ bị kích động, vuibuồn chuyển hoá dễ dàng, tình cảm còn mang tính bồng bột Nhiều khi do hoạt động
hệ thần kinh không cân bằng, thường thì quá trình hưng phấn mạnh hơn quá trình ứcchế, đã khiến các em không tự kiềm chế được Học sinh THPT bước vào thời kỳ đầucủa tuổi thanh niên về sinh học, cấu trúc não đã phát triển tương đối hoàn thiện, cáckhả năng tư duy, phân tích, đánh giá, cảm giác, tri giác, cũng dần phát triển Ở lứatuổi này, các em thích khẳng định cái tôi bản ngã, muốn được đối xử như người lớn,được thoát ra khỏi sự ràng buộc của cha mẹ, thích được độc lập suy nghĩ và hànhđộng Bên cạnh đó, nhiều em cũng có biểu hiện lệch lạc về nhân cách, sống ích kỉ,thiếu đạo đức, bắt chước, đua đòi, sống bất cần,
Ở lứa tuổi này các em có nhiều thay đổi, khủng hoảng vì sự phát triển rõ rệt về
cơ thể, thay đổi tâm sinh lý, tình cảm và các mối quan hệ xã hội Một mặt, các em vẫnmuốn níu kéo những ký ức của tuổi thơ, muốn được nâng niu chiều chuộng cùng vớisuy nghĩ và cách ứng xử vụng dại của thời thơ bé, mặt khác lại muốn khẳng địnhmình là người lớn Vì thế bản thân các em có nhiều mâu thuẫn, nhiều suy nghĩ phứctạp trong nội tâm về các mối quan hệ xung quanh cần giải quyết Do chưa có kỹ năngsống nên các em gặp nhiều khó khăn, răc rối, đôi khi phải gánh chịu những hậu quảkhông như mong muốn bởi chưa tìm ra phương hướng giải quyết đúng đắn và thôngminh nhất
Về phương diện xã hội: các em bắt đầu có ý thức, nhận thức về cuộc sống, nhucầu kết bạn phát triển mạnh, các mối quan hệ mở rộng, thích tham gia các hoạt động
xã hội, thích đi đây đi đó để mở rộng tầm nhìn, thích khẳng định mình là người lớn.Trong lĩnh vực tình cảm: cường độ những rung động tình cảm ngày càng caonhưng chưa có sự kiểm soát chặt chẽ của lý trí dễ rơi vào tình trạng cảm tính đơnthuần, cảm xúc tùy hứng nhất thời xuất hiện nhiều khó kiềm chế dễ dẫn đến sai lầm.Đây là độ tuổi muốn khẳng định “Cái tôi cá nhân” nên có nhu cầu tự khẳng địnhmình rất cao thể hiện ở chỗ: không muốn tham gia vào những sinh hoạt bó buộc củagia đình, muốn có quyền riêng tư, thích tranh luận và hay bình luận nhận xét đánh giá
về người khác ngại tiếp xúc và chia sẻ với người lớn, người thân hay giấu kínnhững khó khăn, vấp ngã của bản thân mình Thêm vào đó là nhu cầu phát triển cácmối quan hệ xã hội, đây cũng là giai đoạn cuối cấp, các em phải chịu áp lực lớn trongthi cử dẫn đến dễ rơi vào trạng thái tiêu cực ảnh hưởng tới sức khỏe, tinh thần Dovậy, rất cần sự quan tâm, định hướng từ phía gia đình và nhà trường, giúp các em cócác kỹ năng để hoàn thiện mình hơn
* Một số đặc điểm tâm lý học sinh THPT - lứa tuổi vị thành niên
Trang 11Tuổi học sinh THPT là lứa tuổi tiếp sau tuổi học sinh THCS, học sinh THPTthuộc lứa tuổi thanh niên Có nhiều quan niệm khác nhau về tuổi thanh niên.
- Các nhà lý luận sinh học xác định tuổi thanh niên dựa trên sự trưởng thànhcủa cơ thể Tiêu biểu như các nhà phân tâm học, họ cho rằng tuổi thanh niên là giaiđoạn phát triển tình dục
- Các nhà lý luận về xã hội lại coi tuổi thanh niên là thời kỳ chuyển tiếp từ thơ
ấu sang tuổi người lớn
- Các nhà tâm lý học cho rằng: Cần phải nghiên cứu tuổi thanh niên một cáchphức hợp, kết hợp cả quan điểm xã hội và quan điểm sinh học
Từ nhiều quan niệm nhìn nhận các biểu hiện của lứa tuổi ta có thể sơ lược sựphát triển tâm sinh lý của tuổi vị thành niên như sau:
- Về thể chất: sự thay đổi về kích thước và những đặc tính
- Về nhận thức: sự thay đổi trong khả năng suy nghĩ Có hiểu biết tốt hơn vềmỗi quan hệ giữa nguyên nhân và hậu quả, có khả năng lớn hơn để thiết lập mụctiêu, bắt đầu suy nghĩ về ý nghĩa của cuộc sống
- Về xúc cảm, tình cảm: sự thay đổi trong những trải nghiệm và thể hiện nhữngcảm xúc Có sự mâu thuẫn giữa sự mong đợi tự cao với sự tự nhận thức còn kém.Phát triển cảm xúc của tình yêu và niềm đam mê
- Về xã hội: thay đổi trong các mỗi quan hệ với mọi người Nhận ra người lớnkhông hoàn hảo, khao khát phát triển sự độc lập Những ảnh hưởng của bạn cùngtrang lứa trở nên quan trọng, tin tưởng nhiều hơn vào sự cổ vũ của bạn bè Cókhoảng cách với cha mẹ
Như vậy tuổi THPT được miêu ta như một giai đoạn khó khăn, tiêu cực trảiqua nhiều giông bão và sự căng thẳng để có thể sống sót và trưởng thành Trên thực
tế đây là một giai đoạn phát triển có nhiều sự thay đổi lớn lao về cả tâm lý và sinh
lý, là giai đoạn chuyển giao rất dài về mặt thời gian từ trẻ nhỏ thành người trưởngthành Vì thế, đây là giai đoạn cần được sự hỗ trợ, giúp đỡ một cách đặc biệt từ thầy
cô giáo, cha mẹ, bạn bè và cả cộng đồng để các em có thể phát huy được mặt mạnhcủa sự phát triển về thể chất và tâm lý đồng thời hạn chế được những điểm yếu của
sự phát triển trong giai đoạn này
* Những khó khăn tâm lý của học sinh THPT
