Nền nông nghiệp của các nước – một trong những lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế, cũng vận hành theo khuynh hướng tư bản chủ nghĩa, tùy theo đặc thù về điều kiện tự nhiên, dân cư, văn
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA LỊCH SỬ
*****
Đề tài:
ĐỐI SÁNH “CON ĐƯỜNG NÔNG NGHIỆP KIỂU MỸ”
VÀ “CON ĐƯỜNG NÔNG NGHIỆP KIỂU PHỔ”
Trang 2MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4.1 Mục đích nghiên cứu 4
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 5
5.1 Nguồn tư liệu 5
5.2 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của đề tài 5
7 Bố cục của đề tài 6
B NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA “CON ĐƯỜNG NÔNG NGHIỆP KIỂU MỸ” VÀ “CON ĐƯỜNG NÔNG NGHIỆP KIỂU PHỔ” THỜI CẬN ĐẠI 7
1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ 7
1.1.1 Con đường nông nghiệp kiểu Mỹ 7
1.1.2 Con đường nông nghiệp kiểu Phổ 8
1.2 Quá trình hình thành, phát triển của “Con đường nông nghiệp kiểu Mỹ” 9
1.2.1 Giai đoạn từ thế kỉ XVII đến cuối thế kỉ XVIII 10
1.2.2 Giai đoạn cuối thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX 13
1.1.3 Giai đoạn cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX 19
1.3 Quá trình hình thành, phát triển của “Con đường nông nghiệp kiểu Phổ” 23
1.3.1 Giai đoạn đầu thế kỉ XIX đến giữa thế kỉ XIX 23
1.3.2 Giai đoạn cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX 26
Trang 3CHƯƠNG 2 SỰ TƯƠNG ĐỒNG, KHÁC BIỆT GIỮA “CON ĐƯỜNG NÔNG NGHIỆP KIỂU MỸ” VÀ “CON ĐƯỜNG NÔNG NGHIỆP KIỂU
PHỔ” THỜI CẬN ĐẠI 32
2.1 Sự tương đồng giữa “Con đường nông nghiệp kiểu Mỹ” và “Con đường nông nghiệp kiểu Phổ” thời cận đại 32
2.1.1 Nguồn nhân công 32
2.1.2 Kỹ thuật canh tác 35
2.1.3 Sản phẩm 37
2.2 Sự khác biệt giữa “Con đường nông nghiệp kiểu Mỹ” và “Con đường nông nghiệp kiểu Phổ” thời cận đại 41
2.2.1 Tiền đề 41
2.2.1.1 Kinh tế 41
2.2.1.2 Chính trị - xã hội 44
2.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng 45
2.2.3 Mô hình sản xuất 51
2.2.4 Sở hữu ruộng đất 55
2.3 Một số nhận xét, đánh giá 58
2.3.1 Tác động và ảnh hưởng đối với tình hình trong nước 58
2.3.2 Tác động và ảnh hưởng đối với thế giới 62
C KẾT LUẬN 65
D TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
E PHỤ LỤC 70
Trang 4A MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vào thế kỷ XVI, với sự thắng lợi của cách mạng tư sản Nêđéclan, nhân loại đã bước sang một thời kì mới: Thời Cận Đại Thời kì này, chế độ phong kiến bảo thủ, lạc hậu kìm hãm sự phát triển của xã hội loài người dần dần bị đánh đổ bởi chế độ tư bản chủ nghĩa tiến bộ hơn, phù hợp với quy luật đi lên từ thấp đến cao của lịch sử, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa bắt đầu nảy sinh và được xác lập trên phạm vi toàn thế giới
Dựa vào yếu tố điển hình của một số nước trong quá trình hình thành Chủ Nghĩa Tư Bản, Lênin đã chỉ ra 5 con đường làm nảy sinh Chủ Nghĩa Tư Bản thời cận đại đó là: Con đường cổ điển (gồm các nước Anh, Hà Lan), con đường kiểu Mỹ (gồm Mỹ, Canada, Úc), con đường thuộc địa (gồm Ấn Độ, Trung Quốc), con đường kiểu Phổ (gồm Đức, Ba Lan, Hunggary, Nga, Nhật Bản, Bungari), con đường cách mạng Pháp
Các con đường này được thể hiện trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp đặc biệt nông nghiệp là lĩnh vực thể hiện rõ nét Nền nông nghiệp của các nước – một trong những lĩnh vực quan trọng của nền kinh
tế, cũng vận hành theo khuynh hướng tư bản chủ nghĩa, tùy theo đặc thù về điều kiện tự nhiên, dân cư, văn hóa, lịch sử của mỗi quốc gia mà sự hình thành và phát triển chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp mang nhiều màu sắc phong phú,
đa dạng
Trong đó, “Con đường nông nghiệp kiểu Mỹ” và “Con đường nông
nghiệp kiểu Phổ” là 2 trong 5 con đường hình thành tư bản chủ nghĩa trên thế
giới, mang những sắc thái riêng, không chỉ tác động sâu sắc đến nền kinh tế của hai nước mà còn ảnh hưởng đến các quốc gia khu vực và thế giới
“Con đường nông nghiệp kiểu Mỹ” thời cận đại là con đường tiên tiến
nhất, được hình thành từ thế kỷ XVII khi những người châu Âu di cư khẩn hoang đến vùng đất “Tân lục địa” đã thành lập các trang trại nông nghiệp, trải
Trang 5qua thời kì 13 bang thuộc địa của thực dân Anh, đến thời kì giành độc lập, thành lập liên bang Hoa Kỳ các trang trại nông nghiệp áp dụng khoa học kỹ thuật trở thành đặc trưng tiêu biểu của nền kinh tế Mỹ Con đường phát triển nông nghiệp
Mỹ theo hướng tư bản chủ nghĩa đã thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, đưa nước Mỹ trở thành siêu cường kinh tế về công nghiệp và nông nghiệp
Mặc dù hình thành muộn hơn (mãi đến thế kỷ XIX), nhưng “Con đường
nông nghiệp kiểu Phổ” với đặc điểm kinh tế hàng hóa đại địa chủ Junker, sử
dụng lao động làm thuê cũng góp phần phát triển nông nghiệp, làm nền tảng cho công nghiệp, tạo diều kiện cho quá trình thống nhất nước Đức, đưa Đức vươn lên vị trí mới trên trường thế giới
Cả hai con đường này, có những đểm tương đồng và khác biệt về nhiều mặt như: mô hình sản xuất, phương thức sản xuất, cơ sở hình thành, nhân tố ảnh hưởng chính những điểm tương đồng và khác biệt tạo nên sự muôn mùa muôn
vẻ trong con đường hình thành và phát triển chủ nghĩa tư bản, được nhiều quốc gia, khu vực đã lựa chọn và áp dụng, ảnh hưởng của nó không những ở thời cận đại mà còn kéo dài đến thời kì hiện nay
Việc làm rõ vấn đề: Đối sánh “Con đường nông nghiệp kiểu Mỹ” và
“Con đường nông nghiệp kiểu Phổ” là điều hết sức cần thiết, một mặt làm rõ
những điểm tương đồng và dị biệt giữa hai con đường qua đó thấy được mặt tiến
bộ, hạn chế cũng như tác động và ảnh hưởng của mỗi con đường trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội
Đối với các quốc gia phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, nông nghiệp giữ một vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế, Việt Nam cần học hỏi những kinh nghiệm gì trong sản xuất nông nghiệp? Vì sao ở nước Mỹ số lượng lao động trong nghành nông nghiệp rất thấp nhưng Mỹ luôn là nước xếp hạng top 3 nước xuất khẩu lúa gạo nhiều nhất thế giới? Mặt khác, thông qua đề tài còn giúp tôi lĩnh hội thêm nhiều kiến thức về lịch sử thế giới cận đại, phục vụ cho công tác giảng dạy sau này và đây sẽ là tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngành Lịch sử
Trang 6Xuất phát từ ý nghĩa khoa học và thực tiễn đó, tôi chọn đề tài: Đối sánh
“Con đường nông nghiệp kiểu Mỹ” và “Con đường nông nghiệp kiểu Phổ”
thời cận đại làm khóa luận tốt nghiệp
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Từ trước đến nay, vấn đề nghiên cứu riêng lẻ, khái quát “Con đường nông
nghiệp kiểu Mỹ” và “Con đường nông nghiệp kiểu Phổ” đã được nhiều nhà
nghiên cứu quan tâm, đề cập đến:
Trong khóa luận tốt nghiệp: “Con đường kiểu Mỹ” trong nông nghiệp Mỹ
thời cận đại ( Từ thế kỷ XVII – 1918)” của Phạm Thị Thủy (2009), Đại học Sư
phạm – Đại học Đà Nẵng đã đề cập khá nhiều, chi tiết đến con đường con đường nông nghiệp kiểu Mỹ về khái niệm, cơ sở hình thành, đặc trưng
Trong khóa luận tốt nghiệp: “Con đường kiểu Phổ” trong nông nghiệp
Đức thời cận đại ( Từ thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX)” của Phan Thị Tuyết (2010),
Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng đã đề cập khá nhiều, chi tiết đến con đường con đường nông nghiệp kiểu Phổ về khái niệm, nhân tố ảnh hưởng
Trong cuốn Lịch sử kinh tế các nước (ngoài Liên Xô), cuả tác giả F.Ia.Polianxki, Tập 2 và 3, Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã đề cập khá nhiều đến chủ nghĩa tư bản Mỹ và Phổ trong nông nghiệp, về khái niệm, đặc trưng của
sự phát triển“Con đường nông nghiệp kiểu Mỹ” và “Con đường nông nghiệp
kiểu Phổ” thời cận đại
Trong cuốn Lịch sử thế giới cận đại của Vũ Dương Ninh, Nguyễn Văn
Hồng, Nhà xuất bản Giáo Dục đã trình bày khái quát về công cuộc di thực bành trướng đất đai, sự phát triển kinh tế nông nghiệp Mỹ từ sau cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đến cuộc nội chiến bên cạnh đó cuốn sách cũng đề cập đến tình hình nông nghiệp của nước Đức, vương quốc Prussia (vương quốc Phổ) từ thế kỷ XVII – XIX
Ngoài ra, còn có một số tác phẩm, bài báo, tạp chí, trang web viết về địa
lí, dân cư, văn hóa, kinh tế của nước Mỹ và nước Đức như: Tác phẩm: Kinh tế
Mĩ vấn đề và triển vọng của tác giả Nguyễn Thiết Sơn, Nhà xuất bản Khoa học
Trang 7xã hội nhân văn; Một số vấn đề về địa lý dân cư trên thế giới của tác giả Hoàng văn Hiền, Nhà xuất bản Giáo dục; Tạp chí nghiên cứu lịch sử, số 3, năm 2007
của tác giả Nguyễn Thái Yên Hương có bài: “Thịnh vượng kinh tế Mỹ và đặc
diểm văn hóa Mỹ”; Hợp chủng quốc Hoa Kỳ của Đào Huy Ngọc, Nguyên Thái
Yên Hương, Bùi Thanh Sơn (1994), Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia
Tuy nhiên, việc đi sâu tìm hiểu những nét tương đồng và dị biệt giữa hai con đường trong thời cận đại thì rất ít, chỉ dừng lại ở mức độ nhất định và chưa
có đề tài nào nghiên cứu một cách hoàn chỉnh và có hệ thống Tập hợp các tài liệu trên và các tài liệu có liên quan bản thân tôi mong muốn làm rõ những điểm
tương đồng và dị biệt giữa “Con đường nông nghiệp kiểu Mỹ” và “Con đường
nông nghiệp kiểu Phổ” thời cận đại
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của khóa luận là quá trình hình thành và phát triển của “Con
