Lịch sử vấn đề Liên quan đến đề tài đã có một số tác phẩm, công trình đề cập ở một khía cạnh hoặc một mức độ nhất định về kinh tế của Tư sản Việt Nam trong giai đoạn này như: Cuốn “Cơ c
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Lớp 10SLS, Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
GVHD: ThS Nguyễn Hữu Giang
Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
Đà Nẵng, 5/2014
Trang 2-MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Lịch sử vấn đề 4
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của đề tài 5
7 Bố cục của đề tài 5
NỘI DUNG 6
Chương 1 TƯ SẢN VIỆT NAM QUA HAI CUỘC KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁP 6
1.1 Công cuộc khai thác thuộc địa ở Việt Nam của thực dân Pháp 6
1.1.1 Khai thác thuộc địa Lần thứ nhất của thực dân Pháp 6
1.1.1.1 Hoàn cảnh của cuộc khai thác thuộc địa 6
1.1.1.2 Chính sách khai thác thuộc địa của Pháp 7
1.1.1.3 Đầu tư của cuộc khai thác thuộc địa 9
1.1.1.4 Hệ quả của cuộc khai thác thuộc địa 10
1.1.2.1 Hoàn cảnh của cuộc khai thác thuộc địa 13
1.1.2.2 Chính sách khai thác thuộc địa của Pháp 13
1.1.2.3 Đầu tư của cuộc khai thác thuộc địa 16
1.1.2.4 Hệ quả của cuộc khai thác thuộc địa 17
1.2 Sự ra đời và phát triển của giai cấp tư sản Việt Nam 18
1.2.1 Mầm mống kinh tế TBCN và sự ra đời của tư sản Việt Nam 18
1.2.2 Sự phát triển của Tư sản Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa 23
Trang 31.2.2.1 Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất 23
1.2.2.2 Trong thời gian chiến tranh thế giới lần thứ nhất 26
1.2.2.3 Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai 27
1.3 Nhận xét 29
Chương 2 KINH TẾ TƯ SẢN VIỆT NAM QUA HAI CUỘC KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁP 31
2.1 Kinh tế Tư sản Việt Nam trong cuộc khai thác thuộc địa Lần thứ nhất 31
2.1.1 Hướng kinh doanh và sản xuất chủ yếu của Tư sản Việt Nam trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất 31
2.1.2 Các thành phần kinh tế Tư bản Việt Nam trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất 35
2.1.3 Mức độ phát triển kinh tế của Tư sản Việt Nam trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất 38
2.2 Kinh tế Tư sản Việt Nam trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai 41
2.2.1 Tư sản Việt Nam trong thời kì Chiến tranh thế giới thứ nhất 41
2.2.2 Điều kiện mới và sự phát triển kinh tế Tư sản Việt Nam trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai 42
2.2.3 Kinh tế của Tư sản Việt Nam trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai 43
2.2.3.1 Kinh tế của Tư sản mại bản 44
2.2.3.2 Kinh tế của Tư sản dân tộc 46
2.3 Nhận xét 49
2.4 Vai trò kinh tế Tư sản Việt Nam trong phong trào yêu nước phát triển xã hội đầu thế kỷ XX đến 1930 51
KẾT LUẬN 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
PHỤ LỤC 59
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa đế quốc Để đáp ứng nhu cầu về thị trường, nguyên liệu và nhân công, các nước đế quốc tiến hành xâm lược, biến các quốc gia độc lập thành thuộc địa của mình
Việt Nam cuối thế kỷ XIX là một quốc gia phong kiến độc lập nhưng do đường lối đối nội và đối ngoại sai lầm, đã từng bước nhượng bộ, đầu hàng thực dân Pháp và với hiệp ước Harmand (1883), Patenôtre (1884), Việt Nam chính thức trở thành thuộc địa của thực dân Pháp
Năm 1897, Paul Đoumer sang làm toàn quyền ở Đông Dương đã thiết lập bộ máy cai trị và vạch ra kế hoạch khai thác thuộc địa ở Đông Dương Chính những chính sách khai thác thuộc địa và hệ quả của nó, kết hợp với những điều kiện bên ngoài đã gây ra sự biến đổi về kinh tế, xã hội Việt Nam Bên cạnh những giai cấp cũ thì cũng đã xuất hiện những tầng lớp, giai cấp mới Tư sản Việt Nam ra đời trong hoàn cảnh này nhưng ban đầu chưa được xem là một giai cấp mà chỉ là một tầng lớp vì còn rất yếu cả về số lượng lẫn thực lực do sự chèn ép của tư sản nước ngoài
Trong giai đoạn chiến tranh thế giới thứ nhất, tình hình nước Pháp và thế giới có nhiều thay đổi, tầng lớp Tư sản Việt Nam có điều kiện vươn lên mạnh mẽ Dù còn hạn chế về số lượng, thế lực kinh tế và chính trị nhưng với tinh thần dân tộc dân chủ, giai cấp tư sản đã vươn lên vũ đài chính trị đấu tranh với thực dân Pháp Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp thì trở thành một giai cấp mạnh mẽ và đóng góp vào phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Vừa mới ra đời, giai cấp Tư sản Việt Nam đã phân hóa thành hai bộ phận Một số ít theo chân đế quốc, tham gia vào các cơ quan chính trị, kinh
tế của đế quốc là Tư sản mại bản và một số khác tuy có mâu thuẫn nhất định với Tư bản Pháp và triều đình phong kiến nhưng thế lực kinh tế yếu ớt, què quặt, phụ thuộc vào khuynh hướng chính trị cải lương nên có tinh thần dân tộc là Tư sản dân tộc
Nghiên cứu về giai cấp Tư sản Việt Nam đầu thế kỷ XX để làm sáng tỏ những đóng góp to lớn về kinh tế và phong trào giải phóng dân tộc Đồng thời giúp chúng ta biết rõ
Trang 5thêm về hướng kinh doanh, thành phần kinh tế và mức phát triển của Tư sản Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp
Với ý nghĩa đó và mong muốn được làm quen với công việc nghiên cứu khoa học, biến quá trình đào tạo của của trường Đại học thành quá trình tự đào tạo của bản thân nên tôi
chọn đề tài “Kinh tế Tư sản Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân
Pháp” để làm khóa luận tốt nghiệp của mình
2 Lịch sử vấn đề
Liên quan đến đề tài đã có một số tác phẩm, công trình đề cập ở một khía cạnh hoặc một mức độ nhất định về kinh tế của Tư sản Việt Nam trong giai đoạn này như:
Cuốn “Cơ cấu kinh tế - xã hội Việt Nam thời thuộc địa 1858 – 1945” của Nguyễn Văn
Khánh, đề cập đến chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và hệ quả của nó là những chuyển biến về cơ cấu kinh tế xã hội Việt Nam
Chuyên đề Một số vấn đề kinh tế Việt Nam thời cận đại 1858 – 1945 của Nguyễn Thị
Đảm, trong đó đề cập đến tình hình kinh tế Việt Nam trước khi bị thực dân Pháp xâm lược và những biến đổi của nền kinh tế Việt Nam thời cận đại, từ đó rút ra đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam thời cận đại
Cuốn Tình hình và đặc tính của giai cấp tư sản Việt Nam thời thuộc Pháp của tác giả
Nguyễn Công Bình đã đề cập đến quá trình hình thành, những trở ngại của và sự phát triển của tư sản Việt Nam thời thuộc Pháp cũng như vai trò của họ trong phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX
Cuốn Đại cương Lịch sử Việt Nam Tập II của Đinh Xuân Lâm (chủ biên) phản ánh một
cách hệ thống lịch sử cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân ta từ khi Pháp xâm lược cho đến 1945 không chỉ về mặt chính trị quân sự mà còn về các mặt kinh tế, xã hội, đặc biệt là
về kinh tế, đồng thời phản ánh quá trình tìm tòi chân lý cứu nước qua các xu hướng cứu nước
3 Mục đích nghiên cứu
Đề tài “Kinh tế Tư sản Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của Pháp” được
nghiên cứu với mục đích:
Trang 6Giai cấp Tư sản Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp: nguồn gốc, điều kiện hình thành, sự phát triển của giai cấp Kinh tế của giai cấp này đóng góp vào nền kinh tế Việt Nam giai đoạn này
Ngoài ra đề tài còn góp phần làm sáng tỏ vai trò lịch sử và thái độ chính trị của giai cấp
Tư sản Việt Nam trong phong trào giải phóng dân tộc
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kinh tế Tư sản Việt nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của Pháp Phạm vi nghiên cứu là giai cấp Tư sản Việt Nam, quá trình hình thành, phát triển, thái độ chính trị, đóng góp của họ trong phong trào yêu nước giải phóng dân tộc của họ trong khoảng thời gian ừ 1896 – 1933
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện khóa luận này, tôi cần sử dụng các nguồn tư liệu đã được sưu tầm thông qua sách, các trang website, tạp chí chuyên ngành lịch sử, Các tài liệu ở Thư viện trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, Thư viện trường Đại học Sư phạm Huế, Thư viện Quân khu 5 Thành phố Đà Nẵng Thư viện Tổng hợp Đà Nẵng, Trung tâm học liệu Đại học Huế, Phòng Tư liệu khoa Lịch sử trường Đại học Sư phạm Huế
Trong quá trình tiến hành nghiên cứu, tôi sử dụng các phương pháp như : phương pháp logic, phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh đối chiếu giữa các nguồn tài liệu, phân tích, đánh giá, tổng hợp…
6 Đóng góp của đề tài