Học sinh THPT nhìn chung cả thể chất, giải phẩu, sinh lí và tâm lí, nhân cáchđều phát triển theo hướng ổn định dần và đạt đến độ trưởng thành sau 18 tuổi Tuyvậy trong quá trình phát triển, cũng gặp không ít khó khăn cần có sự quan tâm, chia
sẻ và thấu hiểu thấu cảm của thầy cô, cha mẹ, bạn bè:
Trang 12- Khó khăn tâm lí trong quá trình học tập, rèn luyện
- Khó khăn trong định hướng và chọn nghề, chọn trường học nghề
- Khó khăn trong hình thành lí tưởng sống và xây dựng kế hoạch đường đời+ Khó khăn trong hình thành hình ảnh bản thân trong mắt người khác
+ Khó khăn trong hành trình hình thành lí tưởng sống
+ Khó khăn trong xác định kế hoạch đường đời
- Khó khăn trong quan hệ xã hội, quan hệ với bạn và bạn khác giới
+ Khó khăn trong giao tiếp xã hội, tương tác và kết giao xã hội
+ Khó khăn trong quan hệ với bạn khác giới, tình yêu, tình dục
+ Khó khăn trong các trải nghiệm tình yêu đầu đời
Những khó khăn trên ảnh hưởng rất lớn đến đời sống tâm lý của học sinh Tạo
ra lực cản đối với các hoạt động, sinh hoạt và quan hệ xã hội của học sinh Tác độngtrực tiếp tới sự phát triển thể chất và tâm lí, nhân cách của học sinh Những khókhăn đó đẩy đến mức cao dễ dẫn đến sự khủng hoảng tâm lí, làm thay đổi chiềuhướng phát triển tâm lí học sinh, tạo ra các ngã rẽ trong tiến trình phát triển tâm lí,nhân cách học sinh
Nắm vững những đặc điểm tâm sinh lý này sẽ giúp Giáo viên chủ nhiệm có cáchthức giáo dục Kỹ năng mềm phù hợp
1.4 Tính cấp thiết của giáo dục kĩ năng sống và cải thiện kĩ năng mềm của học sinh
Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ngày càng trở nên bức thiết khi mà xãhội hiện đại đang tác động tới các em từ quá nhiều phía Bên cạnh các kiến thức đượchọc ở trường, có rất nhiều kỹ năng sống mà các em cần phải rèn luyện để hoàn thiệnbản thân
HS Trung học phổ thông có các mối quan hệ đa chiều với bạn bè, với ngườiyêu, với thầy cô, với người thân và bố mẹ … đặc biệt trong môi trường xã hội phứctạp xuất hiện nhiều tình huống khó xử, nhiều cám dỗ các em dễ rơi vào lúng túng, bếtắc, thất bại, dễ chán nản, mệt mỏi bi quan mất phương hướng, dẫn đến những suynghĩ và hành động tiêu cực trong cuộc sống bởi tâm hồn các em nhạy cảm dễ tổnthương, dễ đổ vỡ do bất lực trong giải quyết các tình huống xảy ra với mình
Để giúp các em vượt qua, đứng vững trước những thay đổi phức tạp và nhiềuthử thách trong giai đoạn này chúng ta cần trang bị cho các em kỹ năng sống
Trang 13Một người thành công ngoài xã hội thì kiến thức không thôi chưa đủ mà cần cónhững Kỹ năng mềm cần thiết Học sinh độ tuổi THPT là giai đoạn chuẩn bị bước racuộc đời nên là thời điểm quan trọng để giáo dục các em những Kỹ năng mềm Đó là
sự cần thiết để các em có đủ hành trang bước vào đời và thành công trong tương laisau này
Những hoạt động giáo dục ngoài giờ giúp học sinh thấy được tầm quan trọngcủa các Kỹ năng mềm đối với lứa tuổi học sinh Từ đó góp phần thúc đẩy mối quan
hệ tích cực giữa học sinh với giáo viên, đem đến hứng thú học tập, giúp các em cókhả năng ứng phó tích cực trước các tình huống trong cuộc sống, xây dựng mối quan
hệ tích cực với mọi người xung quanh, sống lành mạnh, chủ động trong cuộc sống
Theo Điều 2 của Luật Giáo dục năm 2005, mục tiêu giáo dục là đào tạo conngười Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghềnghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành vàbồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Tuy nhiên, nội dung và phương pháp giáo dục trong các nhà trường hiện nay làcòn xem trọng việc dạy kỹ năng cứng (hard skills) – trí tuệ logic để chỉ trình độchuyên môn, kiến thức chuyên môn hay bằng cấp và chứng chỉ chuyên môn
Bộ và Sở Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức nhiều lớp tập huấn, bồi dưỡng chocán bộ quản lý, giáo viên về giáo dục KNS cho học sinh phổ thông; hướng dẫn tíchhợp giáo dục KNS vào các địa chỉ qua một số môn học và hoạt động giáo dục ở cáccấp học phổ thông
Nhìn chung cán bộ quản lý và giáo viên trong các trường phổ thông đã bướcđầu làm quen với thuật ngữ “kỹ năng sống”, mặc dù mức độ hiểu biết có khác nhau
Một số hoạt động giáo dục KNS đã được đa số các trường chú ý thực hiệntrong khuôn khổ và yêu cầu của Phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, họcsinh tích cực” do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động
Trang 14Giáo dục KNS từ nhà trường cũng như qua các phương tiện thông tin đại chúng
đã thu hút được sự chú ý và hưởng ứng của xã hội, của phụ huynh học sinh
Hình thức tổ chức giáo dục KNS đã bước đầu được thực hiện trong một số mônhọc, thông qua hoạt động ngoại khoá và các hoạt động trải nghiệm với nội dung khá
