Thực tiễn của sử dụng các phương pháp dạy học lịch sử theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường trung học phổ thông ……….……… 5 2.. Nó chi phối toàn bộ những vấn đề liên quan đ
Trang 1MỤC LỤC
Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ ………1
1 Lý do chọn đề tài ……….……… 1
2 Mục đích nghiên cứu ……… 1
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu ……… 1
4 Nhiệm vụ nghiên cứu ………1
5 Phương pháp nghiên cứu ……….…… 2
6 Phạm vi nghiên cứu ……… 3
7 Đóng góp của đề tài……… 3
Phần 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ……… 3
1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy học lịch sử theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường trung học phổ thông ……… 3
1.1 Cơ sở lí luận ……… 3
1.1.1 Quan điểm về dạy học tích cực và phương pháp dạy học tích cực ………… 3
1.1.2 Giải nghĩa một số từ ngữ ……… 4
1.1.3 Đặc điểm và yêu cầu dạy học phát triển năng lực môn Lịch sử ở trường phổ thông……… 4
1 2 Thực tiễn của sử dụng các phương pháp dạy học lịch sử theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường trung học phổ thông ……….……… 5
2 Giải pháp ……… 8
2.1 Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan kết hợp với phân tích tư liệu……… 8
2.2 Phương pháp tranh luận trong dạy học lịch sử ……….…… 21
2.3 Phương pháp đóng vai ……… 28
2.4 Phương pháp trò chơi ……… 36
3 Thực nghiệm sư phạm ……… 46
3.1 Mục đích thực nghiệm ……….… 46
3.2 Nhiệm vụ của thực nghiệm ……… 46
3.3 Tiến hành thực nghiệm ……… 46
PHẦN 3: KẾT LUẬN ……… 48
1 Những bài học kinh nghiệm……… 48
2 Kiến nghị - đề xuất……… 48
Trang 23 Khả năng ứng dụng, triển khai của đề tài……… 49
4 Kết luận ……… 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 51
PHỤ LỤC ……… 52
Trang 3CÁC DANH MỤC VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
Trang 4Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài:
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh là phương hướng đổi mới căn bản cốt lõi nhất của đổi mới giáo dục hiện nay Nó chi phối toàn bộ những vấn đề liên quan đến dạy và học từ việc xác định mục tiêu, nội dung phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá, điều kiện giáo viên, điều kiện cơ sở vật chất, điều kiện về quản lý…Ở nước ta Đại hội XII của Đảng xác định: Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục - đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học; hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập
Đổi mới phương pháp dạy học cần phải đáp ứng mục tiêu giáo dục mới đó là không chỉ nhằm trang bị kiến thức mà còn chú trọng đến vận dụng kiến thức kĩ năng vào cuộc sống, đặc biệt quan tâm đến phát triển năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề phù hợp với hoàn cảnh Điều đó có nghĩa dạy học không chỉ đơn thuần truyền đạt, cung cấp thông tin mà chủ yếu rèn luyện khả năng tìm kiếm và chiếm lĩnh tri thức
Trong những năm gần đây vấn đề dạy, học lịch sử đang thu hút sự quan tâm của toàn xã hội Trong kì thi THPT QG 2020, lịch sử là môn có điểm thấp nhất với 4,3 điểm, hơn 70 % số học sinh dự thi dưới điểm trung bình Điều này không có gì
lạ vì trong nhiều năm qua điểm thi môn lịch sử luôn thấp nhất trong các môn thi (2016: 4,32, 2017: 4,6, 2018: 3,79)
Nguyên nhân do nhiều phía: xu hướng lựa chọn nghề nghiệp, tâm lí coi nhẹ môn học của học sinh và còn nhiều lí do khác nữa được đưa ra để biện minh cho một thực tế là chất lượng và hiệu quả của giờ học chưa cao Song tôi thiết nghĩ mấu chốt của vấn đề là ở chỗ bản thân người giáo viên lịch sử cũng đang bị cuốn theo sự ngại học của học sinh, chưa tích cực tìm giải pháp nâng cao chất lượng giờ học, quá nặng nề đến việc trang bị kiến thức mà không thấy kiến thức ấy phải được tổ chức thế nào để giúp học sinh tiếp nhận một cách dễ dàng và hứng thú Chính vì vậy việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm mang lại hiệu quả cao trong dạy và học môn lich sử là điều vô cùng cấp thiết Trước thực trạng đó, tôi – một giáo viên lịch sử luôn trăn trở về việc dạy học của mình: làm thế nào để nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử ? Làm sao các em học sinh yêu thích lịch sử và học lịch sử ngày càng có hiệu quả hơn ?
Hoà nhập với việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học hiện nay, rút kinh nghiệm giảng dạy từ đồng nghiệp và bằng thực tế giảng dạy
của mình, tôi quyết định chọn đề tài “Vận dụng một số phương pháp dạy học
tích cực nhằm định hướng phát triển năng lực học sinh phần lịch sử thế giới
Trang 5thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại trong môn Lịch sử lớp 10 THPT” để làm
sáng kiến kinh nghiệm
Trong khuôn khổ bài viết này tôi nêu ra một số phương pháp mà qua quá trình vận dụng trong giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông cho hiệu quả khả quan, học sinh có thể nắm kiến thức và vận dụng kiến thức một cách linh hoạt và sáng tạo dựa vào năng lực của bản thân
2 Mục đích nghiên cứu
Tôi viết sáng kiến kinh nghiệm này với mong muốn:
- Ghi lại những biện pháp mình đã làm để suy ngẫm, chọn lọc cách làm hay
và hiệu quả kết thành kinh nghiệm của bản thân
- Được chia sẻ với đồng nghiệp những việc mình đã làm và đã thành công trong việc dạy học môn Lịch sử lớp 10
- Nhận được ý kiến trao đổi, chia sẻ từ cán bộ quản lí nhà trường, Ban Giám khảo của Sở Giáo dục và từ đồng nghiệp, để tôi phát huy những điểm mạnh và khắc phục những hạn chế, tồn tại
- Rèn luyện tinh thần năng động, giữ lửa đam mê, sáng tạo trong lao động
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu:
Hoạt động dạy học trong các bài lịch sử lớp 10 phần lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại và các phương pháp dạy học lịch sử
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực môn Lịch sử
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm ra biện pháp tối ưu để nâng cao chất lượng học những bài lịch sử lớp
10
5 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu: Tìm hiểu sách giáo khoa, sách giáo viên, các sách, báo tham khảo môn Lịch sử ở tiểu học, các tài liệu sách báo tạp chí giáo dục có liên quan đến đề tài
- Nghiên cứu thực tế: Dự giờ, trao đổi ý kiến với đồng nghiệp về nội dung phương pháp dạy học lịch sử tiểu học, đặc biệt là các phương pháp dạy học tích cực phát huy hoạt động của học sinh, tổng kết, rút kinh nghiệm trong quá trình dạy học
