1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vận dụng một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để thiết kế và soạn giảng bài 3 – GDQP AN lớp 12

54 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 8,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng tôi đã tích lũy được một số kinh nghiệm trong việc vận dụng các phương pháp Dạy học mới nhằm nâng cao chất lượng giờ dạy lí thuyết bộ môn, đồng thời nâng cao khả năng tiếp thu,

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN

TRƯỜNG THPT TÂN KỲ

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

ĐỀ TÀI: VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT

DẠY HỌC TÍCH CỰC ĐỂ THIẾT KẾ VÀ SOẠN GIẢNG

BÀI 3 – GDQP-AN LỚP 12

LĨNH VỰC: GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH

Tác giả : 1 Trần Sơn Giang

2 Nguyễn Cảnh Hưng

Tổ : Xã hội

Năm học: 2020 - 2021

Trang 2

ĐỀ TÀI:

VẬN DỤNG MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC ĐỂ THIẾT KẾ VÀ SOẠN GIẢNG

BÀI 3 – GDQP-AN LỚP 12

LĨNH VỰC: GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH

Trang 3

LLTT&LLDB Lực lượng thường trực và lực lượng dự

bị

Trang 5

Mục lục

Mục lục 3

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 4

2.4 Vận dụng thiết kế một số giáo án về sử dụng các PPDH, KTDH tích cực vào giảng dạy bài 3 - giáo dục quốc phòng và an ninh lớp 12 THPT 25

Tiết 1 26

Tiết 3 35

2.5.1 Mục đích của thực nghiệm 39

2.5.3 Nội dung thực nghiệm 39

2.5.4 Tổ chức thực nghiệm 39

2.5.4.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm 40

PHẦN III KẾT LUẬN 43

I.Kết luận 43

I.1.Quá trình nghiên cứu 43

Trong quá trình trực tiếp giảng dạy môn GDQP-AN tại trường THPT Tân kỳ, chúng tôi đã cùng nhau tìm hiểu và nghiên cứu về phương pháp dạy học tích cực và nhận thấy rằng cần phải đổi mới phương pháp giảng dạy theo hương phát triển năng lực của học sinh, đó cũng là xu hướng tất yếu của ngành giáo dục nước ta Trong quá trình dạy học chúng tôi đã áp dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực ở các lớp thực nghiệm, cùng với đó chúng tôi đồng thời sử dụng phương pháp dạy học truyền thống ở các lớp đối chứng Cũng như tiến hành thăm lớp dự giờ, trao đổi với đồng nghiệp một cách cởi mở thực tế Chúng tôi đã tích lũy được một số kinh nghiệm trong việc vận dụng các phương pháp Dạy học mới nhằm nâng cao chất lượng giờ dạy lí thuyết bộ môn, đồng thời nâng cao khả năng tiếp thu, lĩnh hội kiến thức của học sinh 43

Qua quá trình nghiên cứu kết hợp với thực tiển giảng dạy trong nhà trường, chúng tôi đã vận dụng tương đối thuần thục các phương pháp, kĩ thuật Day-Học tích cực như: Phương pháp Thảo luận nhóm, phương pháp Vấn đáp, phương pháp Bản đồ tư duy Và khai thác các trang thiết bị Dạy-Học hiện có Cùng với sự quan tâm giúp đỡ của ban giám hiệu nhà trường, tổ chuyên môn và các đồng nghiệp Chúng tôi đã hoàn thành đề tài này 43

Quá trình nghiên cứu đề tài đực thực hiệ cụ thể như sau: 43

TT 43

Thời Gian 43

Nội Dung Thực Hiện 43

Tháng 10/2019 đến tháng 12/2020 43

Trang 6

Nghiên cứu lí luận dạy học, phương pháp Dạy-Học tích cực, tiến hành khảo sát đánh giá

trình hình Dạy-Học bộ môn ở nhà trường 43

Tháng 2/2020 đến tháng 8/ 2020 43

Viết đề cương và triển khai sáng kiến, thực nghiệm, khảo sát, đánh giá kết qủa và rút ra bài học kinh nghiệm 43

Tháng 9/2020 đến tháng 3/2021 44

Tiếp tục áp dụng sáng kiến sau khi chắt lọc, bổ sung một số giải pháp để kiểm định độ tin cậy của giải pháp đề ra, hoàn thánh sáng kiến kinh nghiệm 44

I.2.Ý nghĩa của đề tài 44

Đề tài đi sâu nghiên cứu, vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào quá trình giảng dạy lí thuyết môn GDQP-AN nói chung và bài 3-GDQP-AN lớp 12 trường THPT Tân Kỳ nói riêng Chúng tôi hi vọng rằng đề tài này có thể áp dụng vào quá trình giảng dạy lí thuyết môn GDQP-AN cho học sinh trên địa bàn huyện Tân kỳ nói riêng cũng như trên địa bàn tỉnh Nghệ an nói chung Giúp cho môn học của chúng ta không còn khô khan, cứng nhắc, nhàm chán và áp lực đối với quý Thầy Cô và các em học sinh nữa 44

II Kiến nghị 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

PHỤ LỤC 47

Trang 7

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Lí do chọn đề tài

Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ nướcViệt Nam XHCN; bảo vệ Đảng, bảo về Nhà nước, bảo vệ Nhân dân, bảo vệ thànhquả cách mạng; bảo vệ công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nước làtrách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi công dân Việt Nam Trong đó học sinhTHPT - Thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước giữ vai trò cực kỳ quan trọng Đấtnước ta đang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, để nâng cao năng lực cạnhtranh của nền kinh tế đòi hỏi nền giáo dục nước ta phải đổi mới mạnh mẽ để nângcao chất lượng đào tạo, nhằm cung cấp cho nền kinh tế nguồn nhân lực có đủ trình

độ và năng lực vận hành nền kinh tế trong mọi lĩnh vực Điều này cũng có nghĩa lànền giáo dục nước ta nhất định phải thực hiện thành công việc chuyển từ nền giáodục mang tính lí thuyết hàn lâm sang nền giáo dục chú trọng hình thành năng lựchành động, phát huy tính chủ động sáng tạo của người học Định hướng quan trọngtrong đổi mới phương pháp dạy học(PPDH) là nhằm phát huy tính tự lực sáng tạo,phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học Đó cũng

là xu hướng quốc tế trong cải cách PPDH ở nhà trường phổ thông hiện nay

Thực hiện nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 của BCH TW khóa XI

“về đổi mới căn bản, toàn điện GD & ĐT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế”.