“chìa khóa “dẫn đến thành công thực sự là các em phải biết kết hợp cả hai kỹ năngnày một cách khéo léo
Khi xây dựng chương trình dạy học, nội dung dạy học trên lớp, giáo viên đềuphải xây dựng 3 mục tiêu: cung cấp kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành thái độ.Đây là yêu cầu mang tính nguyên tắc trong dạy học và giáo viên đều nhận thức sâusắc yêu cầu này Tuy nhiên, có thể nói rằng do phải chạy theo thời gian, phải chuyểntải nhiều nội dung trong khi thời gian có hạn, giáo viên có khuynh hướng tập trungcung cấp kiến thức mà ít quan tâm rèn luyện kỹ năng cho học sinh, nhất là kỹ năngứng xử với xã hội, ứng phó và hòa nhập với cuộc sống
Thời gian gần đây, giáo dục KNS cho học sinh được quan tâm nhiều hơn Giáodục KNS cho học sinh phổ thông hiện nay không bố trí thành một môn học riêngtrong hệ thống các môn học của nhà trường phổ thông bởi KNS phải được giáo dục ởmọi lúc, mọi nơi khi có điều kiện, cơ hội phù hợp Do đó, giáo dục KNS phải thựchiện thông qua từng môn học và trong các hoạt động giáo dục Vì vậy, cơ hội thựchiện giáo dục KNS rất nhiều và rất đa dạng Có thể đề cập tới một số phương thức tổchức sau: Thông qua dạy học các môn học; qua chủ đề tự chọn; qua hoạt động giáodục ngoài giờ lên lớp; qua hoạt động trải nghiệm
Sự phối hợp chặt chẽ giáo dục KNS với các hoạt động giáo dục vốn đã đượclồng ghép vào chương trình giáo dục qua các môn học như: giáo dục công dân, ngữvăn, lịch sử,… từ nhiều năm nay như giáo dục bảo vệ môi trường, phòng chống matuý, giáo dục pháp luật, sức khỏe sinh sản vị thành niên, … tạo nhiều cơ hội và điềukiện để triển khai giáo dục KNS giáo dục chăm sóc sức khỏe vị thành niên, kỹ nănggiao tiếp, phòng cháy chữa cháy
Thời gian qua, dù giáo dục KNS có được quan tâm nhưng hiệu quả vẫn cònnhiều hạn chế thể hiện qua thực trạng về KNS của học sinh còn nhiều khiếm khuyết
Trang 15Tình trạng học sinh thiếu KNS vẫn xảy ra, biểu hiện qua hành vi ứng xử khôngphù hợp trong xã hội, sự ứng phó hạn chế với các tình huống trong cuộc sống như:ứng xử thiếu văn hóa trong giao tiếp nơi công cộng; thiếu lễ độ với thầy cô giáo, cha
mẹ và người lớn tuổi; chưa có ý thức bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh công cộng,gây phiền hà cho người khác khi sử dụng điện thoại di động,
Khi thực hiện giáo dục KNS, giáo viên còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng(chưa có tài liệu cho giáo viên và học sinh, tiêu chí đánh giá chưa cụ thể,…) Tổ chứcgiáo dục KNS có những đặc thù riêng khác với các hoạt động giáo dục khác, nội dunggiáo dục không chỉ diễn ra trong môn học mà còn thông qua một số hoạt động khác(hoạt động ngoài giờ lên lớp, câu lạc bộ, ) cho nên phải tính đến cơ sở vật chất, kinhphí để thực hiện
- Giáo viên quen với việc tập trung cung cấp kiến thức mà không hoặc ít quan tâmgiáo dục KNS cho học sinh
2.2 Thực trạng giáo dục Kĩ năng sống và Kĩ năng mềm cho học sinh trường THPT Huỳnh Thúc Kháng
Trường THPT Huỳnh Thúc Kháng nằm ở số 62, đường Lê Hồng Phong, TPVinh Đây là một mái trường có bề dày truyền thống về nề nếp và học tập, là địa chỉtin cậy của phụ huynh học sinh trên địa bàn thành phố Vinh và một số địa phươngtrên địa bàn tỉnh Nghệ An Hiện nay trường có tổng số 43 lớp với gần hai nghìn học sinhtrên địa bàn thành phố Vinh
Trải qua 100 năm xây dựng và phát triển, Trường THPT Huỳnh Thúc Khángluôn phát huy truyền thống dạy tốt - học tốt, luôn là ngọn cờ đầu trong các phong tràothi đua của Ngành giáo dục Nghệ An, và đặc biệt là trường THPT đầu tiên của tỉnhNghệ An được tặng danh hiệu Anh hùng Lao động
Cơ sở vật chất của trường khá tốt so với mặt bằng các trường phổ thông trongtỉnh và ngày càng được trang bị công nghệ tiên tiến hỗ trợ cho việc dạy học
Nội quy giáo dục học sinh cụ thể, rõ ràng, đúng theo pháp luật
Học sinh học trường THPT Huỳnh Thúc Kháng chủ yếu có kết quả học lựckhá- giỏi, hạnh kiểm khá- tốt ở trường THCS, vì thế phần lớn học sinh đều ngoan, có
ý thức thực hiện nội quy trường lớp, có tinh thần trách nhiệm với tập thể, yêu trườnglớp và thích hoạt động tập thể Bên cạnh đó, nhà trường có đội ngũ giáo viên trẻ, cótâm huyết, yêu nghề và ý thức tốt trong hoạt động giáo dục Cùng với những thuận lợi
đó, phụ huynh HS của trường rất quan tâm, sát cánh cùng giáo viên trong việc giáodục con em mình
Trang 16Đoàn thanh niên và các tổ chức câu lạc bộ trong nhà trường hoạt động tích cực
và có hiệu quả giáo dục cao Các đội nhóm thanh niên phát huy được lợi thế của nhàtrường và thúc đẩy các phong trào trong và ngoài nhà trường
Học sinh sống ở thành phố từ nhỏ đã tham gia nhiều các sân chơi và hoạt độngtập thể nên kỹ năng sống khá tốt Có nhiều tấm gương học tập nghiên cứu khoa họccũng như các lĩnh vực khác của đời sống như văn hóa nghệ thuật để các em noi theo