đường nông nghiệp kiểu Mỹ” và “Con đường nông nghiệp kiểu Phổ” Đặc
biệt là tập trung đối sánh những điểm tương đông và dị biệt giữa “Con đường
nông nghiệp kiểu Mỹ” và “Con đường nông nghiệp kiểu Phổ” thời cận đại
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt không gian: “Con đường nông nghiệp kiểu Mỹ” ở Hoa kỳ và
“Con đường nông nghiệp kiểu Phổ” ở nước Đức
- Về mặt thời gian: Thời cận đại (1566 – 1918)
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu vấn đề: Đối sánh “Con đường nông nghiệp kiểu Mỹ” và “Con
đường nông nghiệp kiểu Phổ” thời cận đại, nhằm thực hiện mục đích:
Làm rõ những điểm tương đồng và dị biệt giữa hai con đường qua đó thấy được mặt tiến bộ, hạn chế cũng như tác động và ảnh hưởng của mỗi con đường trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội không chỉ đối với hai nước Mỹ và Đức
mà còn đối với khu vực nói riêng và thế giới nói chung
Trang 84.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của “Con đường nông
nghiệp kiểu Mỹ” và “Con đường nông nghiệp kiểu Phổ”
- Vạch ra những điểm tương đồng và dị biệt giữa “Con đường nông
nghiệp kiểu Mỹ” và “Con đường nông nghiệp kiểu Phổ” thời cận đại
- Rút ra những nhận xét, đánh giá về mặt tiến bộ, hạn chế cũng như tác
động và ảnh hưởng của “Con đường nông nghiệp kiểu Mỹ” và “Con đường
nông nghiệp kiểu Phổ” trong lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội không chỉ đối với
hai nước Mỹ và Đức mà còn đối với khu vực nói riêng và thế giới nói chung
5 Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tư liệu
Để thực hiện đề tài này tôi sưu tầm các nguồn tư liệu trong các sách chuyên khảo, các giáo trình, các khóa luận, các tạp chí ở phòng học liệu Khoa Lịch Sử, Thư viện trường Đại học sư phạm – Đại học Đà Nẵng, Thư viện Tổng Hợp Đà Nẵng, phòng tư liệu Khoa Lịch sử – Trường Đại học Sư Phạm Huế, Thư viện Tổng Hợp Huế, Đại học Khoa Học Huế sử dụng các bài viết trên báo
và Internet
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: phương pháp lịch sử, phương pháp loogic
- Phương pháp cụ thể: tiến hành chon lọc, sắp xếp tư liệu và sau đó bằng các thao tác so sánh, đối chiếu, tổng hợp, phân tích các tài liệu khác nhau để phục vụ mục đích nghiên cứu
6 Đóng góp của đề tài
Nghiên cứu đề tài: “Đối sánh con đường nông nghiệp kiểu Mỹ và con
đường nông nghiệp kiểu Phổ thời cận đại” một mặt làm rõ những điểm tương
đồng và dị biệt giữa hai con đường qua đó thấy được mặt tiến bộ, hạn chế cũng như tác động và ảnh hưởng của mỗi con đường trong lĩnh vực kinh tế, chính trị,
xã hội không chỉ đối với hai nước Mỹ và Đức mà còn đối với khu vực nói riêng
Trang 9và thế giới nói chung Mặt khác, khi đề tài hoàn thành sẽ là tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngành Lịch sử
7 Bố cục của đề tài
Đề tài này ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần phụ lục, phần tài liệu tham khảo, phần nội dung gồm có hai chương:
Chương 1: Khái quát quá trình hình thành, phát triển của “Con đường
nông nghiệp kiểu Mỹ” và “Con đường nông nghiệp kiểu Phổ” thời cận đại
Chương 2: Sự tương đồng và khác biệt giữa “Con đường nông nghiệp
kiểu Mỹ” và “Con đường nông nghiệp kiểu Phổ” thời cận đại
Trang 10B NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA “CON ĐƯỜNG NÔNG NGHIỆP KIỂU MỸ”
VÀ “CON ĐƯỜNG NÔNG NGHIỆP KIỂU PHỔ” THỜI CẬN ĐẠI
1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ
1.1.1 Con đường nông nghiệp kiểu Mỹ
Sự phát triển chủ nghĩa tư bản trong nền nông nghiệp nước Mỹ phản ánh
sự ra đời của một phương thức sản xuất mới trong lịch sử Hợp chủng quốc Hoa
Kì và nó mang những nét đặc trưng riêng Lênin đã vạch ra đặc trưng này bằng cách nêu lên “Con đường nông nghiệp kiểu Mỹ” hay con đường trang trại
Theo Lenin: “Con đường nông nghiệp kiểu Mỹ là con đưởng tiên tiến
nhất, tạo ra những trang trại giàu có và tách giai cấp tư sản nông nghiệp ra trên
cơ sở phân hóa kinh tế của giai cấp nông dân Con đường đó nảy sinh từ giai đoạn tiền tư bản và bắt rễ vững vàng sau cách mạng” [32; tr 455] Lênin nêu
lên khái niệm một cách cô động bao hàm trong đó đặc trưng tiêu biểu của con đường kiểu Mỹ đó là việc hình thành các trang trại, và điều kiện cần thiết là sự phân hóa giai cấp nông dân
Như vậy, chính sự phát triển của kinh tế hàng hóa đã làm cho giai cấp nông dân phân hóa và xuất hiện tư bản chủ nghĩa Ở nước Mỹ, ngay từ đầu, trong những người tiểu nông đã có sự khác nhau về mặt tài sản Hơn nữa còn một số nông dân thông qua việc đầu cơ ruộng đất, tích lũy được một số tiền của Những người nông dân giàu có này đã dựa vào sức bóc lột đông đảo của những người bần nông nên trở thành giàu có thêm Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa đã tạo cho họ rất nhiều cơ hội tiến hành việc bóc lột nói trên Do vậy, có nhiều nông dân giàu có đã đem tiền của tích lũy được chuyển hóa thành tư bản, rồi thuê mướn nhân công, mở rộng việc kinh doanh, và qua đó họ đã trở thành những nhà tư bản nông nghiệp Nhưng một mặt khác, đông dảo người nông dân
Trang 11nghèo chịu sự bóc lột cũng như sự chèn ép của những người nông dân giàu, đã lâm vòa cảnh phá sản Nhiều người trong số họ bắt buộc phải đi làm thuê cho người khác và trở thành công nhân nông nghiệp Qua đó ta thấy sự phát triển cúa chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp không thể tách rời tình hình đông đảo, người lao động gặp phải bao nhiêu tai họa Con đường phát triển như trên chứa đựng cả yếu tố tích cực và cả tiêu cực
Có thể thấy: Con đường trang trại là hình thức sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp Mỹ, có mục đích là sản xuất hàng hóa, tư liệu sản xuất thuộc quyền
sở hữu và sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy
mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất được tập trung đử lớn với cách thức tổ chức quản lí tiến bộ, trình độ kĩ thuật cao, hoạt động tựu chủ và luôn gắn với thị trường
1.1.2 Con đường nông nghiệp kiểu Phổ
Ở Phổ, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong nền nông nghiệp đã đưa đến sự ra đời của một phương thức sản xuất mới Nhiều quý tộc địa chủ chuyển sang kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa, dùng máy móc, thuê mướn lao động , đẩy mạnh khai khẩn Các quý tộc địa chủ đã có xay bằng hơi nước, máy rượu Một vài địa chủ còn làm chủ các lò luyện kim Phương thức kinh doanh mới tạo nên tầng lớp tư sản quý tộc mới gọi là Junker Vậy con đường nông nghiệp kiểu
Phổ theo Lênin: “Là dạng tiến hóa nông nghiệp kiểu Junker chủ nghĩa tư bản
trong nông nghiệp phaàn lớn phát triển trên cơ sở các điền trang quý tộc bảo tồn tàn dư của chế độ nông nô, của tình trạng thiếu đất của nông dân và của chế
độ lĩnh canh nô dịch Cho nên, chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp phát triển rất chậm chạp và trong những điều kiên rất khổ cực cho quần chúng nông dân”
[31; tr.21]
Tính chất tiến bộ của cuộc cải cách ruộng đất vào nửa đầu thế kỉ XIX là hoàn toàn rõ ràng Tuy nhiên, nó vẫn giữ lại tàn dư của chế độ phong kiến trong một thời gian dài Những tàn dư này không phải chỉ bao gồm những nghĩa vụ phong kiến mà nông dân phải chịu, mà nó còn bao gồm sự nô dịch về tài chính
Trang 12Tàn dư của chế độ phong kiến ở Phổ là chế độ chiếm hữu ruộng đất của tầng lớp Junker Nó là cơ sở của sự lệ thuộc ruộng đất, của hình thức bốc lột nửa phong kiến Nông dân không có ruộng đất ở Đông Phổ dã phải lĩnh canh ruộng đất của địa chủ và rơi vào vòng của lệ thuộc Một đặc sắc trong nông nghiệp Phổ là mô hình sản xuất điền trang, trong đó sản phẩm làm ra phục vụ nhu cầu thị trường nhưng yếu tố phong kiến tồn tại trên cả kinh tế - chính trị - văn hóa
Do đó, Lenin cũng chỉ ra rằng: “Con đường nông nghiệp kiểu Phổ là con
đường mà khi đưa nông nghiệp đi theo chủ nghĩa tư bản thì vẫn duy trì tàn tích của chế độ bóc lột phong kiến” [27; tr.359]
1.2 Quá trình hình thành, phát triển của “Con đường nông nghiệp kiểu Mỹ”
Ở Bắc Mỹ, trước khi quá trình xâm lược thực dân tàn bạo bắt đầu, căn cứ vào kết quả nghiên cứu của các nhà nhân chủng học, khảo cổ học, văn hóa học chủ nhân đầu tiên của Bắc Mỹ là những người da đỏ hay còn gọi là Anh điêng có nguồn gốc từ Châu Á di cư sang khoản 25000 năm trước Họ vượt qua
eo biển Berinh và Alatka, rồi từ đó tràn vào Bắc Mỹ Những bộ lạc người da đỏ sống trên những vùng đất phì nhiêu, họ trải qua các thời kì phát triển với những
trình độ khác nhau Moocgan đã nhận định: “Tộc Iroqua, Angonkin ở miền đông
sông Mitxuri đang trong giai đoan thấp của thời kì dã man Nhưng nói chung họ còn sống trong giai đoạn bộ lạc, sở hữu đât đai chung” [27; tr.41] Việc bầu cử
bầu cử dân chủ công bằng đã tuyển lựa thủ lĩnh có tài, có khả năng đoàn kết bộ lạc, chống những kẻ cướp bóc Họ làm nghề trồng tỉa, hái lượm, đánh cá, săn bắt, thích nghi với việc khai thác các nguồn lợi tự nhiên Cứ như vậy cho đến thế
kỉ XVI, cư dân Bắc Mỹ đang ở trong tình trạng nguyên thủy thì các cuộc phát kiến địa lí của những nhà thám hiểm đã tìm ra mảnh đất này, cũng từ đây, những luồng di cư ồ ạt của người châu Âu sang Bắc Mỹ trong suốt 3 thế kỉ (thế kỉ XVI – XVIII) Đầu tiên là người Tây Ban Nha đến vùng Trung và Nam Mĩ, sau đó các nước Hà Lan, Thụy Điển, Pháp di dân người Anh đặt chân lên đất Bắc Mĩ vào những thập niên đầu thế kỉ XVII Người Anh sang Bắc Mĩ thường do các nguyên nhân sau đây: Việc rào đất nuôi cừu ở nước Anh đã làm cho đông đảo