Do đó, để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nói chung, chất lượng giảngdạy ở các trường phổ thông là vấn đề mang tính cấp thiết, là giải pháp quan trọngnhất để nền giáo dục ở nước ta có thể tiến kịp với sự phát triển của khoa học trênthế giới, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay

Việc giảng dạy môn học GDQP-AN cho học sinh là nhiệm vụ hết sức quantrọng trong hệ thống giáo dục quốc dân, giúp học sinh có những hiểu biết ban đầu

về nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; truyền thống chống giặc ngoại xâmcủa dân tộc, lực lượng vũ trang nhân dân và nghệ thuật quân sự Việt Nam; có kiếnthức cơ bản, cần thiết về phòng thủ dân sự và kỹ năng quân sự; sẵn sàng thực hiệnnghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ quốc

Dạy-Học môn học GDQP-AN phải bảo đảm tính toàn diện, có trọng tâm,trọng điểm bằng các hình thức phù hợp; kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, giữa lýthuyết và thực hành; phù hợp với quy chế tổ chức đào tạo của từng trình độ; phảigắn liền với giáo dục ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tập thể; dạy học môn họcGDQP-AN tại các cơ sở giáo dục phải gắn kết với giáo dục thực tế, kỹ năng thựchành và hoạt động ngoại khóa trong hoặc ngoài nhà trường

Đối với giáo viên đang giảng dạy môn học GDQP-AN, công việc giảng dạyphải gắn liền với nghiên cứu khoa học, đây là con đường ngắn nhất để khôngngừng tích lũy kiến thức nâng cao trình độ lí luận và phương pháp, tìm ra những

Trang 8

hình thức, phương pháp, kĩ thuật Dạy-Học thích hợp nhất để nâng cao hiệu quảgiáo dục.

Trong những năm gần đây dạy học GDQP-AN ở nhà trường phổ thông đã cónhiều đổi mới cả về nội dung, hình thức và phương pháp Tuy nhiên chất lượng dạy

và học vẫn còn chưa cao Nguyên nhân chủ yếu là do giáo viên ít kinh nghiệm trongquá trình giảng dạy, nhất là chưa sử dụng thuần thục các phương pháp, kĩ thuật dạyhọc tích cực vào trong quá trình Dạy - Học Để nâng cao chất lượng Dạy học mônGDQP-AN mỗi giáo viên cần đề ra các giải pháp cụ thể, biết cách áp dụng cácphương pháp kĩ thuật dạy học tích cực Trong các phương pháp, kĩ thuật Dạy học tíchcực bên cạnh các phương pháp, kĩ thuật thông thường, ngày nay người ta đặc biệt chútrọng các phương pháp, kĩ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của ngườihọc như: Phương pháp thảo luận nhóm, Phương pháp đóng vai, Phương pháp vấn đáp,Phương pháp trò chơi, kỹ thuật Sử dụng sơ đồ tư duy Tuy nhiên, để sử dụng cóhiệu quả các phương pháp, kĩ thuật dạy học này, giáo viên cần phải nắm được cácbước tiến hành, ưu điểm, nhược điểm, khả năng ứng dụng và kết hợp sáng tạo với cácphương pháp dạy học truyền thống, đặc thù bộ môn

Từ những lí do trên tôi đã mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu “ Vận dụng một

số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để thiết kế và soạn giảng bài 3 – GDQP-AN lớp 12 ”

1.2.Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

1.2.1 Mục đích.

Mục đích là để đổi mới hình thức, cách thức, phương pháp dạy học theo địnhhướng phát triển năng lực người học Làm cho học sinh tích cực, chủ động tìm tòi,khám phá, tổng hợp được vốn kiến thức đã học của bản thân ở nhiều lĩnh vực kiếnthức khác nhau để đạt được mục đích dạy học, đồng thời tăng tính hấp dẫn của mônhọc tạo hứng thú cho học sinh trong lĩnh hội kiến thức, nhiệt tình phối hợp với giáoviên trong quá trình Dạy học.Trong quá trình nghiên cứu và đưa vào vận dụng nếu đềtài thành công thì việc dạy và học sẽ có ý nghĩa rất lớn, tạo điều kiện thuận lợi choquá trình nghiên cứu vận dụng và áp dụng vào giảng dạy môn học GDQP-AN bậcTHPT nói chung, cũng như trường THPT Tân kỳ nói riêng góp phần nâng cao chấtlượng dạy và học của bộ môn

1.2.2 Nhiệm vụ

Đưa ra giải pháp nâng cao chất lượng giảng dạy bài 3 GDQP-AN lớp 12 nói riêng và lí thuyết môn GDQP-AN nói chung, thông qua việc vận dụng các phương pháp và kĩ thuật day họ tích cực để được mục đích dạy học

1.3.Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng

Trang 9

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các phương pháp, kĩ thuật dạy học tíchcực để nâng cao hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy học lý thuyết mônGDQP-AN ở trường Trung Học Phổ Thông Tân Kỳ nơi chúng tôi công tác.

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài tập trung nghiên cứu việc khả năng sử dụng một số phương pháp, kĩthuật dạy học tích cực để nâng cao hoạt động nhận thức của học sinh trong dạy họccụ thể là: Phương pháp vấn đáp, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp bản đồ

tư duy

- Phạm vi tiến hành điều tra, đánh giá hiện trạng, thực nghiệm việc sử dụng cácphương pháp, kĩ thuật dạy học để tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh ởđơn vị nơi tôi công tác

- Tiến hành thực nghiệm trên các tiết học đã soạn của bài 3 GDQP-AN lớp 12THPT

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành nghiên cứu đề tài chúng tôi đã sử dụng các phương pháp sau:

- Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu: Tổng hợp các tài liệuliên quan đến đề tài nghiên cứu như các modun bồi dưỡng thường xuyên, tài liệu vềphương pháp dạy học tích cực …