- Tìm hiểu các khó khăn khi triển khai thực hiện, trao đổi ý tưởng cùng đồng nghiệp, tổ chuyên môn
Trang 6- Tìm hiểu về thiết kế bài giảng điện tử và phần mềm PowerPoint
6 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về: “Một số phương pháp dạy học tích cực nhằm định hướng phát triển năng lực học sinh môn Lịch sử lớp 10 Chương trình chuẩn phần lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại”
7 Đóng góp của đề tài
- Khẳng định được vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng các biện pháp dạy học lịch sử theo hướng phát triển năng lực học sinh trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
- Phản ánh được thực trạng của dạy học lịch sử theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường trung học phổ thông
- Đề xuất một số biện pháp dạy học nhằm định hướng phát triển năng lực học sinh phần lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại, trung đại trong môn Lịch sử lớp
10 THPT
- Giúp học sinh thay đổi quan niệm về môn lịch sử, vai trò của môn học này ngày càng được nâng cao
Phần 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc dạy học lịch sử theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường trung học phổ thông
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Quan điểm về dạy học tích cực và phương pháp dạy học tích cực
Bản chất của dạy học tích cực là đề cao chủ thể nhận thức, chính là phát huy tính tự giác, chủ động của người học Tích cực là một nét quan trọng của tính cách:
“Tính tích cực của học sinh trong học tập là hiện tượng sư phạm biểu hiện cố gắng cao về nhiều mặt trong hoạt động học tập của trẻ em”
Phương pháp dạy học tích cực là những phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính chủ động, độc lập và sáng tạo, hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học Phương pháp dạy học tích cực có những đặc trưng cơ bản là:
- Người học tập trung cao độ trong học tập, chủ động tìm tòi khám phá nội dung học tập, chủ động giải quyết các vấn đề phù hợp với khả năng hiểu biết của mình, đề xuất các ý tưởng sáng tạo và tự nguyện trình bày, diễn đạt các ý kiến của mình
Trang 7- Người dạy: linh hoạt, mềm dẻo, luôn tạo cơ hội để người học tham gia và làm chủ hoạt động nhận thức Người dạy xây dựng được những môi trường có khả năng thúc đẩy người học tự điều khiển hoạt động học tập, cung cấp những nhiệm
vụ học tập có mức độ phù hợp với từng học sinh, tạo điều kiện cho từng học sinh được phép lựa chọn, tự lập kế hoạch, tự đưa ra mục đích hoạt động, tự mình hoặc hợp tác để thực hiện nhiệm vụ học tập, cuối cùng tự nhận xét đánh giá kết quả học tập của bản thân Người dạy chỉ là người tổ chức và hướng dẫn quá trình nhận thức
- Nội dung bài dạy không đi sâu vào từng chi tiết cụ thể mà sắp xếp thành các vấn đề liên kết hoặc sắp xếp theo nguyên lí cơ chế để kích thích tư duy và tính chủ động sáng tạo trong cách giải quyết các vấn đề của người học
1.1.2 Giải nghĩa một số từ ngữ
- Phương pháp: là cụm từ dùng để chỉ các cách thức hoặc đường lối có tính hệ thống đưa ra để có thể giải quyết một vấn đề nào đó, theo đó thì phương pháp có thể được rút ra từ những kết quả mà con người nhận thức được từ thực tiễn
- Năng lực: là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn
có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể Có hai loại năng lực lớn: Năng lực cốt lõi và năng lực đặc biệt
- Năng lực chung: là năng lực được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển như: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp
và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo
- Năng lực đặc thù: là năng lực được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định như: năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực khoa học, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thẩm
mỹ, năng lực thể chất
Với môn Lịch sử năng lực đặc thù gồm: năng lực tìm hiểu lịch sử, năng lực nhận thức và tư duy lịch sử, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào giải quyết vấn
đề trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống
- Dạy học phát triển năng lực là giáo viên định hướng cho học sinh chủ động tham gia kiến tạo nội dung kiến thức, vận dụng tri thức vào trong cuộc sống và hình thành phương pháp tự học để có thể học suốt đời
1.1.3 Đặc điểm và yêu cầu dạy học phát triển năng lực môn Lịch sử ở trường phổ thông
Năng lực môn Lịch sử là một thành phần của năng lực tìm hiểu xã hội trong
Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể Đối với học sinh cấp trung học phổ
Trang 8thông, yêu cầu tìm hiểu về năng lực xã hội bao gồm những nội dung sau đây:
Năng lực môn Lịch sử là một thành phần của năng lực tìm hiểu xã hội trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể Đối với học sinh cấp trung học phổ thông, yêu cầu tìm hiểu về năng lực xã hội bao gồm những nội dung sau đây:
- Một là, hiểu và vận dụng được những cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học xã hội: Vận dụng được các nguyên tắc, phương pháp, kỹ thuật cơ bản thu thập và xử lý thông tin; Biết trình bày và phân tích các nhân vật,
sự kiện, quá trình xã hội từ những góc độ, chiều cạnh khác nhau; Nắm được cách trình bày các ý kiến, lập luận, tranh luận về các vấn đề xã hội
- Hai là, nắm được các tri thức cơ bản về đối tượng của các khoa học xã hội: Hiểu được một số khái niệm cơ bản liên quan đến đối tượng của khoa học xã hội như: phân hóa xã hội, khác biệt xã hội và xung đột xã hội, chiến tranh, cách mạng, tiến bộ xã hội ; Hiểu được những tri thức cơ bản về một số đối tượng của khoa học xã hội như quá trình tiến hóa của lịch sử nhân loại, lịch sử các nền văn minh, giá trị đạo đức truyền thống, bản sắc văn hóa và giao lưu văn hóa, quá trình phát triển nhân cách,
- Ba là, nắm được những tri thức cơ bản về xã hội loài người, hiểu được những quy luật chung của quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam trong mối liên hệ với khu vực và thế giới; hiểu được các xu hướng vận động cơ bản của nhân loại trên các phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, tư tưởng, văn hóa, nghệ thuật, quốc phòng và an ninh