Trang 13nông dân không có nơi nương thân, phải rời bỏ quê hương đi tìm kiếm việc làm, vượt biển sang miền đất hứa; để trốn chạy vì biến động chính trị thời cách mạng;
để tránh xung đột tôn giáo giữa người theo Thanh Giáo với Giáo hội Anh; sau đó khả năng làm giàu do khai phá đồn điền và phát triển thương mại càng thu hút nhiều người sang Bắc Mĩ
Người châu Âu khi đến đây, họ mang theo phương thức sản xuất mới đã làm xuất hiện yếu tố mới trong nền kinh tế, đặc biệt ở lĩnh vực nông nghiệp mà biểu hiện rõ nét của nó là sự hình thành những trang trại đầu tiên, mở đầu cho
quá trình hình thành “Con đường nông nghiệp kiểu Mỹ”
Từ thế kỉ XVI – XVII, Bắc Mỹ nằm trong sự giành dật của các nước thực dân như: Tây Ban Nha, Pháp, Hà Lan, Thụy Điển cuối cùng với những lợi thế
về kinh tế, xã hội Anh đã gạt bỏ các nước độc chiếm Bắc Mỹ, biến nơi này thành thuộc địa của Anh, đó là thời điểm mà Bắc Mỹ bước vào thời cận đại
Như vậy, nước Mỹ không trải qua chế độ phong kiến nên hầu như không
có nền kinh tế tiểu nông tự cấp, tự túc mà bước vào chế độ tư bản chủ nghĩa trong ách thống trị của thực dân đối với nước thuộc địa Đây là một trong những nhân tố tạo nên sự khác biệt trong con đường nông nghiệp kiểu Mỹ và con đường nông nghiệp kiểu Phổ sau này
1.2.1 Giai đoạn từ thế kỉ XVII đến cuối thế kỉ XVIII
Trong thế kỉ XVII, khi những người dân châu Âu di cư đến Bắc Mỹ, một
số làm công việc buôn bán, nhưng số đông đi vào sản xuất nông nghiệp trến các vùng đất đai màu mỡ chưa được khai phá Các trang trại nông nghiệp của người châu Âu xuất hiện đầu tiên ở vùng biển phía Đông nước Mỹ, sau đó tiến sâu vào nội địa, xuống phía Nam và sang phía Tây Những người dân châu Âu khi đến định cư ở Mỹ mang theo gia đình, khai phá đất hoang thành đất canh tác Họ sử dụng các giống cây trồng như: lúa mì, lúa mạch, các giống rau, các giống cây ăn quả như táo, nho các giống gia súc như ngựa, bò làm sức kéo, cừu, gia cầm Công cụ sản xuất (cày, bừa, súc vật kéo, xe bò ), và kỹ thuật sản xuất (công cụ gieo hạt, đập lúa mì, công cụ lấy nước, xay bột ) từ châu Âu vào hình
Trang 14thành các trang trại nông nghiệp của nhiều dân tộc khác nhau: Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Đức, Hà Lan, Ailen Các trang trại để sản xuất ra lương thực, thực
phẩm để tiêu dùng tại chổ và xuất khẩu sang các nước Châu Âu “Ở vùng đất
ven biển này là New Mexico, từ sau năm 1605, người di dân Tây Ban Nha đã đưa vào đây ngựa, cừu, các giống cây ăn quả để phục vụ yêu cầu phát triển trồng trọt và chăn nuôi ở các trang trại nông nghiệp” [8; tr.15]
Khi còn là thuộc địa Anh, sản xuất theo hình thức trang trại cũng rất phát triển Ở các thuộc địa phía Bắc, sản xuất nông nghiệp được quan tâm hàng đầu
để giải quyết lương thực, thực phẩm cho dân di cư Người ta tiến hành khai hoang, phá rừng tạo ra đất trồng trọt Khởi đầu mỗi gia đình được nhận một phần đất của mình và mọi người già, trẻ, lớn, bé đều phải làm ruộng Ở các thuộc địa miền Trung, các trang trại nhỏ chiếm số đông như Long Island và New Yord, nơi
có nền nông nghiệp thịnh vượng là Pennsy Leania
Có thể thấy rằng: Trong giai đoạn này, kinh tế nông nghiệp Mỹ theo con đường trang trại từng bước hình thành Những người dân di thực châu Âu khi đến Bắc Mỹ họ đã dựa trên đặc thù của nông nghiệp vùng đất này, đó chính là đối tượng tác động Đối tượng tác động của sản xuất nông nghiệp là đất đai, cây trồng, vật nuôi, chu trình sản xuất nông nghiệp chịu sự chi phối của các yếu tố tự nhiên cần có người chủ trực tiếp thực hiện những hoạt động phù hợp với đặc
điểm thổ nhưỡng Do vậy, “Sau này tư bản Mỹ ít tập trung đầu tư phát triển
công nghiệp như các nước khác ở châu Âu mà hình thành các trang trại nông nghiệp với quy mô khác nhau thích hợp với đặc điểm, điều kiện của từng vùng, từng loại cây trồng, vật nuôi để dảm nhiệm công đoạn sản xuất trực tiếp, đảm bảo sản xuất nông nhiệp đạt kết quả cao Đồng thời thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp, nâng cao giá trị nông sản Tư bản Mỹ đã thực hiện tập trung các ngành công nghiệp và dịch vụ phục vụ nông nghiệp, các nghành công nghiệp dịch vụ chế biến, lưu thông nông sản” [3; tr.53]
Tuy nhiên, trong giai đoạn này “Con đường nông nghiệp kiểu Mỹ” vẫn
chưa có điều kiện chín muồi cho sự phát triển Bởi vì, ruộng đất thuộc sở hữu
Trang 15của chính quyền thực dân Anh, việc tập trung ruộng đất vào tay quý tộc, địa chủ
Anh phát triển rất mạnh, “Trước cách mạng ở đất thực dân New York 2,5 triệu
acrơ đã thuộc về tay bọn đại địa chủ Có những lãnh địa rộng lớn khoảng 50.000 acres” [31; tr.139] Điều này là hậu quả bởi chính sách phân cấp ruộng
đất của vua Anh, bọn quý tộc đại chủ Anh trở thành những công tước ở đất thực dân Giai cấp này tăng cường chiếm đoạt ruộng đất, bóc lột địa tô đối với nông dân Trên vùng đất thực dân, số địa chủ ngày càng tăng Việc tập trung ruộng đất vào tay địa chủ, quý tộc là một trở ngại rất lớn đối với sự phát trển của con đường trang trại Mỹ, chế độ “phacmơ”, người chủ trang trại cũng khó thoát khỏi cảnh bị nông nô hóa Vì vậy, trong các thế kỉ XVII – XVIII, các trại chủ thường nổi dậy đấu tranh chống lại bọn địa chủ, qúy tộc Anh Năm 1676, trên đất Virginnia, cuộc khởi nghĩa của Becon đã bùng nổ Trên đất New York, cuộc khởi nghĩa của Lexle đã bùng nổ vào 1689 – 1691 Năm 1768 đã bùng nổ phong trào “Những người san bằng”
Đầu thế kỉ XVII, vùng đất phía Tây mở ra lối thoát cho những mâu thuẩn thuộc địa Các công ty và đại địa chủ không thể chặn đứng phong trào Tây tiến,
mà trái lại dòng người di dân tiếp tục lấn chiếm vùng đất tự do Phần lớn các trại chủ tránh âm mưu biến họ thành nông nô nên đa trốn sang phiá Tây Chính những tiền đề về ruộng đất và sự xung đột giữa chế độ trang trại và chế độ phong kiến mà bọn quý tộc ruộng đất đang cố bắm chặt đã nêu lên yêu cầu cần phải giải quyết, từ đó trong cách mạng Mỹ vấn đề ruộng đất đóng vai trò chi phối sự ủng
hộ của nhân dân Bắc Mỹ đối với cách mạng Trước khi bùng nổ cách mạng đã diễn ra các cuộc chiến tranh dành những vùng đất hoang, có thể khai phá được – nơi đó hình thành nên chế độ trang trại tự do của người nông dân, trại chủ
Như vậy, trong giai đoạn từ thế kỉ XVII đến cuối thế kỉ XVIII, con đường trang trại ra đời bắt đầu biểu hiện xu thế phát triển trong nền nông nghiệp Mỹ
Sự ra đời và phát triển “Con đường nông nghiệp kiểu Mỹ” giai đoạn này tạo cơ
sở vững chắc cho giai đoạn sau Cuộc cách mạng Bắc Mỹ (1775 – 1783) thắng lợi, dọn đường cho sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản, cho sự thắng lợi của
Trang 16chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp, bước đầu thủ tiêu chế độ phong kiến và thực đân Con đường trang trại phát triển và càng được mở rộng ở phia Tây khác hẳn, và không thể dung nập chế độ nô lệ đồn điền ở phía Nam, vì thế công cuộc giải phóng nô lệ càng được thôi thúc mạnh mẽ hơn, đây được coi là một trong những yêu tố làm bùng nổ cuộc nội chiến ở Bắc Mỹ
1.2.2 Giai đoạn cuối thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX
Cuộc chiến tranh giành độc lập kết thúc, gánh nặng đè lên vai những người lao động, chính quyền hoàn toàn nằm trong tay giai cấp tư sản, chủ nô, chủ đồn điền Nền kinh tế không ổn định, lạm phát gây rối thị trường, thuế má tăng, nợ nước ngoài tăng lên tới 56 triệu đôla, cuộc sống nhân dân cực khổ Nhiều phong trào đấu tranh nổ ra, trong đó có phong trào của các trại chủ:
“Trong những năm 80 thế kỉ XVIII, các cuộc nổi dậy ngày càng nhiều
hơn Phong trào đấu tranh của các trại chủ cũng gia tăng vì bị phá sản trước sự phá giá của đồng tiền, không có cách gì kinh doanh và bảo đảm thuế má Năm
1876, một “phacmơ” nghèo đã từng phục vụ trong quân đội là Đanien Sexo (1747 – 1825) đã tập hợp được 2.000 người chống lại chính quyền ở bang Masaxuxet Họ tấn công công binh xưởng ở Sporingphing nhưng thất bại Đông đảo công nhân ở New Inglan và New Hamoai nổi dậy hưởng ứng Phong trào kéo dài từ mùa hạ năm 1786 đến mùa xuân năm 1787 với chủ trương: phân chia ruộng công bằng, xóa bỏ nợ nần, xét xử công minh Nguyên tắc đề ra của họ là: thắng lợi nhờ công sức của mọi người thì đất đai phải thuộc về tất cả” [26;
tr.55]
Cuộc khởi nghĩa đã nhanh chóng lan rộng sang các bang, hàng chục vạn người đứng lên đòi quyền dân chủ nhưng chính quyền tư sản đã huy động lực lượng đàn áp Đanien Sexo cùng 13 người chiến hữu bị bắt và bị đày Cuộc đấu tranh giành đất đai kể từ đây trở thành nội dung trong tiến trình cách mạng Cách mạng tuyên bố thủ tiêu các hình thức chiếm hữu phong kiến và tước dân quý tộc; bãi bỏ chế độ lĩnh canh cha truyền con nối, đến 1791 bỏ quyền thế tập con trưởng Nhưng vấn đề dặt ra là việc mở rộng vùng đất miền Tây, mở mang con
Trang 17đường lập trang trại của các trại chủ, xóa bỏ luật cấm di thực của nhà vua Trong thời gian 6 năm chiến tranh đã có tới 25.000 người dân nghèo kéo đi lập nghiệp
ở vùng đất bên kia dãy Aliganit Dân tự do Bắc Mỹ đã dùng biện pháp di thực mạnh mẽ để phá vỡ chế độ phong kiến và mở đường đi lên chủ nghĩa tư bản Nhưng nhà nước tư sản đã trực tiếp chi phối vùng đất phía Tây Aliganit