- Phương pháp quan sát: Thông qua việc dự giờ của các giáo viên cùng môntrong tổ chuyên môn, phát hiện ra những ưu điểm và tồn tại của các phương pháp từ

đó bổ sung những mặt tích cực vào đề tài

- Phương pháp thực nghiệm: Áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tíchcực đã vạch ra đưa vào giảng dạy, để tiến hành nghiên cứu

- Phương pháp phân tích tổng kết kinh nghiệm:

Thông qua các giờ dạy có vận dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực và

các giờ dạy không vận dụng phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực, quan sát tổng thểcác giờ học, kiểm tra đánh giá lấy kết quả đối chứng

1.5.Đóng góp mới của đề tài

Đã có một số đề tài, sáng kiến, công trình nghiên cứu về áp dụng các phương pháp

và kĩ thuật Dạy-Học tích cực để giảng dạy bộ môn GDQP-AN Song chưa có sáng kiến kinh nghiệm, bài viết hay công trình nào đi sâu nghiên cứu, áp dụng các phương pháp và

kĩ thuật Dạy-Học này đối với bài 3 GDQP-AN lớp 12 THPH.

Đề tài đã đi sâu nghiên cứu, ứng dụng, đúc rút kinh nghiệm về việc vận dụng các phương pháp và kĩ thuật Dạy-Học tích cực để Giảng dạy hiệu quả bài 3 GDQP-AN Lớp

12 THPT Trong đó sử dụng chủ đạo các phương pháp Vấn đáp, Thảo luận nhóm và phương pháp bản đồ tư duy; kết hợp nhuần nhuyễn, linh hoạt các phương pháp và kĩ thuật đó để nâng cao hiệu quả giờ dạy môn GDQP-AN, giảm áp lực cho học sinh và giáo viên.

Trang 10

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Phương pháp dạy học:

Thuật ngữ phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hy lạp (methodos) có nghĩa là con đường đi đến mục đích Theo đó PPDH là con đường để đạt mục đích dạy học PPDH là cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học Cách thức hành động bao giờ cũng diễn ra trong những hình thức cụ thể Cách thức và hình thức không tách nhau một cách độc lập.

PPDH là những hình thức, cách thức hành động của giáo viên và học sinh nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học xác định, phù hợp với những nội dung và những điều kiện dạy học cụ thể PPDH cụ thể quy định những mô hình hành động của giáo viên và học sinh.

PPDH là một khái niệm rất phức hợp có nhiều bình diện khác nhau Một sốđặc điểm của PPDH như sau:

+ PPDH định hướng thực hiện mục tiêu dạy học

+ PPDH là sự thống nhất của phương pháp dạy và phương pháp học

+ PPDH thực hiện thống nhất chức năng đào tạo và giáo dục

+ PPDH là sự thống nhất của cách thức hành động và phương tiện dạy học

2.1.2 Phương pháp dạy học tích cực:

Phương pháp dạy học tích cực để chỉ những phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của người học Phương pháp tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào người dạy Phương pháp dạy học tích cực không phải là một phương pháp dạy học cụ thể mà là một khái niệm bao gồm nhiều phương pháp, hình thức, kĩ thuật dạy học nhằm tích cực hóa, tăng cường sự tham gia của người học tạo điều kiện cho người học phát huy tối đa khả năng học tập, năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề.

Những dấu hiệu đặc trưng của các phương pháp tích cực, có bốn dấu hiệu cơbản:

+ Dạy học thông qua các hoạt động của học sinh

+ Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học

+ Tăng cường học tập cá thể phối hợp với học nhóm

+ Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò

2.1.3 Kĩ thuật dạy học:

Kĩ thuật dạy học là những động tác, cách thức hành động của của giáo viên và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học Các

Trang 11

kĩ thuật dạy học(KTDH) chưa phải là các PPDH độc lập Các KTDH vô cùng phong phú

về số lượng, có thể tới hàng ngàn Bên cạnh những KTDH thông thường, ngày nay người

ta đặc biệt chú trọng các KTDH phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học, ví dụ: kĩ thuật động não, kĩ thuật tia chớp, kĩ thuật sơ đồ tư duy.

2.1.4 Đổi mới phương pháp dạy học:

Khái niệm đổi mới phương pháp dạy học là một phạm trù của khoa học giáo dục Việc đổi mới PPDH cần dựa trên những cơ sở khoa học và thực tiễn giáo dục Khoa học giáo dục là lĩnh vực rất rộng lớn và phức hợp, có nhiều chuyên ngành khác nhau

Vì vậy việc đổi mới PPDH cũng được tiếp cận dưới rất nhiều cách tiếp cận khác nhau Tuỳ theo mỗi cách tiếp cận khác nhau có thể có những quan niệm khác nhau về đổi mới PPDH Vì vậy có những định hướng và những biện pháp khác nhau trong việc đổi mới PPDH Tuy nhiên không có công thức chung duy nhất trong việc đổi mới PPDH Trong thực tiễn cần xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể để xác định và áp dụng những định hướng,

biện pháp thích hợp Dựa trên khái niệm chung về PPDH, có thể hiểu: Đổi mới phương pháp dạy học là cải tiến những hình thức và cách thức làm việc kém hiệu quả của giáo viên và học sinh, sử dụng những hình thức và cách thức hiệu quả hơn nhằm nâng cao chất lượng dạy học, phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực của học sinh

Đổi mới PPDH đối với giáo viên cần:

+ Đổi mới việc lập kế hoạch dạy học, thiết kế bài dạy;

+ Đổi mới PPDH trên lớp học;

+ Đổi mới việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập

Đổi mới PPDH đối với học sinh là đổi mới phương pháp học tập

Đổi mới PPDH cần được tổ chức, lãnh đạo và hỗ trợ từ các cấp quản lý giáodục, đặc biệt là các trường phổ thông thông qua những biện pháp thích hợp

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về sử dụng phương pháp dạy

học tích cực ở trường THPT Tân kỳ.

