1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khẳng định chủ quyền của việt nam đối với quần đảo hoàng sa và trường sa thông qua bài 3 lớp 11 môn giáo dục quốc phòng

54 39 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 4,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ ANTRƯỜNG THPT NGUYỄN DUY TRINH TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRƯỜNG TỘ HƯNG NGUYÊN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐỀ TÀI: "KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI QUẦN ĐẢO HO

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN

TRƯỜNG THPT NGUYỄN DUY TRINH TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRƯỜNG TỘ (HƯNG NGUYÊN)

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI:

"KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI

QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA THÔNG QUA BÀI 3 LỚP 11 MÔN GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG - AN NINH: BẢO VỆ CHỦ QUYỀN

LÃNH THỔ VÀ BIÊN GIỚI QUỐC GIA"

Người thực hiện: Trần Văn Mạnh - Ngô Sỹ Thanh Thảo

Lĩnh vực: Giáo dục Quốc phòng - An ninh

Năm học: 2020 - 2021

Trang 2

3 Mục đích, phạm vi, đối tượng, phương pháp và thời gian nghiên cứu 2

1.2.1 Âm mưu của các thế lực thù địch nhằm muốn chiếm quần đảo Hoàng Sa

1.2.2 Thực trạng dạy học bài 3 lớp 11 môn Giáo Dục Quốc Phòng: "Bảo vệ

chủ quyền lãnh thổ và biên giới Quốc Gia" ở một số trường THPT 9

2 Một số biện pháp giảng dạy bài 3 "Bảo vệ chủ quyền lành thổ và biên giới

Quốc Gia" góp phần khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên 2 quần đảo

2.1 Vận dụng kiến thức liên môn trong giảng dạy 102.2 Vận dụng các phương pháp dạy tích cực 13

3 Thực hành soạn giáo án bài 3 "Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biên giới Quốc

Gia" góp phần khẳng định 2 Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt

Trang 4

Việt Nam có hơn 3000 hòn đảo ven bờ và hai quần đảo ngoài khơi là quần đảoHoàng Sa và Trường Sa Luật Biển Việt Nam được kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóaXIII thông qua ngày 21/6/2012, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013 đã xácđịnh rõ “Quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa…thuộc chủ quyền, quyền chủquyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam” Tuy nhiên, việc tranh chấp lãnhthổ, chủ quyền biển, đảo trong khu vực và trên biển Đông đã, đang và sẽ diễn ragay gắt Chính vì vậy, bảo vệ chủ quyền trên 2 quần đảo HS và TS trở thành nhiệm

vụ trọng yếu của toàn Đảng, Nhà nước và của toàn dân Trong đó, việc giáo dục ý

thức, tư tưởng khẳng định và bảo vệ chủ quyền biển đảo được xem là công việc

hàng đầu

Phó thủ tướng Vũ Đức Đam đã từng chia sẻ: “Mỗi công dân VN phải biết bảo vệchủ quyền biển, đảo và lãnh thổ quốc gia trên cơ sở hiểu biết về luật pháp trongnước và quốc tế trên tinh thần hòa bình, không đe dọa vũ lực hay sử dụng vũ lực.Bảo vệ chủ quyền biển, đảo và lãnh thổ đất nước là trách nhiệm chung của côngdân VN, trong đó có học sinh Dù còn ngồi ghế nhà trường, mỗi học sinh nên có ýthức và trách nhiệm, trước hết là hiểu rõ và thông suốt chủ trương, quan điểm củaĐảng giải quyết vấn đề về biển, đảo và am hiểu luật pháp quốc tế Khi đã tườngtận, mỗi bạn trẻ cần tuyên truyền đến những người xung quanh để có chung nhậnthức Mỗi công dân nếu hiểu biết và ứng xử cho đúng thì quyền lợi quốc gia sẽđược đảm bảo, bảo vệ”

Để làm được điều này, nền giáo dục cần chú trọng nâng cao nhận thức cho họcsinh về vai trò, trách nhiệm đối với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển, đảo bằngnhiều hình thức và môn học; trong đó có môn học Giáo dục Quốc phòng – Anninh

Trên thực tế, bộ môn Giáo dục quốc phòng - an ninh là nội dung học tập đặc thùtrong các trường học nhằm nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của thế hệ trẻđối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Tầm quan trọng của giáo dục quốc phòng – anninh trong trường phổ thông là ở chỗ đây là một trong những nhiệm vụ quan trọnggóp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, tạo cho thế hệ trẻ có điều kiện tudưỡng phẩm chất, rèn luyện năng lực, góp phần giáo dục thế hệ tương lai của đấtnước có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường Đặc biệt, nội dung môn họcGDQP – AN giáo dục cho HS có nhận thức đầy đủ và đúng đắn nhất về bảo vệ chủquyền lãnh thổ và biển, đảo Quốc Gia thông qua bài 3: Bảo vệ chủ quyền lành thổ

và biên giới Quốc Gia (GDQP - AN lớp 11)

Trang 5

Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc giảng dạy bài 3: "Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ vàbiên giới Quốc Gia" ở nhiều trường THPT còn mang tính "truyền thụ tri thức mộtchiều", dạy học vẫn còn nặng về truyền thụ kiến thức lý thuyết Còn chưa chútrọng vào giáo dục ý thức bảo vệ chủ quyền biển, đảo của học sinh.

Từ những lý do trên, chúng tôi đề xuất sáng kiến kinh nghiệm với đề tài:

"Khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường

Sa thông qua bài 3 lớp 11 môn Giáo Dục Quốc Phòng – An ninh: Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biên giới Quốc Gia" với mục đích giúp các em học sinh nhận

thức đúng đắn và rõ ràng về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo HS và TStránh nhận thức sai lệch trước âm mưu của các thế lực thù địch

2 Tính mới, đóng góp mới của đề tài

2.1 Tính mới của đề tài

Đây là đề tài đã được nghiên cứu, thực nghiệm thành công và đúc rút từ kinhnghiệm có tính thực tiễn cao được triển khai trên hai cơ sở giáo dục Đề tài đã kếthừa nhiều thành tựu trong nỗ lực giáo dục tư tưởng bảo vệ chủ quyền trên 2 quầnđảo Hoàng Sa và Trường Sa của HS qua giảng dạy bài 3 "Bảo vệ chủ quyền lànhthổ và biên giới Quốc Gia" Từ đó tìm ra một hướng đi mới trong việc thực hiệnnhiệm vụ quan trọng này khi dạy học bài 3 lớp 11 môn GDQP - AN cho HSTHPT

2.2 Đóng góp mới của đề tài

Người Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi đã từng nói " lật thuyền cũng là dân, đẩythuyền cũng là dân", do đó việc giáo dục tư tưởng cho người dân nói chung và thế

hệ trẻ học sinh – tương lai của đất nước là vô cùng quan trọng Trong phạm vinghiên cứu của đề tài đã tìm ra những biện pháp giáo dục góp phần quan trọngtrong việc xây dựng ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo cho học sinh

3 Mục đích, phạm vi, đối tượng, phương pháp và thời gian nghiên cứu.

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Thấy được vai trò, ý nghĩa của dạy học bài 3: Bảo vệ chủ quyền lành thổ và biêngiới Quốc Gia ( GDQP –AN lớp 11) trong khẳng định chủ quyền biển đảo trên 2quần đảo HS và TS

- Đề xuất các biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức bảo vệ chủquyền của học sinh qua việc giảng dạy bài 3: Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biêngiới Quốc Gia

- Phương pháp soạn giảng bài 3: Bảo vệ chủ quyền lành thổ và biên giới Quốc Gia

3.2 Phạm vi, đối tượng,thời gian nghiên cứu

- Phạm vi, đối tượng: Người viết nghiên cứu phương pháp giảng dạy bài 3 "Bảo vệchủ quyền lãnh thổ và biên giới Quốc Gia" góp phần khẳng định chủ quyền trên 2

Trang 6

Quần đảo HS và TS tại trường THPT Nguyễn Duy Trinh: lớp 11A3, 11A4; trườngTHPT Nguyễn Trường Tộ: lớp 11A1, 11A2 ở năm học 2020 - 2021.