Làm một đề tài thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học cơ bản, mong muốn của tôi là tập hợp những tư liệu đã có để làm sáng tỏ quá trình hình thành giai cấp Tư sản Việt Nam, kinh tế của giai cấp Tư sản Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của Pháp, thái độ chính trị của giai cấp này trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc
7 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo nội dung của đề tài gồm hai chương:
Chương 1: Quá trình hình thành và phát triển của giai cấp Tư sản Việt Nam
Chương 2: Kinh tế Tư sản Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp
Trang 7NỘI DUNG Chương 1
TƯ SẢN VIỆT NAM QUA HAI CUỘC KHAI THÁC THUỘC ĐỊA
CỦA THỰC DÂN PHÁP
1.1.1 Khai thác thuộc địa Lần thứ nhất của thực dân Pháp
1.1.1.1 Hoàn cảnh của cuộc khai thác thuộc địa
Từ cuối thế kỉ XIX, sau khi Hàm Nghi xuất binh và phát hịch Cần Vương, một phong trào khởi nghĩa vũ trang từ Nam chí Bắc rầm rộ nổ ra rồi tàn lụi dần Sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Hương Khê (1896) được xem như mốc đánh dấu sự kết thúc của phong trào Cần vương và chấm dứt vai trò của giai cấp phong kiến Một số thổ hào địa phương nổi dậy ngay từ khi thực dân Pháp mới đặt chân tới đất nước ta đến nay tuy vẫn còn cố gắng cầm cự, nhưng cũng chỉ đóng khung trong phạm vi nhỏ hẹp từng vùng và trên con đường tan rã Duy có cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế do Đề Thám (Hoàng Hoa Thám) lãnh đạo trong tình thế bị bao vây o ép nên đến tháng 12 - 1897 buộc phải đình chiến lần thứ hai với kẻ thù Thực dân Pháp cố tranh thủ thời gian này chuẩn bị mọi điều kiện chờ ngày triệt hạ pháo đài cuối cùng của phong trào khởi nghĩa của nhân dân ta Về phía nghĩa quân thì những hoạt động cuối cùng từ 1909 đến 1913 là những đợt sóng cuối cùng của một cao trào yêu nước chống xâm lược của nhân dân ta
Thực dân Pháp như vậy về căn bản đã hoàn thành công cuộc bình định Việt Nam về mặt quân sự, và trong bối cảnh đó đã có thể bắt tay vào khai thác thuộc địa Việt Nam nói riêng cũng như Đông Dương nói chung một cách quy mô Thời gian mà Pháp xâm lược Việt Nam cũng là thời kì chủ nghĩa tư bản Pháp chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa nên nhu cầu nguyên liệu, thị trường, nhân công rất lớn Chính Giuyn Phêri đã nói rõ sự
cần thiết phải bánh trướng vì kinh tế như sau: “Chính sách thực dân phải làm như thế nào
chiếm được thị trường tiêu thụ hàng hóa cho Pháp, phải chiếm được những nơi có nguồn nguyên liệu đầu tiên cho Pháp” Người Pháp đã nhìn rõ lợi ích kinh tế của Pháp ở Việt
Nam Kĩ sư Sácpăngchiê nói rõ ràng mục đích Pháp xâm chiếm Việt Nam như sau: “Nam
Kì thì do những đồng ruộng giàu có của nó và cảng Sài Gòn của nó rất kín gió và được bảo vệ chu đáo trên sông Cửu Long…Trung Kì thì do những đồn điền chè, bông của nó,
Trang 8các mỏ than và vàng của nó, nghề chài lưới hay công nghiệp lụa của nó…nhưng chính tương lai tốt đẹp nhất là giành cho Bắc Kì, nhờ sự giàu có của các mỏ của nó,đồng ruộng của nó, đồn điền khác nhau của nó Bắc Kì có những loại tài nguyên vào hàng quan trọng nhất và có thể không những dùng làm đường qua lại hay đường kênh cho hàng hóa xuất khẩu hay nhập khẩu của Trung Quốc, mà còn rút ra từ đất đai, và lòng đất của nó một nguồn thu nhập lớn cho nước Pháp”
Ngày 22 – 3 – 1897, Toàn quyền Đông Dương Pôn Đume (Paul Doumer) gửi cho Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp dự án chương trình khai thác thuộc địa Như vậy, mục đích khai thác thuộc địa của Pháp là vì kinh tế, vì lợi nhuận để xuất khẩu sản phẩm công nghiệp của dân tộc, để tăng cường vơ vét nguyên liệu với số lượng vô tận, tăng cường
xuất khẩu tư bản Sênô trong cuốn Đóng góp vào lịch sử dân tộc Việt Nam đã đánh giá cao Đoumer:“Chính ông đã đưa chế độ thuộc địa từ giai đoạn kinh nghiệm chủ nghĩa hầu
như “thủ công" sang giai đoạn tồ chức hệ thống Chính ông đã tạo dựng bộ máy thống nhất về bóc lột tài chính và đàn áp chính trị trong thực tế sẽ được duy trì nguyên vẹn đến tận 1945”
1.1.1.2 Chính sách khai thác thuộc địa của Pháp
Thiết lập bộ máy thống trị
Để phục vụ kịp thời và đắc lực cho công cuộc khai thác, Đoumer chú ý tới việc thiết lập một bộ máy chính trị sao cho vừa tận dụng được chính quyền bản xứ, đồng thời đưa cách cai trị mới vào Tức chú ý đến chính sách chia để trị và dùng người Việt trị người Việt
Ở cấp trung ương, chia thành ba xứ với ba chế độ khác nhau Ở Bắc Kì và Trung Kì là đất bảo hộ, đứng đầu Bắc Kì là viên Khâm sứ (người Pháp), đứng đầu Trung Kì là Thống
sứ (người Pháp) Còn Nam Kì là đất thuộc địa của Pháp, đứng đầu là viên Thống đốc Đứng đầu tỉnh là viên Công sứ người Pháp, còn đứng đầu thành phố có chánh, phó Đốc lí với Tòa Đốc lí và Uỷ Ban thành phố
Cơ quan quyền lực cao nhất ở Đông Dương là phủ Toàn quyền, do viên Toàn quyền người Pháp đứng đầu Nhân viên đều là người Pháp Tại Nam Kì có phủ Thống đốc, có khi là Phó Toàn quyền Thực dân Pháp cũng tăng cường bộ máy quân sự, cảnh sát, nhà tù Thực hiện chính sách dùng người Việt trị người Việt, dùng binh lính thuộc địa để bảo vệ thuộc địa, tăng cường bắt lính để xâm lấn thuộc địa và giữ trật tự nơi bản xứ Hệ thống tòa
án, nhà tù cũng dày đặc khắp Việt Nam
Trang 9 Về văn hóa, giáo dục
Ngu dân về mặt giáo dục, đầu độc về mặt văn hóa là một trong những biện pháp cai trị của bọn thực dân Pháp duy trì nền giáo dục Hán Nho lạc hậu để làm công cụ thống trị
về mặt tư tưởng, tinh thần Mục đích của nền giáo dục thuộc địa là duy trì vĩnh viễn ách thống trị của Pháp, nếu có thì chỉ đào tạo đội ngũ tay sai làm việc cho chính quyền của Pháp Về mặt văn hóa thì đầu độc nhân dân Việt Nam bằng rượu và thuốc phiện là một trong những việc làm cơ bản nhất Ở Việt Nam, rượu và thuốc phiện được bày bán công khai, đem lại hàng năm 15 triệu France tiền lãi cho công ty của Pháp Khắp đất nước, chỗ nào cũng có đại lý rượu, thuốc phiện mang tên R.O hoặc R.A có lá cờ ba sắc của nước Pháp treo trước cửa Những thói hư tật xấu vẫn được duy trì, hủ tục ma chay, cưới hỏi, đồng bóng, mê tín dị đoan ngày càng nặng nề Nhân dân thất học đến 95% Theo Nguyễn
Ái Quốc: “ Cứ 1000 làng thì có đến 1500 đại lý bán lẻ thuốc phiện nhưng cũng trong
1000 làng ấy chỉ có vẻn vẹn 10 trường học” Nguyễn Ái Quốc cũng đã viết trong “Bản án chế độ thực dân Pháp” như sau: “Rượu cồn và thuốc phiện cùng báo chí phản động của bọn cầm quyền bổ sung cho công cuộc ngu dân của chính phủ Máy chém và nhà tù làm nốt phần còn lại”
Về kinh tế
Về kinh tế Pháp chú ý đến việc tận thu lợi nhuận tối đa từ bản xứ và hạn chế đầu tư Chỉ đầu tư những gì cần thiết phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa
Trong lĩnh vực nông nghiệp: Năm 1897 Pháp ép triều đình nhượng quyền khai khẩn
đất hoang mà thực chất là cướp đoạt ruộng đất của nông dân Pháp tập trung vào chính sách cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền, trồng các loại cây công nghiệp như cao su, chè, tiêu, cà phê Năm 1890 cả nước bị thự dân Pháp chiếm 10.900 ha, năm 1900 chiếm 301.000 ha, , năm 1910 ở Nam Kì là 1.528.000 ha, năm 1912 là 470.000ha ở Bắc Kì Pháp kết hợp cách bóc lột phong kiến cũ bằng phát canh thu tô, đồng thời đưa cách bóc lột mới vào bằng cách thu thêm nhiều loại thuế mới nữa Xã hội Việt Nam vốn 90 % là nông dân, cơ sở kinh tế của họ là ruộng đất, nay bị thực dân Pháp cướp đoạt tư liệu sản xuất, bóc lột trăm bề nên vô cùng cực khổ
Trong lĩnh vực công nghiệp: Pháp đẩy mạnh khai thác tài nguyên thiên nhiên mà
trước hết là việc khai thác khoáng sản Như Paul Đoumer đã viết khi nói về Bắc Kì:
“Không một xứ sở nào trên thế giới này lại có nhiều nguồn lợi như cái xứ Bắc Kì Biết bao ngành kĩ nghệ cần phải thiết lập, biết bao chiến dịch xán lạn cần phải vạch ra…Xứ
Trang 10Bắc Kì giàu cố Từ nơi đây, chính quốc tha hồ mà bòn rút đầy tay của cải để đem về nước Ngành xuất cảng của nước Pháp cũng sẽ thấy nơi đây là một nguồn tiêu thụ hàng hóa rất có lợi cho mình” [7;tr.112] Việt Nam có các mỏ khoáng sản như than ở Quảng
Ninh, thiếc ở Cao Bằng, kẽm ở Bắc Kạn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, vàng Bồng Miêu (Quãng Nam)…Ngoài ra Pháp còn đẩy mạnh xây dựng các ngành công nghiệp nhẹ như xi măng, vải, dệt, điện, nước, chế biến nông lâm, xay xát tại các cụm công nghiệp, thành phố lớn để phục vụ cho nhu cầu tại chỗ của chúng Số lượng xí nghiệp ngày càng tăng lên Năm 1903 có 82 xí nghiệp thì 1906 đã là 200 xí nghiệp