- Bốn là, vận dụng những tri thức về xã hội và văn hóa vào cuộc sống: Biết tự nghiên cứu về một vấn đề của xã hội; Biết tham gia tranh luận về một hoặc một số vấn đề đang đặt ra trong đời sống xã hội đương đại, nhất là các vấn đề có liên quan đến thế hệ thanh niên hiện nay; Có trách nhiệm đối với bản thân và xã hội
Trên cơ sở những yêu cầu về tìm hiểu xã hội, môn Lịch sử ở trường phổ thông giúp học sinh phát triển và hoàn thiện những năng lực chuyên môn Lịch sử, bao gồm: Năng lực tìm tòi và khám phá Lịch sử; Năng lực nhận thức và tư duy Lịch sử; Năng lực vận dụng kiến thức Lịch sử vào thực tiễn giúp học sinh có khả năng tiếp cận và xử lý thông tin từ những nguồn khác nhau, có khả năng xâu chuỗi các sự kiện lịch sử có liên quan, đưa ra nhận xét cá nhân về các sự kiện lịch sử, xây dựng năng lực phản biện và sáng tạo, từ đó có khả năng vận dụng những kinh nghiệm lịch sử vào thực tiễn, dùng tri thức lịch sử để giải thích những vấn đề hiện tại Trên nền tảng đó, học sinh được truyền cảm hứng để yêu thích môn Lịch sử, có định hướng để lựa chọn nghề nghiệp, đồng thời trân trọng truyền thống lịch sử, di sản lịch sử
1.2 Thực tiễn của sử dụng các phương pháp dạy học lịch sử theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường trung học phổ thông
Trang 9Trong thời gian qua, việc thực hiện dạy học lịch sử theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường phổ thông bên cạnh những kết quả bước đầu đã đạt được, thì vẫn còn nhiều hạn chế
Để có cái nhìn tổng quát hơn về thực trạng sử dụng các phương pháp dạy học lịch sử theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường trung học phổ thông, tôi đã tiến hành khảo sát đối với cả giáo viên và học sinh tại trường THPT Quỳnh Lưu III
Hình thức khảo sát: Dùng phiếu điều tra
Số lượng giáo viên khả sát: 04
Số lượng học sinh khảo sát: 6 lớp, tương đương với số học sinh là 240 học sinh
Thông qua phiếu điều tra, tôi đã thu được kết quả như sau:
Về phía giáo viên:
Đánh giá về mức độ
quan tâm trong vấn
đề đổi mới phương
pháp dạy học đối với
Chỉ gây hứng thú nhất thời cho học sinh 25
Sử dụng cũng được, không sử dụng cũng được 0
Trang 10Qua phân tích phiếu điều tra của giáo viên và học sinh tôi nhận thấy:
Về phía giáo viên: - Đa số các thầy cô đều nhận thấy vai trò quan trọng của việc đổi mới phương pháp dạy học bằng việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong mọi hoạt động học
Trang 11- Tuy nhiên các thầy cô lại không thường xuyên sử dụng các phương pháp dạy học tích cực vào trong mỗi tiết dạy, phương pháp thuyết trình vẫn là phương pháp chủ đạo
Về phía học sinh:
- Đa số học sinh chưa nhận thức đúng về vị trí, vai trò và tầm quan trọng trong việc học tập môn lịch sử, nhiều học sinh không thích, thậm chí không quan tâm đến môn học này
- Đa số các em đều mong muốn và cảm thấy hứng thú học nếu trong các giờ học lịch sử các thầy cô giáo đổi mới phương pháp dạy học bằng việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực Đây là một thuận lợi để giáo viên có thể áp dụng các phương pháp này trong xu thể đổi mới PPDH hiện nay
Như vậy, hiện nay hoạt động dạy học lịch sử theo định hướng phát triển năng lực học sinh vẫn chưa mang lại hiệu quả cao Truyền thụ tri thức một chiều vẫn là phương pháp dạy học chủ đạo của nhiều giáo viên Dạy học vẫn nặng về kiến thức
lý thuyết Việc rèn luyện kỹ năng sống, kỹ năng giải quyết các tình huống thực tiễn cho học sinh thông qua khả năng vận dụng tri thức tổng hợp chưa được quan tâm Việc ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông, sử dụng các phương tiện dạy học chưa được thực hiện rộng rãi và hiệu quả Giáo viên chuẩn bị bài lên lớp còn
sơ sài, chưa đầu tư thời gian, công sức và tâm huyết vào khâu chuẩn bị này nên việc áp dụng các phương pháp để tạo hứng thú cho học sinh còn chưa được thường xuyên Từ những hạn chế trong việc dạy học nêu trên làm cho học sinh ngày càng chán học môn Lịch sử, chất lượng dạy học môn Lịch sử vẫn còn thấp
2 Giải pháp
Từ những hạn chế nêu trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu một số các phương pháp dạy học nhằm định hướng phát triển năng lực học sinh môn lịch sử lớp 10 phần lịch sử thế giới thời nguyên thủy, cổ đại và trung đại như sau:
2.1 Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan kết hợp với phân tích tư liệu
1.1 Mục tiêu
- Năng lực: Góp phần rèn luyện cho học sinh năng lực tự học, kĩ năng quan sát, kĩ năng đọc, lựa chọn tư liệu, phân tích và đánh giá tư liệu
- Phẩm chất: rèn luyện phẩm chất chăm chỉ, trách nhiệm
- Kiến thức: Giúp các em ghi nhớ kiến thức cũ và tích hợp nội dung mới một cách có hệ thống Học sinh hiểu, phân tích được những sự kiện, nhân vật lịch sử 1.2 Nội dung
Trang 12- GV sử dụng trong hoạt động khởi động hoặc hình thành kiến thức mới GV
có thể cho học sinh hát, nghe lại một bài hát, bài thơ, xem hình ảnh, video, đọc đoạn tư liệu để học sinh qua quan sát hoặc phân tích dữ liệu thấy được mối quan
hệ với bài học
1.3 Cách thực hiện
- GV lựa chọn nội dung bài học
- GV đưa ra tư liệu tương ứng
- GV định hướng và kích thích học sinh tìm hiểu tư liệu thông qua hệ thống câu hỏi
Ví dụ 1: Ở chủ đề Xã hội nguyên thủy
* Tìm hiểu quá trình chuyển biến từ vượn cổ thành người
- Cách tổ chức:
Để hình thành cho học sinh năng lực nghe, đọc, quan sát, phân tích tư liệu tôi cho các em xem video về quá trình tiến hóa của sinh giới theo học thuyết của Đac-uyn và các hình ảnh từng bước tiến hóa từ vượn thành người, tổ chức cho các em làm việc cá nhân, nhóm
Cụ thể:
Bước 1 GV giao nhiệm vụ
- Tôi chia lớp thành nhiều nhóm, mỗi nhóm 4 học sinh
- Giáo viên phát phiếu học tập cho từng nhóm, yêu cầu các nhóm xem videoclip, kết hợp các hình ảnh, đọc đoạn thông tin dưới đây để hoàn thành phiếu học tập
Trang 13
Ô thông tin
(1 Sự xuất hiện của loài người
- Ở chặng đầu của quá trình hình thành loài người, có một loài vượn cổ, sống khoảng 6 triệu năm trước đây, đã có thể đi và đứng bằng hai chân, dung tay để cầm nắm, ăn hoa quả, củ, lá và cả động vật nhỏ Xương hóa thạch của chúng được tìm thấy ở Đông Phi, Tây Á và cả ở Việt Nam
- Trên đà tiến triển, vượn cổ chuyển biến thành Người tối cổ, bắt đầu từ
khoảng 4 triệu năm trước đây Di cốt được tìm thấy ở Đông Phi, Giava, Bắc Kinh, Việt Nam (Thanh Hóa)