“Năm 1785 chính phủ đã quyết định bán lại đất đai, theo điều luật năm
1787 người ta dem chuyển nhượng từng ô đất 640 acres với giá hơn 1.000 đôla như vậy chỉ có chủ đồn điền mới có khả năng mua được Đến năm 1800, chính phủ phải ra đạo luật cho phép bán những ô đất nhỏ hơn 160 acres – 320 acres
và được trả tiền dần sau khi trả trước 1/4 giá đất” [26; tr.246] Những
“phacmơ” nhỏ nhờ vậy có khả năng mua được ruộng đất Điều này, tạo điều kiện cho nền kinh tế trang trại phát triển Ngoài các trang trại có từ trước, nhiều trang trại mới được thành lập
Như vậy, với cuộc cách mạng chiến tranh giành độc lập đã tạo ra đông đảo lực lượng các chủ sở hữu nhỏ, kết quả là khẳng định con đường trang trại tủ bản chủ nghĩa trong nông nghiệp Nước Mỹ nửa công nghiệp, nửa nông nghiệp
ra đời
Trong sự phát triển nông nghiệp Mỹ có sự phân biệt giữa các vùng: Miền Đông Bắc là vùng công nghiệp phát triển; miền Nam là vùng nông nghiệp đồn điền; phía Tây dãy Aliganit là vùng đất bao la, khoảng trời rộng lớn của dân di
cư cho nên việc giải quyết vấn đề ruộng đất sau cách mạng thúc đẩy hàng loạt cuộc di dân từ châu Âu, châu Á sang nước Mỹ, điều này đã đem dến cho các trang trại Mỹ nguồn nhân lực vô cùng phong phú Từ đây, nền kinh tế trang trại tỏa khắp, ăn sâu vào lãnh thổ rộng lớn Việc khẩn thực vùng Tây Bắc (vùng ở phía Nam các hồ lớn gồm các bang: Ohaio, Indiana, Misigon, Uyxconxin, Alova) được đẩy mạnh góp phần mở mang thêm các trang trại nhỏ
Phong trào khẩn thực đã biến Tây Bắc thành khu chăn nuôi cừu, lợn, sản xuất lúa mì Từ cuối thế kỉ XVIII, việc chuyên môn hóa nông nghiệp của vùng Tây Bắc hết sức rõ ràng Nghề nuôi cừu được mở rộng tận dụng các nguồn thức
Trang 18ăn của rừng núi, các trại chủ thả cừu ăn cỏ tươi ở các bụi cây Người chủ còn lợi dụng các đồng cỏ xanh tươi để nuôi các súc vật lớn có sừng Nghề chăn nuôi đã
mở rộng, có ý nghĩa kinh tế lớn lao Các trại chủ tiến hành chăn nuôi lợn, rồi mổ lợn tại chổ, thành phố Xixninnati phát triển lên nhờ cơ sở đó (Năm 1845 ở đây
đã mổ 400.000 con lợn) Bên cạnh đó, ngườ ta gieo ngô trên diện tích ngày càng rộng Nghề trông ngô vừa đem lại nguồn lợi nông nghiệp vừa phụ trợ chăn nuôi
“Ngô biến thành cây trồng cơ bản, từ 1840 – 1850, việc sản xuất ngô ở các bang Tây Bắc tăng từ 228,4 triệu busen lên 642,1 triệu busen Ngoài ra, người ta còn gieo lúa mì đen, đại mạch, yến mạch trên diện tích lớn Việc sản xuất lúa mì mang quy mô lớn vào những năm 20 – 30 của thế kỉ XIX, sau đó tăng lên dữ dội
và đến năm 1850 thì Ilinox, Indana, Uycoxin trở thành trung tâm chính của nghành sản xuất lúa mì Vào những năm 50 của thế kỉ XIX, ở khu vực Tây Bắc sản xuất lúa mì tăng lên 125%, trở thành nơi cung cấp lúa mì và gia sức trong
cả nước” [11; tr.261]
Tuy nhiên, việc vận chuyển các mặt hàng này rất khó khăn, người ta bắt đầu chế biến thịt hộp, túi thực phẩm nhờ đó vận chuyển đến các thị trường xa xôi hơn Sự xuất hiện của tàu thủy ở Ohaio, Misipipi đã giảm nhẹ đi rất nhiều việc chuyên chở, với việc kênh đào Eri kết hợp với việc xây dựng tuyến đường sắt đã
mở rộng thị trường tiêu thụ hàng nông sản Năm 1838, một bộ phận lúa mì đầu tiên của Chicago được bán ra, về sau Chicago trở thành trung tâm lúa mì quan trọng nhất
Một nhân tố thuận lợi nữa cho việc phát triển các trang trại nông nghiệp
đó là: Năm 1830, chế độ tự do chiếm chiếm đất và sử dụng đất đai được phê chuẩn Dân chiếm đất được quyền ưu tiên mua lại phần đất mà họ khai khẩn, rồi đạo luật tạm thời ấy được kéo dài đến năm 1841 thì thành chính thức Dân chiếm đất được mua từ 80 – 160 acres với mức giá tối thiểu Vào giữa thế kỉ XIX, nhà nước ban hành những đạo luật phân bố lại đất xấu Theo đạo luật 1854, những phần đất này được bán với giá 12,5 xu/1 acres, với điều kiện trong khoảng 30 năm nó không được bán lại Tất cả những điều đó tạo điều kiện cho hình thức
Trang 19trang trại nông nghiệp trở thành điển hình Việc khai khẩn vùng Tây Bắc trong chừng mực nhất định là sự nghiệp của chủ trang trại nhỏ, và xu hướng sản xuất
tư bản chủ nghĩa đã trở thành tất yếu trong sản xuất nông nghiệp Mác đã chỉ rõ
điều đó: “Ở Mỹ vào thế kỉ XIX, xu hướng ấy được biểu hiện rõ nét Chúng chứa
đựng mầm mống phát triển và được tăng thêm sức mạnh bởi các hìnht hức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã được hình thành Thắng lợi của chủ nghiã tư bản trong công nghiệp đã làm cho sự tiến hóa chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp trở thành tất yếu” [24; tr.387]
Nhưng lịch sử đã chứng minh: Sự hình thành chủ nghĩa tư bản thời cận đại phải trải qua quy luật tất yếu đó là quy luật tích lũy vì có tích lũy nguyên thủy thì chủ nghĩa tư bản mới có thể hình thành và đánh đổ chế độ phong kiến Biểu hiện đầu tiên của quy luật này chính là nạn đầu cơ ruộng đất (điển hình nhất
là ở Anh) Khi các đạo luật phân phối ruộng đất được ban hành, tất cả mọi người
ai cũng được mua đất chỉ cần có tiền Sau khi cách mạng thành công, thành quả cách mạng hay nói cách khác là chính quyền thuộc vào tay giai cấp tư sản, lúc này giai cấp tư sản mở rộng quyền thống trị của mình thông qua mở rộng việc chiếm hữu đất đai Đất đai luôn đêm lại các nguồn lợi nhuận khổng lồ nên giai cấp tư sản nhảy vào đầu cơ tích lũy đất Việc đầu cơ đất trở thành một hiện
tượng phổ biến: “Một công ty đứng đầu là Rmoric đã chiếm 2,3 triệu ha đất ở
các bang miền Bắc Đất đai miền Nam còn bị chiếm trắng trợn hơn nữa đến năm 1858 trên lãnh thổ Texac 2,7 triệu ha đã bị chiếm và rơi vào tay bọn chủ nô” [10; tr.98] Cũng trong thời kì nội chiến, giai cấp tư sản đã lợi dụng tình
hình khó khăn, thông qua những thủ đoạn đầu cơ tài sản của quốc gia và những thủ đoạn khác để thu lợi nhuận Chính phủ Mỹ vẫn tiếp tục đem ruộng sở hữu
quốc gia tặng cho các công ty đường sắt: “Liên hiệp Thái Bình Dương đã được
chính phủ cấp cho 2.000 mẫu Anh đất, một công ty đường sắt khác cũng được chính phủ cấp cho 1.700 mẫu Anh đất Chính phủ cũng vì ủng hộ các công ty đường sắt xây dựng nhanh chóng mạng đường sắt trên đất nước nên đã ban hành cấp nhiều đất đai cho họ tổng số đất đai cấp cho các công ty đường sắt lên
Trang 20đến 158.293.337 mẫu Anh đất Tương đương với diện tích của 2 nước Pháp và Đức cộng lại” [32; tr.377] ( Một Mẫu Anh là một đơn vị đo diện tích trong hệ
đo lường Anh và hệ đo lường Mỹ Theo hệ đo lường Anh mà The Units of Measurement Regulations 1995 công nhận đơn vị đo này được định nghĩa là 4.046,8564224 m² tương ứng với 0.40468564224 hectar Theo Hệ đo lường Mỹ
mà NIST Handbook 44 công nhận đơn vị này bằng 43.560 foot vuông Trong khi
đó, chuẩn foot mẫu quốc tế bằng 4.046,8564224 m², 1 Hectar = khoảng 10.000
vào việc tăng giá các phần đất một cách có hệ thống Những phần đất đoạt được với giá rẻ hay không mất tiền, sau một thời gian có thể đem bán với một số tiền lớn Đầu cơ ruộng đất trở thành một nhân tố quan trọng của việc tích lũy nguyên thủy tư bản Việc đầu cơ tích lũy ruộng đất của giai cấp tư sản làm xuất hiện 2 vấn đề đối với trang trại Mỹ: Một là, các trại chủ có nguy cơ bị mất đất vào tay giai cấp tư sản; Hai là, các trại chủ có điều kiện cũng tiến hành mua ruộng đất, thâu tóm ruộng đất của các trại chủ nhỏ khác Sau này, xu hướng thứ hai thắng thế
Có thể thấy rằng: Sau cuộc chiến tranh giành độc lập thắng lợi, Hợp
chủng quốc Hoa Kì ra đời khẳng định sự hình thành của “Con đường kiểu Mỹ”
trong nông nghiệp Hệ quả ruộng đất của cuộc cách mạng chiến tranh giành độc lập đã mở đường cho bước phát triển mới của con đường trang trại tư bản Mỹ,
do vậy xu hướng tư bản chủ nghĩa trong nông nghiệp Mỹ biểu hiện mạnh hơn so với các nước Nga, Nhật, Đức, Ý Thông qua các hình thức chiếm đoạt và mua đất các trại chủ nhỏ cũng biến thành các trại chủ lớn, những phú nông và làm phá sản những người láng giềng Kết quả là, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản được đẩy nhanh và một bộ phận trại chủ nhỏ bị phá sản, hơn nữa ở Mỹ, ngay từ khi nảy sinh vốn tư bản lớn đã hướng vào nông nghiệp và đến giai đoạn này sự xâm nhập của đại tư bản vào nông nghiệp càng được đẩy mạnh kéo theo đó là làm phá sản trang trại nhỏ Các chủ tư bản xây dựng những trang trại lớn, sử dụng lao động làm thuê và máy móc, nảy sinh nền nông nghiệp sản xuất đại quy
Trang 21mô Đạo luật về ruộng đất đã thủ tiêu hình thức chiếm hữu ruộng đất phong kiến
và các danh vị quý tộc, nhũng đòn quyết định làm mở cửa vùng đất phía Tây một cách tự do, lập trang trại Chế độ phát canh thu tô, chế độ lĩnh canh thế nghiệp không còn chổ đứng Con đường trang trại của các trại chủ tự mở đường đi và dành thắng lợi
Cùng lúc đó, ở miền Nam, các đồn điền trồng bông phát triển nhanh Bông trở thành loại cây trồng có lợi ích kinh tế hàng đầu Vùng đất màu mở của
Alabama và Mitxixibi rất thuận lợi cho nghề trồng bông “Ludiana và Texac
cũng chiếm vị trí quan trọng trong ngành sản xuất này Năm 1808, sản lượng bông đạt 365000 phun, đến 1849 sản lượng bông lên tới 1.920.500.000 phun Bên cạnh những đồn điền tròng bông là những đồn điền trồng mía Chính cở sở này đã làm cho công nghiệp sản xuất đường phát triển Năm 1744, ở Ludiana có
762 đồn điền mía, sản lượng đường năm 1847 lên đến 856 tấn ở Nam Carolinna