Phương thức hoạt động của tư bản thực dân Pháp là tranh thủ nguồn nhân công rẻ mạt, thị trường tiêu thụ rộng lớn, kết hợp phương thức bóc lột tư bản chủ nghĩa và tiền tư bản chủ nghĩa
Trong lĩnh vực thương nghiệp: Phương châm là thuộc địa Đông Dương phải dành
cho Pháp Pháp độc chiếm thị trường, nguyên liệu, thu thuế Việt Nam phải xuất khẩu các loại tài nguyên cho Pháp và phải nhập về tất cả các thành phẩm của nước Pháp Pháp ngăn cản công nghiệp thuộc địa phát triển vì sợ cạnh tranh với công nghiệp chính quốc Các ngành công nghiệp bông, dệt vải của Pháp đã bóp chết các ngành thủ công truyền thống của nước ta Chỉ có những mặt hàng lạ, mĩ nghệ mới được duy trì nhưng cũng bị thu mua với giá rẻ mạt
Trong lĩnh vực giao thông vận tải: Thực dân Pháp đã xây dựng một hệ thống giao
thông đường sắt và đường bộ ở Việt nam nhằm nối liền các khu kinh tế, tăng cường bóc lột kinh tế và đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân ta Đến năm 1912 thì trên nước ta
đã xây dựng được 20.000km đường sắt nhằm chở hàng hóa nguyên liệu và đưa quân đội đến nơi cần thiết đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân ta Đường bộ được xây dựng,
mở rộng tới các hầm mỏ, bến cảng
1.1.1.3 Đầu tư của cuộc khai thác thuộc địa
Pháp đã chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc nên hoạt động kinh tế chủ yếu là xuất khẩu Tư bản ( khác với trước đây là đầu tư trong nước) Việt nam là nước nhận tư bản chủ yếu của Pháp Từ năm 1859, khi Pháp xâm chiếm Nam Kì, theo chân các đoàn viễn chinh, các tập đoàn tư bản Pháp đã xâm nhập kinh doanh ở Việt Nam Trên thị trường Việt Nam xuất hiện vốn đầu tư nước ngoài, tiền tệ cũng biến đổi Đánh dấu việc thâm nhập thực sự của vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam là sự ra đời của Ngân hàng Đông Dương năm 1875 Ngân hàng Đông Dương dùng tiền để tham gia các hoạt động
Trang 11kinh doanh và cho vay nặng lãi Theo chân Ngân hàng Đông Dương, các tập đoàn tư bản Pháp cũng đầu tư vào Việt Nam như công ty vận tải đường sông Nam Kì, công ty Pháp
mỏ than Bắc Kì v v Công cuộc đầu tư khai thác thuộc địa ở Đông Dương trở nên mạnh
mẽ khi Pháp tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất Từ năm 1896 đến 1914có 514 triệu France vàng được đầu tư vào Việt Nam Từ 1888 đến 1920 có 500 triệu France vàng Từ 1924 đến 1929 có từ 3 đến 4 tỷ France vàng vốn đầu tư của tư nhân
Số vốn đầu tư vào Việt Nam được dùng để xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ sản xuất cho các ngành công nghiệp khai mỏ, cao su,cho các đồn điền chủ vay để duy trì sản xuất, tránh bị phá sản
Ở Nam Kì, tư bản Pháp bỏ vốn hoặc hùn vốn để tư nhân khai thác, thành lập các công
ty kinh doanh trong các ngành kinh tế chủ yếu là công nghiệp và nông nghiệp Trong nông nghiệp, số vốn tập trung đầu tư vào cao su và hồ tiêu Bên cạnh các ngành trên, Pháp đầu tư vào công nghiệp chế biến Những sản phẩm nông nghiệp được chế biến ngay tại chỗ với những nhà mấy xay xát lúa gạo, nấu rượu Những thành phẩm được tiêu thụ rộng rãi ở trong và ngoài nước, lợi nhuận cao
1.1.1.4 Hệ quả của cuộc khai thác thuộc địa
Về mặt kinh tế : Cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp gây ra đối với một số nước
trên thế giới và cả Việt nam đã làm cho các thành thị và một số ngành công nghiệp bị thiệt hại Chính vì vậy sau khi đã chiếm được Việt Nam chúng dùng chính sách thuế vơ vét tài nguyên, của cải ở Việt Nam Dưới tác động của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của Pháp ngoài yếu tố tích cực là du nhập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa thì những yếu tố tiêu cực nhiều hơn:
Thứ nhất tài nguyên thiên nhiên sẽ bị cạn kiệt bởi chính sách khai thác của Pháp Chính sách kinh tế thuộc địa không cho phép công nghiệp Việt Nam cạnh tranh với công nghiệp Pháp nên đầu tư vào ngành mỏ sẽ an toàn hơn cả, không tổn hại đến công nghiệp chính quốc và thu được lợi nhuận cao Tổng thống Pháp kí sắc lệnh về mỏ ở Đông Dương vào ngày 16/10/1888; 25/2/1897; 26/12/1912 cho phép thực dân đi thăm dò các mỏ trên đất nước ta Các giấy phép thăm dò và tiến hành khai thác khoáng sản ngày càng nhiều
Năm Số giấy phép thăm
dò
1907 469
Trang 12Thứ hai, nông nghiệp sẽ sa sút do chính sách cướp đoạt ruộng đất, nông dân tiêu điều,
bị bần cùng hóa Theo sau những tên lính xâm lược là những nhà thực dân nông nghiệp để khai thác đất đai Năm 1894, Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp Delcasse đã phát biểu vấn đề
như sau: “khai thác những vùng lãnh thổ rộng lớn mà chúng ta đã chiếm được, thiết lập ở
đó các đồn điền, phát triển sức sản xuất của thuộc địa và bằng chính những con đường
đó phát triển mối quan hệ về thương mại với chính quốc”.[12;44] Pháp chiếm những
ruộng đất để lập đồn điền cao su, thu mua lúa gạo để xuất khẩu đẩy nông dân vào con đường bần cùng hóa
Thứ ba, công nghiệp sẽ phát triển nhỏ giọt,thiếu hẳn công nghiệp nặng Lẽ ra trong điều kiện ngoại thương mở rộng, công thương nghiệp Việt Nam thuận lợi hơn để phát triển Nhưng tư bản Pháp kiểm soát chặt chẽ thị trường Việt Nam Những thương cảng đều do Pháp nắm giữ Bằng chính sách thuế quan, Pháp ngăn cản công thương nghiệp phát triển và tiếp xúc thị trường ngoài nước Việc chú trọng vào các ngành công nghiệp nhẹ như điện nước, đân dụng sẽ thiếu hẳn công nghiệp nặng
Thứ tư, việc độc chiếm thị trường sẽ biến Việt Nam thành thị trường tiêu thụ của Pháp Pháp thực hiện bảo hộ mậu dịch, hàng hóa Pháp đưa vào Việt Nam đánh thuế rất thấp so với các nước khác Không những thế, Việt Nam phải xuất cảng các loại kim loại, lúa gạo, nông sản cho đến hàng mĩ nghệ nhưng lại phải nhập vào từ cái kim đến hàng tiêu dùng, thanh sắt đường ray Tất cả đều phụ thuộc Pháp, tiêu thụ hàng hóa cho Pháp
Về mặt xã hội: Cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, với chinh sách khai thác,
bóc lột, đã làm cho cơ cấu kinh tế Việt Nam thay đổi kéo theo sự phân hóa các giai cấp cũ trong xã hội đồng thời làm nảy sinh những lực lượng xã hội mới
Trang 13Trước hết giai cấp cũ là địa chủ phong kiến và nông dân: Một ít bộ phận địa chủ phong kiến dựa vào thực dân Pháp, ra sức chiếm đoạt ruộng đất của nông dân và trở nên giàu có Họ là lực lượng thân Pháp, làm tay sai cho Pháp Bộ phận địa chủ vừa và nhỏ có tinh thần yêu nước, họ có mâu thuẫn về quyền lợi với thực dân Pháp, bị thực dân Pháp chèn ép nên có tinh thần chống Pháp nếu lôi kéo được
Giai cấp nông dân: hơn 90 % dân số Việt Nam là nông dân Họ vốn đã khốn khổ bởi những nạn thuế khóa, phu phen, địa tô tạp dịch thì Chính sách cướp đoạt ruộng đất của thực dân Pháp đã làm cho những người nông dân bị mất tư liệu sản xuất, họ phải vào các hầm mỏ, đồn điền để làm thuê Một số đi làm tá điền cho các nhà địa chủ Biến thành những bần nông hay cố nông đi bán sức lao động để kiếm sống
Thợ thủ công cũng bị chính sách độc chiếm thị trường của thực dân Pháp bóp nghẹt Trừ một số nghề thủ coong mĩ nghệ ở các đô thị có điều kiện phát triển, nói chung các nghề thủ công và nghề phụ ở nông thôn bị đình trệ Qúa trình bần cùng hóa của thợ thủ công diễn ra nhanh chóng
Bên cạnh sự phân hóa giai cấp cũ là sự xuất hiện các tầng lớp mới
Trước hết là tầng lớp công nhân: đa phần là những người xuất thân từ nông dân, còn gắn bó mật thiệt với ruộng đất Đó chính là nguyên do công nông Việt Nam có mối liên
hệ mất thiết với nhau trong phong trào đấu tranh sau này Ngoài ra, sự phát triển của công thương nghiệp đã dẫn đến sự nẩy sinh những người ở thành phố làm thuê, ăn lương Một
số ít nông dân không đủ thu nhập khi hết mùa vụ, họ ra các thành phố làm thêm kiếm thêm thu nhập Số khác nữa là những mộ phu, công nhân bị cưỡng bức phải đi làm các công trình xây dựng của Pháp
Tầng lớp tư sản: cùng với sự xâm nhập của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, thời kì này xuất hiện những lớp người tư sản đầu tiên Họ là chủ những hiệu buôn, những người làm kinh doanh, thầu khoán Một số người đứng ra nhận thầu các bộ phận kinh doanh của Pháp như thầu làm đường, cầu, xe lửa, cung cấp lương thực Điển hình có thể
kể đến là Đinh Tráng, Đinh Hòe làm thầu và sử dụng đến 500 phu Một số người có tiền, học chung vốn, cổ phần vào các công ty Pháp – Việt cũng trở thành tư sản Một bộ phận khác kinh doanh riêng biệt nhằm phát triển theo một hướng độc lập Họ trước cũng làm với Pháp nhưng sau khi đã có đủ vốn thì tự tách ra kinh doanh riêng Bạch Thai Bưởi là một nhà Tư sản như vậy Ông xuất thân từ một gia đình nghèo khó Ông từng làm thư kí cho một viên công chức Pháp Rồi trải đủ nghề như thư kí hiệu buôn, mở tiệm cầm đồ