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 09 năm 2020 đến tháng 3 năm 2021

3.3 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điều tra, phỏng vấn

- Phương pháp phân tích, khái quát hóa, hệ thống hóa

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm…

4 Các bước thực hiện đề tài

- Nghiên cứu tình hình chủ quyền của Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa vàTrường Sa hiện nay

- Khảo sát thực tiễn giảng dạy môn học giáo dục Quốc phòng - An ninh bài 3

"Bảo vệ chủ quyền lành thổ và biên giới Quốc Gia" tại THPT Nguyễn Duy Trinh

và trường THPT Nguyễn Trường Tộ - Hưng Nguyên Phương pháp: gặp gỡ và traođổi với giáo viên, học sinh về kết quả nhận thức về chủ quyền của Việt Nam trên 2quần đảo HS và TS qua việc giảng dạy ninh bài 3 "Bảo vệ chủ quyền lành thổ vàbiên giới Quốc Gia"

- Tổng hợp kết quả điều tra và phân tích số liệu thu thập được để đưa ra kết luận vềthực trạng của vấn đề nghiên cứu

- Đề xuất các biện pháp bản thân đúc rút được trong quá trình soạn giáo án vàgiảng dạy môn Giáo dục Quốc phòng - An ninh ở trường THPT để soạn giáo án vàgiảng dạy bài 3 "Bảo vệ chủ quyền lành thổ và biên giới Quốc Gia" góp phầnkhẳng định chủ quyền của Việt Nam trên 2 quần đảo HS và TS

- Sau khi soạn giáo án, tiến hành thực nghiệm tại các lớp đã chọn Sau giảng dạy

có tiến hành kiểm tra, đánh giá việc tiếp nhận và ứng dụng kiến thức của hoc sinh

để thấy được kết quả của các em và đánh giá tính hiệu quả của đề tài

- Phân tích kết quả sau khi đã tác động Đưa ra kết luận về tính thiết thực, khả năngứng dụng của đề tài nghiên cứu

Trang 7

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1 Cơ sở vấn đề nghiên cứu

1.1 Cơ sở lý luận

Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo ở ngoài khơi Việt Nam: quần đảo Hoàng

Sa chỗ gần nhất cách đảo Ré, một đảo ven bờ của Việt Nam, khoảng 120 hải lý;cách Đà Nẵng khoảng 120 hải lý về phía Đông; quần đảo TS chỗ gần nhất cáchVịnh Cam Ranh khoảng 250 hải lý về phía Đông

Từ lâu nhân dân Việt Nam đã phát hiện quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường

Sa, Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu và thực hiện chủ quyền của mình đối với haiquần đảo đó một cách thật sự, liên tục và hoà bình

Luật Biển Việt Nam được kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XIII thông qua ngày21/6/2012, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013 đã xác định rõ “Quần đảoHoàng Sa, quần đảo Trường Sa…thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tàiphán quốc gia của Việt Nam” Tuy nhiên, việc tranh chấp lãnh thổ, chủ quyềnbiển, đảo trong khu vực và trên biển Đông đã, đang và sẽ diễn ra gay gắt; đồngthời, đây cũng là khu vực cạnh tranh chiến lược giữa một số nước lớn…Trong sốcác chủ thể tranh chấp ở biển Đông, Trung Quốc là quốc gia có tham vọng lớnnhất Tham vọng đó đã được các nhà lãnh đạo các thế hệ khác nhau từ Mao TrạchĐông đến nay, bằng những biện pháp và phương thức khác nhau thực hiện Từhoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật, thành lập các đơn vị hành chính đến khẳngđịnh trên thực địa, nhằm từng bước kiểm soát, khống chế tiến đến độc chiếm biểnĐông, lấy biển Đông làm bàn đạp tiến ra Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương…Tình hình này đặt ra cho Việt Nam: một mặt, cần khai thác các chứng cứ lịch sử,pháp lý chứng minh chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quầnđảo Hoàng Sa và Trường Sa; nhưng mặt khác, cũng cần phải đấu tranh phản báclại những quan điểm sai trái của phía Trung Quốc, kể cả quan điểm chính thức vàquan điểm của học giả Theo ý nghĩa đó, bài viết này sẽ tập trung phân tích những

cơ sở lịch sử và pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảoHoàng Sa và Trường Sa

Ngay từ thời xa xưa, các sách địa lý và bản đồ cổ của Việt Nam như “Toản TậpThiên Nam tứ chí Lộ Đồ Thư”, “Giáp Ngọ Bình Nam đồ”, “Phủ biên tạp lục”,

“Đại Nam nhất thống toàn đồ”, “Đại Nam nhất thống chí” ghi chép rõ Bãi cátvàng, Hoàng Sa, Vạn lý Hoàng Sa, Đại Trường Sa hoặc Vạn lý Trường Sa (cảquần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) từ lâu đã là lãnh thổ Việt Nam

Với tư cách là người làm chủ, trong nhiều thế kỷ nhà nước phong kiến Việt Namcũng đã nhiều lần tiến hành điều tra khảo sát địa hình và khai thác tài nguyên trên

Trang 8

hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Các sách địa lý và lịch sử của Việt Nam từthế kỷ XVII đã ghi lại kết quả các cuộc khảo sát đó.

Trong sách “Đại Nam Nhất thống trí (1882) có ghi: “Đảo Hoàng Sa: ở phía Đông

Cù Lao Ré, huyện Bình Sơn Từ bờ biển Sa Kỳ ra khơi thuận gió, ba bốn ngày đêm

có thể đến Ở đó có hơn 130 đảo nhỏ, cách nhau một ngày đường hoặc vài trốngcanh Trong đảo có bãi cát vàng, liên tiếp kéo dài không biết mấy ngàn dặm, tụcgọi là Vạn lý Trường Sa Trên bãi có giếng nước ngọt, chim biển tụ tập không biết

cơ man nào Sản xuất nhiều hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, vích… hóa vật của các tầuthuyền bị nạn trôi dạt ở đây” Các sách thời Nguyễn như “Lịch triều hiến chươngloại chí” (1821), “Hoàng Việt dư địa chí” (1833), Việt Sử Cương Giám KhảoLược” (1876) cũng mô tả Hoàng Sa tương tự Do đặc điểm của Hoàng Sa vàTrường Sa có nhiều hải sản quý, lại có nhiều hóa vật của tầu bị đắm như trên đãnói, Nhà nước phong kiến Việt Nam từ lâu đã tổ chức việc khai thác hai quần đảonày với tư cách một quốc gia làm chủ Nhiều sách lịch sử và địa lý cổ của ViệtNam đã nói rõ tổ chức, phương thức hoạt động của các đội Hoàng Sa có nhiệm vụkhai thác đó Kế tiếp các chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn phải liên tiếp đối phó với sựxâm lược của nhà Thanh và của Xiêm, tuy vậy vẫn luôn luôn quan tâm đến việcduy trì và sử dụng các đội Hoàng Sa Nghĩa là nhà Tây Sơn, nhà nước vẫn tiếp tục

tổ chức việc khai thác Hoàng Sa với ý thức thực hiện chủ quyền của mình đối vớiHoàng Sa Từ khi nắm chính quyền từ năm 1802, đến khi ký kết với Pháp Hiệpước 1884, các vua nhà Nguyễn ra sức củng cố chủ quyền của Việt Nam với haiquần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Đội Hoàng Sa, sau được tăng cường thêm độiBắc Hải, được duy trì và hoạt động liên tục từ thời các chúa Nguyễn (1558 - 1783)đến nhà Tây Sơn (1786 - 1802) và nhà Nguyễn (1802 - 1945)