và Gioocda lúa gạo trở thành mặt hàng xuất khẩu quan trọng, năm 1820 – 1850 tăng lên ba lần Nghề thuốc lá có cơ sở lâu đời, đáp ứng nhu cầu sang xuất cảng các nước châu Âu, từ 1848- 1850 sản lượng thuốc lá cũng tăng gấp 2 lần” [12;
tr.87] Thuốc lá Viecginia được coi là loại hành quý trên thị trường thế giới Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế nông nghiệp Mỹ gắn liền với kinh tế trại chủ và kinh tế đồn điền Nó đem lại nguồn sản phẩm dồi dào phong phú, nhưng cũng phải trả giá bằng mmồ hôi và xương máu của hàng vạn người thổ dân da đỏ và
nô lệ da đen
Nhưng con đường phát triển nông nghiệp kiểu tư bản Mỹ không thể dung nạp chế độ nô lệ đồn điền miền Nam và bản thân những người nô lệ ngày càng đông sẽ đấu tranh đòi giải phóng Mâu thuẫn sẽ dẫn nước Mỹ đến cuộc nội chiến
là không thể tránh khỏi, cuộc đấu tranh sẽ quét sạch những tàn dư của chế độ nô
lệ của phương thức sản xuất lạc hậu, mở đường cho chủ ngĩa tư bản Mỹ phát triển
Trang 221.1.3 Giai đoạn cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX
Từ năm 1861 – 1865, xảy ra cuộc nội chiến giữa trại chủ tư sản miền Bắc
và chủ nô miền Nam Cuộc nội chiến xảy ra đã tiêu diệt chế độ nô lệ da đen miền Nam, giải phóng nô lệ da đen, thêm vào đó “Luật đất thổ cư” đã thúc đẩy con đường nông nghiệp kiểu Mỹ phát triển vượt bậc Trong 30 năm cuối thế kỉ XIX,
Mỹ từ một nước có nền kinh tế phụ thuộc châu Âu nhanh chóng trở thành một quốc gia công nông nghiệp đứng hàng đầu thế giới Nước Mỹ đạt được như vậy bởi vì nhiều yếu tố từ cuộc nội chiến mang lại kết hợp với điều kiện thuận lợi của nước Mỹ
Do sự phá vỡ của chế độ nô lệ cũng như sự phá hoại của chiến tranh, địa
vị kinh tế của các chủ đồn điền bị tụt thấp, thêm vào đó là số lượng các tiểu nông độc lập tăng lên Nhiều chủ đồn điền bắt buộc bán đất với giá rẻ Trước kia giá đất của một mẫu Anh là 100 Mỹ kim, nay chỉ còn 5 Mỹ kim Hơn một nửa đất đai ở miền Nam đã chuyển vào tay những người da trắng bần cùng Họ từ người không có ruộng đất trở thành người sở hữu một số ruộng đất nhỏ Số lượng các tiểu nông độc lập tăng lên từ 370.000 năm 1860 lên 1306000 năm 1900 Hơn nữa, “Luật đất thổ cư” được ban bố cho thời kì nội chiến cũng tạo điều kiện cho nông nghiệp phía Tây phát triển theo “con đường kiểu Mỹ” Từ năm 1868 –
1900, dựa vào “Luật đất thổ cư” có đến 600.000 gia đình được phân phối đất với tổng diện tích là 8.000 mẫu Anh vuông Những người nhận đất thổ cư thành những người tiểu nông độc lập Từ đó nâng cao sức sản xuất và tạo bộ mặt phồn vinh tại phía Tây Kết quả của sự phát triển kinh tế tiểu nông, điều không thể tránh khỏi là sự phân hóa giai cấp Đông đảo nông dân lâm vào cảnh phá sản và một số nông dân giàu có đã sử dụng máy móc, phân bón nhân tạo, mở rộng những nông trường lớn theo kiểu tư bản chủ nghĩa Năm 1900, khắp cả nước Mỹ
có khoảng 5.800.000 hộ nông dân, trong đó những nông trường canh tác theo kiểu tư bản chủ nghĩa chỉ có 1.000.000 hộ, nhưng sản phẩm do họ sản xuất ra chiếm đến 52% tổng sản lượng nông nghiệp toàn quốc Nếu như trước nội chiến (1861 – 1865), những đồn điền lớn với hàng trăm hecta, nếu không muốn nói là
Trang 23hàng nghìn hecta, được thiết lập để sản xuất thuốc lá, gạo và bông với quy mô lớn Các trang trại này được kiểm soát chặt chẽ bởi một số ít gia đình giàu có Hầu hết người lao động ở trang trại là nô lệ sau khi được giải phóng Với việc xóa bỏ chế độ nô lệ sau nội chiến, nhiều nô lệ trước đây ở lại trên vùng đất đó như các nông dân làm thuê theo các thỏa thuận với các chủ cũ của họ
Cũng trong giai đoạn này, việc cung cấp rất nhiều lương thực, thực phẩm cho công nhân trong nhà máy, công xưởng và các cửa hàng là yếu tố thiết yếu cho tiến trình công nghiệp hóa ban đầu của nước Mỹ Hệ thống đường thủy và đường bộ phát triển mở ra khả năng vận chuyển nông phẩm trên các tuyến đường dài Bên cạnh đó, các sáng kiến mới như máy cày rẽ bằng thép (cần thiết cho vùng đất cứng), máy gặt (một loại máy thu hoach lúa hạt) và máy liên hoàn (một loại máy cắt, đập và quạt lúa) đã cho phép các trang trại nâng cao năng suất Nhiều công nhân trong các nhà máy và công xưởng của quốc gia là những người con của các gia đình nông dân mà lao động của họ không còn cần thiết cho nông trại nhờ thành quả của những sáng kiến đó Vào năm 1860, 2.000.000 nông trại của quốc gia dã sản xuất dư thừa hàng hóa Trên thực tế, các sản phẩm nông nghiệp chiếm 82% hàng hóa xuất khẩu của đất nước trong năm 1860 Với một ý nghĩa quan trọng, nghành nông nghiệp đã tạo ra sức mạnh cho sự phát triển kinh tế Mỹ
Cuộc di dân ồ ạt ở miền Viễn Tây góp phần mở rộng sự phát triển của con đường trang trại kiểu tư bản Mỹ Việc chăn nuôi gia súc, một thời gian dài góp phần quan trọng trong vấn đề phát triển nông nghiệp ở Texas, vốn đã phát triển mạnh mẽ sau nội chiến khi những con người dám nghĩ dám làm bắt đầu xua đàn gia súc sừng dài lên phía Bắc đi qua những khu vực đất công Vừa đi vừa nuôi, đàn gia súc của họ khi đến điểm chuyên chở gia súc bằng tàu hỏa Kansas đã lớn hơn và béo hơn nhiều khi bắt đầu lên đường Các trang trại nuôi gia súc lớn đã xuất hiện tại các bang Colorado, Wyoming, Kansas, Nebraska và lãnh thổ Dakota Các thành phố phía Tây đã phát triển thành trung tâm giết mổ gia súc lấy thịt Ngành chăn nuôi gia súc phát triển mạnh vào giữa thập niên 1880 Vào
Trang 24thời điểm đó không xa, các trang trại chăn nuôi là các trang trại gia đình họ mang theo ngựa kéo, bò, lợn đến đây Theo “Luật đất thổ cư” cho người di dân,
họ đóng cọc, chiếm đất và rào mảnh đất của họ bằng dây thép gai Dù vậy, việc kinh doanh trang trại chăn nuôi không còn có pháp luật đảm bảo, những mảnh đất của họ không có giấy tờ công nhận về mặt pháp lí, chính vì vậy họ dễ dàng bị xua đuổi ra khỏi mảnh đất của mình
Cuối thế kỉ XIX, ở Mỹ quá trình tập sản xuất và tập trung tư bản diễn ra mạnh mẽ, nhiều công ti đường sắt, ngân hàng nắm quyền chi phối các ngành sản xuất, hình thành các tổ chức lũng đoạn có trong mọi ngành kinh tế Năm 1887, những tổ chức Trust trong nông nghiệp như rượu, làm đường, thuốc lá xuất hiện
Khi nền kinh tế trang trại phát triển, người nông dân ngày càng nhận thức được rằng các chính sách của chính phủ đã tác động đến kế sinh nhai của họ Nhóm vận động chính trị cho nông dân đầu tiên - nghiệp đoàn nông dân được thành lập vào năm 1867 Nó phát triển rất nhanh chóng, và tiếp theo là các nhóm tương tự như liên minh nông dân và Đảng dân túy Các nhóm này nhằm mục tiêu vào các ngành đường sắt, thương nhân và ngân hàng – họ nhằm vào đường sắt vì cước phí vận chuyển cao, nhằm vào thương nhân vì những gì người nông dân cho là những khoản lợi nhuận vô lương tâm bị lấy đi bởi “những người mua giới”, và nhằm vào ngân hàng vì những hoạt động tín dụng quá chặt chẽ Sự kích động chính trị của nông dân cũng đem lại một số kết quả Đường sắt và máy băng vận chuyển lúa được đặt dưới sự điều tiết của chính phủ, hàng trăm hợp tác
xã được hình thành Tuy nhiên, khi những nhóm nông dân cố gắng định hình chương trình nghị sự của quốc gia bằng việc ủng hộ nhà hùng biện nổi tiếng thuộc đảng Dân chủ Wiliiam Jennings Bryan trong cuộc tranh cử Tổng thống vào năm 1896, thì ứng cử viên của họ bị thất bại người dân thành phố và các lợi ích kinh doanh ở miền Đông nhìn những yêu cầu của nông dân với con mắt ngờ vực, sợ rằng các yêu cầu về vay lãi thấp và tín dụng có thể dẫn đến lạm phát tai hại
Trang 25Hai thập niên đầu tiên của thế kỉ XX, đã trở thành thời kì vàng son của ngành nông nghiệp Mỹ Giá nông phẩm rất cao khi nhu cầu về hàng hóa gia tăng
và giá trị của đất đai tăng Những tiến bộ kĩ thuật tiếp tục nâng cao năng xuất Đã thành lập các trang trại thử nghiêm nhằm trưng bày các kĩ thuật mới làm tăng sản lượng mùa màng Năm 1914, Quốc hội lập ra cơ quan dịch vụ phát triển nông nghiệp, cơ quan này tuyển mộ một đội ngũ cán bộ để cố vấn cho nông dân và gia đình họ mọi việc, từ phân bón cho đến các dự án sữa chữa cải tạo của gia đình
Bộ nông nghiệp tiến hành các nghiên cứu mới phát triển những giống lợn tăng trọng nhanh hơn và đỡ tốn thức ăn hơn những loại phân bón làm tăng sản lượng hạt, các loại giống lai cho cây trồng khỏe hơn, các phương pháp chữa trị nhằm bảo vệ và chăm sóc cây trồng vật nuôi chống được bệnh tật và nhiều phương pháp khác kiểm soát các loài vật gây hại
Những năm đầu thế kỉ XX, ngành nông nghiệp Mỹ đóng góp lớn cho sự phát triển kinh tế Mỹ nói riêng và thế giới nói chung Nhưng khi chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, kéo dài và kết thúc vào năm 1918, hậu quả khốc liệt của cuộc chiến tranh làm tổn hại đến sinh mạng, của cải vật chất, nền kinh tế thế giới Mặc dù nước Mỹ giàu lên nhanh chóng nhờ tận dụng các cơ hội trong chiến tranh nhưng giá cả thế giới giảm cũng ảnh hưởng đến nền kinh tế Mỹ trong đó
có nông nghiệp Nông dân lại kêu gọi sự giúp đỡ của chính phủ Liên bang Tuy nhiên, những lời yêu cầu của họ đã bị bỏ ngoài tai khi mà phần còn lại của quốc gia – đặc biệt là những vùng đô thị - đang tận hưởng cuộc sống thịnh vượng của những năm 1920 Giai đoạn này, người nông dân gặp nhiều thảm họa hơn cả những thời kì khó khăn trước đây bởi vì họ không còn tự cung tự cấp nữa Họ phải thanh toán bằng tiền mặt cho máy móc, hạt giống và phân bón cũng như cho hàng hóa tiêu dùng, trong khi thu nhập của họ tụt xuống cực kì thấp