Trang 14Năm 1897 Pháp xây dựng cầu Long Biên, ông đứng ra làm thầu khoán, vượt qua nhiều khó khăn, ông có cố vốn nhất định Sau đó ông chuyển hướng kinh doanh vận tải đường biển khi mà giao thông trong nước còn nhiều khó khăn Bằng cách nêu cao tinh thần dân tộc, ông đã chiến thắng những Hoa kiều và đững vững trong nghề Ông được mệnh danh
là bậc anh hùng kinh tế của nước nhà đương thời Một số khác xuất thân từ địa chủ nông thôn giàu có, chuyển một phần vốn sang kinh doanh công thương nghiệp với ý thức chống lại độc quyền của thực dân Pháp Như Trương Văn Bền là một đại địa chủ, có 17.000 ha đất là chủ một xí nghiệp xà phòng, sử dụng đến 700 công nhân Một số quan lại cáo quan
về quê chuyển sang kinh doanh công thương nghiệp với ý thức phát triển kinh tế dân tộc Đại diện như Nghiêm Xuân Quãng là Án sát Lạng Sơn thành lập công ty Quảng Hợp Ích
Có những sĩ phu yêu nước họ hoạt động kinh doanh nhằm hỗ trợ cho hoạt động chính trị Tầng lớp tiểu sư sản là những tiểu chủ, tiểu thương, những nhà trí thức, học sinh sinh viên Họ có ý thức dân tộc và là những người tiếp thu tư tưởng mới trong giai đoạn tiếp theo
1.1.2 Khai thác thuộc địa Lần thứ hai của thực dân Pháp
1.1.2.1 Hoàn cảnh của cuộc khai thác thuộc địa
Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc với thắng lợi thuộc về phe Hiệp ước Pháp là một nước thắng trận nhưng ra khỏi cuộc chiến với những tổn thất nặng nề về kinh tế và tài chính Chiến tranh đã phá hoại các thành phố, nhà máy, xí nghiệp, các công trình giao thông Do đó nhiều ngành sản xuất bị đình trệ, hoạt động ngoại thương cũng như nội thương sa sút trầm trọng Chiến tranh cũng làm cho vốn đầu tư tư bản Pháp ở nước ngoài
bị mất sạch, nhất là ở Nga Tình hình kinh tế trong nước lại không ổn định do lạm phát, giá cả đắt đỏ do hàng hóa khan hiếm, phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân phát triển mạnh mẽ
Để nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục sản xuất trong nước, củng
cố lại vị của mình trên trường quốc tế, chính quyền thực dân Pháp ngoài tìm biện pháp khôi phục kinh tế trong nước, đồng thời tăng cường đầu tư, khai thác thuộc địa ở Đông Dương và ở Châu Phi Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai này, về chính sách tương tự như lần thứ nhất nhưng đẩy nhanh về quy mô và tốc độ đầu tư Thời gian tiến hành khai thác là từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất cho đến trước cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 -1933
1.1.2.2 Chính sách khai thác thuộc địa của Pháp
Trang 15Chính sách khai thác của Pháp cũng tập trung vào tất cả các ngành nhưng nhấn mạnh vào các ngành đầu tư ít, lợi nhuận cao và an toàn cao Nông nghiệp và công nghiệp khai thác là hai ngành Pháp chú ý nhiều nhất
Về kinh tế
Về nông nghiệp: Nếu trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, số vốn đầu tư của
Pháp tập trung chủ yếu vào ngành khai mỏ và giao thông vận tải thì vào thời kì này, tư bản Pháp lại đổ xô sang kinh doanh nông nghiệp và đẩy mạnh khai thác khoáng sản Nguyên nhân là do Pháp bị mất số vốn đầu tư trước đó nên Pháp chỉ muốn đầu tư ít và thu
về lợi nhuận cao hơn mà thôi Năm 1924, vốn đầu tư vào nông nghiệp là 50 triệu phrăng,
đến năm 1927 đã lên đến 400 triệu France, gấp 10 lần trước chiến tranh Diện tích các đồn
điền cao su, trồng lúa, cà phê, được mở rộng Diện tích trồng cao su từ 1500 ha năm
1918 lên đến 78.620 ha năm 1930 Nhiều công ty trồng cây cao su ra đời: Công ty đất đỏ, Công ty Mi-sơ-lanh, Công ty trồng cây nhiệt đới
Về công nghiệp: Tư bản Pháp chú trọng đầu tư vào khai thác mỏ, trước hết là mỏ
than mà nguyên nhân do Pháp thiếu nhiên liệu: Nhiều công ti khai thác than mới được thành lập như Công ti than Hạ Long - Đồng Đăng, Công ti than và kim khí Đông Dương,
Công ti than Tuyên Quang, Công ti than Đông Triều
Ngoài than, các cơ sở khai thác mỏ thiếc, kẽm, sắt đều được bổ sung thêm vốn, tăng thêm công nhân và đẩy mạnh tiến độ khai thác Một số cơ sở chế biến quặng kẽm, thiếc, các nhà máy tơ sợi Hải Phòng, Nam Định, nhà máy rượu Hà Nội, Nam Định, nhà máy diêm Hà Nội, Bến Thủy, nhà máy đường Tuy Hòa, gạo Chợ Lớn đã được nâng cấp và mở rộng quy mô Từ năm 1918 đến 1930, vốn đầu tư của các công ty lên đến 3792,4 triệu France Pháp ngoài lập nhiều công ty mới còn tăng vốn các công ty cũ Chẳng hạn công ty than Bắc Kì vốn tăng gấp 9 lần: năm 1888 vốn là 4 triệu France thì năm 1927 tăng lên 38,4 triệu France Có công ty tăng gấp 16,5 lần như: công ty xi măng Portland từ 1899 là 1,5 triệu France đến 1930 là 24 triệu France
Về thương nghiệp: Chính quyền Pháp đánh thuế nặng vào hàng hóa của nước ngoài,
nhất là hàng của Trung Quốc và Nhật Bản Bằng chính sach độc quyền ngoại thương , tư bản Pháp đã tạo điều kiện đưa hàng hóa Pháp sang tràn ngập Việt Nam Việt Nam phải
xuất khẩu các mặt hàng như khoáng sản và các sản phẩm nông lâm nghiệp như lúa, gạo,
cao su, chè, cà phê Đặc biệt là cao su, do nhu cầu cao su sau chiến tranh tăng cao nên các nhà tư bản Pháp tăng cường đầu tư khai thác và xuất khẩu Ngoại thương có sự tăng tiến
Trang 16hơn trước: trước chiến tranh, hàng hóa Pháp nhập vào Đông Dương mới chiếm 37 %, đến những năm 1929 - 1930 đã lên đến 63 % tổng số hàng nhập Quan hệ giao lưu buôn bán nội địa cũng được đẩy mạnh
Trong lĩnh vực Giao thông vận tải:
Để đáp ứng yêu cầu của công cuộc khai thác Pháp chú trọng phát triển giao thông vận tải nhằm phục vụ công cuộc khai thác và vận chuyển nguyên vật liệu, lưu thông hàng hóa trong nước và nước ngoài Tuyến đường sắt xuyên Đông Dương được nối thêm đoạn Đồng Đăng - Na Sầm (1922), Vinh - Đông Hà (1927) Đến năm 1932, Pháp đã xây dựng
2389 km đường sắt trên lãnh thổ Việt Nam Hệ thống giao thông đường thủy tiếp tục được khai thác Ngoài các cảng đã có từ trước như cảng Hải Phòng, Sài Gòn, thực dân Pháp xúc tiến xây dựng các cảng Hòn Gai, Bến Thủy Các tuyến đường liên tỉnh và nội tỉnh được xây dựng thêm và đẩy nhanh tiến độ Tính đến 1930 đã xây được được 15000
km đường quốc lộ và đường liên tỉnh Các đô thị được mở rộng và dân cư đông hơn
Chính sách thuế: Ngân hàng Đông Dương nắm trọn quyền chỉ huy kinh tế Đông
Dương: phát hành giấy bạc và cho vay lãi Ngân hàng Đông Dương còn có cổ phần trong hầu hết các công ti và xí nghiệp lớn Thi hành biện pháp tăng thuế nặng nên ngân sách Đông Dương thu được năm 1930 tăng gấp 3 lần so với năm 1912
Như vậy, chính sách khai thác thuộc địa của chúng nhìn chung về căn bản vẫn không thay đổi: hết sức hạn chế sự phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng như các nghành luyện kim, cơ khí, hóa chất, nhằm cột chặt Đông Dương vào nền công nghiệp của nước Pháp và biến Đông Dương thành thị trường độc chiếm của tư bản Pháp
Những chính sách về chính trị, văn hóa, giáo dục của thực dân Pháp:
Sau chiến tranh, chính sách thống trị của thực dân Pháp ở Đông Dương vẫn không thay đổi mà còn tăng cường để phục vụ sự thống trị của chúng và đẩy mạnh khai thác thuộc địa Đó chính là chính sách chuyên chế, mọi quyền hành đều nằm trong tay thực dân Pháp và bọn tay sai trung thành của chúng Bộ máy đàn áp, cảnh sát, mật thám, nhà tù vẫn tiếp tục được củng cố và hoạt động ráo riết Một số tổ chức chính trị, an ninh, kinh tế được thành lập Thực dân Pháp thi hành một vài cải cách chính trị - hành chính để đối phó với những biến động đang diễn ra ở Đông Dương như mở rộng các công sở cho người Việt, tăng thêm số người Việt trong các Phòng Thương mại và Canh nông ở các thành phố lớn, Lập Viện Dân biểu Trung Kì (2 - 1926), Viện Dân biểu Bắc Kì (4 - 1926) Ở các làng, xã, chúng thông qua bộ phận cầm đầu ở hương thôn để nắm sâu xuống các địa
Trang 17phương Văn hóa, giáo dục cũng có sự thay đổi: Đến tháng 12 - 1917, Toàn quyền Đông Dương lập Hội đồng Tư vấn học chính Đông Dương với chức năng đề ra những quy chế cho nghành giáo dục Hệ thống giáo dục được mở rộng gồm các cấp tiểu học, trung học, cao đẳng và đại học Mô hình giáo dục có tính hiện đại đang hình thành ở Đông Dương
Cơ sở xuất bản, in ấn xuất hiện ngày càng nhiều với hàng chục tờ báo, tạp chí chữ Pháp