Tóm lại, qua các sách lịch sử, địa lý cổ của Việt Nam, cũng như chứng cứ củanhiều nhà hàng hải, giáo sĩ phương Tây nói trên đã viết, đã khẳng định rằng: từ lâu,liên tục trong hàng mấy trăm năm, từ triều đại này đến triều đại khác, Nhà nướcViệt Nam đã làm chủ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Sự có mặt của các độiHoàng Sa, đội Bắc Hải do Nhà nước thành lập trên hai quần đảo đó, mỗi năm từ 5đến 6 tháng để hoàn thành một nhiệm vụ do Nhà nước giao, tự nó đã là một bằngchứng hùng hồn, đanh thép về việc Nhà nước Việt Nam thực hiện chủ quyền củamình đối với hai quần đảo đó Việc chiếm hữu và khai thác đó của Việt Namkhông bao giờ gặp phải sự phản đối của một quốc gia nào khác, điều đó càngchứng tỏ từ lâu quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa đã là lãnh thổ ViệtNam

Đến thời ký Pháp thuộc, suốt trong thời gian đại diện Việt Nam về mặt đối ngoại,Pháp luôn luôn khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng

Sa và Trường Sa và phản kháng những hành động xâm phạm nghiêm trọng chủquyền của Việt Nam ở hai quần đảo đó như: ngày 04/12/1931 và ngày 24/4/1932,Pháp phản kháng chính phủ Trung Quốc về việc chính quyền Quảng Đông lúc đó

có ý định cho đấu thầu khai thác phân chim trên quần đảo Hoàng Sa Ngày

Trang 9

24/7/1933, Pháp thông báo cho Nhật việc Pháp đưa quân ra đóng các đảo chínhtrong quần đảo Trường Sa Ngày 04/4/1939, Pháp đã phản kháng Nhật đặt một sốđảo trong quần đảo Trường Sa thuộc quyền tài phán của Nhật.

Từ sau thế chiến thứ 2 cho đên nay, Việt Nam cũng đã nhiều lần khẳng định chủquyền đối với 2 quần đâỏ Hoàng Sa và Trường Sa Ngày 26/01/1974, Chính phủCách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố lập trường 3 điểm vềviệc giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ, ngày 14/2/1974 tuyên bố khẳngđịnh quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ ViệtNam; xiii) tháng 9/1975, đoàn đại biểu chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòaMiền Nam Việt Nam tại Hội nghị khí tượng Colombo tuyên bố quần đảo Hoàng Sa

là của Việt Nam và yêu cầu Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) tiếp tục ghi têntrạm khí tượng Hoàng Sa của Việt Nam trong danh mục trạm khí tượng của Tổchức Khí tượng Thế giới (trước đây đã được đăng ký trong hệ thống các trạm củaWMO dưới biển số 48.860; xiv) Về quản lý hành chính, năm 1982, Chính phủ ViệtNam đã quyết định thành lập huyện đảo Trường Sa thuộc tỉnh Đồng Nai và huyệnđảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng Sau này, khi điều chỉnh địa giớihành chính, huyện đảo Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng và huyện Trường Sathuộc tỉnh Khánh Hòa; xv) Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đãnhiều lần khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa vàTrường Sa hoặc trong các công hàm gửi các bên liên quan, trong các tuyên bố của

Bộ Ngoại giao, trong các Hội nghị của Tổ chức Khí tượng Thế giới (ở Genève(tháng 6/1980), của Hội nghị Địa chất Thế giới ở Paris (tháng 7/1980) v.v Nhànước Việt Nam đã nhiều lần công bố “Sách Trắng” (năm 1979, 1981, 1988) về chủquyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, khẳng định haiquần đảo này là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam, Việt Nam

có đầy đủ chủ quyền đối với hai quần đảo này, phù hợp với các quy định của luậtpháp và thực tiễn quốc tế, ngày 14/3/1988 Bộ Ngoại giao nước CHXHCN ViệtNam ra tuyên bố lên án Trung Quốc gây xung đột vũ trang tại Trường Sa và khẳngđịnh chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa, tháng 4/2007,Chính phủ Việt Nam quyết định thành lập thị trấn Trường Sa, xã Song Tử Tây và

xã Sinh Tồn thuộc huyện Trường Sa (18); xvi) Luật Biển Việt Nam được Quốc hộikhóa XIII thông qua ngày 21/6/2012, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013 đãxác định rõ “Quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền, quyền chủquyền, quyền tài phán quốc gia của Việt Nam” (19); xvii) ngày 02/5/2014, TrungQuốc ngang nhiên kéo giàn khoan Hải Dương 981 tới vị trí cách đảo Tri Tôn thuộcquần đảo Hoàng Sa của Việt Nam 17 hải lý về phía Nam, cách đảo Lý Sơn của tỉnhQuảng Ngãi, Việt Nam khoảng 120 hải lý Đây là vị trí nằm hoàn toàn trong vùngđặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam theo công ước luật biển của Liên HợpQuốc năm 1982 Để bảo vệ giàn khoan HD 981, Trung Quốc đã huy động tới 80tàu thuyền các loại, trong đó có 07 tàu quân sự, tàu tuần tiễu tên lửa tấn côngnhanh 753, 33 tàu hải cảnh cùng nhiều tàu vận tải và ngư binh Hằng ngày TrungQuốc còn điều động hàng chục tốp máy bay hoạt động trên bầu trời khu vực đó Có

Trang 10

thời điểm, số lượng tàu hộ tống của Trung Quốc lên tới hơn 100 chiếc Ngày05/5/2014, Việt Nam tổ chức họp báo, trong đó người phát ngôn Bộ Ngoại GiaoViệt Nam đã khẳng định mọi hoạt động của nước ngoài trên các vùng biển củaViệt Nam khi chưa được phép của Việt Nam đều là bất hợp pháp và vô giá trị.Ngày 15/5/2014, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình tuyên bố Việt Nam

đã đưa công hàm phản đối Trung Quốc ra Liên Hợp Quốc Ngày 20/5/2014 pháiđoàn thường trực Việt Nam bên cạnh Liên Hợp Quốc tại Genéva đã gửi thông báođến Văn phòng Liên Hợp Quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới và các tổ chức quốc

tế khác, cũng như các cơ quan báo chí có trụ sở tại Genéva, về sự kiện Trung Quốc

vi phạm nghiêm trọng chủ quyền Việt Nam tại Biển Đông Trước tình hình đó, dưluận quốc tế đã lên án hành động xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc ở BiểnĐông, các nước như Mỹ, Nhật, Philippin, Ấn Độ, Indonesia đã lên án hành độngbất chấp luật pháp quốc tế, gây mất ổn định và làm gia tăng căng thẳng trong khuvực của Bắc Kinh Trước những sức ép ngày càng lớn từ dư luận trong nước vàquốc tế, Trung Quốc không còn con đường nào khác, ngày 16/7/2014 đã phải rútgiàn khoan phi pháp HD 981 ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.(20);xix) Tháng 7/2019, Trung Quốc điều nhóm tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 xâmphạm vào vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa của Việt Nam, trong 3tháng, đến ngày 25/10/2019, Bộ Ngoại Giao Việt Nam đã lên tiếng về thông tinnhóm tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 của Trung Quốc đã rút khỏi vùng đặcquyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam Trong thông cáo phát đi chiều 25/10,người phát ngôn của Bộ Ngoại Giao Lê Thị Thu Hằng nêu rõ: “Liên quan đến hoạtđộng của nhóm tàu khảo sát địa chất Hải Dương 8 của Trung Quốc, người phátngôn của bộ ngoại giao Việt Nam đã nhiều lần lên tiếng Mọi hoạt động trong vùngbiển Việt Nam được xác định theo công ước của LHQ về luật biển (UNCLOS)