- Người tối cổ hầu như hoàn toàn đi, đứng bằng hai chân, tay được tự do sử dụng công cụ, kiếm thức ăn, trán thấp và bợt ra sau, u mày còn nổi cao, hộp sọ đã lớn hơn so với vượn cổ, hình thành trung tâm phát tiếng nói trong não
- Tuy chưa loại bỏ hết dấu tích vượn trên cơ thể mình nhưng Người tối cổ đã
là người Đây là hình thức tiến triển nhảy vọt từ vượn thành người, là thời kì đầu tiên của lịch sử loài người
* Ở Việt Nam
- Cách đây 30- 40 vạn năm, đã xuất hiện dấu tích của Người Tối cổ Hóa thạch tìm thấy được tại Thanh Hóa, Đồng Nai, Bình Phước
- Họ sống thành bầy, săn bắt hái lượm làm nguồn sống
2 Sự xuất hiện của người tinh khôn
- Đến cuối thời đá cũ, khoảng 4 vạn năm trước đây, con người hoàn thành quá
trình tự cải biến mình, đã loại bỏ hết dấu tích vượn trên người, trở thành Người tinh khôn (Người hiện đại), có cấu tạo cơ thể như người ngày nay
- Đây là bước nhảy vọt thứ hai, sau bước nhảy vọt từ vượn cổ thành người
- Xuất hiện những màu da khác nhau, chia thành da vàng, đen, trắng
=> Ba chủng tộc lớn, kết quả của sự thích ứng lâu dài của con người với những hoàn cảnh tự nhiên khác nhau)
(Nguồn từ sách giáo khoa lịch sử Nhà xuất bản Giáo dục)
Trang 14Bước 2 Thực hiện nhiệm vụ được giao
- HS xem hình ảnh, đọc bản đồ, đọc hiểu thông tin, thảo luận nhóm để hoàn thiện phiếu học tập
- GV quan sát và hỗ trợ HS nếu cần
Bước 3 Báo cáo kết quả
- HS báo cáo kết quả: Đại diện một nhóm học sinh báo cáo kết quả, các nhóm khác đổi kết quả cho nhau để đánh giá, nhận xét về kết quả của từng nhóm
Bước 4 GV nhận xét và đánh giá kết quả, phản hồi cho HS qua bảng thông
* Tìm hiểu về đời sống của người nguyên thủy
Bước 1: Tương tự tôi chia lớp thành 4 nhóm và giao nhiệm vụ
- Giáo viên phát phiếu học tập cho từng nhóm, yêu cầu các nhóm quan sát
videoclip, hình ảnh, đọc đoạn thông tin dưới đây để hoàn thành phiếu học tập
- HS tự nghiên cứu thông tin, động não, thảo luận nhóm và điền thông tin vào phiếu học tập số 2
Đồ đá cũ Rìu tay đá cũ Núi Đọ Hậu kì đá cũ
Trang 15- Biết chế tác công cụ - đồ đá cũ (sơ kì)
- Giữ lửa và tạo ra lửa Đây là phát minh lớn mà nhờ nó , cải thiện căn bản đời sống con người
- Phương thức kiếm sống: săn bắt hái lượm
- Ở: hang động, mái đá, lều (bằng cành cây, da thú)
* Người tinh khôn:
- Người tinh khôn đã biết ghè 2 rìa của một mảnh đá, làm cho nó gọn và sắc cạnh hơn, dùng làm rìu, dao, nạo
- Xương cá, cành cây đem mài hoặc đẽo nhọn đầu để làm lao chế tạo cung tên Đây là thành tựu lớn trong quá trình chế tạo công cụ và vũ khí
=> Hiệu quả và an toàn
- Thức ăn tăng lên đáng kể, đặc biệt là từ khi có cung tên
- Rời hang động, ra dựng lều, định cư ở những địa điểm thuận tiện hơn Cư trú “nhà cửa”
- Khoảng một vạn năm trước đây, loài người tiến vào thời đá mới
=> Công cụ thời đá mới là những mảnh đá đã được con người ghè sắc và mài
Trang 16- Có óc sáng tạo, biết khai thác từ thiên nhiên cái cần thiết cho cuộc sống của mình
- Làm sạch da thú để che thân cho ấm)
(Nguồn từ sách giáo khoa lịch sử 10 – Nhà xuất bản Giáo dục)
Phiếu học tập
Giai đoạn Đời sống vật chất Đời sống tinh thần Phát minh
quan trọng Người tối cổ
Người tinh khôn
Bước 2 Thực hiện nhiệm vụ được giao
- Cá nhân nghiên cứu nhiệm vụ và chuẩn bị ý kiến để trao đổi nhóm
- Nhóm trao đổi thống nhất câu trả lời
- GV quan sát về ý thức thái độ, tinh thần làm việc và hỗ trợ các nhóm (nếu cần)
Bước 3 Báo cáo kết quả
Đại diện các nhóm báo cáo kết quả, trao đổi nhận xét lẫn nhau Điều chỉnh nội dung chưa chính xác
Bước 4 Đánh giá kết quả
GV nhận xét về kết quả của các nhóm; chỉnh sửa nội dung chưa đạt yêu cầu; động viên các nhóm có kết quả làm việc hiệu quả (có thể cho điểm đánh giá)
* Tìm hiểu sự xuất hiện của kim loại và sự tan ra của xã hội nguyên thủy
Bước 1 Giao nhiệm vụ:
Tôi yêu cầu từng cặp HS đọc đoạn thông tin dưới đây thảo luận và sắp xếp các ý trong phiếu học tập theo thứ tự cho phù hợp với logic của chủ đề là: Sự xuất hiện của kim loại và sự tan rã của xã hội nguyên thủy
Ô thông tin
(- Khoảng 5500 năm trước đây, cư dân Tây Á, Ai cập biết sử dụng đồng sớm nhất, thoạt tiên là đồng đỏ Khoảng 4000 năm trước đây, nhiều cư dân trên trái đất biết dùng đồng thau.Khoảng 3000 năm trước đây, cư dân Tây Á và Nam Âu là những người đầu tiên biết đúc và sử dụng đồ sắt
- Công cụ kim khí đã mở ra một thời đại mới mà tác dụng và năng suất lao động vượt xa thời đồ đá Đặc biệt là công cụ bằng sắt thì không có một công cụ đá nào có thể so sánh được
Trang 17- Suốt thời đồ đá, con người từ chỗ sống bấp bênh tiến tới đủ sống Vào buổi đầu của thời đại kim khí, con người sản xuất không những đủ sống ở mức còn thấp của hàng nghìn năm trước, mà còn tạo ra được một lượng sản phẩm thừa thường xuyên
- Trong xã hội nguyên thủy, công bằng và bình đẳng là “nguyên tắc vàng “ nhưng khi bắt đầu có sản phẩm thừa thì lại không thể đem chia đều cho mọi người
- Trong xã hội, mỗi thành viên có những chức phận khác nhau Ban đầu, một
số người được cử chỉ huy dân binh, chuyên trách về lề nghi hoặc điều hành các công việc chung của thị tộc, bộ lạc (xây đền, làm nhà, làm đường, đắp đê,…).Những người này lợi dụng chức phận để chiếm một phần sản phẩm xã hội cho riêng mình khi chi dùng các công việc chung Chẳng bao lâu, họ có nhiều của cải hơn những người khác Thế là tư hữu bắt đầu xuất hiện Quan hệ cộng đồng bắt đầu bị phá vỡ Gia đình cũng thay đổi theo Đàn ông làm các việc nặng nhọc, nên
đã có vai trò trụ cột và giành lấy quyền quyết định trong gia đình Con cái lấy theo
họ cha Gia đình phụ hệ xuất hiện trong long thị tộc bình đẳng thời nguyên thủy
- Khả năng lao động của các gia đình khác nhau đã thúc đẩy thêm sự phân biệt giàu - nghèo
- Xã hội nguyên thủy hay còn gọi là xã hội thị tộc, bộ lạc, bị rạn vỡ Con người đứng trước ngưỡng cửa của thời đại xã hội có giai cấp đầu tiên – xã hội cổ đại.}
(Nguồn từ sách giáo khoa lịch sử 10 – Nhà xuất bản Giáo dục)
Phiếu học tập
1 Công cụ bằng kim loại xuất hiện
2 Quan hệ gia đình thay đổi
3 Tư hữu xuất hiện
4 Con người tích trữ được sản phẩm thừa
5 Góp phần làm năng suât lao động gia tăng
6 Giai cấp xuất hiện
7 Xã hội nguyên thủy tan rã
Bước 2 Thực hiện nhiệm vụ được giao
HS nghiên cứu tư liệu, động não để thực hiện nhiệm vụ
GV quan sát và hỗ trợ nếu cần
Bước 3 Báo cáo kết quả và thảo luận
GV yêu cầu các cặp HS cạnh nhau trao đổi kết quả và chỉnh sửa cho nhau
Trang 18Bước 4 Đánh giá kết quả, chuẩn hóa kiến thức