và chữ Quốc ngữ Nhà cầm quyền Pháp sử dụng báo chí, văn hóa, để phục vụ công cuộc khai thác và thống trị của chúng; ưu tiên khuyến khích xuất bản các sách báo theo chủ trương Pháp - Việt đề huề Các phong trào tư tưởng, khoa học - kĩ thuật, văn hóa, nghệ thuật phương Tây có điều kiện tràn vào Việt Nam Các ngành văn học, nghệ thuật ( hội họa, điêu khắc, kiến trúc, ) đã có những biến đổi mới về nội dung, văn hóa mới tiến bộ
và ngoại lai nô dịch cùng tồn tại, đan xen, đấu tranh với nhau
1.1.2.3 Đầu tư của cuộc khai thác thuộc địa
Thực dân Pháp đã đầu tư mạnh với tốc độ nhanh, quy mô lớn vào các ngành kinh tế Việt Nam Pháp đầu tư mạnh mẽ vào các ngành kinh tế ở Việt Nam Số vốn đầu tư tăng nhanh qua các năm Chỉ trong vòng 6 năm (1924 - 1929), số vốn đầu tư vào Đông Dương, chủ yếu là Việt Nam lên đến 4 tỉ phrăng (tăng 6 lần so với trước chiến tranh) Riêng năm 1920 là 255 triệu france Số vốn đầu tư phân bố các ngành như sau:
Ngành Tổng số tiền (triệu
france)
Tỉ lệ phần trăm
Công nghiệp (chế biến,
công chính, điện nước
Mỏ và mỏ đá
Nông lâm nghiệp
Thương mại, vận tải
Bất động sản, ngân hàng
369,2
546,4 900,2 422,5 623,9
12,9
19,1 31,4 14,8 21,8 Cộng: 2.862,2 100 % Vốn của tư nhân thì đầu tư vào kinh doanh nông nghiệp, công nghiệp, thương mại, giao thông vận tải, bất động sản v v Vốn đầu tư của nhà nước thì đầu tư vào xây dựng
Trang 18cơ sở hạ tầng, kinh tế, xã hội Việc đầu tư này đi trước tư bản tư nhân và thúc đẩy tư bản
tư nhân mạnh dạn đầu tư vào thuộc địa Ngoài việc xây dựng cơ sở hạ tầng, vốn nhà nước còn được dùng để hỗ trợ cho các ngành sản xuất, cao su, cho các điền chủ vay để duy trì sản xuất
Người Pháp cho rằng họ chiếm Việt Nam không phải để giành những lô đất để tự làm
lấy mà để biến nó thành “một cơ sở kinh doanh lớn để điều khiển” Với cách nhìn đó, tư
bản Pháp đổ xô vào nông nghiệp, nhưng trước chiến tranh thì còn ít, chỉ bằng 1/10, còn sau chiến tranh thì tư bản thực dân lại đổ xô vào Số vốn đầu tư chô nông nghiệp tăng lên đến cụ thể như sau:
Năm Số vốn ( triệu France)
Số vốn đầu tư cho nông nghiệp chiếm 1/3 số vốn đầu tư tư bản và tương đương với vốn đầu tư cho công nghiệp khai khoáng, chế biến Nguồn vốn này tập trung xây dựng các đồn điền trồng lúa và cao su
Trong công nghiệp thì sự đầu tư đưa đến sự thành lập các công ty mới và sự mở rộng các công ty cũ Từ 1924 đến 1930 có số vốn đầu tư tăng lên là 800 triệu France
1.1.2.4 Hệ quả của cuộc khai thác thuộc địa
Trang 19Vẫn như cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, cuộc khai thác lần thứ hai này, xã hội Việt Nam tiếp tục phân hóa một cách mạnh mẽ, sâu sắc Cụ thể:
Về địa chủ, phong kiến: Trong khi các thành phần kinh tế Tư bản chủ nghĩa có
những bước phát triển mạnh thì giai cấp địa chủ phong kiến vẫn không suy giảm chút nào Dựa vào thực dân Pháp, vẫn ra sức cướp đoạt ruộng đất của nông dân Ở Bắc Kì, ruộng đất công bình quân đã thấp thì nay càng thấp hơn Lực lượng địa chủ tuy chỉ chiếm 7 % nhưng lại nắm đến 50% diện tích đất canh tác Họ phát canh thu tô, tức theo kiểu bóc lột
cũ Ở các vùng miền núi, hình thức bóc lột chủ yếu là địa tô lao dịch
Về nông dân: Họ là thành phần chủ yếu trong xã hội Khoảng 90% dân số Trong giai
cấp nông dân phân hóa thành trung nông, bần nông và cố nông
Trung nông có ruộng đất, tư liệu sản xuất,đủ nuôi sống bản thân mình Không tham gia bóc lột người khác và không bán sức lao động Bần nông gồm những người thiếu ruộng đất và tư liệu sản xuất, phải lĩnh canh ruộng đất địa chủ, thuê tư liệu sản xuất Cố nông là tầng lớp nghèo khổ nhất, bần cùng nhất trong xã hội Họ không có tư liệu sản xuất phải lĩnh canh, thuê ruộng đất để cày cấy, bị bóc lột thông qua địa tô Một bộ phận bị bần cùng hóa phải rời bỏ quê hương ra các thành thị, hầm mỏ làm việc
Bên cạnh hai giai cấp cũ thì những tầng lớp mới ra đời trong chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất cũng có sự biến đổi Tư sản Việt Nam đã trưởng thành hơn về số lượng và chất lượng và có tham gia đấu tranh chính trị Đó là đóng góp to lớn trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đầu thế kỉ XX Công nhân được trưởng thành hơn trở thành một giai cấp lớn trong xã hội, có ý thức giai cấp, có tổ chức, lí luận cách mạng rõ ràng Họ sẽ là lớp người tiên phong đi đến đấu tranh thắng lợi trong giai đoạn sau này
1.2.1 Mầm mống kinh tế TBCN và sự ra đời của tư sản Việt Nam
Trong các thế kỉ từ XVI – XVIII, mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa đã được xâm nhập vào Việt Nam, kinh tế hàng hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng không nhỏ của tình hình quốc tế Những phát kiến địa lý của người châu Âu đã khơi nguồn cho các mạch buôn bán Xã hội Việt Nam đã có cơ hội chuyển biến từ xã hội nông nghiệp cơ bản quen dần với kiến trúc hàng hóa thị trường mở rộng Thủ công nghiệp phát triển, hình thành những làng chuyên nghề như làng nghề dệt làng La – Vạn Phúc – Phùng Xá Làng vùng nghề gốm Hương Canh – Thổ Hà – Phù Lãng – Bát Tràng Vùng làng nghề đúc đồng như Đại
Trang 20Bái – Huê Cầu – Đông Mai, vùng làng nghề thuộc da Trúc Lâm – Văn Lâm – Phong Lâm Các nghề thủ công như dệt, nhuộm, thêu, gốm sứ, chế tác kim loại, làm gỗ, giấy in, khai thác mỏ đều phát triển Các làng nghề này đã chuyển từ nông thôn ra thành thị tạo nên những phường nghề chuyên nghiệp, phố nghề chuyên hàng Sự phát triển của thủ công nghiệp ở nông thôn và thành thị đã thúc đẩy hoạt động thương nghiệp trong một nền kinh tế tiền tệ Các sản phẩm thủ công và nông sản được sản xuất hàng loạt với khối lượng và quy mô nhiều, vượt khỏi phạm vi của làng, vùng
Dưới thời nhà Nguyễn mầm mống kinh tế TBCN tiếp tục xâm nhập sâu rộng vào nước ta Tuy nhiên bị triều Nguyễn khống chế nên không phát triển được Chế độ phong kiến Việt Nam đã khủng hoảng nặng từ cuối thế kỉ XVIII Những mầm mống đầu tiên của chủ nghĩa tư bản trong nước đã xuất hiện và ngày càng mâu thuẫn đối kháng với quan hệ kinh tế phong kiến bảo thủ lạc hậu bao đời thống trị xã hội Việt Nam Nền kinh tế tiểu nông đang cần được phát triển, nhưng bị chế độ chiếm hữu và bóc lột phong kiến uy hiếp nghiêm trọng
Triều Nguyễn ngày càng đi sâu vào con đường phản động, vừa ra sức phục hồi và củng cố quan hệ sản xuất cũ, vừa cố tình bóp nghẹt lực lượng sản xuất mới đã manh nha phát triển hồi thế kỉ XVIII Mọi chính sách chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội triều Nguyễn ban hành đều nhằm mục đích duy nhất là bảo vệ đặc quyền đặc lợi cho tập đoàn phong kiến nhà Nguyễn
Nền kinh tế tư hữu của nông dân bị xâm phạm nghiêm trọng Ruộng đất phần nhiều tập trung vào tay bọn quan lại, địa chủ Cho nên, nói chung nông dân không có ruộng cày, đời sống vô cùng cực khổ Trong khi nông nghiệp đang lâm vào tình trạng tiêu điều xơ xác như vậy thì công nghiệp nằm trong tay phong kiến triều Nguyễn cũng ngày một bế tắc Chính sách của triều Nguyễn về mặt công nghiệp vô cùng phản động Phong kiến nhà Nguyễn nắm trong tay những ngành kinh doanh lớn Các công xưởng lớn đúc súng, đóng tàu, đúc tiền; các xưởng nhỏ chuyên chế tạo đồ dùng riêng cho nhà vua, vàng bạc, gấm vóc, các công trường xây dựng cung điện, thành quách, lăng tẩm đều do bộ Công của triều đình quản lí Chế độ làm việc trong các công xưởng này là chế độ “công tượng” mang nặng tính chất cưỡng bức lao động Những người thợ giỏi ở các địa phương bị bắt
về đây được biên chế thành đội ngũ, làm việc tập trung với một số lương rất thấp, lại chịu
sự kiểm soát nghiêm ngặt của quan lại nên rất bất mãn, không phấn khởi với công việc
Trang 21Triều đình phong kiến còn giữ độc quyền ngành khai mỏ Số mỏ được khai thác từ
1802 đến 1858 là 139 mỏ, bao gồm đủ các loại Nhưng phần lớn các mỏ đều do bọn quan lại triều đình đứng ra khai thác, chỉ một số ít là do chủ mỏ Hoa kiều hay Việt Nam chủ trì Phương thức sản xuất trong cả ba loại mỏ căn bản vẫn là lối sản xuất thủ công cá thể với những hình thức bóc lột phong kiến mang nặng tính chất nô dịch Năng suất trong các công trường mỏ vì vậy thường thấp Đã thế, triều Nguyễn còn đánh thuế sản vật rất nặng vào các mỏ do Hoa kiều hay người Việt đứng ra khai thác Nhiều phép tắc vô lí làm hạn chế sự phát triển của ngành khai mỏ, như quy định những khu vực cấm khai mỏ, giữ độc quyền thu mua các kim loại khai thác được theo giá quy định