1982, không được sự cho phép của Chính phủ Việt Nam đều là hành động xâmphạm chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam Việt Nam yêu cầu các bên liênquan tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam vàkhông tái diễn vi phạm” Trong khi đó, khu vực Bãi Tư Chính của Việt Nam, màTrung Quốc gọi là “Bãi Vạn An” thực chất là bãi ngầm, là một phần của đáy biểnthuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam được xác định phùhợp với UNCLOS 1982 “Đây hoàn toàn không phải là khu vực tranh chấp hay cóchồng lấn, Trung Quốc không có bất kỳ cơ sở pháp lý nào để đưa ra yêu cầu đốivới khu vực này UNCLOS 1982 và thực tiễn xét xử thời gian qua đã khẳng định

Trang 11

Trung Quốc đã tranh chấp chủ quyền lãnh thổ với Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ

XX (năm 1909), mở đầu là sự kiện Đô đốc Lý Chuẩn chỉ huy 3 pháo thuyền ra khuvực quần đảo Hoàng Sa, đổ bộ chớp nhoáng lên đảo Phú Lâm, sau đó phải rút lui

vì sự hiện diện của quân đội viễn chinh Pháp với tư cách là lực lượng được Chínhquyền Pháp, đại diện cho nhà nước Việt Nam, giao nhiệm vụ bảo vệ, quản lý quầnđảo này

Năm 1946, lợi dụng việc giải giáp quân đội Nhật Bản thua trận, chính quyền TrungHoa Dân quốc đưa lực lượng ra chiếm đóng nhóm phía Đông quần đảo Hoàng Sa.Khi Trung Hoa Dân quốc bị đuổi khỏi Hoa lục, họ phải rút luôn số quân đangchiếm đóng ở quần đảo Hoàng Sa

Năm 1956, lợi dụng tình hình quân đội Pháp phải rút khỏi Đông Dương theo quyđịnh của Hiệp định Giơ-ne-vơ và trong khi chính quyền Nam Việt Nam chưa kịptiếp quản quần đảo Hoàng Sa, CHND Trung Hoa đã đưa quân ra chiếm đóng nhóm

phía Đông quần đảo Hoàng Sa.

Năm 1974, lợi dụng quân đội Việt Nam Cộng hòa đang trên đà sụp đổ, quân độiviễn chinh Mỹ buộc phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, CHND Trung Hoa lại huyđộng lực lượng quân đội ra xâm chiếm nhóm phía Tây Hoàng Sa đang do quân độiViệt Nam Cộng hòa đóng giữ

Mọi hành động xâm lược bằng vũ lực nói trên của CHND Trung Hoa đều gặp phải

sự chống trả quyết liệt của quân đội Việt Nam Cộng hòa và đều bị Chính phủ ViệtNam Cộng hòa, với tư cách là chủ thể trong quan hệ quốc tế, đại diện cho Nhànước Việt Nam quản lý phần lãnh thổ miền Nam Việt Nam theo quy định của Hiệpđịnh Giơ-ne-vơ năm 1954, lên tiếng phản đối mạnh mẽ trên mặt trận đấu tranhngoại giao và dư luận

1.2.1.2 Đối với quần đảo Trường Sa:

- Trung Quốc: Đã tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa từ những năm

30 của thế kỷ trước, mở đầu bằng một công hàm của Công sứ Trung Quốc ở Parisgửi cho Bộ Ngoại giao Pháp khẳng định "các đảo Nam Sa là bộ phận lãnh thổTrung Quốc"

Năm 1946, quân đội Trung Hoa Dân quốc xâm chiếm đảo Ba Bình Năm 1956,quân đội Đài Loan lại tái chiếm đảo Ba Bình

Năm 1988, CHND Trung Hoa huy động lực lượng đánh chiếm 6 vị trí, là nhữngbãi cạn nằm về phía tây bắc Trường Sa ra sức xây dựng, nâng cấp, biến các bãi cạnnày thành các điểm đóng quân kiên cố, như những pháo đài trên biển Năm 1995,CHND Trung Hoa lại huy động quân đội đánh chiếm đá Vành Khăn, nằm về phíaĐông Nam quần đảo Trường Sa Hiện nay họ đang sử dụng sức mạnh để bao vây,chiếm đóng bãi cạn Cỏ Mây, nằm về phía Đông, gần với đá Vành Khăn, thuộcquần đảo Trường Sa của Việt Nam

Trang 12

Như vậy, tổng số đá, bãi cạn mà phía Trung Quốc đã dùng sức mạnh để đánhchiếm ở quần đảo Trường Sa cho đến nay là 7 vị trí Đài Loan chiếm đóng đảo BaBình là đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa và mở rộng thêm 1 bãi cạn rạn san

hô là bãi Bàn Than

- Phi-líp-pin: Bắt đầu tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa bằng sựkiện Tổng thống Quirino tuyên bố rằng quần đảo Trường Sa phải thuộc về Phi-líp-pin vì nó ở gần Phi-líp-pin

- Từ năm 1971 đến năm 1973, Phi-líp-pin đưa quân chiếm đóng 5 đảo; năm

1977-1978, chiếm thêm 2 đảo; năm 1979, công bố Sắc lệnh của Tổng thống Marcos kýngày 11 tháng 6 năm 1979 gộp toàn bộ quần đảo Trường Sa, trừ đảo Trường Sa,vào trong một đơn vị hành chính, gọi là Kalayaan, thuộc lãnh thổ Phi-líp-pin Năm

1980, Phi-líp-pin chiếm đóng thêm 1 đảo nữa nằm về phía Nam Trường Sa, đó làđảo Công Đo Đến nay, Phi-lip-pin chiếm đóng 9 đảo, trong đó có quần đảoTrường Sa

- Mai-lai-xia: Mở đầu bằng sự việc Sứ quán Mai-lai-xia ở Sài Gòn, ngày 03 tháng

02 năm 1971, gửi Công hàm cho Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa hỏi rằng quầnđảo Trường Sa hiện thời thuộc nước Cộng hòa Morac Songhrati Mead có thuộclãnh thổ Việt Nam Cộng hòa hay Việt Nam Cộng hòa có yêu sách đối với quần đảo

đó không? Ngày 20 tháng 4 năm 1971, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa trả lờirằng quần đảo Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam, mọi xâm phạm chủ quyền ViệtNam ở quần đảo này đều bị coi là vi phạm pháp luật quốc tế

Tháng 12 năm 1979, Chính phủ lai-xia xuất bản bản đồ gộp vào lãnh thổ lai-xia khu vực phía Nam Trường Sa, bao gồm đảo An Bang và Thuyền Chài đãtừng do quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng giữ

Mai-Năm 1983-1984, Mai-lai-xia cho quân chiếm đóng 3 bãi ngầm ở phía Nam Trường

Sa là Hoa Lau, Kiệu Ngựa, Kỳ Vân Năm 1988, họ đóng thêm 2 bãi ngầm nữa là

Én Đất và Thám Hiểm Hiện nay, Ma-lai-xia đang chiếm giữ 5 đảo, đá, bãi cạntrong quần đảo Trường Sa

- Brunây: Tuy được coi là một bên tranh chấp liên quan đến khu vực quần đảoTrường Sa, nhưng trong thực tế Bru-nây chưa chiếm đóng một vị trí cụ thể nào.Yêu sách của họ là ranh giới vùng biển và thềm lục địa được thể hiện trên bản đồ

có phần chồng lấn lên khu vực phía Nam Trường Sa

1.2.2 Thực trạng dạy học bài 3 lớp 11 môn Giáo Dục Quốc Phòng: " Bảo vệ

chủ quyền lãnh thổ và biên giới Quốc Gia" ở một số trường THPT.