Trong giai đoạn này, sự phát triển của con đường kiểu Mỹ trải qua những bước thăng trầm, các trại chủ trang trại luôn đứng lên đấu tranh chống lại các thủ đoạn đầu cơ ruộng đất – mối nguy hiểm lớn nhất đe doa cuộc sống của họ Mặc
dù giai đoạn này, con đường trang trại tư bản chủ nghĩa vẫn còn vấp phải trên
Trang 26con đường phát triển nhưng nó đã đánh dấu một bước tiến vượt bậc của kinh tế nông nghiệp tư bản kiểu Mỹ khi mà chế độ nô lệ bị xóa bỏ, con đường này ngày càng được mở rộng, tạo cơ sở, thúc đẩy sự phát triển công nghiệp Đó là điều kiện và đủ để đến cuối thế kỉ XIX, nước Mỹ bắt đầu tiến hành cuộc cách mạng công nghiệp, nhanh chóng đưa Mỹ lên vị trí hàng đầu của các nước tư bản trên thế giới, trở thành một siêu cường về kinh tế và có tầm quan trọng trong hệ thống chính trị - quan hệ quốc tế đầu thế kỉ XX
1.3 Quá trình hình thành, phát triển của “Con đường nông nghiệp kiểu
Phổ”
1.3.1 Giai đoạn đầu thế kỉ XIX đến giữa thế kỉ XIX
Có thể thấy rằng: “Con đường nông nghiệp kiểu Phổ” được hình thành muộn hơn so với các con đường khác của các nước trên thế giới Nếu như “Con đường kiểu Mỹ” trong nông nghiệp đã ra đời và phát triển từ thế kỷ XVII thì ở Phổ mãi đến đầu thế kỷ XIX mới xuất hiện những mầm mống cho sự ra đời của phương thức sản xuất mới mà Lenin gọi là “Con đường nông nghiệp kiểu Phổ”
Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp phổ vào thời gian đầu thế kỷ XIX, đã bị những tàn dư của chế độ nông nô bao phủ, bị sự nô dịch ruộng đất kìm hãm nên tiến triển chậm chạp, đồng thời kéo theo một quá trình tước đoạt nông dân đầy đau khổ Tuy nhiên, cũng cần thấy một bước phát triển mới, đặc biệt từ sau cách mạng 1848, địa chủ quý tộc chuyển mạnh sang kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa, do đó “Con đường kiểu Phổ” trong nông nghiệp mới chính thức hình thành và phát triển đáng chú ý là phía Đông sông Elbert và Meclenbuoc Ngoài ra, ở các lưu vực sông Rhein, ở Hanover, Bayec, nền kinh tế phú nông của các phú nông cũng đã bắt đầu phổ biến
Sự phát triển của “Con đường kiểu Phổ” trong nông nghiệp Đức thời kỳ này chỉ mới là giai đoạn manh nha Mặt khác, vào thời kỳ này, Đức vẫn là một quốc gia đang bị chia năm xẻ bảy, chưa thống nhất nên đã tác động rất lớn đến
sự phát triển nông nghiệp trên toàn nước Đức nói chung và ở Phổ nói riêng Do hạn chế về thị trường và tình trạng chia cắt đất nước mà nông nghiệp theo “con
Trang 27đường kiểu Phổ” cũng phát triển chậm chạp Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự chuyển hướng kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa
mà “Con đường nông nghiệp kiểu Phổ” ở đây cũng có những bước phát triển nhất định
Đặc trưng của sự phát triển nông nghiệp theo “Con đường kiểu Phổ” thời
kỳ này là nền kinh tế nhỏ và rất nhỏ, là chế độ chiếm hữu các phần đất nhỏ, là nền nông nghiệp thâm canh (làm vườn, trồng rau) Sự sụp đổ của chế độ phong kiến ở Phổ cũng có ảnh hưởng tốt dến tình hình canh nông Thực ra, trong những năm 1821 – 1831 đã phát sinh cuộc khủng hoảng nông nghiệp và việc xuất khẩu lúa mì bị thu hẹp khá nhiều Song về sau, việc chuyên chở sản phẩm ra thị trường lại khá lên một cách rõ rệt Ở đây, sự phát triển bước đầu của công nghiệp công xưởng sau khi thiết lập liên minh quan thuế đã đóng một vai trò quan trọng Các công xưởng lần lượt ra đời do đó cần nguồn cung cấp nguyên liệu rất lớn, vì vậy các địa chủ đã dẩy mạnh sản suất các mặt hàng nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu của các công xưởng Những hậu quả của cải cách ruộng đất lại càng trở nên
rõ rệt Do đó, trong những thập niên 30 – 40 của thế kỷ XIX, chế độ luân canh ba mảnh bị bải bỏ
Đầu thế kỷ XIX, trong số 21 triệu ha đất cày thì có đến 1/3 đất bị bỏ hưu canh, sang năm 1850, chỉ còn 15% Việc trồng cây ba lá, củ cải, khoai tây, đậu bướm, đã giúp vào việc thu hẹp đất hưu canh Người ta đã bắt đầu sử dụng những hình thức luân chủng phức tạp hơn, chế độ chăm bón đất đã nhanh chóng phát triển, còn ở một phần lớn lãnh địa ngang Đông Bắc Phổ, Hoxntaino, Meclenbuoc thì phổ biến việc trồng cỏ ở khắp nơi, việc cải tiến cách luân chủng
và chế độ canh tác đã kéo theo việc mở rộng chăn nuôi
“Số súc vật ở Đức trong những năm 1816 – 1849 tăng lên mạnh mẽ, trong
đó số ngựa tăng từ 1,2 triệu con lên 1,5 triệu con; súc vật có sừng tăng từ 4,0 lên 5,3 triệu con; số cựu tăng từ 8,2 len 16,2 triệu con; lơn tăng từ 1,4 lên 2,4 triệu con; dê tăng từ 0,14 lên 0,58 triêu con Nghề chăn nuôi cừu phát triển đặc biệt mạnh mẽ Điều này trực tiếp liên quan đến sự phát triển của công nghiệp dệt vốn
Trang 28dòi hỏi một khối lượng lớn về long cừu số cừu tăng gấp 2 Nghề nuôi lợn cũng phát triển mạnh, phản ánh nhu cầu thịt ngày càng tăng của thị dân” [31; tr.209]
Việc sản suất nguyên liệu công nghiệp cũng được mở rộng Điều này thể hiện ở sự phát triển phi thường của đất trồng khoai tây, đặc biệt là ở Phổ và các vùng lân cận Ở đây bắt dầu sản suất rượu trắng theo quy mô lớn, bằng nguyên liệu giá rẻ hơn Nạn mất mùa và đói kém năm 1816 đã keo theo sự tăng giá các loại Từ đó, việc nấu rượu bằng khoai tây trở nên phổ biến Tình hình này vẫn được giữ nguyên cả về sau này khi giá các loại đã hạ xuống Giá thành của rượu trắng hạ xuống rất thấp và giá bán cũng hạ xuống 3 đến 4 lần Từ năm 1855, các Junker Phổ đặc biêt mở rộng việc sản xuất rượu cất đối bằng khoai tây và đem
xuất biên với quy mô lớn F.Engen nhận xét: “Rượu khoai tây đã giới thiệu nước
Phổ với thị trường thế giới Ngoài ra, người ta còn đua nhau trồng củ cải đường, nghề trồng nho và nghề ép đã mang tính chất công nghiệp” [21; tr.201]
Tất cả những điều đó chứng tỏ rằng về mặt lịch sử, sự chuyên môn hoá trong nông nghiệp đã tiến triển Nó giúp cho việc nâng cao hiệu suất kinh tế của sản xuất và phản ánh chiều hướng tiến bộ trong kinh tế Mặt khác, bước nhảy vọt
về kỹ thuật cũng diễn ra trong nông nghiệp Phát minh của Libich đã đặt cơ sơ cho phân hóa học nông nghiệp, đã đẩy mạnh việc sủ dụng phân bón nhân tạo Người ta đã bón cho đất một khối lượng khá lớn kali, lân, mùn xương Người ta mua diêm tiêu và phân chim từ Chile về Chính những sự phát triển mới mẽ và đầu tư này mà địa chủ quý tộc đã bắt nông dân áp dụng để không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất
Thực ra, cho đến giữa thế kỷ XIX, nước Đức nói chung và Phổ nói riêng vẫn không có một ngành chế tạo máy móc nông nghiệp phát triển Nước Đức nhập khẩu nhiều máy móc nông nghiệp và trong những năm 1850 – 1860, những máy móc này đã được đem sử dụng rộng rãi Máy cày, máy gặt, máy đập không phải chỉ dung trong lãnh địa của Junker, mà cả trong nền kinh tế phú nông đã có
cả máy cày chạy bằng hơi nước Rõ ràng, nền kinh tế nhỏ của nông dân không thể mua máy móc, và đành phải dùng sức lao động đến mức tối đa Ở họ, lao
Trang 29động chân tay là một hiện tượng thông thường Như vây, mặc dù áp dụng sự tiến
bộ của khoa học kỹ thuật vào sản xuất và mang lại kết quả cao nhưng địa chủ, quý tộc vẫn không xóa bỏ được việc bóc lột người lao động mà ngược lại càng đẩy mạnh sự nô dịch hơn Đây cũng là cách để bọn Junker chứng tỏ thế lực của mình và sức mạnh thống trị của mình
Mặc dù giai đoạn này đất nước chưa thống nhất, do đó rất khó khăn trong việc thống nhất thị trường Tuy nhiên, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong
nông nghiệp điển hình là “Con đường kiểu Phổ” trong giai đoạn này đã bắt đầu
hình thành, tuy chưa mạnh mẽ nhưng có sự phát triển Sự phát triển trong giai doạn này, đã tạo tiền đề cho việc khẳng định của con đường này sau khi thống nhất đất nước
1.3.2 Giai đoạn cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX
Nước Đức bước vào xây dựng kinh tế giai đoạn này với những điều kiện
hết sức thuận lợi Do đó “Con đường kiểu Phổ” trong nông nghiệp cũng có
những bước phát triển mạnh mẽ Công cuộc thống nhất Đức 1871, đã mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ hơn trước, thị trường dân tộc với chế
độ hành chính, hệ thống quan thuế, đo lường và tiền tệ cũng được thống nhất Theo hiệp ước Versailles, Đức chiếm được của Pháp 5 tỉ phrăng, hai vùng giàu nguyên liệu là Alsace và Lorraine nên có nguồn vốn quan trọng để xây dựng và
mở rộng kinh doanh Mặt khác, thời gian này Đức cũng đã có các cơ sở công, thương nghiệp phát triển, áp dụng những kỹ thuật mới, tiến bộ vào sản xuất, xây dựng công nghiệp theo quy trình công nghệ cao làm tăng nhanh sản xuất Sau khi thống nhất đất nước, tầng lớp Junker vẫn giữ nguyên tước vị phong kiến, nước Đức thống nhất dần bị quân Phiệt hóa theo kiểu Phổ hay còn gọi là quá trình “Phổ hóa nước Đức” Với quá trình này, nó đã ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt của Đức trong đó có cả nông nghiệp và quá trình này cũng diễn ra trong
“Con đường nông nghiệp kiểu Phổ”, bằng chứng là lúc này nó không chỉ có ở
Phổ mà còn ảnh hưởng đến toàn nước Đức Do vậy, thời gian này nông nghiệp theo “Con đường kiểu Phổ” vẫn tiếp tục phát triển và thậm chí còn đẩy mạnh
Trang 30hơn trước không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu mà sâu xa hơn nữa là phục vụ cho việc gây chiến tranh ở châu Âu của Đức
Đặc trưng của “Con đường kiểu Phổ” trong thời gian này là đã đạt tới