Các nghề thủ công trong nhân dân không có điều kiện phát triển Tại các công xưởng thủ công, mặc dù không có một chế độ phường hội chặt chẽ theo kiểu các nước phong kiến châu Âu, nhưng các mối quan hệ phức tạp giữa chủ và thợ, giữa thợ cả và thợ bạn, giữa các làng chuyên nghiệp với nhau và rất nhiều luật lệ cấm đoán của triều đình đã làm cho sáng kiến, tài năng của người thợ ngày càng bị bóp nghẹt Các nghề thủ công nhỏ và nghề phụ gia đình ở nông thôn còn bị đình đốn vì nông dân đói khổ, li tán Thủ công nghiệp hầu như bị tê liệt
Thương nghiệp dưới triều Nguyễn sút kém một cách rõ rệt Chính sách “trọng nông
ức thương” của triều đình đã kìm hãm thương nghiệp Về nội thương, một mặt chúng
nắm độc quyền buôn bán nguyên liệu công nghiệp (như đồng, thiếc, chì, kẽm, nhất là lưu hoàng, diêm tiêu), vì sợ nhân dân chế vũ khí chống lại Mặt khác, chúng đặt ra nhiều luật
lệ chặt chẽ để kiềm chế, như nắm độc quyền buôn bán cả đối với một số lâm sản quý giá cướp đoạt của đồng bào miền núi (quế, gạc hươu, sáp ong, ngà voi, gỗ quý); đánh thuế nặng vào các mặt hàng quan trọng đến đời sống nhân dân như lúa gạo để hạn chế việc chuyên chở trao đổi giữa các vùng trong nước; cấm nhân dân họp chợ Việc giao lưu giữa các địa phương vì vậy gặp rất nhiều trở ngại, thị trường trong nước không tập trung và thống nhất
Ngoại thương cũng bị triều đình nắm độc quyền Thực hiện chính sách bế quan tỏa cảng, triều đình chỉ mở nhỏ giọt một số cửa biển cho tàu nước ngoài lui tới buôn bán Chỉ được nhập vào những hàng hóa triều đình cần (như sắt, chì, gang, lưu huỳnh để làm súng đạn); còn xuất cảng thì cấm tàu thuyền nước ngoài không được mua tơ lụa, thóc gạo trong nhân dân Tàu buôn nước ngoài tới buôn bán còn bị khám xét rất kĩ để đánh thuế và định giá hàng, lại còn có thể bị trưng dụng đi phục vụ cho các đợt công tác đột xuất của triều
Trang 22đình (như chở gạo cho quân lính, hay chuyên chở nguyên vật liệu xây dựng lăng tẩm, cung điện) Chính sách bế quan tỏa cảng của triều đình đã làm cho việc buôn bán với nước ngoài sa sút rõ rệt Thuế cửa quan, trước có 60 sở, đến năm 1851 chỉ còn 21 sở; một
số cảng trước kia buôn bán rấtcông thương nghiệp nước ta trong nửa đầu thế kí XIX đã suy đốn trầm trọng về mọi mặt nông, công thương nghiệp Do chính sách phản động của triều Nguyễn, các yếu tố tư bản chủ nghĩa mới nảy sinh trong các khu vực kinh tế, đang trên đà phát triển tự nhiên và tiến bộ, phù hợp với yêu cẩu phát triển của xã hội hồi đó, đều bị bóp nghẹt Nền kinh tế hàng hóa vì vậy đã bị co hẹp lại
Tuy nhiên, thủ công nghiệp tuy bị nhà nước cấm nhưng vẫn phát triển, sự trao đổi hàng hóa vẫn được diễn ra Các thương nhân hoạt động buôn bán khắp các vùng trong nam ngoài bắc, buôn bán các mặt hàng thủ công như tơ lụa, gốm sứ, đồ mĩ nghệ Nhiều mặt hàng trở thành thương hiệu như lụa Hà Đông, gốm Bát Tràng, chiếu Ninh Bình Các thương nhân cũng mua các mặt hành ở các trung tâm về bán ở các địa phương Sự sầm uất đó được người nước ngoài ca tụng Sài Gòn như là thành phố nổi trên mặt nước
Ngoài những thương nhân hoạt động ở thành thị và nông thôn làm môi giới cho những người sản xuất nhỏ từ địa phương này qua địa phương khác, một số thương nhân hoạt động trên phạm vi rộng hơn
Khi chủ nghĩa tư bản Pháp xâm nhập vào Việt Nam thì tính chất tự cấp tự túc đã không còn nguyên vẹn Thị trưởng được mở rộng, các sản phẩm thủ công nghiệp được bày bán ở trung tâm trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài Những người làm thủ công nghiệp cũng có cạnh tranh nhiều hơn Sự chênh lệch về kĩ thuật và giá cả thị trường buộc những người sản xuất nhỏ phải lệ thuộc, làm công cho những người khác lớn hơn Quan
hệ chủ thợ theo lối tư bản chủ nghĩa từ đó được hình thành một cách tự phát, nhất là những nơi tập trung nghề thủ công Hoạt động của thương nhân Việt Nam cũng mạnh lên nhanh chóng Một số thương nhân Việt Nam giàu lên nhanh chóng, trở thành những hãng buôn lớn Đã có người thành lập công ty mở các điểm thu mua hàng hóa của những người sản xuất nhỏ ở các địa phương Bắc kì và Trung kì như công ty Phượng Lâu Lối kinh doanh của những người thương nhân này từ chổ mối lái giữa những người sản xuất nhỏ tiến lên thành chủ xí nghiệp có tính chất tư bản chủ nghĩa Trong lúc quan hệ giữa một số thương nhân với người sản xuất nhỏ đã đổi khác thì giữa những người sản xuất nhỏ cũng
có sự phân hóa Sự chênh lệch về trình độ kĩ thuật và giá cả của thị trường đã khiến cho một số người thợ thử công dần dần bị phụ thuộc vào người thợ thủ công khác Do đó,
Trang 23quan hệ chủ nghĩa tư bản được hình thành Quan hệ tư bản chủ nghĩa trong thời Pháp mới xâm lược là do kết quả hoạt động của thương nhân và sự phân hóa trong đám người sản xuất nhỏ, thể hiện trong một số ngàn sản xuất như sau:
Nghề ươm tơ dệt lụa đòi hỏi kĩ thuật cao, là những ngành sản xuất hàng hóa quan trọng và là một trong những ngành hàng đầu ở nước ta Sản xuất tơ lụa đòi hỏi kĩ thuật, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên thường có những làng nghề, những vùng chuyên sản xuất tơ lụa như Hà Đông, Nam Định, Quãng Nam Mặt hàng tơ lụa của Việt Nam được buôn bán với các nước trong khu vực và trên thế giới như Trung Quốc, các nước Nam Á Thứ hai là nghề làm gốm như gạch ngói, bát đĩa, ly tách Một trong những nghề thủ công có lâu đời nhất ở Việt Nam là nghề gốm, nó có từ thời tiền cổ, và được phát triển hoàn thiện qua các thời kì Nghề làm gốm cũng đòi hỏi có một kĩ thuật chế tác điêu luyện
từ khâu nặn cho đến nung và cả việc vẽ hoa văn lên đồ gốm Ở Việt Nam có những khu vực hay những làng chuyên sản xuất đồ gốm như làng gốm Bát Tràng, nồi đất ở Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Hà Tĩnh Ở miền Nam là những khu vực quanh Sài Gòn, Chợ Lớn Năm 1882 người ta đã thấy hiện tượng thuê người làm trong các lò gạch ở vùng Chợ Lớn,
Mỹ Tho, Sa Đéc, Châu Đốc, Rạch Giá, Tây Ninh…v.v Ngoài ra còn có các nghề thủ công mĩ nghệ như đan lát mây, dệt chiếu…
Như vậy có thể nói rằng đầu thời kì Pháp mới xâm lược, ở Việt Nam đã có mầm mống chủ nghĩa tư bản, đã xuất hiện hiện tượng thuê người làm Những người chủ xưởng
là những sản xuất hàng hóa nhỏ hay thương nhân Họ sở hữu những tư liệu sản xuất như
lò gạch, là gốm, xưởng dệt, khung dệt…Những người thợ thủ công là những người chuyên làm thuê, hoặc nông dân làm thêm kiếm tiền hay những người nông dân bị phá sản, không có tư liệu sản xuất Họ làm tùy theo năng lực và kĩ thuật tay nghề mà được hưởng số tiền lương khác nhau Trong các xưởng đó cũng đã có sự phân công lao động mặc dù chưa chuyên lắm nhưng họ sẽ làm một số khâu chính nhất định Tính chất của những công trường ấy là công trưởng thủ công tư bản chủ nghĩa
Những chủ công trường thủ công đó là những lớp người đầu tiên của Tư sản dân tộc Việt Nam Ngoài lớp người Tư sản nói trên còn có tư sản mại bản dân tộc Trước cuộc khai thác lần thứ nhất, mục đích của tư bản Pháp là xuất khẩu hàng hóa qua nước ta, bán thị trường nước ta Vì vậy số hàng hóa được nhập vào Việt nam tăng tiến nhanh chóng Những thương nhân của Việt Nam đã buôn bán những mặt hàng của Pháp và phân phố về các địa phương trong nước Những người làm môi giới về hàng hóa và nguyên liệu giữa
Trang 24thị trường trong nước và ngoại quốc là những phần tử tư sản mại bản đầu tiên Họ chỉ là những nhà buôn nhỏ có tính chất mại bản Từ năm 1862 trở đi, có những người làm nhiệm vụ mua hàng hóa ngoại và bán hàng cho tư bản ngoại quốc xuất cảng Tư bản Pháp xem họ là những người tiêu thụ tốt nhất cho hàng hóa chủa chúng Cũng có một số người
mở hiệu buôn ở các thành phố lớn như Hải Phòng, Hà Nội, Sài Gòn…Ngoài ra việc Pháp xây dựng các công trình nhà cửa, phố xá, đã làm xuất hiện những lớp người làm chủ thầu cho các công trình
1.2.2 Sự phát triển của Tư sản Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa
1.2.2.1 Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất
Trước cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, với nền kinh tế tự nhiên và những chính sách của triều đình phong kiến như trọng nông ức thương, bế quan tỏa cảng làm cho công thương nghiệp Việt Nam không thể phát triển được Một số thương nhân Việt Nam vẫn chỉ là những người buôn bán nhỏ vì họ không có vốn tích lũy tư bản lại bị kìm chế Chỉ khi thực dân Pháp bắt đầu xâm lược mới có những thương nhân hoạt động do sự mở rộng của trao đổi hàng hóa
Sau khi hoàn thành công cuộc xâm lược và bình định trên đất nước ta, thực dân Pháp