Môn học GDQP – AN từ khi được đưa vào giảng dạy ở các trường THPT cho

đến nay, luôn đóng vai trò quan trọng; là môn học chính khóa trong giáo dục Hầuhết các GV giảng dạy bộ môn đều đã được qua đào tạo chính quy hoặc ngắn hạn,

có tâm huyết với môn học Đặc biệt, nội dung môn học nói chung và bài 3 "Bảo vệchủ quyền lãnh thổ và biên giới Quốc Gia" nói riêng đều gắn liền với sự nghiệp

Trang 13

xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc Nhận thức được điều đó, hầu hết các GV đều đã có

sự lồng ghép để giáo dục ý thức cho HS

Tuy nhiên, hiện nay trong thực tế, sau nhiều năm giảng dạy nhiều thế hệ họcsinh trường mình, tôi nhận thấy đa phần học sinh học tập một cách thụ động, đơnthuần là chỉ nhớ kiến thức một cách máy móc mà không rèn luyện kỹ năng tư duy.Với cách học truyền thống đã khiến tư duy của nhiều học sinh đi vào lối mòn, họcsinh chỉ ghi chép thông tin bằng các dòng chử dài… với cách ghi chép này chúng

ta không kích thích được sự phát triển của trí não, điều đó làm cho một số học sinhtuy học tập rất chăm chỉ nhưng sự tiếp thu vẫn hạn chế Học sinh học phần nào biếtphần đó, cô lập nội dung của các môn mà chưa nhận thấy sự liên hệ của kiến thức

vì thế chưa phát triển được tư duy logic và tư duy hệ thống, việc vận dụng kiếnthức vào các phần học tiếp theo và ứng dụng trong thực tiễn còn rất hạn chế.Và nộidung trong bài học này cũng không nhắc nhiều về vấn đề chủ quyền của Việt Namvới Hoàng Sa và Trường Sa Đa số học sinh chưa hiểu nhiều về vấn đề chủ quyềnlãnh thổ và biên giới quốc gia, nhất là chủ quyền biển đảo của Việt Nam đối vớiHoàng Sa và Trường Sa

Chính vì lẽ đó, chúng tôi mạnh dạn đề xuất các biện pháp giáo dục ý thức bảo

vệ chủ quyền lãnh thổ cho HS thông qua đề tài "Khẳng định chủ quyền của ViệtNam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thông qua bài 3 lớp 11 môn GiáoDục Quốc Phòng: Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biên giới Quốc Gia"

2 Một số biện pháp giảng dạy bài 3 "Bảo vệ chủ quyền lành thổ và biên giới

Quốc Gia" góp phần khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

2.1 Vận dụng kiến thức liên môn trong giảng dạy.

2.1.1 Mục đích của vận dụng kiến thức liên môn trong giảng dạy bài 3 " Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biên giới Quốc Gia"

Việc vận dụng các kiến thức liên môn vào giảng dạy bài 3 "Bảo vệ chủ quyền lànhthổ và biên giới Quốc Gia" góp phần trang bị cho học sinh các cơ sở kiến thứcvững chắc về chủ quyền lãnh thổ, qua đó nâng cao ý thức bảo vệ lãnh thổ 2 quầnđảo Hoàng Sa và Trường Sa

Quá trình thực hiện phương pháp Sử dụng kiến thức liên môn để dạy học có hiệuquả, giáo viên sẽ đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn, nhận xét, bổ sung vàđánh giá học sinh, chứ không đơn thuần chỉ là người truyền đạt kiến thức giáokhoa một cách khô khan

Ngoài ra, với phương pháp Sử dụng kiến thức liên môn để dạy học đã và đang ápdụng cho nhiều môn học, có thể sử dụng rộng rãi ở nhiều trường học

2.1.2 Vận dụng các kiến thức liên môn trong giảng dạy bài 3" Bảo vệ chủ quyền lành thổ và biên giới Quốc Gia"

- Kiến thức môn Lịch sử

Trang 14

Một trong nhứng môn học có kiến thức liên quan đến môn GDQP - AN nói chung

và bài 3 "Bảo vệ chủ quyền lành thổ và biên giới Quốc Gia" nói riêng chính là mônLịch sử Để học sinh hiểu sâu sắc hơn và có các luận chứng rõ ràng về khẳng địnhchủ quyền của Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa GV cần lồngghép vào bài giảng các kiến thức của môn lịch sử như bài 14: Các quốc gia cổ đạitrên đất nước Việt Nam Lịch sử 10, bài 17: Quá trình hình thành và phát triển củanhà nước phong kiến (Từ thế kỷ X đến thế kỷ XV) Hoặc GV có thể đưa ra cácthông tin tư liệu lịch sử chứng tỏ chủ quyền trên HS và TS Học sinh vận dụngnăng lực tư duy để đánh giá, nhận xét, bình luận… những sự kiện lịch sử mà các

em được nghe giảng và thông qua các câu hỏi của giáo viên để thấy được vai tròcủa các nhà nước trong việc xây dựng và bảo vệ lãnh thổ

- Kiến thức môn Địa lý.

Bên cạnh Lịch sử thì Địa lý chính là môn học góp phần bổ sung các kiến thức cho

HS trong việc khẳng định chủ quyền lãnh thổ; cụ thể là ở bài 3 – tiết 3 - Thực hành

vẽ lược đồ, bài 42 Vấn đề phát triển kinh tế, anh ninh quốc phòng ở Biển Đông vàcác đảo, quần đảo Bên cạnh đó, GV đưa ra các loại bản đồ như Đại Nam nhấtthống bản đồ, An Nam đại quốc họa đồ, Hồng Đức bản đồ, bản đồ hàng hải Châu

Âu thế kỷ XV – XVI, bản đồ hành chính Việt Nam trong đó có quần đảo HS và

TS cũng là cách khẳng định chủ quyền có hiệu quả (ảnh một số bản đồ được thểhiện ở phụ lục 1)

- Kiến thức môn Văn học.

Văn học là bộ môn cực kỳ quan trọng trong việc giáo dục tình yêu của HS đối vớiquê hương, đất nước Như bài thơ “Sông núi nước Nam” của Lý Thường Kiệt đặcbiệt là câu thơ đầu, đã thể hiện được sự khẳng định về chủ quyền lãnh thổ, sự tựhào, hãnh diện, kính trọng và biết ơn công lao trời bể của các anh hùng nói riêng

và nhân dân Việt Nam nói chung đối với việc bảo vệ lãnh thổ

- Kiến thức môn Giáo dục Công dân

Là bộ môn góp phần hoàn thiện, giáo dục con người, môn Giáo dục Công dânđược vận dụng nhiều kiến thức trong việc giảng dạy bài 3 "Bảo vệ chủ quyền lànhthổ và biên giới Quốc Gia"

Cụ thể, chúng tôi đã vận dụng mục 2 và mục 3 bài 14: Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc – GDCD lớp 10 để HS nhận thực rõ về vai trò của bản

thân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc

Kiến thức môn Mỹ thuật.

Để HS nhận thức rõ về việc khẳng định chủ quyền trên 2 quần đảo Hoàng Sa vàTrường Sa, GV có thể cho HS vẽ các bức tranh tuyên truyền bảo vệ chủ quyềnBiển, đảo hoặc vẽ lược đồ Việt Nam

Trang 15

Chúng tôi đã tiến hành cho HS vẽ các bức tranh với nội dung tuyên truyền bảo vệchủ quyền biển đảo và đạt kết quả giáo dục rất cao Dưới đây là một số kết quảhoạt động của học sinh:

Trang 17

- Kiến thức môn âm nhạc.