Để có cơ sở cho việc vận dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực

ở trong nhà trường đạt hiệu quả cao, tôi đã tiến hành điều tra về nhận thức, mức độ

sử dụng của 03 giáo viên dạy GDQP&AN trong trường THPT Tân kỳ Kết quảthu được như sau:

Mức độ nhận thức và lí do Số giáo viên Tỉ lệ %

A Mức độ nhận thức

Trang 12

- Học sinh hình thành thói quen tự giác học

Bảng 1: Kết quả khảo sát mức độ nhận của giáo viên về sử dụng phương pháp dạy học tích cực ở trường THPT Tân kỳ trong dạy học lí thuyết môn

GDQP&AN

2.2.2 Mức độ sử dụng các phương pháp dạy học tích cực của giáo viên

trong dạy học GDQP&AN trong trường.

Để kiểm tra việc vận dụng PPDHTC trong dạy học môn GDQP&AN, tôi đã tiếnhành điều tra các PPDH được các giáo viên sử dụng Kết quả như sau:

Bảng 2: Thực trạng sử dụng các PPDH của giáo viên trong dạy học môn

GDQP&AN ở trường THPT Tân kỳ.

2.2.3 Mức độ hứng thú của HS đối với PPDH của giáo viên.

Để tìm hiểu về mức độ hứng thú của học sinh đối với các PPDH mà giáo viênthường sử dụng chúng tôi đã tiến hành điều tra 168 học sinh ở 4 lớp 12C1, 12C2,

Trang 13

12C5, 12C9 trong trường THPT Tân kỳ nơi chúng tôi công tác, kết quả thu đượcnhư sau:

Bảng 3: Mức độ hứng thú của học sinh với các phương pháp mà giáo viên đã sử

dụng trong dạy học môn GDQP&AN ở trường THPT

2.2.4 Đánh giá chung về việc vận dụng PPDH tích cực trong giảng dạy GDQP-AN trong nhà trường THPT Tân kỳ.

Về phía giáo viên: 100% giáo viên được khảo sát đều khẳng định sự cần thiếtvận dụng các PPDH tích cực vào quá trình dạy học, tuy nhiên đa số giáo viênthường xuyên sử dụng phương pháp thuyết trình để giảng dạy Do đó chưa pháthuy được vai trò tích cực, chủ động của học sinh, làm cho giờ học môn GDQO-ANtrở nên khô khan, nhàm chán

Về phía học sinh: Qua điều tra tôi thấy hầu hết các em rất thích thú khi giáoviên sử dụng các PPDH tích cực như: Phương pháp Thảo luận nhóm, phương phápVấn đáp, phương pháp Bản đồ tư duy Đây là một thuận lợi để giáo viên có thể vậndụng các phương pháp đó trong quá trình dạy học

Đứng trước thực trạng đó tại đơn vị nơi chúng tôi công tác giáo viên đã chủđộng nghiên cứu và áp dụng các PPDH, KTDH tích cực vào quá trình giảngdạy Tuy nhiên việc áp dụng còn ít, hầu như các phương pháp, kĩ thuật chưađược áp dụng thường xuyên, thuần thục, giáo viên còn lúng túng khi áp dụngcác PP và KTDH tích cực, cho nên hiệu quả giờ day chưa cao

Để giả quyết hực trạng trên tôi mạnh dạn đề xuất một số giải pháp như sau:

1 Vận dụng phương pháp vấn đáp

2 Vận dụng phương pháp thảo luận nhóm

Trang 14

3 Vận dụng phương pháp bản đồ tư duy.

2.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy bài 3 – GDQP-AN lớp 12 THPT.

2.3.1 Phương pháp vấn đáp

* Bản chất:Phương pháp vấn đáp là quá trình tương tác giữa giáo viên và học sinh,được thực hiện thông qua hệ thống câu hỏi và câu trả lời tương ứng về một chủ đề nhất định được giáo viên đặt ra Qua việc trả lời hệ thống câu hỏi dẫn dắt của giáo viên, học sinh thể hiện được suy nghĩ, ý tưởng của mình, từ đó khám phá và lĩnh hội được đối tượng học tập

Đây là phương pháp dạy học mà giáo viên không trực tiếp đưa ra những kiếnthức hoàn chỉnh mà hướng dẫn học sinh tư duy từng bước để các em tự tìm ra kiếnthức mới phải học Căn cứ vào tính chất hoạt động nhận thức của học sinh, người

ta phân biệt các loại: vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích minh họa và vấn đáp tìmtòi

- Vấn đáp tái hiện: Được thực hiện khi những câu hỏi do giáo viên đặt ra chỉyêu cầu học sinh nhắc lại kiến thức đã biết và trả lời dựa vào trí nhớ, không cầnsuy luận Vấn đáp tái hiện có nguồn gốc từ kiểu dạy học giáo điều Lý luận dạy họchiện đại không xem vấn đáp tái hiện là một phương pháp có giá trị sư phạm Loạivấn đáp này chỉ nên sử dụng hạn chế khi cần đặt mối quan hệ giữa kiến thức đãhọc với kiến thức sắp học hoặc khi củng cố kiến thức vừa mới học

- Vấn đáp giải thích minh họa: Được thực hiện khi những câu hỏi của giáoviên đưa ra có kèm theo các ví dụ minh họa (bằng lời hoặc bằng hình ảnh trựcquan) nhằm giúp học sinh dễ hiểu, dễ ghi nhớ Việc áp dụng phương pháp này cógiá trị sư phạm cao hơn nhưng khó hơn và đòi hỏi nhiều công sức của giáo viênhơn khi chuẩn bị hệ thống các câu hỏi thích hợp Phương pháp này được áp dụng

có hiệu quả trong một số trường hợp, như khi giáo viên biểu diễn phương tiện trựcquan

- Vấn đáp tìm tòi (hay vấn đáp phát hiện): Là loại vấn đáp mà giáo viên tổchức sự trao đổi ý kiến kể cả tranh luận giữa thầy với cả lớp, có khi giữa trò vớitrò, thông qua đó học sinh nắm được tri thức mới Hệ thống câu hỏi được sắp đặthợp lí nhằm phát hiện, đặt ra và giải quyết một vấn đề xác định, buộc học sinh phảiliên tục cố gắng, tìm tòi lời giải đáp

Trong vấn đề tìm tòi, hệ thống câu trả lời của giáo viên giữ vai trò chỉ đạo,quyết định chất lượng lĩnh hội của lớp học Trật tự Logic của các câu hỏi hướngdẫn học sinh từng bước phát hiện ra bản chất của sự vật, quy luật của hiện tượng,kích thích tích cực sự tìm tòi, sự ham muốn hiểu biết của học sinh