và phấn đấu có những gương mặt tiêu biểu , những người có ảnh hưởng nhiều tới đờisống tinh thần của các em
Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn những khó khăn, hạn chế có tác động khôngnhỏ đến sự hình thành Kĩ năng mềm của học sinh Vẫn còn một bộ phận học sinh hạnchế: nhút nhát, ngại giao tiếp, do điều kiện gia đình có kinh tế hoặc được bố mẹ bảo bọc từnhỏ nên còn ỷ lại, thụ động và gặp khó khăn trong hòa nhập tập thể Nhiều em còn đua đòi
và theo xu hướng tiêu cực trên mạng xã hội HS của trường đa phần được sự quan tâmcủa gia đình, tâm lí của của phụ huynh nói chung muốn dành cho con em mìnhnhững điều kiện tốt nhất để học tập, sinh hoạt Phụ huynh thường “rải thảm” cho con
em mình, không muốn con em mình vất vả Bởi vậy, trong hoạt động lao động, vệsinh trường lớp, chăm sóc khu di tích…theo chương trình của nhà trường, phụ huynhkhông muốn con em mình tham gia Nếu buổi lao động, sinh hoạt tập thể trùng vớilịch học thêm ngoài trường thì phụ huynh thường chủ động xin cho các cháu nghỉ,điều đó hình thành thói quen và tinh thần tập thể thiếu tích cực ở các em Hệ quả sự
“nuông chiều” của phụ huynh đã khiến nhiều học sinh sống ích kỉ, hẹp hòi, thíchhưởng thụ, không biết quan tâm đến mọi người, kĩ năng giao tiếp, ứng xử tình huốngkém…Hơn nữa, học sinh của trường trên địa bàn thành phố Vinh nói chung, trườngTHPT Huỳnh Thúc Kháng nói riêng còn tham gia học thêm ngoài trường quá nhiều,các em không có thời gian để tham gia nhiều các hoạt động xã hội khác
BẢNG KHẢO SÁT VIỆC HỌC THÊM VÀ THAM GIA CÁC HOẠT ĐỘNG
NGOẠI KHÓA CỦA HỌC SINH
Lớp Sĩ số
Học thêm trong và ngoài nhà trường hàng tuần
Tham gia các Câu lạc bộ, đội, nhóm
Hoạt động rèn luyện sức khỏe, kĩ năng hàng tuần
Số buổi
Số lượng hs
Số CL B
Số người tham gia
Số buổi
Số người tham gia
2 8 (17,8%) Từ 2 12 ( 26,7 %)
Từ 3 3 (6,7 %) 0 15 (33,3 %)
Trang 17Trong khi đó, mặc dù số lượng các em tham gia vào các Câu lạc bộ trong vàngoài nhà trường ở cả hai lớp khá ổn định nhưng những hoạt động của cá nhân thamgia trải nghiệm rèn luyện sức khỏe và các kĩ năng trong cuộc sống thì lại rất thấp Vàcũng có không ít học sinh không có bất cứ thêm một hoạt động gì ngoài việc học vănhóa
2.2.1 Từ phía BGH nhà trường
Ban giám hiệu luôn đồng hành cùng giáo viên chủ nhiệm và các giáo viên nhânviên trong nhà trường thống nhất quan điểm song hành giáo dục văn hóa và giáo dục
kĩ năng sống cho học sinh
Các hoạt động ngoại khóa và các tiết học ngoài giờ lên lớp cũng xen kẽ việcgiáo dục kĩ năng sống cho học sinh
Xây dựng nhà trường có môi trường học đường thân thiện cởi mở và đoàn kếtnhân ái
2.2.2 Từ phía giáo viên
Giáo viên trong trường luôn có sự ủng hộ động viên đối với các em học sinhtham gia vào các hoạt động ngoại khóa, các câu lạc bộ trong ngoài nhà trường nhằmgiúp các em cải thiện tích cực những kĩ năng sống của bản thân Việc giáo dục kĩnăng sống cho học sinh cũng được lồng ghép trong quá trình giảng dạy tùy vào đặcthù của môn học
2.2.3 Từ phía học sinh
Các em học sinh luôn nhận được sự ủng hộ của Ban giám hiệu nhà trường cùngcác thầy cô giáo nên các em tự tin thể hiện mình, mạnh dạn tổ chức thực hiện các hoạtđộng nhằm nâng cao kĩ năng sống cho bản thân và góp phần nâng cao vị thế của nhàtrường
Có nhiều chương trình sự kiện được các em tổ chức thường niên, kết nối học
sinh các khóa và giao lưu với học sinh trên địa bàn thành phố ví dụ như Radio 196X,
Trang 18Lễ Tri ân và trưởng thành, Giờ Trái đất 60+, chương trình “ Hòa nhịp con tim” ở trung tâm khuyết tật, Thắp nến tri ân các anh hùng liệt sĩ, chương trình “ Trung thu
thắp sáng yêu thương” ở làng trẻ SOS, chương trình “ Xuân Yêu Thương” ở Bệnh
viện Ung bướu, Thu gom sách vở tặng cho các bạn học sinh miền núi, Hành trình về
nguồn, chương trình Tiếp sức mùa thi, Bước chân xanh bảo vệ môi trường… cùng
nhiều hoạt động ngoại khóa khác
Stt
Số lượng thành viên các Câu lạc bộ trong trường Huỳnh Thúc Kháng
Câu lạc bộ Năm học 2019 - 2020 Năm học 2020 - 2021
Trang 19câu lạc bộ hay đội nhóm hoạt động bổ trợ cho kĩ năng trong cuộc sống còn rất ít sovới tổng số gần hai nghìn học sinh trong nhà trường
3 Đề xuất giải pháp
3.1 Chú trọng những kĩ năng cần rèn luyện đối với học sinh THPT
Vì mối quan hệ giữa Kĩ năng sống và Kĩ năng mềm là sự bao hàm, đan xen vàlồng ghép có tính tương hỗ, gắn bó khăng khít với nhau nên trong đề tài này chúng tôikhông phân chia kĩ năng theo từng khái niệm mà đưa ra những kĩ năng cơ bản nhấtcần rèn luyện cho học sinh phổ thông
3.1.1 Kỹ năng thuyết phục, truyền đạt, tự tin trước đám đông
Kỹ năng thuyết phục, truyền đạt là kỹ năng quan trọng bậc nhất trong các loại
kỹ năng mềm Học sinh có ý tưởng, có kiến thức nhưng nếu không thể nói cho ngườikhác hiểu; không thể thuyết phục được người khác tin thì mọi điều là vô nghĩa