mức cơ giới hóa, sử dụng máy móc phương tiện kỹ thuật hiện đại, sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu và đẩy mạnh chuyên môn hóa trong nông nghiệp Điều này đã kéo theo năng suất và chất lượng sản phẩm ngày càng tăng cao
Năm 1895, ở Đức cứ 5,5 triệu hộ nông dân, thì cứ có 1,5 triệu người là công nhân làm thuê ở trong nông nghiệp Vào những năm 1882 – 1895, ở Đức tổng số nông hộ khoảng 281.000 người, nhưng cơ bản đó lại là những hộ có phần đất dưới 1 hecta Điều đáng nói nữa là, máy cày nói chung không được sử dụng trong các cơ sở kinh tế có diện tích đất đai dưới 5 hecta mà những cơ sở kinh tế có diện tích đất đai trên 100 hecta mới được sử dụng và sử dụng thường xuyên máy cày, máy đập lúa
Nước Đức đã thiệt hại nhiều do cuộc khủng hoảng nông nghiệp cuối thế
kỷ XIX Tuy nhiên, gánh nặng của hậu quả của sự tụt giá trên thị trường thế giới lại trầm trọng thêm vì chế độ chiếm hữu ruộng đất của bọn Junker Địa tô là gánh nặng chủ yếu đối với nông nghiệp, vì rằng nó tăng vọt đến những giới hạn quá lớn và được củng cố trong giá cả ruộng đất Những cuộc khủng hoảng nông nghiệp đã đẩy nhanh sự tan vỡ các quan hệ sở hữu dẫn đến sự tiến bộ kỹ thuật hoặc làm sống lại các quan hệ trung đại nhưng nhìn chung nó đã đẩy nhanh sự tiến bộ của xã hội
“Trong những năm từ 1871 – 1875 đến 1891 – 1895, giá lúa mì ở Đức đã giảm 28,5% Nhưng tiền lĩnh canh ruộng đất ở các lãnh địa vùng Đông Phổ thậm chí lại tăng cao lên Năm 1879, số tiền đó là 37,8 mác (cho mỗi hecta) còn năm 1891 là 41,1 mác Ở Baden tiền lĩnh canh cũng cao Trong những năm từ
1879 – 1887 nó chỉ hạ từ 96 mác xuống 86 mác Những tên chủ ruộng Đức tìm cách ra khỏi cuộc khủng hoảng bằng chủ trương bảo hộ mậu dịch Vào những năm 1879 – 1887, thuế nhập khẩu lúa mì đen và lúa mì đã tăng lên 5 lần (từ 1
Trang 31mác đến 5 mác) mỗi tạ Kết quả là giá lúa mì ở Đức cao hơn ở Anh khoảng 38 mác 1 tấn” [32;tr.187]
Trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa, “Con đường nông nghiệp kiểu Phổ” phát triển nhanh chóng, đặc biệt nhờ chính sách canh nông Trong các lãnh địa của Junker xuất hiện nhiều nhà máy nấu rượu mạnh, làm đường từ củ cải Sản lượng lúa mì đen, khoai tây dần dần tăng lên đến 50% (Trong những năm 1885 – 1910), còn các loại cây khác thì tăng 33%
Năng suất nông nghiệp của Đức cũng tăng Ví như, trong những năm
1866 – 1870, thu hoạch củ cải đường không vượt quá 2,5 triệu tấn, thế mà trong những năm 1900 – 1910, trung bình thu hoạch được 13,4 triệu tấn Việc chế biến đường nguyên chất trong giai đoạn này tăng từ 211.000 tấn lên 2,1 triêu tấn Việc sản xuất đường cũng tăng lên mạnh mẽ Thông thường phải cần 12 tấn củ cải để chế biến được 1 tấn đường thì giai đoạn này chỉ cần 6 tấn để thu được 1 tấn đường Trong những năm 1882 – 1912, số lượng nhà máy đường đã giảm từ
390 xuống 342 cái, nhưng việc chế biến đường lại tăng lên mạnh mẽ Thu hoạch khoai tây hồi trước đại chiến năm 1914 đã đạt 40 triệu tấn Đồng thời khoai tây được sử dụng rộng rãi làm thức ăn cho gia súc và làm nguyên liệu nấu rượu Vào đầu thế kỷ XX, ở Đức có 5.000 nhà máy rượu
Sự thật là diện tích gieo trồng hầu như không thay đổi được bao nhiêu Trong những năm 1882 – 1912, tổng diện tích canh tác tăng từ 21,7 triệu hecta lên 23,4 triệu hecta Trong 32 năm mà Đức chỉ mở rộng được 1,7 hecta thì quá ít
so với Nga và Mỹ Trong khi đó, sản lượng nông nghiệp ở Đức lại tăng lên mạnh
mẽ Thu hoạch các loại cũng tăng thêm, chứ không phải chỉ có củ cải đường và khoai tây Vào những năm 1900 – 1904, thu hoạch lúa mì đen không quá 9,66 triệu tấn, thế mà vào những năm 1911 – 1912 nó lại đạt 11,23 triêu tấn Thu hoạch lúa mì tăng từ 3,9 triệu tấn lên 4,21 triệu tấn, kiều mạch từ 6,95 triệu tấn lên 8,11 triệu tấn Về cơ bản, điều đó đạt được là nhờ ở việc tăng sản lượng Như vây, trong thế kỷ XIX, năng suất nông nghiệp của Đức đã tăng 2,3 lần Việc gieo cây đúng chu kỳ, việc cải tiến công việc cày bừa và việc bón dồi dào phân cho
Trang 32đất ruộng, đã đóng vai trò rất to lớn Phân khoáng (kali, photphat) đã được sử dụng rộng rãi nhất ở nước Đức Vì vậy, mùa màng thu hoạch cao hơn so với ở Nga và Mỹ, là những nơi mà nền kinh tế còn có tính chất quảng canh Ở Meclenbuoc, trong những năm 1902 – 1911, thu hoạch trung bình trên mỗi ha gieo trồng là: lúa mì đen 17,9 tạ, lúa mì 23,7 tạ, đại mạch 22,4 tạ, kiều mạch 21,2
tạ, khoai tây 141,6 tạ
Với việc tăng sản lượng các loại cây thức ăn gia súc và việc sản xuất khoai tây, việc mở rộng chăn nuôi đã thành thực tế Từ năm 1875 đến 1884, sự tiến bộ theo hướng tư bản chủ nghĩa của ngành chăn nuôi được thể hiện không phải chỉ trong sự gia tăng số lượng, mà còn trong sự cải thiện chất lượng của đàn gia súc với nội dung tốt nhất của nó Do đó, số lượng gia súc ở các cơ sở kinh tế lớn nhất thậm chí đã giảm bớt đi Các cơ sở kinh tế lớn có một số lượng gia súc tôi đa (về trọng lượng), trên mỗi đơn vị diện tích, lại được chăm bón tối đa thì sản xuất được xem như là cung ứng tốt hơn Trong những năm 1873 đến 1912,
số lượng gia súc đã tăng lên rõ rệt, trong dó ngựa tăng 3,3 triệu lên 4,5 triệu con, súc vật có sừng tăng từ 15,8 triệu lên 20,2 triệu con, lợn từ 7,1 triệu lên đến 21,9 triệu con, dê cái từ 2,3 triệu lên 3,4 triệu con Việc nuôi lơn phát triển đặc biệt khẩn trương, Tổng số đầu lợn tăng lên gấp 3 lần Sự thật thì nghề nuôi cừu tiếp tục bị thu hẹp vì các nước ở bên kia đại dương (Úc, và các nước khác) đã trở thành nguồn cung cấp len dạ cho thị trường thế giới Nước Đức không thể cạnh tranh nổi với các nước ấy Số lượng cừu giảm khoảng 4 lần (từ 25,0 triệu xuống 5,0 triệu đầu cừu) [39]
Như vậy, có thể thấy trong những thập niên cuối của thế kỷ XIX, sự phát
triển của “Con đường kiểu Phổ” trong nông nghiệp có rất nhiều bước phát triển
mới, việc cơ giới hóa nông nghiệp mà bọn Junker áp dụng đã dẫn đến chuyên môn hóa trong sản xuất không chỉ thúc đẩy nông nghiệp phát triển mà còn tạo điều kiện cho công nghiệp phát triển
Tuy nhiên, bước sang thế kỷ XX, mà đặc biệt với cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất đã kéo theo những hậu quả nguy hại của chủ nghĩa tư bản Đức
Trang 33Chủ nghĩa tư bản Đức không đứng vững về mặt kinh tế được nữa Nó có khả năng điều hòa lực lượng sản xuất Cùng với nó là việc Đức tìm cách giải quyết những mâu thuẫn kinh tế của nó và đẩy nhanh việc chuẩn bị cho cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất Nhưng cuộc chiến tranh (1914 – 1918) không những không xóa bỏ được những mâu thuẫn của chủ nghĩa đế quốc mà còn chuẩn bị cho một cuộc khủng hoảng toàn diện Đồng thời, sự mục rỗng của chủ nghĩa tư bản cũng xuất hiện Đông đảo nhưng kẻ sống bằng tiền lãi đã xuất hiện Giai cấp
tư sản mất chức năng kinh tế và tầng lớp Junker cũng không có tiềm lực mạnh
nữa vì rằng kinh tế của họ đã giảm sút “Những thành tích của nông nghiệp Đức
không thủ tiêu được các mâu thuẫn trong nông nghiệp ở vùng nông thôn nước Đức Những dự trữ về nguyên liệu của Đức rất hạn chế và còn lâu mới tương xứng với sức mạnh của nền công nghiệp Đức Nước Đức đã phải nhập khẩu những khối lượng nguyên liệu nông nghiệp (bông, long cừu, da) để nuôi sống nền công nghiệp của nó Đồng thời thành thị không đủ lương thực và khối lượng lương thực nhập khẩu cũng tăng lên Vào những năm 1900 – 1904, việc nhập khẩu kiều mạch trung bình không quá 0,51 triệu tấn; nhưng vào các năm 1911 –
1912, thì phải nhập khẩu 3 triệu tấn Đồng thời, việc nhập khẩu đại mạch củng tăng từ 1,17 triệu tấn lên 3,30 triệu tấn Sự phát triển mạnh mẽ của nền công nghiệp Đức không được củng cố bằng sự mở rộng đầy đủ các cơ sở nguyên liệu
và lương thực Những mâu thuẫn trong nông nghiệp là hòn đá cản đường chủ nghĩa tư bản Đức” [32; tr.184]
Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng mười Nga đã ảnh hưởng rất to lớn đến
cả nước Đức, làm suy yếu hệ thống đế quốc chủ nghĩa, mở đợt công phá đầu tiên vào hệ thống ấy Quần chúng nhân dân lao động Đức bị đau khổ vì chiến tranh
và đói khát đã đi vào hành động Ngày 9 – 11 – 1918, một cuộc cách mạng bùng
nổ ở đây, và chủ nghĩa tư bản Đức bị đẩy đến bên hố diệt vong Tất cả những lí
do trên đã làm cho nông nghiệp sa sút và “Con đường kiểu Phổ” suy yếu
Tóm lại, vào thế kỉ XVII, khi luồng dân di cư ồ ạt đến Bắc Mỹ họ mang theo phương thức sản xuất mới áp dụng vào đặc điểm thổ nhưỡng của vùng đất
Trang 34khai hoang được, hình thành nên những trang trại đầu tiên - “Con đường nông
nghiệp kiểu Mỹ” Muộn hơn, vào thế kỉ XIX, “Con đường nông nghiệp kiểu Phổ” mới bắt đầu hình thành, Tầng lớp Junker đã chuyển hướng kinh doanh tư
bản chủ nghĩa, xây dựng những đại điền trang rộng lớn
Có thể thấy, quá trình hình thành của hai con đường là quá trình xâm nhập của chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp Sau các cuộc cách mạng tư sản (cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 bang thuộc địa Bắc Mỹ, công cuộc thống nhất đất nước), chủ nghĩa tư bản được xác lập đó cũng là mốc đánh dấu sự phát
triển mạnh mẽ của “Con đường nông nghiệp kiểu Mỹ” và “Con đường nông
nghiệp kiểu Phổ” Vậy hai con đường hình thành ở mỗi nước, cách xa nhau hàng
nghìn km có điểm gì tương đồng và khác biệt? Để giải đáp cho những vấn đề đó,
ta tìm hiểu chương 2!