Ví dụ 2: Chủ đề các quốc gia cổ đại phương Đông và phương Tây Hy-lạp
Bước 1 Giao nhiệm vụ:
- Giáo viên chia lớp thành nhiều nhóm, mỗi nhóm 6 học sinh
- Giáo viên phát phiếu học tập cho từng nhóm, kết hợp các hình ảnh, đọc đoạn thông tin dưới đây để hoàn thành phiếu học tập
* Điều kiện tự nhiên
- Tôi chia HS thành các nhóm nhỏ Yêu cầu từng nhóm đọc đoạn thông tin dưới đây kết hợp với quan sát các hình để hoàn thành phiếu học tập
Ô thông tin:
(Vào cuối thời nguyên thủy, cư dân ở lưu vực những dòng sông lớn như sông Nin ở Ai Cập, sông Ơ-phơ-rát và sông Ti-gơ-rơ ở Lưỡng Hà, sông Ấn và sông Hằng ở Ấn Độ, sông Hoàng Hà và sông Trường Giang ở Trung Quốc ngày càng đông Ở đây có những điều kiện thiên nhiên thuận lợi như : đồng bằng ven sông rộng, đất đai phì nhiêu, khí hậu ấm nóng Điều kiện trên thích hợp cho việc gieo trồng các loại cây lương thực Do gần sông nên hàng năm cư dân phải đương đầu với thiên tai, lũ lụt Từ cuối thiên niên kỉ IV đến đầu thiên niên kỉ III TCN, những quốc gia cổ đại phương Đông đầu tiên đã hình thành ở Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ
và Trung Quốc ngày nay
Nhìn trên bản đồ thế giới, ta sẽ thấy ở miền Nam Âu có hai bán đảo nhỏ vươn dài ra Địa Trung Hải Đó là các bán đảo Ban Căng và I-ta-li-a Địa hình được tạo
Trang 19nên bởi các ngọn núi bao quanh các cánh đồng nhỏ hẹp Phần lớn lãnh thổ là đồi núi, đất đai khô cằn khó canh tác Vào khoảng thế kỉ VIII TCN, các quốc gia cổ đại phương Tây Hi Lạp và Rô-ma đã ra đời)
Hình1 Lược đồ các quốc gia cổ đại điển hình trên thế giới
Hình 4 Sông Hằng ở Ấn Độ
Hình 5 Bản đồ các quốc gia cổ đại Địa Trung Hải Hình 2 Sông Nin ở Ai Cập Hình 3 Sông Hoàng Hà ở Trung Quốc
Trang 20* Về kinh tế
- GV yêu cầu HS đọc đoạn thông tin dưới đây và kết hợp quan sát hình 6, 7
để trao đổi, thảo luận, thực hiện nhiệm vụ sau:
Đất ven sông màu mỡ nên dễ trồng trọt
Nghề nông trồng lúa ngày càng phát triển
và trở thành ngành kinh tế chính Ngoài ra, cư
dân còn kết hợp chăn nuôi gia súc, làm đồ gốm,
dệt vải, Cư dân phương Đông cổ đại biết làm
thuỷ lợi, đắp đê ngăn lũ, đào kênh, máng dẫn
nước vào ruộng
Hình 6 Trồng lúa ở Ai Cập
Đất đai khô cằn, chủ yếu là đồi núi, nên cư
dân Hi Lạp và Rô-ma chủ yếu trồng lúa mì, ô
liu, nho Các nghề thủ công nghiệp như luyện
kim, đồ gốm, nấu rượu nho, làm dầu ô liu,
phát triển Bờ biển Hi Lạp, Rôma có nhiều cảng
tốt nên thương nghiệp, đặc biệt là ngoại thương
rất phát triển
Hình 7
Hải Cảng Pirê của Hi Lạp
- Qua việc quan sát các hình 6, 7, học sinh hãy miêu tả những hoạt động kinh
tế chủ yếu ở Ai Cập và Hi Lạp Nền kinh tế phương Đông và phương Tây cổ đại khác nhau như thế nào? Tại sao có sự khác nhau đó
Học sinh thảo luận nhóm để hoàn thành phiếu học tập sau:
Phiếu học tập
Tên quốc gia
Thời gian hình thành
Địa bàn xuất hiện
Trang 21Thuận lợi
Khó khăn
Kinh tế
Bước 2 Thực hiện nhiệm vụ được giao
- HS xem hình ảnh, đọc bản đồ, đọc hiểu thông tin, thảo luận nhóm để hoàn
thiện phiếu học tập
- GV quan sát và hỗ trợ HS nếu cần
Bước 3 Báo cáo kết quả
- HS báo cáo kết quả: Đại diện một nhóm học sinh báo cáo kết quả, các nhóm
khác đổi kết quả cho nhau để đánh giá, nhận xét về kết quả của từng nhóm
Bước 4 GV nhận xét và đánh giá kết quả
* Tìm hiểu về cơ cấu giai cấp và thể chế chính trị trong xã hội cổ đại
phương Đông và phương Tây
- Giáo viên giới thiệu :do sự phát triển của kinh tế dẫn đến sự sự phát triển
của xã hội Ở phương Đông nhờ điều kiện thiên nhiên thuận lợi, sản xuất phát triển
tất yếu dẫn đến sự phân hóa xã hội, xuất hiện kẻ giàu, người nghèo, quý tộc và
bình dân, trên cơ sở đó giai cấp và nhà nước gia đời rất sớm Khác với phươnng
Đông, ở phương Tây do nền kinh tế công thương là chủ yếu nên xã hội xuất hiện
mối quan hệ giữa chủ nô và nô lệ là chủ yếu Vậy cơ cấu giai cấp và chế độ chính
trị của các quốc gia cổ đại phương Đông và phương Tây như thế nào?
Bước 1 Giao nhiệm vụ:
- Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm, yêu cầu các nhóm đọc tài liệu và quan sát
các hình sau và trả lời các câu hỏi của từng nhóm như sau:
Nhóm 1: Đọc tài liệu kết hợp với quan sát hình 8 để trình bày về cơ cấu giai
cấp của các quốc gia cổ đại phương Đông
Ở phương Đông, quý tộc và quan lại
là tầng lớp có nhiều của cải và quyền thế
Là giai cấp thống trị Đứng đầu tầng lớp này là một ông vua nắm quyền hành
Nông dân là tầng lớp đông đảo nhất và
có vai trò chủ yếu trong sản xuất, họ nhận ruộng đất để canh tác và nộp tô thuế Nô
lệ là tầng lớp hầu hạ, phục dịch tầng lớp quý tộc, có thân phận thấp kém
Hình 8
Nông dân Lưỡng Hà thu hoạch lúa
Trang 22Nhóm 2: Đọc tài liệu kết hợp với quan sát hình 9 để trình bày cơ cấu giai cấp
của các quốc gia cổ đại phương Tây
Ở các nước phương Tây, chủ nô là tầng lớp có thế lực chính trị và giàu có Họ là những chủ xưởng, chủ các thuyền buôn hay trang trại giàu có, sở hữu nhiều nô lệ Chủ nô chỉ làm việc trong những lĩnh vực nghệ thuật, khoa học hay chính trị Nô lệ: là tầng lớp chiếm số đông trong xã hội, là lực lượng lao động chính trong xã hội Số lượng nô lệ ở Hi Lạp và Rôma rất đông đảo Nô lệ phải làm những công việc cực nhọc ở các trang trại, trong các xưởng thủ công, khuân vác hàng hóa Tầng lớp bình dân: là những người dân
tự do, có nghề nghiệp và chút tài sản riêng để
tự sinh sống bằng lao động của chính mình
Hình 9 Chợ nô lệ ở Roma
Nhóm 3: Đọc tài liệu kết hợp với quan sát hình 10 để trình bầy về thể chế
chính trị của các quốc gia cổ đại phương Đông
Chế độ Nhà nước do vua đứng đầu,
có quyền lực tối cao và một bộ máy quan liêu giúp việc thừa hành Vua:nắm cả pháp quyền và thần quyền Vua tự coi mình là người đại diện của thần thánh ở dưới trần gian, người chủ tối cao của đất nước, tự quyết định mọi chính sách và công việc Vua trở thành vua chuyên chế Ở mỗi quốc gia, vua có những tên gọi khác nhau: Ai cập gọi là Pharaôn; Lưỡng Hà gọi là Enxi
và Trung Quốc gọi là Thiên tử
Hình 10 Tượng Nhân sư – biểu
hiện quyền lực và sức mạnh của
các Pharaôn – Aai Cập
Nhóm 4: Đọc tài liệu kết hợp với quan sát hình 11, để trình bầy về thể chế
chính trị của các quốc gia cổ đại phương Tây
“Ở vị trí tối cao là Nhà nước Athens, được điều hành bởi một hội đồng gồm 500 đại biểu, quản lí Nhà nước này chính là đại hội nhân dân, ở
đó mọi công dân Athens đều có quyền tham gia và biểu quyết….”