Không phải học sinh có kiến thức là truyền đạt tốt Việc truyền đạt và thuyếtphục cần vận dụng rất nhiều kiến thức và sự khổ công rèn luyện Nói để người khácnghe, để người khác hiểu, và để người khác tin là câu chuyện hoàn toàn khác nhau.Ngữ cảnh, thông tin, luận cứ, luận chứng, tốc độ nói, cường độ nói, ngôn ngữ cơthể… Quyết định đến kết quả cần đạt sau cùng
3.1.2 Kỹ năng giao tiếp, điều chỉnh và quản lí cảm xúc
Giao tiếp và truyền đạt là hai khái niệm khác nhau Trong khi truyền đạt có tínhmột chiều, còn giao tiếp là sự tương tác qua lại Truyền đạt có sự chuẩn bị từ trước,còn giao tiếp có tính phát sinh liên tục Giao tiếp có người nói và có người nghe.Chính vì vậy bạn cần có kỹ năng lắng nghe, phân tích, đưa ra câu trả lời nhanh chóng
và thuyết phục
Kỹ năng giao tiếp được vận dụng thường xuyên trong cuộc sống thường ngày
Nó giúp bạn xây dựng các mối quan hệ, giải quyết mâu thuẫn, tăng tính gắn kết Từcâu chuyện đời thường, cho đến giao tiếp công việc với đồng nghiệp Mọi việc bạnđều cần sử dụng từ ngữ một cách linh hoạt tạo ra ấn tượng qua lời nói và cử chỉ
Kỹ năng giao tiếp giữa các cá nhân trong nhà trường: giúp học sinh biết thiếtlập tình bạn trong sáng với nhu cầu cần có nhiều bạn bè để chia sẻ niềm vui, nỗi buồn,ước mơ khát vọng… trong thời học sinh Tình bạn rất cần thiết để giúp mỗi người trởnên tốt hơn, nhưng cũng cần có thái độ dứt khoát khước từ kiểu tình bạn đưa chúng ta
sa vào những cám dỗ, cạm bẫy không cần thiết hoặc tiềm ẩn sự nguy hiểm
Trong tình bạn cần sự thông cảm, biết đoàn kết, yêu thương và luôn biết coihoàn cảnh của người khác như chính mình để giúp đỡ nhau, hỗ trợ nhau vượt quanhững sự cố, hoàn cảnh rắc rối đang diễn ra trong cuộc sống Cần phải đứng vững
Trang 20trước những lôi kéo của bạn bè, biết bảo vệ những giá trị và niềm tin của bản thân nếuphải đương đầu với những ý nghĩ hoặc việc làm sai trái của bạn bè Phải biết dừng lại,dứt khoát không chấp nhận đối với những sai lầm của bạn, biết bảo vệ quyết định củamình, đồng thời phân tích khuyên nhủ bạn bè hành động đúng, tích cực phù hợp vớichuẩn mực đạo đức của xã hội.
Trong tình yêu: Đối với học sinh phổ thông đây, thường là tình cảm đầu đời, đó
là những rung động mãnh liệt của cảm tính, ít có sự tham gia của lý trí Vì vậy cầnphải giữ gìn tình yêu trong sáng, tình yêu phải trở thành động lực tiếp thêm sức mạnhtrong việc học tập rèn luyện tu dưỡng để trở nên tốt hơn Biết cách ngăn chặn, từ chốitình yêu ích kỷ, những biểu hiện khi yêu thì xa lánh bạn bè, trốn học đi chơi, bỏ bêviệc học tập, không tham gia các hoạt động tập thể… đặc biệt kiên quyết chống lạiviệc đi quá xa, vượt quá giới hạn cho phép, kiểu sống thử… gây hậu quả xấu vànhững hệ lụy khôn lường trong cuộc sống
Trong học tập: đứng trước những căng thẳng, áp lực của việc học tập các emcần phải có bản lĩnh, có nghị lực, có ý chí vươn lên, tự nhận thức điểm mạnh điểmyếu của mình để khắc phục Khi gặp các vấn đề khó khăn cần tham khảo sách vở, traođổi với bạn bè, hỏi thầy cô để giải quyết Trong quá trình học tập cần chủ động nắmvững 3 cấp độ: tái hiện, thông hiểu và vận dụng Cần bố trí thời gian hợp lý, có kếhoạch học tập và thời gian vui chơi giải trí, sinh hoạt tập thể
Trong quan hệ ứng xử với thầy cô, bạn bè và những người xung quanh cần thểhiện là người có đạo đức, có văn hóa, có lòng tin và ý thức trách nhiệm với bản thân
và tư thế của người học sinh Khi có mâu thuẫn, va chạm, bất đồng cần phải bình tĩnh,biết kiềm chế hành vi để giải quyết những xung khắc bằng thương lượng, hòa giảitránh việc giải quyết bằng bạo lực
3.1.3 Kỹ năng thoát hiểm, kỹ năng ứng phó, ứng biến:
Khi gặp các tình huống nguy hiểm cần phải biết thoát ra khỏi nơi nguy hiểmmột cách an toàn và hiệu quả, những tình huống như: hỏa hoạn, bão lụt, tai nạn xảy rathương tích, bị xâm hại hay bị bắt cóc … nhiều tình huống chưa phải là nguy hiểmnhưng tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cần phải biết cách ứng xử phù hợp để hạn chế thiệt hạicho bản thân
3.1.4 Kỹ năng làm việc nhóm, hợp tác, và chia sẻ
Đây là kĩ năng rất quan trọng đối với học sinh vì thực tế hiện nay ngay cả viêchọc tập các em cũng thường xuyên được giao các nhiệm vụ theo nhóm Mỗi cá nhânkhông thể tự mình hoàn thành tất cả mọi việc, chính vì vậy các em cần có kỹ nănglàm việc nhóm
Trang 21Làm việc nhóm không chỉ là phân công công việc, tổ chức làm việc hiệu quả.Đôi khi nó còn là khả năng xử lý mâu thuẫn, kết nối mọi người Trước tiên để có thểlàm việc nhóm hiệu quả các em học sinh cần có tinh thần hợp tác, năng lượng và hỗtrợ Nếu cá nhân học sinh làm việc quá độc lập các em dễ bị tách ra và trở nên cô lập.