Để giảm bớt tính khô khan trong quá trình dạy học, GV nên vận dụng các kiếnthức âm nhac trong quá trình giảnh dạy Ví dụ như ca khúc “Nơi đảo xa”, “Biểnhát chiều nay”, “Đất mặn tình quê”, “Trường Sa trong tim ta”,“Bâng khuângTrường Sa”, “Đêm tuần tra cùng sóng gió”, “Gần lắm Trường Sa”, “Trường Sa,lũy thép nơi đầu sóng” Qua đó, gửi đến một thông điệp thiêng liêng: Hãy giữ gìnbiển đảo Việt Nam bằng trái tim nóng bỏng, bằng ý chí kiên cường và tinh thầncủa một dân tộc yêu hòa bình Tổ quốc kêu gọi những trái tim Việt Nam hãy cùngđồng lòng hướng về biển đảo thân yêu bằng những hành động thiết thực nhất, cổ

vũ tinh thần để những người lính biển vững lòng trên mỗi con tàu, mỗi hòn đảo,giữ vững chủ quyền Tổ quốc

2.2 Vận dụng các phương pháp dạy tích cực.

Phương pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực) là một thuật ngữ rút gọn ,

được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướngphát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học PPDH tích cực hướng tớiviệc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, tức là tập kếtvào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập kết vào phát huytính tích cực của người dạy

Trong bài 3 "Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biên giới Quốc Gia" có thể vậndụng một số phương pháp dạy học tich cực sau để góp phần khẳng định chủ quyềncủa Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa :

2.2.1 Phương pháp vấn đáp

Trong hoạt động dạy học, vấn đáp (hỏi - trả lời) là phương pháp sư phạmđược khởi thủy từ nhà hiền triết - nhà sư phạm Hi Lạp cổ đại Xocrast Từ đó đếnnay phương pháp này vẫn được sử dụng khá phổ biến với nhiều mức độ khác nhau.Trong đó giáo viên đặt ra câu hỏi để học sinh trả lời, qua đó học sinh lĩnh hội đượcnội dung bài học Nhưng câu hỏi của giáo viên đặt ra trong hoạt động dạy họchoàn toàn khác với câu hỏi ở các lĩnh vực khác trong đời sống Thường trong cuộcsống khi người ta hỏi nhau một điều gì đó thì điều ấy là điều người ta chưa biết,hoặc nếu biết còn lơ mơ, chưa rõ ràng Trong hoạt động dạy học, giáo viên sử dụng

hệ thống câu hỏi nhằm mục đích hướng dẫn học sinh tiếp cận, khám phá tri thức đểrút ra những nhận thức khoa học mới mà các em chưa biết

Trong giảng dạy bài 3 "Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biên giới Quốc Gia"phương pháp này có thể được sử dụng ở các mục lãnh thổ Quốc gia và chủ quyềnlãnh thổ Quốc Gia hoặc mục biên giới quốc gia GV tổ chức hoạt động học tập, tạođiều kiện cho học sinh tham gia vào xây dựng nội dung bài học một cách tích cực

Từ đó từng cá nhân học sinh sẽ tự biến những kiến thức mình chưa có, chưa biếtthành vốn riêng của bản thân Đồng thời, GV cũng đánh giá được khả năng nhậnthức của từng học sinh Nói cách khác là giáo viên tạo được sự tranh luận nhiềuchiều trong lớp học nhằm tăng khả năng tìm tòi, học hỏi sâu về một lĩnh vực, chủ

Trang 18

đề, tăng phần nói của người học, giảm phần nói của người dạy Nếu người họctham gia hỏi đáp, họ sẽ cùng suy nghĩ để tìm ra vấn đề và như vậy việc học sẽ tốthơn cách học thụ động Thông qua câu hỏi nêu ra tốt, giáo viên cũng có cơ hội để

bổ sung thêm kiến thức cơ bản và kinh nghiệm sư phạm cho mình, giúp giáo viênnhìn nhận lại vấn đề, nội dung bài học một cách toàn diện, mới mẻ Phương phápnày không những chỉ phát huy tích cực chủ động của học sinh mà còn thực hiệnphương châm dạy học để thầy trò cùng được học và tiếp tục phát triển Thông qua

đó, giúp học sinh nhận thức được sâu sắc tư tưởng "Hoàng Sa và Trường Sa là củaViệt Nam"

2.2.2 Phương pháp thảo luận nhóm

GDQP - AN là môn có nhiều ưu thế trong việc thảo luận nhóm khi giảng dạy.Không một nhà giáo dục nào phủ nhận vai trò, tác dụng của phương pháp nàytrong dạy học Đây là một trong những phương pháp có sự tham gia tích cực của

HS Thảo luận nhóm còn là phương tiện học hỏi có tính dân chủ, mọi cá nhân được

tự do bày tỏ quan điểm, tạo thói quen sinh hoạt bình đẳng, biết đón nhận quanđiểm bất đồng, hình thành quan điểm cá nhân giúp HS rèn luyện kĩ năng giải quyếtcác vấn đề khó khăn

Kinh nghiệm bản thân cho thấy nên chia nhóm trong đó có cả HS giỏi, khá,trung bình, yếu là tốt nhất Số lượng HS giỏi, khá, trung bình, yếu giữa các nhómphải bằng nhau để đảm bảo công bằng Quy mô nhóm có thể lớn hoặc nhỏ tuỳ theovấn đề thảo luận Tuy nhiên, nhóm từ 4 - 6 HS là tốt nhất Quy trình giảng dạy vớithời gian một tiết (45 phút), GV tiến hành tuần tự các bước lên lớp theo quy địnhchung GV nêu chủ đề cần thảo luận, chia nhóm vào thời điểm thích hợp của tiếthọc, giao câu hỏi cho các nhóm Yêu cầu các nhóm thảo luận, quy định thời gianthảo luận và phân công vị trí ngồi thảo luận cho các nhóm Các nhóm tiến hànhthảo luận Đại diện nhóm trình bày kết quả thảo luận Các nhóm khác lắng nghe,chất vấn, trao đổi bổ sung ý kiến GV bổ sung nội dung mà HS trình bày còn thiếucho hoàn thiện GV đưa ra định hướng đúng những vấn đề HS cần nhớ sau khi thảoluận HS ghi nhớ hoặc ghi chép nội dung chính của bài học vào vở

Qua việc dự giờ đồng nghiệp và giảng dạy, bản thân tôi thấy rằng: Thông thường,sau khi thảo luận xong, các nhóm thường cử một người thay mặt nhóm lên trìnhbày kết quả thảo luận của nhóm mình và hầu hết đó đều là những HS khá, giỏi, có

kĩ năng trình bày vấn đề khá tốt Kết quả thảo luận được trình bày chủ yếu bằnghình thức viết lên giấy khổ lớn dán lên bảng Đến đây, HS coi như “xong nhiệmvụ” Đến phần giáo viên chữa bài của HS, vì tâm lý sợ HS trình bày rườm rà sẽ

“cháy” giáo án, nên GV thường chữa bài của các em thật nhanh GV chỉ chú ý xemcác em viết được bao nhiêu phần trăm kiến thức và xem nhẹ cách các em thức trìnhbày vấn đề trên giấy, bỏ qua cả lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu và sự thiếu hợp lý của

bố cục trình bày Thậm chí, học sinh sẽ không có cơ hội được trình bày quan điểm

cá nhân và như vậy sẽ không rèn được khả năng nói của mình

Trang 19

Để khắc phục tình trạng này, theo tôi, trong phần trình bày của HS, GV cũng cầnphải quy định điểm số cho cả phần viết trình bày sơ đồ, bảng phụ (nếu có), và chođiểm cả cách thuyết trình của HS GV cần tạo điều kiện cho tất cả thành viên trongnhóm được trình bày quan điểm, kể cả những người rụt rè e thẹn hay ngại trướcđám đông, GV có thể yêu cầu HS đó đại diện trình bày ý kiến của nhóm mình.Thậm chí, qua sự quan sát của mình, nếu thấy học sinh nào chưa thực sự tập trung,giáo viên có thể yêu cầu chính em đó đại diện nhóm trình bày kết quả thảo luậncủa nhóm.