* Quy trình thực hiện

Trước giờ học:

Trang 15

- Bước 1: Xác định mục tiêu bài học và đối tượng dạy học, xác định các đơn

vị kiến thức kĩ năng cơ bản trong bài học và tìm cách diễn đạt các nội dung nàydưới dạng câu hỏi gợi ý, dẫn dắt học sinh

- Bước 2: Dự kiến nội dung các câu hỏi, hình thức hỏi, thời điểm đặt câu hỏi, đặt câu hỏi ở chỗ nào? trình tự của các câu hỏi (câu hỏi trước phải làm nềncho các câu hỏi tiếp sau hoặc định hướng suy nghĩ để học sinh giải quyết vấn đề)

Dự kiến nội dung các câu trả lời của học sinh, trong đó dự kiến những “lỗ hổng” vềmặt kiến thức cũng như những khó khăn, sai lầm phổ biến mà học sinh thường mắcphải Dự kiến các câu nhận xét hoặc trả lời của giáo viên đối với học sinh

- Bước 3: Dự kiến những câu hỏi phụ để tùy tình hình từng đối tượng cụ thể

mà tiếp tục gợi ý, dẫn dắt học sinh

Trong giờ học:

Bước 4: Giáo viên sử dụng hệ thống câu hỏi dự kiến (phù hợp với trình độnhận thức của từng loại đối tượng học sinh) trong tiến trình bài dạy và chú ý thuthập thông tin phản hồi từ phía học sinh

- Gợi mở vấn đáp giúp lôi cuốn học sinh tham gia vào bài học, làm chokhông khí lớp học sôi nổi, sinh động, kích thích hứng thú học tập và lòng tự tin củahọc sinh, rèn luyện cho học sinh năng lực diễn đạt sự hiểu biết của mình và hiểu ýdiễn đạt của người khác

- Tạo môi trường để học sinh giúp đỡ nhau trong học tập học sinh kém cóđiều kiện học tập các bạn trong nhóm, có điều kiện tiến bộ trong quá trình hoàn thành các nhiệm vụ được giao

- Giúp giáo viên thu nhận tức thời nhiều thông tin phản hồi từ phía ngườihọc, duy trì sự chú ý của học sinh; giúp kiểm soát hành vi của học sinh và quản lýlớp học

* Hạn chế

Hạn chế lớn nhất của phương pháp vấn đáp là rất khó soạn thảo và sử dụng

hệ thống câu hỏi gợi mở và dẫn dắt học sinh theo một chủ đề nhất quán Vì vậy đòihỏi giáo viên phải có sự chuẩn bị rất công phu, nếu không kiến thức mà học sinhthu nhận được qua trao đổi sẽ thiếu tính hệ thống, tản mạn thậm chí vụn vặt

Trang 16

- Nếu giáo viên chuẩn bị hệ thống câu hỏi không tốt, sẽ dẫn đến tình trạngđặt câu hỏi không rõ mục đích, đặt câu hỏi mà học sinh dễ dàng trả lời hoặc khôngtrả lời được Hiện nay nhiều giáo viên thường gặp khó khăn khi xây dựng hệ thốngcâu hỏi do không nắm chắc trình độ của học sinh, vì vậy thường là ngay sau khiđặt câu hỏi giáo viên nêu ngay gợi ý trả lời khiến học sinh rơi vào trạng thái bịđộng, không thực sự làm việc, chỉ ỉ lại vào gợi ý của giáo viên.

- Khó kiểm soát quá trình học tập của học sinh (có nhiều tình huống bất ngờtrong câu trả lời, thậm chí câu trả lời từ phía người học, giờ học dễ lệch hướng docâu hỏi vụn vặt, không nhất quán)

- Khó soạn và xây dựng đáp án cho các câu hỏi mở (vì phương án trả lời củahọc sinh sẽ không giống nhau)

* Một số lưu ý

Khi soạn các câu hỏi giáo viên cần lưu ý các yêu cầu sau đây:

- Câu hỏi có nội dung chính xác, rõ ràng, sát với mục đích, yêu cầu của bàihọc, không làm cho người học có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau

- Câu hỏi phải sát với từng loại đối tượng học sinh, nghĩa là phải có nhiềucâu hỏi ở mức độ khác nhau, không quá dễ, cũng không quá khó Giáo viên cókinh nghiệm thường tỏ ra cho học sinh thấy các câu hỏi đều có tầm quan trọng và

độ khó như nhau (để học sinh yếu có thể trả lời được những câu hỏi vừa sức màkhông có cảm giác tự ti rằng mình chỉ có thể trả lời được những câu hỏi dễ vàkhông quan trọng)

- Cùng một nội dụng học tập, cùng một mục đích như nhau, giáo viên có thể

sử dụng nhiều dạng câu hỏi với nhiều hình thức hỏi khác nhau

- Bên cạnh những câu hỏi chính cần chuẩn bị những câu hỏi phụ (trên cơ

sở dự kiến các câu trả lời của học sinh, trong đó có thể có những câu trả lời sai)

để tùy tình hình thực tế mà gợi ý, dẫn dắt tiếp

- Nên chú ý các câu hỏi mở để học sinh đưa ra nhiều phương án trả lời vàphát huy được tính tích cực, sáng tạo của học sinh

* Ví dụ minh họa

Ví dụ 1: Khi dạy phần 1, Tiết 1 “ Tổ chức và hệ thống tổ chức của

QĐND VN” tôi nêu câu hỏi như sau:

Câu hỏi 1: Em hãy cho biết QĐND VN do ai lãnh đạo ?

Trả lời: QĐND VN đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt củaĐảng cộng sản Việt Nam; thuộc quyền thống lĩnh của Chủ tịch nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam và chỉ huy điều hành của Bộ trưởng Bộ quốc phòng

Câu hỏi 2: QĐND VN được tổ chức như thế nào ?

Trang 17

Trả lời: QĐND VN gồm: Bộ đội chủ lực, bộ đội dịa phương, bộ đội biênphòng; lực lượng thường trực, lực lượng dự bị; được tổ chức theo một hệ thốngthống nhất, chặt chẽ từ trung ương đến cơ sở.