Trang 35CHƯƠNG 2
SỰ TƯƠNG ĐỒNG, KHÁC BIỆT GIỮA
“CON ĐƯỜNG NÔNG NGHIỆP KIỂU MỸ” VÀ
“CON ĐƯỜNG NÔNG NGHIỆP KIỂU PHỔ” THỜI CẬN ĐẠI
2.1 Sự tương đồng giữa “Con đường nông nghiệp kiểu Mỹ” và “Con đường nông nghiệp kiểu Phổ” thời cận đại
2.1.1 Nguồn nhân công
Một công việc gì cũng cần có người thực hiện, kinh tế xản xuất tư bản
chủ nghĩa cũng đòi hỏi có nguồn lao động, “Con đường nông nghiệp kiểu Mỹ”
và “Con đường nông nghiệp kiểu Phổ” cũng không nằm ngoài quy luật đó Điểm tương đồng giữa “Con đường nông nghiệp kiểu Mỹ” và “Con đường nông
nghiệp kiểu Phổ” đó là nguồn nhân công bao gồm nông dân và công nhân nông
nghiệp Vậy quá trình hình thành nguồn nhân công đó như thế nào?
Đối với “Con đường nông nghiệp kiểu Mỹ”, ban đầu trong các trang trại
Mỹ, lao động chủ yếu là lao động gia đình (Lao động gia đình theo quan niệm và quy định của luật pháp là những thành viên trong gia đình làm việc trong nông nghiệp không nhận tiền lương của chủ trại trả, còn nếu là thành viên của gia đình nhưng làm việc mà có tiền lương thì được xếp vào lao động làm thuê) Về sau khi nền kinh tế hàng hóa phát triển đòi hỏi quy mô sản xuất phải lớn hơn, yêu cầu đặt ra là phải tăng thêm lao động trong các trang trại Mặt khác, trong những người tiểu nông đã có sự khác nhau về mặt tài sản Hơn nữa còn một số nông dân thông qua việc đầu cơ ruộng đất, tích lũy được một số tiền của Những người nông dân giàu có này đã dựa vào sức bóc lột đông đảo của những người bần nông nên trở thành giàu có thêm Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa đã tạo cho họ rất nhiều cơ hội tiến hành việc bóc lột nói trên Do vậy, có nhiều nông dân giàu có đã đem tiền của tích lũy được chuyển hóa thành tư bản, rồi thuê mướn nhân công, mở rộng việc kinh doanh, họ đã trở thành những nhà tư bản nông nghiệp Nhưng một mặt khác, đông đảo người nông dân nghèo chịu sự
Trang 36chèn ép của những người nông dân giàu, đã lâm vào cảnh phá sản Nhiều người trong số họ bắt buộc phải đi làm thuê cho người khác và trở thành công nhân nông nghiệp Một lực lượng nữa cũng trở thành nông dân và công nhân nông nghiệp đó chính là những người nô lệ Sau cuộc nội chiến 1861 – 1865, tổng thống Abham Lincold đã tuyên bố giải phóng cho những người nô lệ, tạo ra nguồn lao động dồi dào cho các trang trại Họ trở thành những công dân tự do, xin làm thuê cho các trại chủ Những nông dân và công nhân nông nghiệp sẽ bán sức lao động của mình và được người chủ trả lương dựa trên trình độ và sản phẩm họ làm ra Các trang trại muốn làm ra sản phẩm ngay càng nhiều thì phải tăng năg suất lao động, muốn vậy phải tăng giờ làm của nông dân, công nhân nông nghiệp, bóc lột giá trị thặng dư để làm giàu Như vậy, nguồn lao động chủ yếu là nông dân, công nhân nông nghiệp qua mua bán sức lao động tham gia vào
“Con đường nông nghiệp kiểu Mỹ”
Còn đối với “Con đường nông nghiệp kiểu Phổ”: Cùng với sự phát triển
kinh tế hàng hóa đại địa chủ thì việc sử dụng lao động làm thuê cũng được đẩy mạnh Do tác dụng mạnh mẽ của nền kinh tế hàng hóa và tiền tệ, nông dân bị phân hóa ngày càng rõ rệt Tầng lớp nông dân bị chia theo 2 cực: những người nghèo phải bán đất cho nhà buôn hoặc những người cho vay lãi, những người giàu thì phát triển thành phú nông, tầng lớp này thuê thêm nhân công để sản xuất Số tá điền ngày càng đông Người tá điền không những phải nộp tô cho chủ đất mà còn phải nộp thuế cho nhà nước Mức thuế đất rất nặng nề Hằng năm, nông dân phải nộp từ 50% đến 60% có khi đến 80% hoa lợi Tô thuế phải nộp bằng tiền Vì vậy nông dân còn bị thương nhân và người cho vay lãi bốc lột nặng
nề Điều đó càng làm cho sự phân hóa giai cấp ở nông thôn sâu sắc thêm Một số nhà buôn, người cho vay lãi mua ruộng đất trở thành những địa chủ mới Nông dân mất ruộng phải cày thuê, cấy mướn cho phú nông và địa chủ theo thời vụ
hoặc trốn khỏi quê hương đi làm thợ ở các đô thị “ Cuộc cải cách ruộng đất
mặc dù mang tính chất tiến bộ nhưng vẫn giữ lại tàn dư của chế độ phong kiến trong một thời gian dài Những tàn dư này không phải chỉ bao gồm những nghĩa
Trang 37vụ phong kiến mà nông dân phải chịu, mà nó còn bao gồm sự nô dịch về tài chính Tàn dư của chế độ phong kiến ở Phổ là chế độ chiếm hữu ruộng đất của tầng lớp Junker Nó là cơ sở của sự lệ thuộc ruộng đất, của hình thức bốc lột nửa phong kiến nửa tư bản mà người ta thường gọi là “địa tô tư bản” Nông dân không có ruộng đất ở Đông Phổ đã phải lĩnh canh ruộng đất của địa chủ và rơi vào vòng của lệ thuộc, số đông khác trở thành lao động làm thuê” [12; tr.366]
Mặt khác, ở Phổ việc giải phóng nông nô thông qua đạo luật đất đai, đã tạo điều kiện cho người nông nô chuộc lại thân phận trở thành người tự do Đó là một trong những nguồn lao động cung cấp cho nền nông nghiệp
Trong lúc phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời và “Con đường
nông nghiệp kiểu Phổ” được hình thành và phát triển thì tình cảnh của người lao
động làm thuê vô cùng cực khổ, nặng nề thận chí còn trở nên tàn tệ Sự bần cùng hóa của người lao động làm thuê và việc tăng cường bốc lột sức lao động của họ gắn liền, chặt chẽ với sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản
Tình cảnh của công nhân đã khốn khổ nhưng tình cảnh của công nhân nông nghiệp và nông dân ở nông thôn lại càng khốn khổ hơn Đây là những người cùng khổ của xã hội tư sản Phổ, nếu như điều kiện của công nhân là chật
vật, ăn ở trong các căn buồng chật hẹp, chen chúc nhau thì những người “Công
nhân nông nghiệp còn phải sống trong điều kiện xấu hơn nữa Họ sống dưới quyền độc đoán của bọn phú nông và Junker, họ sống trong các chuồng ngựa, lều rạ và nhận một số tiền công ít ỏi Trong lúc đó, số lượng công nhân nông nghiệp còn nhiều hơn số lượng công nhân công nghiệp Ở Phổ, theo thống kê đầu những năm 60 của thế kỉ XIX đã có gần 3,5 triệu công nhân nông nghiệp”
[31; tr.517] Mặc dù đời sống khổ cực, nhưng công nhân nông nghiệp và nông dân không còn con đường nào khác, họ phải làm việc cật lực, vất vả nếu không muốn bị trừ lương, thậm chí là cả hành hạ về mặt thể xác Với việc ứng dụng khoa học kỹ thuật, trình độ chuyên môn hóa của họ ngày càng được nâng cao,
ngày càng tạo ra nhiều sản phẩm, qua đó tham gia vào “Con đường nông nghiệp
kiểu Phổ”
Trang 38Như vậy, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp đòi hỏi phải có một nguồn lao động dồi dào Giai cấp nông dân và công nhân nông
nghiệp góp phần vào sự tồn tại và phát triển của “Con đường nông nghiệp kiểu
Phổ” và “Con đường nông nghiệp kiểu Mỹ” Song song với quá trình đó, không
thể tách rời tình hình đông đảo, người lao động gặp phải bao nhiêu tai họa
2.1.2 Kỹ thuật canh tác
Điều làm nên khối lượng sản phẩm đồ sộ của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
nói chung và lĩnh vực nông nghiệp nói riêng, mà theo Mac: “bằng tất cả các thời
kì trước cộng lại” [24; tr.213], đó chính là kỹ thuật canh tác Ngoài điều kiện tự
nhiên mà thiên nhiên ban tặng như: Khí hậu, đất đai con người muốn đạt năng suất lao động cao phải có kỹ thuật canh tác tiên tiến Đến thời kì phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa xâm nhập vào nông thôn, kỹ thuật canh tác của con người đã có bước tiến với việc áp dụng thành tựu khoa học vào sản xuất, sử dụng phân bón hóa học, chọn lọc giống cây trồng và vật nuôi đem lại hiệu quả kinh tế
cao “Con đường kiểu Mỹ” và “Con đường kiểu Phổ” trong nông nghiệp đều áp
dụng kỹ thuật mới làm cho năng suất lao động tăng lên, quy mô sản xuất không ngừng mở rộng cùng với mạng lưới giao thông, nông nghiệp gắn với công nghiệp chế biến
Ngay từ giai đầu tiên của quá trình hình thành “Con đường nông nghiệp
kiểu Mỹ”, tức là giai đoạn từ thế kỉ XVII – cuối thế kỉ XVIII, những người dân
di cư đã sử dụng các loại máy móc, các giống cây trồng vật nuôi mới vào sản xuất nông nghiệp ở những trang trại Họ sử dụng các giống cây trồng như: giống bông “Zi – Ailan” sợi dài ngày càng phổ biến; 1717 người ta nhập từ Anh vào Ken – Tucky loại gia súc Đuyechaimo Lúc bấy giờ các trại chủ còn nhập vào loại gia súc có sừng Hêrepho từ Anh Từ 1783, người ta nhân giống cừu Môrinôx Ở Ken – Tucky và Ohaio xuất hiện những hội chuyên cải tạo giống gia súc
Sự phát triển đi lên của “Con đường nông nghiệp kiểu Mỹ”, không thể thiếu khoa học kỹ thuật Có thể dẫn chứng: “1793, thầy giáo Uylre đã phát minh