Hình 11 Hôi đồng đại biểu 500 người
Trang 23Bước 2 Thực hiện nhiệm vụ được giao
- HS xem hình ảnh, đọc bản đồ, đọc hiểu thông tin, thảo luận nhóm để hoàn thiện phiếu học tập
- GV quan sát và hỗ trợ HS nếu cần
Bước 3 Báo cáo kết quả
- HS báo cáo kết quả: Đại diện một nhóm học sinh báo cáo kết quả, các nhóm khác đổi kết quả cho nhau để đánh giá, nhận xét về kết quả của từng nhóm
Bước 4 GV nhận xét và đánh giá kết quả
Hộp kiến thức của hoạt động tìm hiểu: Xã hội các quốc gia cổ đại
Phương Đông và phương Tây
lữ
- Giữ chức vụ tôn giáo hoặc quản lí bộ máy nhà nước, địa phương, có nhiều của cải và quyền thế
- Nông dân công
xã
- Thành viên của công xã nông thôn
- Nhận ruộng canh tác, nộp thuế, đi lính và lao dịch → nuôi sống xã hội
- Có thế lực về kinh tế và chính trị, sống sung sướng, bóc lột sức lao động nô lệ
- Bình
dân
- Người dân tự do,
có nghề nghiệp và chút tài sản riêng
- Thích an nhàn, sống nhờ trợ cấp xã hội hoặc phụ thuộc vào chủ nô giàu có, khinh miệt lao động chân tay
- Nô lệ - Tù binh bị bắt
trong chiến tranh
- Làm việc nặng nhọc, nuôi sống xã hội, bị khinh bỉ
Trang 24Với việc vận dụng phương pháp trực quan kết hợp với phân tích tư liệu tôi nhận thấy: thông qua quan sát, miêu tả tranh ảnh và đọc tư liệu học sinh được rèn
kỹ năng diễn đạt, lựa chọn ngôn ngữ, lựa chọn thông tin, từ đó họ sinh tự lĩnh hội tri thức Đồng thời qua quan sát tranh ảnh lịch sử luyện cho học sinh thói quen quan sát và khả năng quan sát các vật thể một cách sinh động, khoa học, có phân tích giải thích một cách khái quát, rút ra những kết luận lịch sử
Nhờ những việc làm thường xuyên như vậy mà các thao tác tư duy được rèn luỵên, khả năng phát huy trí thông minh, sáng tạo của học sinh ngày càng nâng cao
2.2 Phương pháp tranh luận trong dạy học lịch sử
2.2.1 Mục tiêu:
- Góp phát phát triển tư duy phản biện cho học sinh Học sinh được tự do tranh luận, phản bác ý kiến của người khác, bảo vệ ý kiến của mình, cũng như những thắc mắc dưới dạng câu hỏi
- Gây hứng thú trong học tập cho học sinh từ đó nâng cao hiệu quả dạy học 2.2.2 Nội dung:
Bộ môn lịch sử THPT nội dung tranh luận gồm:
- Sự kiện lịch sử: đây là nền tảng cơ bản để học sinh nhận thức lịch sử Có nhiều sự kiện, biến cố ảnh hưởng lớn đến lịch sử và gây nhiều tranh cãi, ý kiến trái chiều
- Nhân vật lịch sử: thường xảy ra với nhân vật lịch sử có những việc làm gây tranh cãi
* Lưu ý: Yêu cầu khi sử dụng
- Lựa chọn vấn đề tranh luận:
+ GV có hiểu biết sâu sắc về vấn đề tranh luận
+ GV lựa chọn vấn đề tranh luận phù hợp với năng lực và gây hứng thù cho học sinh
- Tổ chức giờ học:
+ Lên kế hoạch, mục tiêu tranh luận
+ Dự kiến các tình huống có thể xảy ra trong quá trình tranh luận ( thời gian, không khí, các phản ứng của học sinh )
+ GV phải là người có kĩ năng điều khiển tốt: GV đóng vai trò như trọng tài,
là người gợi mở các vấn đề, giải đáp các thắc mắc, động viên, khích lệ học sinh và góp phần là cho không khí tranh luận trở nên sôi nổi
- Đánh giá hiệu quả tranh luận:
Trang 25Vấn đề học sinh đưc ra có thu hút được HS hay không ? Không khí lớp học trong giờ thảo luận ra sao? HS tranh luận như thế nào ? Nó các tác dụng gì về mặt kiến thức, kĩ năng, thái độ cho các em ? GV có thể đưa ra đánh giá kết quả qua việc theo dõi quá trình tranh luận, đưa ra bài tập, bài kiểm tra hay không?
Bước 4: Sau khi cá nhân, các nhóm thu thập được những luận điểm để chứng minh cho quan điểm của mình thì bắt đầu cuộc tranh luận
Ví dụ 1: Áp dụng trong chủ đề: Xã hội nguyên thủy
Áp dụng trong hoạt động khởi động
- Nội dung tranh luận: Quan điểm về nguồn gốc của loài người
- Mục tiêu: Tăng sự thu hút, hứng thú học tập cho học sinh trước khi vào dạy nội dung
- Cách thức thực hiện:
Bước 1: GV nêu vấn đề tranh luận: Quan điểm về nguồn gốc của loài người
Bước 2: GV chỉ ra hai quan điểm phổ biến về nguồn gốc của loài người
Quan điểm thứ 1 ( Quan điểm duy tâm ) cho rằng: Con người là do giới siêu nhiên sinh ra
Quan điểm thứ 2 cho rằng: Con người là do một loài vượn cổ tiến hóa thành Bước 3: GV khảo sát ý kiến đồng ý của học sinh về hai quan điểm vừa nêu, sau đó giáo viên chia lớp thành hai nhóm lớn theo những học sinh có cùng quan điểm
Bước 4: Học sinh hoạt động cá nhân, thảo luận nhóm, thu thập những luận điểm để chứng minh cho quan điểm của mình
Với vấn đề tranh luận nói trên, GV tổ chức HS làm việc theo nhóm trong thời gian khoảng 2 phút Hết thời gian, GV tổ chức HS tranh luận Bằng kiến thức của mình, HS đưa ra ý kiến, quan điểm đánh giá của mình GV khuyến khích HS tăng cường đưa ra ý kiến thông qua các câu hỏi gợi mở
- Dự kiến sản phẩm:
Trang 26mà thần đã sáng tạo, và nhiều chuyện khác nữa,
Người Việt cổ từ xa xưa cũng giải thích theo huyền thoại cho rằng nguồn gốc dân tộc mình là “Con Rồng, cháu Tiên”
Rồi đến kinh thánh của Thiên chúa giáo thì giải thích nguồn gốc các loài vật và loài người một cách có hệ thống, điển hình là chuyên thần Ađam và Eva chỉ trong một tuần lễ đã sáng tạo ra tất cả muôn vật, muôn loài, kể cả loài người Theo kinh thánh thì ngày thứ 5, Tạo hoá đã hoàn thành việc sáng tạo các động vật thuỷ sinh và chim, đến ngày thứ 6 thì xuất hiện các loài động vật khác và con người
Quan điểm thứ 2:
Theo học thuyết tiến hóa Đác- uyn về nguồn gốc của loài người
Dựa vào các bằng chứng của khảo cổ học
Kết thúc tranh luận, GV tổng kết, chốt lại vấn đề bằng cách đưa ra những đánh giá khách quan và gợi cho HS những suy nghĩ sâu sắc hơn: Như vậy cuộc tranh luận của hai đại diện cho ta thấy vấn đề về nguồn gốc loài người vẫn còn nhiếu ý kiến gây tranh cãi Tuy nhiên giải thích về nguồn gốc của loài người phải đứng trên quan điểm khoa học hiện đại, thành quả khoa học hiện đại, thấm nhuần phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Đã có nhiều phát hiện khoa học mới có liên quan tới nguồn gốc con người, trước hết là nguồn gốc sinh học và
tự nhiên của con người (từ khảo cổ học, di truyền học, vật lý thiên văn…) đã khẳng định con người là do một loài vượn cổ tiến hóa thành
GV dẫn dắt : Vậy theo quan điểm khoa học quá trình tiến hóa của con người diễn ra như thế nào? Chúng ta đi vào nội dung bài học
Trang 27
Ví dụ 2 :Áp dụng trong hoạt động hình thành kiến thức mới
- Nội dung áp dụng: Những dấu tích của người tối cổ trên đất nước Việt Nam
- Mục tiêu: Nắm được bước đi đầu tiên của người nguyên thủy trên đất nước Việt Nam
- Cách thức thực hiện:
Bước 1: GV nêu vấn đề tranh luận: Việt Nam có phải là chiếc nôi của nền văn
minh nhân loại hay không ?