Về phần trình bày kết quả thảo luận GV cần khuyến khích các em trình bày dướinhiều hình thức như trình bày bằng lời; đóng vai; viết hoặc vẽ lên giấy khổ lớn;một người thay mặt nhóm trình bày, hoặc một người trình bày một ý tưởng…Trong quá trình HS trình bày, GV cần tập trung để điều chỉnh và sửa chữa cho các

em để các em hoàn thiện được khả năng nói - viết của mình

Trong giảng dạy bài "Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biên giới Quốc Gia" phươngpháp thảo luận nhóm có thể được sử dụng ở mục III Bảo vệ biên giới Quốc gianước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đặc biệt ở phần 1 Một số quan điểmcủa Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về bảo vệ biên giớiQuốc Gia

2.2.3 Phương pháp trò chơi

Trò chơi học tập là một hoạt động của con người nhằm mục đích trước tiên chủyếu là vui chơi giải trí, thư giãn sau những giờ làm việc căng thẳng và mệt mỏi.Nhưng qua trò chơi học tập người chơi còn có thể được rèn luyện về thể lực, rènluyện về các giác quan, tạo cơ hội giao lưu với mọi người, cùng hợp tác với bạn bèđồng đội trong nhóm, tổ, Trò chơi học tập là một hoạt động được tổ chức có tínhchất vui chơi, giải trí.Thông qua trò chơi học tập học sinh có điều kiện "Học màchơi, chơi và học" Khi tham gia vào các trò chơi học tập học sinh sẽ được tưởngtượng và suy ngẫm, thử nghiệm các tình huống, cách lập luận để đạt kết quả cao.Trò chơi học tập còn tạo được không khí vui tươi hồn nhiên, nhẹ nhàng sinh độngtrong giờ học Giúp cho khía cạnh khô khan của vấn đề học tập được giảm nhẹ vàghi nhớ của trẻ trở nên vững chắc hơn Giúp học sinh tiếp thu tri thức một cáchtích cực và tự giác.Việc kết hợp sử dụng hình thức trò chơi trong học tập sẽ đưalại hiệu quả cao trong dạy học Trò chơi học tập được sử dụng sẽ có tác dụng tíchcực nhằm thay đổi hình thức học tập và thông qua trò chơi học tập không khí lớphọc sẽ trở nên thoải mái, dễ chịu, việc tiếp thu kiến thức của học sinh trở nên nhẹnhàng và hiệu quả hơn

Trong giảng dạy bài 3 "Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biên giới Quốc Gia" có thểđưa ra một vài trò chơi :

- Trò chơi tiếp sức: Các thành viên trong nhóm thay nhau viết các bộ phận cấuthành lãnh thổ Quốc Gia

Trang 20

- Trò chơi "Ai là triệu phú": GV chuẩn bị các ô chứa các câu hỏi để HS chọn và trảlời về các cách xác định Biên giới Quốc gia.

2.2.4 Phương pháp đóng vai

Đóng vai là phương pháp tổ chức cho HS thực hành, “làm thử” một số cách ứng xửnào đó trong một tình huống giả định Đây là phương pháp nhằm giúp HS suy nghĩsâu sắc về một vấn đề bằng cách tập trung vào một sự việc cụ thể mà các em vừathực hiện hoặc quan sát được Việc “diễn” không phải là phần chính của phươngpháp này mà điều quan trọng là sự thảo luận sau phần diễn ấy

Trong giảng dạy bài 3 "Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biên giới Quốc Gia", GV cóthể cho HS đóng vai nhà tuyên truyền để khẳng định quần đảo Hoàng Sa vàTrường Sa là của Việt Nam

2.2.5 Phương pháp tình huống

Có nhiều khái niệm và cách hiểu khác nhau về thuật ngữ “tình huống” trongtừng bối cảnh sử dụng cụ thể Tình huống thường được biên soạn dựa trên nhữngthông tin, dữ kiện có thật trong cuộc sống ở quá khứ hoặc hiện tại Một tình huốngthường có ba đặc tính: tính thực tế, tính quan trọng và tính công khai

Có thể thấy rằng, thuật ngữ “tình huống” dù được quan niệm theo cách nào thìtrong nội hàm của nó cũng đều chứa đựng một “tình trạng/ trạng thái” cần đưa raquyết định để giải quyết các vấn đề Và nó có thể bao gồm cả việc đánh giá, xemxét đến các chính sách, công việc thực tiễn, hoặc các khuyến nghị

PPGD bằng TH là phương pháp bao gồm các thành tố chủ yếu của tình huống(thông tin, dữ kiện) được trình bày cho người học với mục đích minh hoạ hoặc chia

sẻ các kinh nghiệm trong cách giải quyết vấn đề Mục đích của PPGD bằng TH làkhông cần phản ánh một cách đầy đủ các hoạt động thực tế có thật mà chỉ cần tạo

ra một khung cảnh để những người học có thể thảo luận cùng với nhau

Trong bài 3 "Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biên giới Quốc Gia", GV có thể đặt ratình huống cho HS giải quyết: "Hai bạn A và B tranh cãi với nhau A bảo rằngQuần đảo Hoàng Sa và Trướng Sa là của Việt Nam, nhưng B lại nói hình nhưkhông phải Em đồng ý với ý kiến của A hay không? Vì sao?" Sau đó, GV cho HSthảo luận và trình bày các ý kiến rồi kết luận nội dung

2.2.6 Phương pháp trực quan

Dạy học trực quan (hay còn gọi là trình bày trực quan) là PPDH sử dụng những

phương tiện trực quan, phương tiện kĩ thuật dạy học trước, trong và sau khi nắm tàiliệu mới, khi ôn tập, khi củng cố, hệ thống hóa và kiểm tra tri thức, kĩ năng, kĩ xảo Hình ảnh trực quan có vai trò rất lớn trong việc giúp hs nhớ kĩ, hiểu sâu nhữnghình ảnh, những kiến thức Hình ảnh được giữ lại đặc biệt vững chắc trong trí nhớ

là hình ảnh chúng ta thu nhận được bằng trực quan Vì vậy, cùng với việc góp phần

Trang 21

tạo biểu tượng và hình thành khái niệm lịch sử, đồ dùng trực quan còn phát triểnkhả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ của HS.

Trong bài 3 "Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biên giới Quốc Gia", việc sử dụnghình ảnh, các đoạn video về biên giới, lãnh thổ; các tư liệu lịch sử và bản đồ củaViệt Nam trong đó có 2 Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mang lại hiệu quả caotrong việc nâng cao ý thức bảo vệ chủ quyền của HS

3 Thực hành soạn giáo án bài 3 "Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biên giới Quốc Gia" góp phần khẳng định 2 Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam.

Bài 3 "Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biên giới Quốc Gia", gồm nhiều nội dung;trong đó để góp phần giáo dục ý thức bảo vệ chủ quyền lãnh thổ Quốc gia của HSthì chúng tôi sẽ tập trung soạn giáo án ở mục II.2 Khái niệm biên giới quốc gia( thuộc tiết 3) và mục III.2 Nội dung cơ bản xây dựng va quản lý, bảo vệ biên giớiquốc gia nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ( thuộc tiết 5) Sau đây, chúngtôi xin đề xuất phương pháp giảng dạy bài 3 để góp phần khẳng định 2 Quần đảoHoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam, thông qua việc soạn giáo án bài 3 tiết 3

NỘI DUNG

II Biên giới quốc gia

1 Sự hình thành biên giới quốc gia Việt Nam

2 Khái niệm biên giới quốc gia

a Khái niệm

b Các bộ phận cấu thành biên giới quốc gia

3 Xác định biên giới quốc gia Việt Nam

a Nguyên tắc cơ bản xác định biên giới quốc gia

b Cách xác định biên giới quốc gia

KẾT LUẬN

Qua bài học giúp các em hiểu được sự hình thành, khái niệm, các bộ phận cấuthành và cách xác định biên giới quốc gia Việt Nam Đồng thời góp phần giúp họcsinh nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo vệ chủ quyền

KẾ HOẠCH GIẢNG BÀI

Trang 22

Đối tượng: Học sinh THPT (khối 11) Năm học: 2020 – 2021

II.Nội dung và trọng tâm

1 Nội dung: Biên giới quốc gia

2.Trọng tâm: Khái niệm BGQG, cách xác định BGQG

III.Thời gian: 45 phút.