3.1.5 Kỹ năng xác lập mục tiêu, lên kế hoạch và tạo động lực cho bản thân
Nếu muốn đạt được thành công, mỗi người cần phải đặt ra mục tiêu để quản trịcuộc đời của mình Nếu không có mục tiêu, ta sẽ thiếu tập trung và định hướng Thiếtlập mục tiêu không chỉ giúp chúng ta điều khiển định hướng của cuộc sống mà còn làchuẩn mực để xác định xem ta có đang thực sự thành công hay không
Mỗi em học sinh cần nhận thấy tầm quan trọng của việc lập kế hoạch để có kếhoạch học tập và cuộc sống của bản thân Việc lập kế hoạch cũng giúp các em hìnhthành thói quen tốt Nó giúp cho các em trong tương lai có thể tính toán những rủi ro
có thể phát sinh và chuẩn bị tốt cho công việc sắp tới
Làm việc có kế hoạch đồng nghĩa với tính kỷ luật và tuân thủ Rèn luyện chohọc sinh cách để lập kế hoạch trước tiên là với bản thân mình và nghiêm túc thực hiệnnó
3.1.6 Kỹ năng nhận thức, đánh giá bản thân và đánh giá người khác.
Tự nhận thức bản thân được hiểu là khả năng hiểu rõ được bản thân cần gì,mong muốn gì, tự nhận thấy được con người mình sống ra sao, đâu là thế mạnh củamình, điểm yếu của mình là gì, nhận thức được tư duy, cảm xúc của chính bản thânmình trước cuộc sống Tự nhận thấy bản thân phải bổ sung hoàn thiện như thế nàotrong quá trình rèn luyện hoặc dựa trên sự đánh giá của người khác mà bản thân nhìnnhận lại mình xem có đúng hay không và đưa ra phương án tốt nhất cho các bạn Kỹnăng tự nhận thức là một kỹ năng sống cơ bản và cần có để sống trong xã hội hiệnđại
Kỹ năng đánh giá bản thân là kỹ năng sống mà cần có trong việc tu dưỡngnhân cách các bạn trẻ là khả năng đánh giá bản thân trong các lĩnh vực, hành động dochính bản thân làm, đánh giá bản thân đã thực sự làm tốt chưa, tâm huyết và theo đuổimục tiêu tới cùng không Khác với kỹ năng tự nhận thức bản thân, kỹ năng đánh giábản thân thường dựa trên kết quả mà bản thân làm được, hoặc dựa trên những đặcđiểm sẵn có mà bản thân có như năng khiếu, điểm mạnh điểm yếu để không ngừnghoàn thiện Đánh giá bản thân có chính xác không là cần có sự nhìn nhận sâu rộng,
am hiểu và lối sống tích cực nhất
Kỹ năng tự nhận thức và đánh giá bản thân luôn có sự tương quan với nhau,đều là những lời nhận xét của chính mình về bản thân mình, tự nhìn nhận và đánh giágiúp các bạn phát hiện được những điều yêu thích của bản thân và kỹ năng đó là cần
Trang 22thiết trong quá trình phục vụ công việc của mình, từ việc thuyết trình hay đơn xin họcbổng, vân vân
Tự nhận thức và đánh giá bản thân là nền tảng hỗ trợ con người trong việc giaotiếp ứng xử phù hợp với con người, trước tiên là cha mẹ, thầy cô, bạn bè và nhữngngười xung quanh Tự nhận thức được bản thân nên nói gì, và nội dung đem lại cóphù hợp với hoàn cảnh không và đánh giá bản thân trong việc truyền đạt và kết quảnhận được là sự hài lòng của người đối diện không Kỹ năng tự nhận thức và đánh giábản thân giúp mọi người biết được điểm mạnh, điểm yếu trong cách giao tiếp để cóphương án ứng xử tốt nhất và đem lại hiệu quả cao
Kỹ năng tự nhận thức và đánh giá bản thân tốt giúp con người sống nhân ái, cóthái độ cư xử đúng mực hơn Làm chủ được suy nghĩ hành động của bản thân, tự nhậnthức được sự cảm thông chia sẻ trước những người có hoàn cảnh khó khăn để đưa ranhững hành động thiết thực nhất, đánh giá bản thân về việc trao yêu thương cho mọingười là công việc tốt nên làm
Kỹ năng tự nhận thức và đánh giá bản thân một cách chính xác giúp mỗi ngườihiểu đúng đắn về con người mình, hiểu được lý do tại sao mình làm như thế, mình cóthái độ như thế với người khác, từ đó có những quyết định và lựa chọn phù hợp nhấtvới khả năng bản thân, điều kiện xã hội, biết được bản thân yêu thích gì, công việcnào để không ngừng phấn đấu đạt mục tiêu
Tập cho học sinh thói quen trả lời câu hỏi “ Bạn thực sự muốn và làm gì”
Hãy học cách chấp nhận và thích nghi : Đừng thấy thất bại trước mắt mà mấtniềm tin và hy vọng trong cuộc sống, cũng như dễ dàng bỏ cuộc mọi thứ Không cóthành công nào mà không có thất bại, không con đường nào là không có chông gai,mọi vấn đề cuộc sống xảy ra không bao giờ biết trước được cũng như không bao giờtheo ý muốn của các bạn Hãy có sự nhìn nhận và xem xét về những nguyên nhân gây
ra thất bại để có sự thay đổi về tính cách tâm hồn sao cho phù hợp, thay đổi để manglại niềm hạnh phúc cho bản thân, để tạo ra những bước đi mới trong cuộc đời các bạn
Hãy hình thành những thói quen thích nghi và chấp nhận từ những điều nhỏnhặt như chấp nhận trước kết quả học tập chưa cao, thích nghi với môi trường mới vớiđiều mới mẻ mới, các kỹ năng sống của các em sẽ nâng cao hơn và bản thân các em
sẽ là người tự đánh giá được sự thay đổi đó
Trong cuộc sống, mỗi người một quan điểm, suy nghĩ riêng của mình Cần biếtbản thân cần gì trong xã hội hiện đại cũng như cần biết mình phải hành động như nào
để đáp ứng những nhu cầu xã hội, hãy tôn trọng bản thân, vượt lên ý kiến người khác,giữ quan điểm đúng đắn của mình, không ngừng học hỏi và trau dồi tri thức Tất cả là
Trang 23cơ sở để bạn rèn luyện cho bản thân kỹ năng tự nhận thức và đánh giá bản thân, một