Bước 2: GV nêu ra hai quan điểm :
Quan điểm thứ 1 cho rằng: Việt Nam không phải là cái nôi của nền văn minh nhân loại
Quan điểm thứ 2 cho rằng: Việt Nam là cái nôi của nền văn minh nhân loại Bước 3: GV khảo sát ý kiến đồng ý của học sinh về hai quan điểm vừa nêu, sau đó giáo viên chia lớp thành hai nhóm lớn theo những học sinh có cùng quan điểm
Bước 4: Học sinh hoạt động cá nhân, thảo luận nhóm, thu thập những luận điểm để chứng minh cho quan điểm của mình
- Dự kiến sản phầm:
Quan điểm thứ 1 : Việt Nam không phải là cái nôi của nền văn minh nhân loại Trên thế giới ở những nước được coi là nơi đầu tiên có con người sinh sống như Đông Phi, Tây Á, Ấn Độ, Trung Quốc các nhà khoa học đều tìm thấy những
di cốt hóa thạch như xương, răng, những công cụ lao động có niên đại cách ngày nay hàng triệu năm
Ở Việt Nam chỉ tìm thấy những công cụ ghè đẽo thô sơ của người tối cổ
Quan điểm thứ 2 : Việt Nam là cái nôi của nền văn minh nhân loại
Vì căn cứ vào các kết quả khoa học của Ngành Khảo cổ học đã phát hiện được:
Năm 1960, các nhà khoa học đã phát hiện trên sườn núi Đọ những di vật có liên quan đến sự xuất hiện và phát triển của người nguyên thủy thuộc sơ kỳ thời đại đá cũ có niên đại cách ngày nay hơn 30 vạn năm Đó là những công cụ bằng đá được người nguyên thủy chế tạo bằng kỹ thuật ghè đẽo thô sơ bao gồm: Rìu tay, công cụ gần rìu tay, công cụ chặt thô, hạch đá, các loại mảnh tước được tách ra từ quá trình ghè đẽo, chế tác công cụ Các di vật này đều được chế tác từ loại đá gốc bazan có sẵn ở núi Đọ.Hơn 2.500 di vật đã được phát hiện và sưu tầm từ di tích khảo cổ này
Trang 28Văn hóa Ngườm, do các nhà khảo cổ học tìm thấy những mảnh tước ở mái đá Ngườm, Thái Nguyên khoảng 23.000 TCN Văn hóa Ngườm, còn gọi là kỹ nghệ Ngườm là giai đoạn phát triển của người tối cổ sang người tinh khôn (Người khôn ngoan sớm) ở Việt Nam trước nền văn hóa Sơn Vi (từ 18.000 - 11.000 năm cách ngày nay)
Với vấn đề tranh luận nói trên, GV tổ chức HS làm việc theo nhóm trong thời gian khoảng 2 phút Hết thời gian, GV tổ chức HS tranh luận Bằng kiến thức của mình, HS đưa ra ý kiến, quan điểm đánh giá của mình GV khuyến khích HS tăng cường đưa ra ý kiến thông qua các câu hỏi gợi mở
Kết thúc tranh luận, GV tổng kết, chốt lại vấn đề bằng cách đưa ra những đánh giá khách quan và gợi cho HS những suy nghĩ sâu sắc hơn: Trong buổi bình minh của lịch sử, Việt Nam là một trong những quê hương của loài người Người
ta đã phát hiện thấy người vượn ở Bình-Gia (Lạng Sơn), nhiều công cụ thuộc buổi đầu thời kỳ đồ đá cũ ở núi Đọ (Thanh Hoá) Người ta đã phát hiện được ở núi Đọ hàng vạn công cụ đồ đá cũ; người Việt cổ khai thác đá gốc (ba-dan) ở sườn núi, ghè đẽo thô sơ, tạo nên những công cụ chặt, rìu tay, nạo bỏ lại nơi chế tác những mảnh đá vỡ, thuật ngữ khảo cổ gọi là mảnh tước Với những đồ đá đó, người nguyên thủy có thể chặt cây, vót gậy tre, lao gỗ, xẻ thịt, đập vỡ xương thú săn bắt được Loại hình công cụ nghèo nàn, kỹ thuật ghè đẽo thô sơ là đặc điểm của thời
kỳ đồ đá cũ Di tích núi Đọ là bằng chứng về sự có mặt của những chủ nhân sớm nhất trên lãnh thổ Việt Nam vào thời kỳ tổ chức xã hội loài người đang hình thành
Do đó ,cùng với Trung Quốc, Inđônêxia, chúng ta cũng hoàn toàn có thể tự hào vì đất nước Việt Nam đã chứng kiến những bước đi chập chững đầu tiên của loài người, từng trải qua thời kỳ nguyên thủy và là một trong những chiếc nôi của nền văn minh nhân loại
Ví dụ 3: Áp dụng trong bài 8: Sự hình thành và phát triển các vương quốc chính ở Đông Nam Á
Áp dụng trong hoạt động vận dụng và mở rộng
- Nội dung tranh luận: Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đến các quốc gia Đông Nam Á
- Mục tiêu: Học sinh hiểu được tính chất tương đồng về địa lí- lịch sử văn hoá
của khu vực và sự gắn bó lâu đời của các dân tộc ở Đông Nam Á
- Cách thức thực hiện:
Bước 1: GV nêu vấn đề tranh luận: Ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ đến các
quốc gia Đông Nam Á
Bước 2: GV nêu các quan điểm :
Trang 29Quan điểm thứ 1 cho rằng: Hầu hết các nước Đông Nam Á đều tiếp thu văn hóa Ấn Độ và đưa vào đời sống văn hóa của mình
Quan điểm thứ 2 cho rằng: Hầu hết các quốc gia Đông Nam Á tiếp thu có chọn lọc và tiếp diễn văn hóa ( tiếp thu có chọn lọc và phát triển lên) Ấn Độ vào đời sống văn hóa của mình
Quan điểm 3 cho rằng: Nhiều nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam chỉ ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc
Bước 3: GV khảo sát ý kiến đồng ý của học sinh về ba quan điểm vừa nêu, sau đó giáo viên chia lớp thành ba nhóm theo những học sinh có cùng quan điểm Bước 4: Học sinh về nhà hoạt động cá nhân, thảo luận nhóm, thu thập những bằng chứng để chứng minh cho quan điểm của mình
Với vấn đề tranh luận nói trên, GV tổ chức HS tìm hiểu ở nhà GV tổ chức
HS tranh luận trong đầu giờ của tiết học sau Bằng kiến thức của mình, HS đưa ra
ý kiến, quan điểm của mình GV nhận xét, đánh giá, tổng kết
Ví dụ 4: Áp dụng trong bài 11: Tây âu thời hậu kì trung đại
Áp dụng trong hoạt động hình thành kiến thức mới
- Nội dung áp dụng: Hệ quả của các cuộc phát kiến địa lí
- Mục tiêu:
Phân tích được hệ quả của các cuộc phát kiến địa lý đối với Tây Âu thời hậu
kì trung đại nói riêng và thế giới nói chung
Liên hệ được ảnh hưởng của các cuộc phát kiến địa lí đến nước ta thế kỉ XVIII
XVI Cách thức thực hiện
Bước 1: GV nêu vấn đề tranh luận: Quan điểm về hệ quả của các cuộc phát kiến địa lí
Bước 2: GV nêu ra hai quan điểm về hệ quả của các cuộc phát kiến địa lí
Quan điểm 1 cho rằng: Sau các cuộc phát kiến địa lí mở ra quá trình khai hóa