Câu hỏi 3: QĐND VN được tổ chức theo một hệ thống thống nhất, chặt chẽ từtrung ương đến cơ sở Vậy hệ thống tổ chức của QĐND VN ra sao ?

Trả lời: Hệ thống tổ chức của QĐND VN:

- Bộ Quốc phòng

- Các cơ quan Bộ quốc phòng

- Các đơn vị thuộc Bộ quốc phòng

- Các bộ, ban chỉ huy quân sự các cấp

Hình ảnh 1: Học sinh xung phong trả lời câu hỏi

Hình ảnh 2: Học sinh trả lời câu hỏi

Trang 18

Hình ảnh 2: Học sinh trả lời câu hỏi

Ví dụ 2: Khi dạy phần 2, Tiết 2 “ Chức năng, nhiệm vụ chính của một

số cơ quan, đơn vị trong QĐND VN” tôi nêu câu hỏi như sau:

Câu hỏi 1: Bộ Quốc phòng có chức năng gì ?

Trả lời: Bộ Quốc phòng là đơn vị thuộc chính phủ do bộ trưởng đứng đầu; cóchức năng quản lý nhà nước về xây dựng nền QPTD, quân đội và dân quân tự vệ;chỉ đạo, chỉ huy quân đội và dân quân tự vệ đấu tranh bảo vệ vững chắc Tổ quốcCâu hỏi 2: Bộ tổng tham mưu và cơ quan tham mưu các cấp trong QĐND VNcố chứa năng, nhiệm vụ gì ?

Trả lời: - Chức năng: Đàm trình độ sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũtrang; điều hành các hoạt động quân sự trong thời bình và thời chiến

- Nhiệm vụ: Tổ chức nắm tình hình địch, ta; nghiên cứu, đề xuấtnhững chủ trương chung về chiến lược, chiến dịch và chiến thuật; tổ chức lựclượng, chỉ huy quân đội và dân quân tự vệ trong huấn luyện, tác chiến; điều hànhcác hoạt động quân sự phòng thủ đất nước

* Kết luận

Việc sử dụng phương pháp vấn đáp trong dạy học GDQP-AN có nhiều ưu

điểm.

- Thứ nhất: Không khí lớp học sôi nổi

- Thứ hai: Học sinh được trình bày quan điểm của mình, từ đó hình thànhkiến thức tiết học

- Thứ ba: Học sinh được rèn luyện kỹ năng trả lời phỏng vấn, kỹ năng

giao tiếp

Trang 19

- Thứ tư: Giáo viên nhận được thông tin phản hồi trực tiếp từ học sinh, đểthay đổi phương pháp giảng dạy cho phù hợp.

2.3.2 Phương pháp thảo luận nhóm

Phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng nhằm giúp cho mọi học sinhtham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em có thểchia sẽ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết các vấn đề có liên quan đếnnội dung bài học; tạo cơ hội cho các em được giao lưu, học hỏi lẫn nhau; cùngnhau hợp tác giải quyết những nhiệm vụ chung

* Quy trình thực hiện

Khi sử dụng phương pháp dạy học này lớp học được chia thành từng nhóm,tùy mục đích sư phạm và yêu cầu của vấn đề học tập Các nhóm được phân chiangẫu nhiên hoặc có chủ định, được duy trì ổn định trong cả tiết học hoặc thay đổitheo từng hoạt động từng phần của tiết học, các nhóm được giao cùng hoặc đượcgiao nhiệm vụ khác nhau

Cấu tạo của hoạt động theo nhóm (trong một phần của tiết học, hoặc một tiết, một buổi) có thể là như sau:

Bước 1: Làm việc chung cả lớp

- Giáo viên giới thiệu chủ đề thảo luận hoặc nêu vấn đề, xác định nhiệm vụnhận thức

- Nêu vấn đề, xác định nhiệm vụ nhận thức;

- Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm, quy định thời gian vàphân công vị trí làm việc cho các nhóm;

- Hướng dẫn cách làm việc theo nhóm (nếu cần)

Bước 2: làm việc theo nhóm

- Phân công trong nhóm, từng cá nhân làm việc độc lập;

- Trao đổi ý kiến, thảo luận trong nhóm;

- Cử đại diện trình bày kết quả làm việc của nhóm

Bước 3: Thảo luận, tổng kết trước lớp

- Đại diện từng nhóm trình bày kết quả thảo luận của nhóm;

Trang 20

- Các nhóm khác quan sát, lắng nghe, chất vấn, bình luận và bổ sung ý kiến;

- Giáo viên tổng kết và nhận xét, đặt vấn đề cho bài tiếp theo hoặc vấn đềtiếp theo

* Ưu điểm

- Học sinh học cách cộng tác trên nhiều phương diện

- Học sinh được nêu quan điểm của mình, được nghe quan niệm của bạnkhác trong nhóm, trong lớp; được trao đổi, bàn luận về các ý kiến khác nhau vàđưa lời giải tối ưu cho nhiệm vụ được giao cho nhóm Qua cách đó, kiến thức củahọc sinh sẽ bớt phần chủ quan, phiến diện, làm tăng tính khách quan khoa học Tưduy phê phán, phản biện của học sinh được rèn luyện và phát triển

- Các thành viên trong nhóm chia sẻ các suy nghĩ, băn khoăn, kinh nghiệm,hiểu biết của bản thân cùng nhau xây dựng nhận thức, thái độ mới và học hỏi lẫnnhau Kiến thức trở nên sâu sắc bền vững, dễ nhớ và nhớ nhanh hơn do được giaolưu, học hỏi giữa các thành viên trong nhóm, được tham gia trao đổi, trình bày vấn

đề nêu ra Học sinh hào hứng khi có sự đóng góp của mình vào thành công chungcủa cả lớp

- Nhờ không khí thảo luận cởi mở nên học sinh đặc biệt là những em nhútnhát trở nên bạo dạn hơn; các em học được cách trình bày ý kiến của mình, biếtlắng nghe và phê phán ý kiến của bạn; từ đó giúp các em dễ hòa nhập vào cộngđồng nhóm, tạo cho các em sự tự tin hứng thú trong học tập và sinh hoạt