kỹ năng cần thiết và quan trọng đối với những con người hiện đại
3.1.7 Kỹ năng tìm kiếm và học hỏi.
Với tốc độ phát triển chóng mặt của công nghệ, kiến thức mới cũng tăng lêntheo cấp số nhân Và các nhiệm vụ yêu cầu của việc học tập cũng như những vấn đềtrong cuộc sống ngày càng nhiều và phức tạp hơn, rất cần các em có khả năng tìmkiếm Các em không thể bắt kịp được xu hướng nếu không có kỹ năng tìm kiếm thôngtin và học hỏi cái mới
Nhiều em thực sự yếu ở khâu tìm kiếm; và rất nhiều trong số đó khi gặp vấn đềthường chỉ đi hỏi những người xung quanh Người giáo viên cần hướng các em chủđộng tìm kiếm thông tin; không chờ đợi bạn bè hoặc phụ thuộc thầy cô, đôi khi cả cha
mẹ truyền đạt lại kiến thức Các em cần phải là người tiên phong dẫn đầu Một tinhthần học hỏi không ngừng cũng là vô cùng cần thiết Ngừng học hỏi là ngừng pháttriển; Việc học tập trên lớp luôn song hành cùng tinh thần tự học hỏi đào sâu kiếnthức của mỗi một học sinh
3.1.8 Kỹ năng hoạt động trải nghiệm:
Trong nhà trường không chỉ tiếp thu những kiến thức khoa học phổ thông nềntảng mà còn phải trang bị kỹ năng sống cơ bản để học sinh có năng lực hòa nhập vàocuộc sống xã hội Một trong những biện pháp là tận dụng thế mạnh của các hoạt độngtrải nghiệm do nhà trường tổ chức như: tổ chức mít tinh, tổ chức thi đấu thể thao, vănnghệ, cắm trại, đi du lịch, hội nghị học tốt và các sinh hoạt khác… Quá trình học sinhtham gia vào các hoạt động trải nghiệm là quá trình các em đặt mình vào một hoạtđộng thực tiễn giúp các em nâng cao nhận thức, hình thành các kỹ năng, hình thànhphát triển thái độ, ý thức tập thể một cách vững chắc
Khi học sinh được trang bị kỹ năng sống đúng đắn, lành mạnh các em sẽ có đờisống tinh thần vui tươi thoải mái sẽ trưởng thành, cảm nhận được mái trường là môitrường thân thiện đáng yêu, nơi gắn bó và lưu giữ những kỷ niệm êm đẹp về tuổi ấuthơ không bao giờ trở lại Các hình thức giáo dục trên sẽ tạo ra môi trường tốt để các
em học tập rèn luyện để trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, đồng thời đó cũng
là cách thực hiện nguyên lý và phương châm giáo dục của Đảng
3.2 Cách tổ chức thực hiện
3.2.1 Cách thức chung
Giáo dục Kỹ năng mềm thông qua các hoạt động của trường, lớp
Những bài học về Kỹ năng mềm có thể được lồng ghép trong các tiết chào cờ,sinh hoạt lớp, sinh hoạt tập thể của trường bằng những cách thức hoạt động cụ thể
Trang 24như: Tạo hoạt cảnh, hỏi – đáp, trò chơi, đóng vai theo tình huống bằng hình thức sânkhấu hóa giúp hoạt động trở nên sinh động, thú vị thu hút các em tham gia Nhờ đó,học sinh tiếp thu nhanh chóng các kiến thức được truyền đạt.
Giáo dục Kỹ năng mềm thông qua sổ tay tuyên truyền
Hiện nay, các trường có thể đặt mua những cuốn sổ tay giáo dục Kỹ năng mềmtrên thị trường Nội dung của sổ tay rất hữu ích với học sinh, tuyên truyền bao gồmcác kiến thức về kỹ năng sống, Kỹ năng mềm cần rèn luyện, cách thức rèn luyện.Cuốn sổ tay nhỏ dễ mang theo bên mình, nội dung dễ đọc, dễ tiếp thu sẽ có tác dụngrất tốt trong việc kết hợp giáo dục Kỹ năng mềm cho học sinh THPT
Tạo điều kiện cho học sinh tham gia các hoạt động bề nổi
– Sinh hoạt văn hóa nghệ thuật: Hoạt động văn hóa nghệ thuật bao gồm nhiều
thể loại khác nhau như: Hát, múa, thơ ca, kịch ngắn, kịch câm, thi kể chuyện, nhằmgóp phần hình thành cho các em sự mạnh dạn, tự tin trước đám đông, rèn luyện kỹnăng thể hiện bản thân
– Hoạt động vui chơi giải trí lành mạnh, hội trại, thể dục thể thao: Hoạt động
này sẽ góp phần giúp các em rèn luyện kỹ năng làm việc, hoạt động tập thể Qua đó,các em được thể hiện bản thân, rèn luyện khả năng ứng phó nhiều tình huống, tự tinhơn trong giao tiếp đặc biệt là rèn luyện kỹ năng hoạt động nhóm, kỹ năng hợp tác, tưduy tích cực và sáng tạo
– Hoạt động xã hội, lao động công ích: Thông qua hoạt động này, học sinh sẽ
hiểu thêm về giá trị lao động, biết vận dụng kiến thức vào đời sống Các em có thểthích nghi với cuộc sống xung quanh ở nhiều hoàn cảnh khác nhau Các em được hòamình vào đời sống xã hội, có tinh thần tập thể, sống có trách nhiệm với cộng đồng,biết chia sẻ và cảm thông
– Tham gia tiếp cận khoa học – kỹ thuật: Những hoạt động như tìm hiểu các