Bước 4: Học sinh hoạt động cá nhân, thảo luận nhóm, thu thập những luận điểm để chứng minh cho quan điểm của mình
Trang 30Với vấn đề tranh luận nói trên, GV tổ chức HS làm việc theo nhóm trong thời gian khoảng 2 phút, thời gian tranh luận 2 phút Hết thời gian, GV tổ chức HS tranh luận Bằng kiến thức của mình, HS đưa ra ý kiến, quan điểm đánh giá của mình GV khuyến khích HS tăng cường đưa ra ý kiến thông qua các câu hỏi gợi
mở
- Gợi ý sản phẩm:
Quan điểm 1: Phát kiến địa lí đã tìm kiếm vùng đất mới để mở rộng giao thương buôn bán, đem đến nền văn minh mới, khai sáng cho những vùng đất mới
và đồng thời đưa đến những cái nhìn mới mẻ về thế giới
Quan điểm 2: Những hành động cướp bóc, buôn bán nô lệ, đánh đập bóc lột người bản địa, tình trạng nghèo nàn lạc hậu ở châu Á và châu Phi
- GV điều hành cuộc tranh luận và chốt ý: Như vậy cuộc tranh luận của hai đại diện cho ta thấy tính 2 mặt trong hệ quả của phát kiến địa lí:
Về tích cực: Mở ra con đường mới, thị trường mới, những kiến thức mới…Góp phần thúc đẩy sự khủng hoảng và tan rã của chế độ phong kiến Châu Âu
Tiêu cực: Tình trạng xâm lược,bóc lột thuộc địa và buôn bán nô lệ…
Qua việc vận dụng phương pháp tranh luận vào trong các tiết dạy ở môn lịch
sử lớp 10 phần lịch sử thế giới nguyên thủy, cổ đại và trung đại nói riêng và trong dạy học lịch sử nói chung tôi thấy các em đều rất hứng thú, lớp học rất sôi nổi, các
em đều rất tích cực đưa ra ý kiến để bảo vệ quan điểm của mình, qua đó góp phần phát triển năng lực giải quyết vấn đề sáng tạo,năng lực tự chủ, trau dồi ngôn ngữ, hình thành phẩm chất tự tin cho HS Nếu được khai thác một cách triệt để, sử dụng với những biện pháp hợp lí, khoa học trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông tôi nghĩ phương pháp tranh luận sẽ góp phần quan trọng nâng cao chất lượng dạy và học môn lịch sử
Trang 312.3 Phương pháp đóng vai
Phương pháp đóng vai là một trong những PPDH tích cực, nhằm phát huy cao
độ tính tự giác, độc lập, sáng tạo của người học Đóng vai là phương pháp tổ chức cho người học thực hành “làm thử” một số cách ứng xử nào đó trong một tình huống giả định, qua việc thể hiện quan điểm thái độ, hành vi của mình trước tình huống được giao Giáo viên nêu các tình huống mở để người học sáng tạo kịch bản, lời thoại phù hợp với nội dung, kĩ năng của mình
2.3.1 Mục tiêu:
- Tạo hứng thú học tập cho học sinh, kích thích tư duy sáng tạo của người học (sáng tạo trong giải quyết tình huống, sáng tạo trong xây dựng kịch bản, thể hiện hình tượng nhân vật…) nâng cao chất lượng dạy học
- PPĐV làm phong phú thêm phương pháp dạy học cho giáo viên, góp phần tích cực vào xu thế đổi mới PPDH lịch sử ở trường phổ thông
- Tạo điều kiện để GV và HS phát huy hết khả năng của mình trong việc truyền đạt lĩnh hội kiến thức và phát triển tư duy, làm thay đổi vai trò của GV, đồng thời tạo nên sự hứng thú, say mê và sáng tạo của HS
- Giúp học sinh nhận thức sâu sắc hơn nội dung lịch sử đang học, phát triển trí tuệ và phẩm chất nhân cách cho HS
- Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh như kĩ năng giao tiếp, kĩ năng giải quyết tình huống, kĩ năng thuyết trình
Đây là hình thức học sinh thể hiện tính cách, con người, hành động của nhân vật lịch sử cụ thể Phương pháp nàygóp phần tạo biểu tượng về nhân vật lịch sử Thông qua vai diễn của mình, học sinh phải khắc họa được hình tượng nhân vật (thần thái, tính cách)…Vì vậy việc “diễn” là phần khá quan trọng Đóng vai thường do một học sinh độc diễn hoặc vài học sinh đảm nhận (đóng vai người dẫn chuyện, đóng vai nhân vật cụ thể…)
Các bước sử dụng phương pháp đóng vai nhân vật trong dạy học lịch sử
Trang 32Bước 1: Giáo viên căn cứ vào nội dung, mục tiêu cụ thể của bài học, nêu ra nhiệm vụ chuẩn bị bài mới (lựa chọn nhân vật để tiến hành đóng vai)
Bước 2: GV chia nhóm và giao nhiệm vụ cụ thể GV đưa ra các tiêu chí (diễn xuất, đạo cụ, thời gian…)
Bước 3: Các nhóm thảo luận, xây dựng kịch bản, phân công vai diễn và thông qua kịch bản với giáo viên
Bước 4: Các nhóm được phân công lên đóng vai theo kịch bản đã xây dựng Bước 5: Nhận xét, đánh giá
- Đại diện nhóm tự nhận xét đánh giá
- Các nhóm còn lại dựa vào các tiêu chí GV đưa ra để nhận xét, bổ sung đặt câu hỏi, phản biện tranh luận
- GV tổng kết đánhgiá
Việc xây dựng kịch bản và tập diễn do học sinh tiến hành trước khi đến lớp, tức là có sự chuẩn bị trước Giáo viên là người chỉ dẫn, sửa kịch bản, tổng duyệt trước khi học sinh diễn trước tập thể lớp Dựa vào nội dung bài học, GV quy định
cụ thể thời gian đóng vai cho học sinh để không làm ảnh hưởng đến tiến trình bài học
Để đóng vai nhân vật, HS sẽ được GV cung cấp thông tin về nhân vật sẽ đóng Nguồn thông tin về nhân vật lịch sử có thể từ: kênh chữ, kênh hình trong sách giáo khoa, sách tham khảo, thông tin trên Internet, thông tin từ địa phương…
Để có được ngoại hình và thần thái giống nhân vật thì đòi hỏi học sinh phải tìm hiểu kĩ về nhân vật đó
GV sử dụng đóng vai nhân vật cho phần khởi động bài học
Ví dụ: Sử dụng phương pháp đóng vai nhân vật lịch sử khi dạy Bài 11: Tây
Âu thời hậu kì trung đại – tiết 2: Phong trào văn hóa phục hưng (Lịch sử 10)
- Mục tiêu: nhằm tạo mâu thuẫn nhận thức giữa kiến thức đã biết và chưa biết
có liên quan đến bài học, yêu cầu học sinh xác định nhiệm vụ học tập của bài và giáo viên dẫn dắt vào bài mới
- Cách thức tổ chức: Tổ chức đóng vai nhân vật
* Chuẩn bị:
Giáo viên giao nhiệm vụ đóng vai cho các nhóm từ tiết học trước
- Nhiệm vụ: Đóng vai các nhân vật tiêu biểu trong phong trào văn hóa phục hưng
- Học sinh tự nguyện xung phong vào vai các nhân vật: Lê-ô-na đơ Vanh-xi, Sếch-xpia, Ga-li-lê