- Vốn hiểu biết và kinh nghiệm xã hội của học sinh thêm phong phú; kĩ nănggiao tiếp, kĩ năng hợp tác của học sinh được phát triển

* Hạn chế

- Một số học sinh do nhút nhát hoặc một số lí do nào đó không tham gia vào hoạt động chung của cả nhóm Nếu không phân công hợp lí chỉ có một vài học sinhhọc khá tham gia, còn đa số học sinh khác không hoạt động

- Ý kiến các nhóm có thể quá phân tán hoặc mâu thuẫn gay gắt với nhau(nhất là đối với các môn khoa học và xã hội)

- Thời gian có thể kéo dài

- Với những lớp có sĩ số đông hoặc lớp học chật hẹp, bàn ghế khó di chuyểnthì có thể khó tổ chức hoạt động nhóm Khi tranh luận, dễ dẫn tới lớp ồn ào, ảnhhưởng đến các lớp học khác

Trang 21

- Cần quy định rõ thời gian thảo luận nhóm và trình bày kết quả thảo luậncủa các nhóm.

- Khi làm việc theo nhóm, các nhóm có thể tự bầu ra nhóm trưởng nếu thấycần Các thành viên trong nhóm có thể luân phiên nhau làm nhóm trưởng Nhómtrưởng phân công cho mỗi nhóm viên thực hiện một phần công việc

- Kết quả thảo luận có thể được trình bày dưới nhiều hình thức (bằng lời,bằng tranh vẽ, bằng tiểu phẩm, bằng văn bản viết trên giấy khổ lớn, bảng phụ…;

có thể do một người thay mặt hoặc nhóm trình bày, hoặc có thể nhiều người trìnhbày, mỗi người một đoạn nối tiếp nhau)

- Trong suốt quá trình học sinh thảo luận, giáo viên quan sát lắng nghe, gợi

ý, giúp đỡ học sinh khi cần thiết

* Ví dụ minh họa

Ví dụ 1: Trong phần b mục 3 “quân hiệu, cấp hiệu, phù hiệu của

QĐND VN” giáo viên có thể vận dụng phương pháp này như sau:

- Bước 1: Giáo viên quy định thời gian và phân công vị trí làm việc cho các

nhóm, nêu câu hỏi cụ thể cho các nhóm

+ Câu hỏi nhóm 1: Trình bày hệ thống cấp bậc hàm của sỹ quan QĐND VN ?+ Câu hỏi nhóm 2: Trình bày hệ thống cấp bậc hàm của QNCN trong QĐND VN ?+ Câu hỏi nhóm 3: Trình bày hệ thống cấp bậc hàm của HSQ, CS, HV trongQĐND VN ?

+ Câu hỏi nhóm 4: Phân biệt cấp bậc hàm của SQ với QNCN ?

- Bước 2: Các nhóm làm việc.

+ Phân công trong nhóm, từng cá nhân làm việc độc lập;

+ Trao đổi ý kiến, thảo luận trong nhóm;

+ Hoàn thành kết quả trên bảng phụ

+ Cử đại diện trình bày kết quả làm việc của nhóm

- Bước 3: Thảo luận, tổng kết trước lớp

+ Đại diện lần lượt từng nhóm trình bày kết quả thảo luận của nhóm;

+ Các nhóm khác quan sát, lắng nghe, chất vấn, bình luận và bổ sung ý kiến;+ Giáo viên tổng kết và nhận xét, đặt vấn đề cho bài tiếp theo hoặc vấn đềtiếp theo

Trang 22

Hình ảnh 4: Học sinh thảo luận nhóm

Hình ảng 5: Giáo viên hướng dẫn học sinh thảo luận nhóm

Hình ảnh 6: Học sinh đại diện nhóm trình bày nội dung của nhóm.

Trang 23

Hình ảnh 7: Giáo viên nhận xét và kết luận

Trang 24

Ví dụ 2: Khi lên lớp mục 2 phần I “Chức năng, nhiệm vụ chính của một số

cơ quan, đơn vị trong QĐND VN” giáo viên có thể vận dụng phương pháp này như

sau:

- Bước 1: Giáo viên quy định thời gian và phân công vị trí làm việc cho các nhóm,

nêu câu hỏi cụ thể cho các nhóm

+ Nhóm 1: Chức năng, nhiệm vụ chính của Bộ quốc phòng; Bộ tổng tham mưu

và cơ quan tham mưu các cấp trong QĐND VN ?

+ Nhóm 2: Chức năng, nhiệm vụ chính của Tổng cục chính trị và cơ quan chínhtrị các cấp; Tổng cục Hậu cần và cơ quan hậu cần các cấp trong QĐND VN ?

+ Nhóm 3: Chức năng, nhiệm vụ chính của Tổng cục kĩ thuật và cơ quan kĩ thuậtcác cấp; Tổng cục công nghiệp quốc phòng và cơ quan, đơn vị sản xuất quốcphòng và chức năng, nhiệm vụ của Bộ đội biên phòng trong QĐND VN ?

Trang 25

+ Nhóm 4: Chức năng, nhiệm vụ chính của các quân khu, quân chủng, binhchủng trong QĐND VN?

- Bước 2: Các nhóm thảo luận ghi kết quả vào bảng phụ

- Bước 3: Thảo luận, tổng kết trước lớp.

 Bộ tổng tham mưu và cơ quan tham mưu các cấp

+ Là cơ quan chỉ huy lực lượng vũ trang quốc gia

+ Chức năng bảo đảm trình độ sẳn sàng chiến đấu, điều hành các hoạt động

quân sự, nghiên cứu đề xuất những chủ trương chung

- Nhóm 2:

Tổng cục chính trị:

+ Chức năng đảm nhiệm công tác Đảng, công tác chính trị trong toàn quân

+ Nhiệm vụ đề nghị đảng ủy quân sự trung ương quyết định chủ

trương, biện pháp lớn về công tác đảng, công tác chính trị trong QĐ; đề ra những nội dung, biện pháp, kế hoạch chỉ đạo, kiểm tra cấp dưới thực hiện

Cơ quan chính trị các cấp:

+ Nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất những chủ trương, biện pháp công tác đảng, công tác chính trị; hướng dẫn và tổ chức cho các cơ quan, đơn vị thực hiện