đã bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa một cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực công nông thương nghiệp Chủ nghĩa tư bản Việt Nam cũng có những chuyển biến nhất định Những mầm mống kinh tế tư bản chủ nghĩa dù có điều kiện mới để phát triển nhưng đồng thời cũng gặp những trở ngại, khó khăn
Tư sản Việt Nam một mặt bị chính sách ngăn chặn và bóc lột của Pháp ngăn cản phát triển Ba chính sách lớn mà Pháp dùng để ngăn cản sự phát triển công thương nghiệp thuộc địa là chính sách độc quyền thuế quan, chính sách không mở rộng công nghiệp thuộc địa và chính sách duy trì phương thức sản xuất bóc lột phong kiến Tuy nhiên dưới thời Pháp khai thác thuộc địa, ngoài chủ ý của Pháp, việc xây dựng các công trình giao thông, các chợ phát triển nên các sản phẩm thủ công của người dân đã được đưa ra thị trường và trở thành hàng hóa, phá vỡ tính chất tự cung tự cấp của nền kinh tế tự nhiên Thị trường trong và ngoài nước được mở rộng là một cơ sở cho Tư sản Việt Nam ngoi lên trong điều kiện bị thực dân o ép Có thể nói rằng, Tư sản Việt Nam xuất thân từ những nguồn gốc khác nhau, chủ yếu là:
Thứ nhất là do hoạt động của một số thương nhân Việt Nam Dù chỉ là số ít nhưng sự
phát triển của thủ công nghiệp trong nước và ảnh hưởng của quan hệ sản xuất tư bản chủ
Trang 25nghĩa đến xã hội Việt Nam cũng dần được thể hiện Thời điểm này, nhiều thương nhân Việt Nam đã đem hàng hàng hóa đi bán khắp các nước trên thế giới Tơ lụa ở Hà Đông vận tải vào Nam Kì Nhiễu sồi ở Quy Nhơn được đưa ra Bắc Kì Tơ ở Bắc Kì đem vào Trung Kì Nhiều lái buôn Việt Nam vận tải hàng hóa bằng đường biển từ Nam Kì ra Bắc
Kì hay từ trong nước đi Hồng Kông bán” [2;tr.28] Số thuyền manh Việt Nam ra vào các cửa biển buôn bán như sau :
là một hãng buôn Việt Nam lớn nhất ở Bắc Kì, vừa có hiệu buôn, vừa có xưởng thợ Ngoài công ty Quảng Hưng Long còn có công ty Quảng Hợp Ích cũng là một công ty lớn
Ở Quảng Nam có Quảng Nam hiệp thương công ty, ở Phan Thiết có công ty nước mắm Liên Thành Từ chỗ thương nhân buôn bán hàng nội hóa thì người thương nhân bắt đầu mua các sản phẩm thủ công nghiệp định kì, sau đó cung cấp lại nguyên vật liệu cần thiết cho thợ thủ công để họ sản xuất ra cái mới Cứ xoay vòng như vậy và dần dần người thương nhân buộc các nhà sản xuất phải phụ thuộc vào nhà buôn Vốn tích lũy tư bản của công ty ngày càng nhiều và ngày một mạnh hơn
Một trong những đặc điểm của công trường thủ công tư bản chủ nghĩa là tư bản thương nghiệp gắn liền với các hoạt động sản xuất của tư bản công nghiệp Những thương nhân vừa buôn bán vừa mở xưởng sản xuất, vì vậy đó là một đặc trưng của tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam Ví dụ như công ty nước mắm Liên Thành trước là cửa hiệu buôn nước mắm, sau khi có số vốn nhất định phát triển thành hãng buôn lớn có xưởng chế biến nước mắm và đặt trụ sở phân phối hàn hóa ở Phan Thiết Sài Gòn
Thứ hai là do sự phân hóa trong các người sản xuất hàng hóa nhỏ; một số trở thành
chủ xí nghiệp tư bản chủ nghĩa, một số trở thành công nhân làm thuê Việc chuyên sản xuất hàng hóa ra thị trường đã đưa những người sản xuất bước vào cuộc cạnh tranh tự phát Có những người chịu cải tiến kĩ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm kiếm được nhiều lời hơn Xu hướng muốn cải tiến kĩ thuật rồi tiến lên lập những xưởng mới lớn hơn
Trang 26là xu hướng phổ biến của những người sản xuất hàng hóa Năm 1912, thực dân Pháp cũng
nhận định rằng: “Thợ mỹ nghệ và thợ công nghệ ở Bắc Kì đã nhanh chóng được các kĩ
nghệ” Nông dân bị bần cùng hóa cũng vào làm thuê cho các xí nghiệp thủ công Trong
số địa chủ phong kiến mở xưởng thợ, lập hội buôn thì một số ít đã thoát ly khỏi việc bóc lột địa tô Nhưng nhiều người vẫn giữ phần ruộng đất cho phát canh thu tô ở nông thôn Một số ít tư sản Việt Nam còn xuất thân từ tầng lớp quan lại phong kiến giàu có Một mặt vì nhu cầu tiêu dùng của bản thân, một mặt vì chủ nghĩa tư bản kích thích, họ đã đi vào con đường kinh doanh công thương nghiệp Xí nghiệp của họ đã có tính chất của một công trường thủ công Số quan lại, một số địa chủ nông thôn, quan lại chuyển hướng kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa hoặc mở cửa hàng buôn bán, đi buôn cũng là lớp người tư sản đầu tiên ở Việt Nam
Tóm lại nguồn gốc xuất hiện tầng lớp Tư sản Việt Nam trong thời kì này là do những
thương nhân đã trực tiếp khống chế người sản xuất nhỏ, người sản xuất vươn lên để thoát khỏi sự chi phối trở thành những nhà địa chủ tư sản hóa, những nhà tư bản
Trong những xí nghiệp tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam thơi kì này, một số còn tính chất đơn giản của một xí nghiệp trong giai đoạn hợp tác giản đơn tư bản chủ nghĩa, như nhiều xưởng thuê người làm đường ở Quảng Ngãi, Quảng Nam, xưởng ươm tơ, dệt lụa v v Sự hợp tác của các thợ thủ công rất đơn giản chưa có sự phân công lao động cụ thể, tiền công của các thợ hưởng như nhau Nhiều xí nghiệp lúc này là những công trường thủ công tư bản chủ nghĩa Trong lao động, những ngươi thợ thủ công lam thuê có một sự phân công
rõ rệt Một số xí nghiệp Việt Nam đã có tính chất của một xí nghiệp cơ khí Thực dân Pháp không chủ trương mở rộng kĩ nghệ ở Việt Nam nhưng trong việc đem hàng hóa vào Việt Nam bán kiếm lời, tư bản Pháp và ngoại quốc đã đưa một số công cụ sản xuất bằng kim khí, những máy móc sản xuất, động cơ điện,…Những tư liệu sản xuất này tuy ít và cung cấp cho tư bản Pháp nhưng một số tư sản Việt Nam cũng đã mua được một phần để thành lập những xí nghiệp có tính chất cơ khí như nhà máy in của Nguyễn Văn Viết ở Sài Gòn, xưởng sữa chữa ôtô Lê Phát Tàn…
Trong tất cả xí nghiệp Việt Nam, người chủ tư bản đã dùng mọi biện pháp để tăng cường tích lũy tư bản của họ Đã có những người áp dụng những công cụ sản xuất mới những khung dệt vải khổ rộng, bàn ép dầu bằng sắt, do đó năng suất tăng và hạ giá thành xuống, kiếm được lợi nhuận nhiều hơn những người sản xuất cùng ngành Nhưng biện
Trang 27pháp cuối cùng của họ là tăng cường tích lũy tư bản bằng cách bóc lột sức sao động của
công nhân Như vậy, trước khi Pháp khai thác thuộc địa lần thứ nhất, các công trường thủ công ở
Việt Nam còn ít nên tầng lớp tư sản còn ít Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất
của thực dân Pháp, chủ nghĩa tư bản Việt Nam tuy có phát triển, tuy nhiên chỉ có hơn thời
kì trước – thời kì phôi thai nhưng vì bị tư bản Pháp chèn ép nên tư sản Việt Nam chưa có
điều kiện vươn lên và phát triển Tư sản Việt Nam tuy cũng muốn vươn lên phát triển
kinh doanh nhưng vì qui mô sản xuất trong các xí nghiệp còn nhỏ, nhân công ít, trình độ
thủ công thấp kém nên tích kỹ tư bản còn hạn chế Chưa có sự phân hóa trong những
người thợ thủ công để tạo nên những chuyển biến Do đó tư sản Việt Nam chưa thực sự
vươn lên vượt trội để phát triển Việt Nam lại trở thành thị trưởng của Pháp , bị các chính
sách độc quyền thuế quan của thực dân Pháp ngăn cản tiếp xúc với thị trường nước ngoài,
lại phải chịu mức thuế cao nên khó phát triển Do quy mô sản xuất trong các xí nghiệp
còn nhỏ bé , trình độ kĩ thuật thấp kém nên địa vị kinh tế của tư sản Việt Nam còn rất non
yếu
Về tư sản mại bản, lúc đó đã có một số thầu khoán, một số đại lý hàng hóa hay chung
vốn với tư bản Pháp lập xí nghiệp Nhưng số đó còn ít, thầu khoán thì đa phần là khầu
khoán Tây Trong những công việc chính như đắp đường, xây cầu, vận tải Chưa phải do
thầu khoán Việt Nam thuê công nhân để lĩnh trưng mà phần lớn Pháp bắt phu ở nông thôn
đi làm dưới danh nghĩa công ích
1.2.2.2 Trong thời gian chiến tranh thế giới lần thứ nhất
Trong thời gian chiến tranh thế giới thứ nhất, do những chính sách của Pháp được nới
lỏng hơn, Tư sản Việt Nam bắt đầu có những điều kiện tranh thủ vươn lên Các nhà tư
bản nước ngoài vào kinh doanh, đó là điều kiện tốt cho Tư sản Việt Nam có thể mở rộng
kinh doanh với tư bản nước ngoài Sự khan hiếm hàng hóa khiến cho nhiều nhà Tư sản
lao vào sản xuất hàng hóa để cung cấp cho thị trường
Khi nền kinh tế hàng hóa được mở rộng thêm thì sự cạnh tranh những người sản xuất
hàng hóa, giữa những nhà buôn tăng lên Giá cả hàng hóa tiêu dùng trong thời kì chiến
tranh tăng lên cũng làm cho nhiều nhà sản xuất bị thua lỗ Từ sự cạnh tranh rộng rãi trên
thị trường, nhiều Tư sản mới nảy sinh thêm cũng như một số tư sản có trước trở nên giàu
có gấp bội Có một vài người bị phá sản Một số tư sản làm ăn phát tài rất nhanh chóng
như Hồ Tá Bang, chủ công ty nước mắm Liên Thành cùng 11 người khác nữa Nguyễn