IV.Tổ chức và phương pháp.

1.Tổ chức: lên lớp tập trung.

2.Phương pháp: Thuyết trình, vấn đáp, trò chơi, tình huống,thảo luận nhóm.

V.Địa điểm: tại phòng học có máy chiếu.

Trang 23

3 Kiểm tra bài cũ: GV đặt câu hỏi: Nêu khái niệm chủ quyền lãnh thổ quốc gia?Nội dung cơ bản của chủ quyền lãnh thổ quốc gia?

4 Phổ biến ý định giảng bài: GV đặt vấn đề

Hiện nay, đất nước ta đã hòa bình, nhân dân hạnh phúc ấm no; tuy nhiên nước tavẫn bị các thế lực thù địch trong và ngoài nước chống phá Đặc biệt, vấn đề bảo vệchủ quyền trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang là vấn đề cấp bách hiệnnay Để trang bị những kiến thức cơ bản chứng minh vấn đề chủ quyền của nước

ta, hôm nay chúng ta tìm hiểu tiết 3 của bài 3 Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biêngiới quốc gia

II Thực hành giảng bài (35 PHÚT)

II Biên giới quốc gia

1 Sự hình thành biên

giới quốc gia Việt Nam.

- Tuyến biên giới đất

- Gv: Biêngiới quốcgia NướcViệt Namđược hìnhthành vàhoàn thiện +Biên giới đấtliền

+ Biên giới trênbiển

- GV cho HSchơi trò chơi

‘‘Ai là triệuphú’’ để XĐcác tuyến biêngiới

- Giới thiệu vềhiệp định phânđịnh Vịnh Bắc

Bộ, Vùng nướclịch sử

- GV nêu tình

- Nghiêncứu nộidung SGK

- Suy nghĩ

và trả lờicâu hỏi

- Lắngnghe và ghi

ý chính vàovở

- Suy nghĩ,giải quyếttình huống

mà GV nêura

Gv: Giáo

án, SGK,SGV, luậtBGQG,tranh sơ

đồ lãnhthổ quốcgia phấnviết

SGK, vởghi

-Máychiếu

Trang 24

định biển với Thailan,

Indonesia

+ Đang phải giả quyết,

phân định với: TQ về biển

Đông và chủ quyền ở hai

quần đảo Hoàng Sa và

quần đảo , trong đó có

quần đảo trường sa và

hoàng sa, vùng biển , lòng

đất , vùng trời của nước

10Phút

huống cho HSgiải quyết: Haibạn A và Btranh cãi vớinhau A bảorằng Quần đảoHoàng Sa vàTrường Sa làcủa Việt Nam,nhưng B lại nóihình như khôngphải

Em đồng ý với

ý kiến của Ahay ? Vì sao?

GV trình bày

và chiếu nhữngbằng chứngchứng tỏ Quầnđảo Hoàng Sa

và Trường Sa

là của ViệtNam (bằngchứng lịch sử,địa lý, vănhọc )

GV chia lớpthành 4 nhómthảo luận

-Nội dung thảoluận:

+ N1: Kháiniệm biên giớiQuốc gia củaViệt Nam?

- Quan sát,ghi nhớ nộidung

SGK, tiếnhành thảoluận theo

sự phâncông củaGV

-Gv: Giáo

án, SGK,SGV, luậtBGQG,tranh sơ

đồ lãnhthổ quốcgia phấnviết

SGK, vởghi

-Máychiếu

Trang 25

3 Xác định biên giới quốc

gia Việt Nam

a Nguyên tắc xác định

biên giới quốc gia.

- Xác định bằng điều ước

quốc tế mà Việt Nam kí

kết hoặc gia nhập hoắc

do pháp luật Việt Nam

quy định

- Xác định biên giới

quốc gia bằng 2 cách:

+ Đàm phán thương lượng

+ Đối với biên giới trên

biển thì nhà nước tự quy

định phù hợp với công uớc

Liên Hợp Quốc về luật

biển

b Cách xác định BGQG

Xác định biên giới quốc

gia trên đất liền: Xác định

theo các điểm, toạ độ,

đường, vật chuẩn

Xác định biên giới quốc

gia trên sông suối:

+ Trên sông mà tàu thuyền

đi lại thì được xác định

+ N3: Nguyêntắc xác địnhbiên giới quốcgia?

+ N4: Cách xácđịnh biên giớiQuốc gia củaViệt Nam?

-Thời gian thảoluận: 5 phút-Phương phápthảo luận: cácnhóm tiến hànhthảo luận, ghi ýkiến vào bảngthảo luận GVquan sát, quản

lý chung

-Lắng nghephần trình bàythảo luận củaHS

-Gọi HS nhậnxét, bổ sungphần thảo luận

- Cử đạidiện trìnhbày phầnthảo luận-Các nhómcong lạilắng nghe,nhận xét và

bổ sung

-Lắngnghe, ghinhớ nộidung

-Ghi chépbài vào vở

Trang 26

không đi lại thì biên giới

theo giữa sông, suối đó

Xác định biên giới quốc

gia trên biển: Theo luật

biển và công ước quốc tế

Xác định biên giới quốc

gia trong lòng đất: Được

xác định là mặt thẳng đứng

của đường biên giới quốc

gia trên đất liền và biên

giới quốc gia trên biển

xuống lòng đất

Xác định biên giới quốc

gia trên không: Được xác

định là mặt thẳng đứng của

đường biên giới quốc gia

trên đất liền và biên giới

quốc gia trên biển lên vùng

trời

chiếu, kết luậnlại các nộidung

-Gv tiếp tụcnhấn mạnh vàkhẳng định chủquyền của ViệtNam trên 2

Hoàng Sa vàTrường Sa

III Kết thúc bài giảng : 5 phút

- Giải đáp thắc mắc

- Hệ thống lại nội dung

- Câu hỏi luyện tập : Nêu các cách xác định biên giới quốc gia

Trang 27

III Trách nhiệm của công dân và học sinh trong việc tham gia xây dựng, quản

Lý và bảo vệ biên giới quốc gia.

1 Trách nhiệm của công dân.

2 Trách nhiệm của học sinh

KẾT LUẬN

Qua bài học giúp các em hiểu được sự hình thành, khái niệm, các bộ phận cấuthành và cách xác định biên giới quốc gia Việt Nam Đồng thời góp phần giúp họcsinh nâng cao ý thức, trách nhiệm bảo vệ chủ quyền

KẾ HOẠCH GIẢNG BÀI PHÊ DUYỆT

Đối tượng: Học sinh THPT (khối 11) Năm học: 2020 – 2021

II.Nội dung và trọng tâm

1 Nội dung: Nội dung cơ bản xây dựng, quản lí và bảo vệ biên giới quốc gia nướcCHXHCN Việt Nam

2.Trọng tâm: Trách nhiệm của công dân và học sinh trong việc tham gia xây dựng,quản Lý và bảo vệ biên giới quốc gia

III.Thời gian: 45 phút.

IV.Tổ chức và phương pháp.

1.Tổ chức: lên lớp tập trung.

2.Phương pháp: Thuyết trình, vấn đáp, đàm thoại

V.Địa điểm: Tại phòng học

Ngày đăng: 21/05/2021, 21:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w