danh nhân, các nhà khoa học, tham gia thi hỏi đáp về các kiến thức về khoa học, kỹthuật sẽ rèn luyện cho học sinh kỹ năng nghiên cứu khoa học và tự khẳng định mình.Qua đó, các em có thêm nhiều kiến thức về khoa học, kỹ thuật cũng như xã hội.Những hoạt động ngoài giờ tạo điều kiện cho học sinh trải nghiệm, tương tác thực tếvới nhiều đối tượng, trải nghiệm qua nhiều hoàn cảnh, qua đó rèn luyện các Kỹ năngmềm cần thiết cho cuộc sống
Xây dựng các câu lạc bộ học sinh
Tổ chức các câu lạc bộ chuyên đề trong học sinh là một biện pháp hữu hiệu đểhình thành Kỹ năng mềm cho các em học sinh Những câu lạc bộ chuyên đề với hoạtđộng tích cực thu hút các em tham gia vào nhiều loại hình hoạt động ngoài giờ lênlớp, giúp các em lĩnh hội các giá trị sống và rèn luyện các kỹ năng cần thiết
Trang 25Những câu lạc bộ được thành lập, tổ chức và hoạt động ngay trong môi trườngnhà trường THPT như: CLB Bóng rổ, CLB Tiếng Anh, CLB Dancesport, CLB Bóngbàn, CLB báo chí, CLB sức khỏe giới tính, Câu lạc bộ MC, câu lạc bộ thủ lĩnh đoàn,câu lạc bộ thanh niên tình nguyện… Mõi CLB có cách thức và nội dung hoạt độngkhác nhau, có khẩu hiệu và cả quy chế hoạt động riêng Tham gia các câu lạc bộ này,các em học sinh sẽ trở thành những thành viên tích cực, hoạt động vì một mục đíchchung Các em được hòa mình vào một tập thể có chung sở thích, sở trường nên cóthể thỏa sức thể hiện thế mạnh của bản thân Nhờ đó mà qua các câu lạc bộ, nhiều họcsinh nhút nhát trở nên mạnh dạn hơn.
Chưa kể đến, nhiều câu lạc bộ còn yêu cầu thành viên phải có những hoạt độngtích cực, nhất là tham gia những hoạt động xã hội, tình nguyện, những hoạt động tậpthể mang tính chất thể mỗi cá nhân phải thể hiện được mình mạnh mẽ, bản lĩnh, tự tin
và dám nghĩ dám làm như các câu lạc bộ người dân chương trình, thủ lĩnh đoàn, thanhniên tình nguyện Tham gia những hoạt động này, các em từng bước tự rèn luyệnmình trở thành một con người trưởng thành, bản lĩnh hơn, sống có trách nhiệm vớingười thân, gia đình và xã hội Kỹ năng mềm được rèn luyện chính từ những hoạtđộng hữu ích đó
3.2.2 Cách thực hiện cụ thể
Các bước thực hiện: Khám phá - kết nối - thực hành - vận dụng.
Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thường gắn với một bối cảnh để họcsinh có thể hiểu và thực hiện một cách cụ thể, đi liền với một tình huống sư phạm màgiáo viên chủ nhiệm lớp thường là người tham gia cùng với học sinh giải quyết vấn đề
để từ đó học sinh hình thành được kĩ năng sống cho mình Chính vì vậy, người chủnhiệm cũng là người thấy được rõ nhất sự chuyển biến hành vi, thái độ hoạt động củahọc sinh
hoạt động hội trại,chào mừng ngày
- GV phân công nhiệm
vụ phù hợp với năng lựchọc sinh
- HS lập kế hoạch thựchiện nhiệm vụ
- HS trình bày ý tưởng,
kế họạch và biện phápthực hiện nhiệm vụ được
- GVCN đóng vai tròkhởi động, đưa ra cáctình huống, nêu vấn đề,ghi nhận, cầu nối…-HS hưởng ứng, chia
sẻ, trao đổi, xử lí thôngtin, ghi chép
Biện pháp chính:
Trang 2620/11, 26/3, cán
bộ lớp, lao động ,thi học sinh giỏi,thi học kì…
giao
- GV giúp HS chỉnh sửabằng các trải nghiệm
- Đưa ra được kế hoạch
và biện pháp thực hiệnnhiệm vụ của học sinh tốiưu
+ Tư vấn tâm lí
+ Xử lí những cảm xúcgây cản trở việc học.+ Sử dụng kĩ năng mời gọi trẻ hợp tác.+ Cùng nhau giải quyếtvấn đề
2.Kết
nối
- Giới thiệu kế hoạch, quy định
- GV triển khai kế hoạch mới của nhà trường
- GVCN đóng vai trò
là người chỉ đạo hoặc quan toà, luật sư…mới của nhà
trường, của các tổchức đoàn thểtrong nhà trườngthông qua việc tạocầu nối liên kếtgiữa cái đã biết vềnội quy trườnghọc, thi cử vớicái mới
- Xử lí các tìnhhuống phát sinhnhư đánh nhau,mất đoàn kết, họctập giảm sútnghiêm
trọng…
- lấy ý kiến về việc thựchiện kế hoạch mới củahọc sinh hướng dẫn họcsinh thực hiện
- Kiểm tra việc thực hiệncủa học sinh, phân tích
ưu, nhược điểm, hướnghọc sinh thực hiện theohướng tích cực
- HS là người phản hồi,trình bày ý kiến, quanđiểm, giải thích vềhành vi của mình…
3.Thực
hành
- Tạo cơ hội cho
HS vận dụng vốnhiểu biết củamình, kĩ năng vốn
có để giải quyếttình huống
- Hướng dẫn học
- GV phân công nhiệm
vụ, chuẩn bị hoạt động
mà theo đó HS phải sửdụng kĩ năng, hành viđúng để thực hiện
- HS làm theo nhómhoặc cá nhân để hoàn
- GV đóng vai trò làngười chỉ đạo, hướngdẫn, hỗ trợ
- HS là người thực hiện Phương pháp thực hiện:
+Thảo luận nhóm