Trang 28Thanh Liêm, chủ nhà máy xay ở Mĩ Tho, trước mỗi ngày xay 8 tấn gạo nay xay một ngày
20 tấn gạo Bạch Thái Bưởi và Nguyễn Hữu Thu có hàng chụ sà lúp và tàu chở khách Một số tư sản mới xuất hiện trong thời gian này như Nguyễn Sơn Hà chế sơn ở Hải Phòng, Lê Văn Phúc, Ngô Tử Hạ mở nhà máy in ở Hà Nội Võ Xuân Hanh, Nguyễn Văn Hinh , Trần Đại Nghĩa, Đõ Văn Y mở công ty giấy và sách báo miền tây Nguyễn Văn Tàn, Nguyễn Bá Chính mở lò bát Thanh Trì
Như vậy, trong thời gian chiến tranh thế giới thứ nhất, nhờ những điều kiện thuận lợi hơn vì vai trò của tư bản Pháp đã sút kém, trên thị trường, bên cạnh đó kinh tế công thương nghiệp Việt Nam phát triển, nhờ đó tầng lớp tư sản Việt Nam cũng đông đảo hơn, tăng cường tích lũy tư bản, sẽ là một bước tiến trong giai đoạn tiếp theo để tư sản trở thành một giai cấp có vai trò trong xã hội
1.2.2.3 Trong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai
Thời kì sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Tư sản Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển Nhất là sau mấy năm chiến tranh từ 1919 – 1924 Tư sản Việt Nam phát triển một cách nhanh chóng do những nguyên nhân sau:
Thứ nhất là nền kinh tế hàng hóa Việt Nam thời kì này phát triển mạnh, được mở rộng Hàng hóa được lưu thông rộng rãi trên thị trường trong nước Những phương tiện giao thông vận tải ngày càng phong phú, đẩy nhanh việc lưu thông hàng hóa Sau chiến tranh thị trường thế giới ngày càng được ổn định nên hàng hóa Việt Nam xuất cảng ngày càng tăng Vai trò của thương nhân Việt Nam trên thị trường trên trường quốc tế đã hoạt động khá rõ nét Sự phát triển kinh tế hàng hóa làm cho nhiều nhà tư sản mới lên
Thứ hai, sau thời kì chiến tranh, thực dân Pháp chưa thể bắt tay vào khai thác một cách quyết liệt Nền công nghiệp chính quốc chưa được khôi phục sức sản xuất Vốn của
tư bản Pháp chưa chảy mạnh và Việt Nam trong giai đoạn đầu sau chiến tranh thế giới Tư bản Pháp trên thị trường càng ít và chậm ngày nào thì tư sản Việt Nam càng có điều kiện khách quan thuận lợi ngày đó
Như vậy, Tư sản Việt Nam trước chiến tranh thế giới thứ nhất chỉ mới là tầng lớp nhỏ
bé, kinh doanh trong lĩnh vực thương nghiệp và hoạt động sản xuất còn nhỏ bé Sau chiến tranh thì Tư sản Việt Nam đang trên đà phát triển nhờ tiếp thu được điều kiện khách quan
Tư sản Việt Nam có những xí nghiệp thuê đến hàng trăm, hàng ngàn công nhân như xưởng thêu của Trương Đình Long dùng 300 thợ ở Hà Nội, công ty dệt chiếu, thảm cói
Trang 29của công ty Nam Trinh do Tống Nguyên và Nguyễn Bá Thiệu lập, xưởng dệt của Đào Thao Côn sử dụng hơn 100 công nhân Tuy nhiên có những xí nghiệp không phải xuất thân từ những người sản xuất nhỏ mà xuất thân từ những người địa chủ hóa như Trần Trinh Bạch đại địa chủ ở Bạc Liêu, Nguyễn Tấn Sử đại địa chủ ở Bà Rịa tham gia công ty Ngân Hàng Việt Nam Nhà máy ươm tơ của Nguyễn Khắc Trương có hơn 100 công nhân ươm tơ và hàng chục công nhân sử dụng 20 máy dệt lụa Sở dĩ như vậy bởi vì: thứ nhất là kinh tế hàng hóa và tiền tệ ngày càng mở rộng, đã thu hút một phần kinh tế địa chủ vào thị trường Các sản phẩm nông nghiệp và thủ công nghiệp đưa ra thị trường ngày một nhiều Một phần địa tô cũng dần dần trở thành hàng hóa để trao đổi lấy thủ công nghiệp
và những mặt hàng khác Chủ nghĩa tư bản nước ngoài bành trướng ở Việt Nam thì tính chất tự nhiên ở những cơ sở kinh tế của địa chủ cũng từng bước bị phá vỡ Những món lợi nhuận đã kích thích nhà địa chủ, một số người địa chủ chuyển hướng knh doanh, tham gia vào hoạt động trên thị trường, dần dần một số địa chủ đã hướng về lối kinh doanh tư bản chủ nghĩa Thứ hai là một số địa chủ có tập trung một số ruộng đất trong tay, sỡ hữu nhiều tiền bạc nhưng lại không tiếp tục bóc lột theo kiểu phong kiến mà là bỏ tiền ra lập hội kinh doanh hay hùn vốn mở xí nghiệp Nhiều địa chủ đem tiền ra lập công ty rồi tiến lên lập các xí nghiệp buôn bán Trong và sau chiến tranh thế giới thứ nhất thì số địa chủ Tư sản hóa ngày càng nhiều, có mặt trong hầu hết các ngành công thương nghiệp Một số ít
đã thoát li được lối bóc lột phong kiến, hoàn toàn kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa, như những ngời trong công ty Phượng Lâu, hãng ô tô Nguyễn Thành Điểm Nhiều địa chủ khác tuy bỏ vốn vào hội buôn bán xí nghiệp nhưng vẫn giữ phần ruộng đất và bóc lột theo kiểu phong kiến Nhu cầu lớn lao về hàng hóa trên thị trường trong và ngoài nước đã làm nảy sinh nhiều thợ thủ công chuyên nghiệp Sự cạnh tranh giữa các thợ thủ công đi đến chỗ thôn tính lẫn nhau giữa những người thợ thur công Có nhiều người trở thành chủ của một xí nghiệp như Lê Quang Long – vốn là một thợ thủ công ở làng lụa La Khê, sau này mở xưởng dệt ở Hà Nội, thuê hai ba chục công nhân làm thuê Ngoài ra còn có một
số tư sản dạng này như Bùi Dương, Lê Văn Nghi, Lê Văn Nhân mở xưởng dệt Ngoài ra còn có những tư sản mới xuất hiện thì còn có một số tư sản trước kia là chủ các công trường thủ công nay thành những chủ xí nghiệp lớn bằng việc bóc lột công nhân, làm phá sản những người tiểu sản xuất hàng hóa khác để tăng thêm tư bản hoặc là cải tiến kĩ thuật trong xí nghiệp Ở nông thôn, tầng lớp phú nông cũng phát triển hơn thời kì trước Việc buôn bán những nông phẩm như thóc, gạo, ngô, khoai trong nông thôn và từ nông thôn ra thành thị tăng lên Họ kiếm lời bằng cách thu mua lúa gạo vụ mùa với giá rẻ sau đó hết
Trang 30mùa lại bán với giá cao hơn Ở Nam Kì, từ năm 1918, tại các tỉnh miền đông, hầu hết những chủ điền thuê người cày cấy theo mùa vụ
1.3 Nhận xét
Theo dõi quá trình phát triển của Tư sản Việt Nam qua hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp có thể thấy rõ rằng: Trên cơ sở kinh tế hàng hóa ngày càng phát triển, giao lưu kinh tế được mở rộng Tư sản Việt Nam đã vươn lên từ một tầng lớp thành một giai cấp, đông về số lượng và mạnh lên về chất lượng tức tiềm lực kinh tế Nguồn gốc xuất thân của Tư sản Việt Nam là từ những người thương nhân đã trực tiếp khống chế được người sản xuất nhỏ, những người sản xuất nhỏ làm phá sản những người sản xuất nhỏ khác biến thành chủ những xí nghiệp Ngoài ra còn những người địa chủ tư sản hóa hay những người mại bản Trước khi có những địa chủ tư sản hóa và những phần tử mại bản thì đã có những tư sản xuất thân từ thương nhân hay những người sản xuất nhỏ Những địa chủ giàu có hay những phần tử mại bản thường nắm trong tay những xí nghiệp lớn, quan trọng
Từ cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất chiến tranh thế giới thứ nhất, địa vị kinh tế của Tư sản Việt Nam còn rất mờ nhạt, ý thức giai cấp còn chưa có,chưa biết đấu tranh cho quyền lợi kinh tế của giai cấp mình Có hai đặc điểm nổi bật của Tư sản Việt Nam thời kì này là: Tư sản Việt Nam đã thành lập được không ít xí nghiệp khá quan trọng và có địa vị kinh tế khá quan trọng trên thị trường Ý thức giai cấp đến cuối cuộc chiến tranh thế giới
đã bắt đầu thể hiện, điều mà trước đó chưa có và nó cũng là điều kiện để giai cấp hình thành Trước chiến tranh, các xí nghiệp tư bản chủ nghĩa phần lớn là các công trường thủ công nhỏ bé ở những làng công nghiệp cổ truyền như dệt lụa, làm gốm, gỗ, thuê vài người làm Những ngành công nghiệp nặng khác như khai thác, chế biến, nấu rượu bị thực dân Pháp độc quyền nên Tư sản Việt Nam không có điều kiện để kinh doanh nên chỉ kinh doanh những mặt hàng truyền thống, tiểu thủ công nghiệp như gạch, ngói, lụa, tơ, chiếu v.v Những công trường thủ công tư bản chủ nghĩa nhỏ bé nên chưa thể có tác dụng chi phối những người sản xuất cá thể Chính sách của thực dân Pháp càng làm cho Tư sản Việt Nam không có điều kiện ngoi lên, kinh tế bị chèn ép
Nhưng đến sau chiến tranh thế giới thứ nhất, nhờ những điều kiện thuận lợi Tư sản đã vươn lên, đã có được những xí nghiệp lớn trong tay, kinh doanh những ngành nghề trước đây không có Đã có ý thức đấu tranh vì quyền lợi kinh tế, có ý thức chính trị Nhưng cũng trong thời gian cuộc khai thác lần thứ hai này, trong chính giai cấp Tư sản có sự
Trang 31phân hóa rõ rệt thành tư sản mại bản và tư sản dân tộc Tư sản mại bản ngày càng phát triển, trong tư sản dân tộc thì cũng có một số chuyển hướng sang kinh doanh theo lối mại bản Khi đã có đủ yếu tố kinh tế và ý thức về quyền lợi, Tư sản Việt Nam thực hiện một bước chuyển mình và tham gia vào phong trào yêu nước giải phóng dân tộc đầu thế kỉ XX
để phù hợp với dòng chảy lịch sử