 Tổng cục hậu cần và cơ quan hậu cần các cấp:

+ Chức năng đảm bảo vật chất, quân y, vận tải

+ Nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất, chỉ đạo công tác đảm bảo hậu cần

- Nhóm 3:

 Tổng cục kĩ thuật và cơ quan kĩ thuật các cấp:

+ Chức năng bảo đảm vũ khí, trang bị, kỹ thuật, phương tiện

+ Nhiệm vụ nghiên cứu đề xuất, bảo đảm kỹ thuật

 Tổng cục CNQP và các cơ quan, đơn vị sản xuất QP các cấp:

+ Chức năng quản lý các cơ sở sản xuất QP

Trang 26

+ Nhiệm vụ nghiên cứu, đề xuất các vấn đề có liên quan đến tổ chức bảo đảm công nghiệp quốc phòng, chỉ đạo các đơn vị sản xuất sản xuất trang thiết

bị của ngành công nghiệp quốc phòng , bảo đảm cho lực lượng vũ trang trong thời bình và thời chiến

 Bộ đội biên phòng:

+ Chức năng, nhiệm vụ: Chỉ đạo công tác QP; xây dựng tiềm lực quân

sự trong thời bình; chỉ đạo lực lượng vũ trang quân khu trong thời chiến để bảo vệ lãnh thổ quân khu

Quân chủng:

Là bộ phận quân đội hoạt động ở môi trường địa lý nhất định ( trên bộ, trên không, trên biển )

Binh chủng:

Chức năng trực tiếp chiến đấu hoặc bảo đảm chiến đấu có vũ khí, trang

bị kĩ thuật và phương pháp hoạt động tác chiến đặc thù như: Pháo binh, Tăng – Thiết giáp, Công binh, Thông tin liên lạc, Đặc công, Hóa học…

* Kết luận: Việc giáo viên sử dụng phương pháp dạy học thảo luận nhóm đã mang

lại hiệu quả tương đối cao, học sinh hoạt động tích cực, chủ động; tạo không khí sôi nổi hứng thú, giúp các em tự tin hơn trong việc lĩnh hội tri thức cũng như kiến thức bài học Có thể nói đây là phương pháp dạy học mang lại hiệu qủa cao trong việc giảng dạy lí thuyết môn GDQP nói chung và giảng dạy bài 3 môn GDQP-AN lớp 12 nói riêng

Tuy nhiên để thực hiện có hiệu quả phương pháp này đòi hỏi giáo viên phảichẩu bị bài một cách kĩ lưỡng từ khâu soạn bài đến khâu chuẩn bị, lên lớp

Trang 27

2.3.3 phương pháp bản đồ tư duy

Bản đồ tư duy (Mindmap) là phương pháp được đưa ra như là một phương tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp, hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh Phương pháp này được phát triển vào cuối thập niên 60 (thế kỷ 20) bởi Tony Buzan, giúp ghi lại bài giảng mà chỉ dùng các từ then chốt và các hình ảnh Cách ghi chép này nhanh, dễ nhớ và dễ ôn tập hơn

Phương pháp này khai thác khả năng ghi nhớ và liên hệ các dữ kiện lại với nhau bằng cách sử dụng màu sắc, một cấu trúc cơ bản được phát triển rộng ra từ trung tâm, chúng dùng các đường kẻ, các biểu tượng, từ ngữ và hình ảnh theo một bộ cácquy tắc đơn giản, cơ bản, tự nhiên và dễ hiểu Với một Bản đồ tư duy, một danh sách dài những thông tin đơn điệu có thể biến thành một bản đồ đầy màu sắc, sinh động, dễ nhớ, được tổ chức chặt chẽ Nó kết hợp nhịp nhàng với cơ chế hoạt động

tự nhiên của não chúng ta Việc nhớ và gợi lại thông tin sau này sẽ dễ dàng, đáng tin cậy hơn so với khi sử dụng kỹ thuật ghi chép truyền thống

* Bản chất: Bản đồ tư duy là một sơ đồ nhằm trình bày một cách rõ ràng ý tưởng

mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc của cá nhân hay nhóm về một chủ đề Sơ

đồ tư duy có thể viết trên giấy, trên bảng hay thực hiện trên máy tính

Thực tế trong tiết dạy cho thấy, việc học sinh có thể khái quát hóa nội dung

là rất khó khăn, các em thường ghi nhớ một cách máy móc không theo logic Việc

sử dụng sơ đồ tư duy có ý nghĩa lớn đến việc rèn luyện khả năng tự giải quyết vấn

đề của học sinh, giúp học sinh có thể tổng kết kiến thức đã học

Sơ đồ tư duy có thể vận dụng trong các trường hợp như tóm tắt nội dung,

ôn tập chủ đề, trình bày tổng quan một chủ đề, chuẩn bị ý tưởng cho một buổi báocáo hay thuyết trình, ghi chép khi nghe bài giảng

* Các bước tiến hành

Một bản đồ tư duy hoạt động giống như cách mà bộ não chúng ta hoạt động Mặc

dù, bộ não có thể xử lý hầu hết các sự kiện phức tạp, song nó lại dựa trên các nguyên tắc hết sức đơn giản Đó là lý do tại sao, tạo ra các Bản đồ Tư duy lại dễ dàng và thú vị, bởi vì chúng theo nhu cầu sẵn có và năng lực tiềm tàng của bộ não chứ không phải là đối lập với chúng Vậy, bộ não có những nhiệm vụ gì then chốt trong việc tạo ra Bản đồ Tư duy? Rất đơn giản là: Tưởng tượng và liên kết

Bảy bước để tạo nên một bản đồ tư duy:

- Bước 1: Bắt đầu từ TRUNG TÂM của một tờ giấy trắng và kéo sang một bên Tại

sao? Bởi vì bắt đầu từ trung tâm cho bộ não, sự tự do để trải rộng một cách chủ động và để thể hiện phóng khoáng hơn, tự nhiên hơn

- Bước 2: Dùng một HÌNH ẢNH hay BỨC TRANH cho ý tưởng trung tâm Tại

sao? Do một hình ảnh có giá trị tương đương cả nghìn từ và giúp ta sử dụng trí tưởng tượng của mình

Ngày đăng: 21/05/2021, 21:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w