Để thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước, trong những năm qua, UBND tỉnh Nghệ An đã chỉ đạo các Sở, Ban ngành tích cực tổ chức các lớp bồi dưỡng tiếng nói, chữ viết cho con em đồ
Trang 1PHẦN I PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn sáng kiến
Tri thức bản địa là tri thức được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài, qua kinh nghiệm ứng xử của con người với môi trường và xã hội; được lưu truyền từ đời này qua đời khác qua trí nhớ, qua thực tiễn sản xuất và thực hành
xã hội Tri thức bản địa chứa đựng trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống xã hội như sản xuất lương thực, thực phẩm, chăn nuôi; cất trữ và chế biến thức ăn; thu hái, sử dụng cây thuốc và cách chữa bệnh; truyền thụ kiến thức qua các thế hệ trong giáo dục; bảo vệ, quản lý và khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên; tổ chức quản lý cộng đồng, giá trị xã hội, các luật lệ truyền thống trong làng bản…
Sự quan tâm đến tri thức bản địa được thực hiện rõ trong những báo cáo cuả các tổ chức chính phủ và phi chính phủ của nhiều quốc gia Các tổ chức này cũng như các tổ chức quốc tế Liên hợp quốc (UNESCO), tổ chức Sở hữu trí tuệ Liên hợp quốc (WIPO) và Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) đều thừa nhận về vai trò và những đóng góp của tri thức bản địa trong phát triển bền vững Do vậy, bảo tồn và phát huy các giá trị của tri thức bản địa là một yêu cầu được đặt
ra cấp bách không chỉ ở phạm vi của một vùng mà phạm vi cả nước và ở nhiều nước đang phát triển trên thế giới
Hiện nay tri thức bản địa của các tộc người được coi là một trong những lợi thế so sánh của một số nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Bởi vậy, việc bảo vệ các tri thức bản địa, được coi là yêu cầu cấp thiết Tuy nhiên, do bản chất của tri thức bản địa là tồn tại dưới dạng thông tin được lưu truyền qua các thế hệ, hoặc được trao đổi giữa các cộng đồng, nên nhiều tri thức quý giá có nguy cơ bị thất truyền Vì vậy, điều quan trọng đầu tiên là phải có nhận thức đúng về vai trò của tri thức bản địa, bên cạnh những tri thức khoa học hiện đại, nhằm bổ sung cho nguồn tri thức này để góp phần tích cực cho công cuộc xóa đói giảm nghèo, phát triển bền vững kinh tế và văn hóa xã hội ở cộng đồng các dân tộc thiểu số.Tiếp theo là các phương hướng và biên pháp cụ thể để nghiên cứu, sưu tầm, thu thập, ghi lại bằng nhiều hình thức như dạng tồn tại trên văn bản ngôn từ, trong băng hình tư liệu hóa những tri thức bản địa cung cấp cho cán
bộ và nhân dân địa phương
Để bảo tồn các tri thức của đồng bào qua nhiều thế hệ, các ngành có liên quan như Văn hóa, Khoa học công nghệ, Giáo dục đào tạo và Ban dân tộc, Hội văn học nghệ thuật cùng các trường học tổ chức tuyên truyền ý nghĩa, vai trò của tri thức bản địa cũng như góp phần lưu giữ các tài liệu quý giá đó Đây là tri thức truyền thống của ông cha để lại, là niềm tự hào của các tộc người về di sản sản trí tuệ của chính bản thân họ đồng thời cũng là tài sản của quốc gia Khẳng
Trang 2định rằng muốn phát triển bền vững thì phải kết hợp hài hòa giữa tri thức bản địa
và khoa học hiện đại
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, chế độ đối với đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước nói chung và đội ngũ CBCC đến công tác ở các vùng dân tộc và miền núi nói riêng Những CBCC được điều động, biệt phái đến công tác ở vùng dân tộc, miền núi đã đoàn kết sát cánh cùng với đội ngũ CBCC là người dân tộc thiểu số góp phần đẩy nhanh phát triển kinh
tế - xã hội, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở các địa phương
Tuy nhiên, đa số CBCC đến công tác ở vùng dân tộc, miền núi còn gặp không ít khó khăn trong công tác cũng như trong sinh hoạt, mà một trong những nguyên nhân là không biết tiếng dân tộc thiểu số và chưa am hiểu phong tục tập quán, truyền thống văn hoá của đồng bào các dân tộc thiểu số Hạn chế này đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác tuyên truyền, vận động thuyết phục đồng bào dân tộc thiểu số trong việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
Để thực hiện các chủ trương của Đảng và Nhà nước, trong những năm qua, UBND tỉnh Nghệ An đã chỉ đạo các Sở, Ban ngành tích cực tổ chức các lớp bồi dưỡng tiếng nói, chữ viết cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số cũng như đội ngũ cán bộ, công chức đang công tác tại vùng có đồng bào sinh sống trong đó bao gồm: Tiếng và chữ viết dân tộc Thái và dân tộc Mông
Nhận thấy tầm quan trọng của việc bảo tồn các giá trị văn hóa cũng như tiếng nói và chữ viết của đồng bào dân tộc thiểu số cũng như đón đầu nhu cầu của cán bộ công chức viên chức đang công tác ở vùng dân tộc miền núi học tiếng nói và chữ viết của đồng bào để có thể giao tiếp và phổ biến các chủ trương của Đảng và Nhà nước đến tận đồng bào, với chức năng nhiệm vụ của mình, năm 2011 Trung tâm GDTX tỉnh Nghệ An đã xây dựng Đề án “Bồi dưỡng và cấp chứng chỉ tiếng dân tộc Thái cho cán bộ, công chức, viên chức, giáo viên lực lượng vũ trang đang công tác tại vùng dân tộc miền núi tỉnh Nghệ An”và được UBND tỉnh Nghệ An phê duyệt tại Công văn số 3477/UBND.VX ngày 22 tháng 6 năm 2011 về việc giao cho Trung tâm GDTX tỉnh mở lớp bồi dưỡng, cấp chứng chỉ tiếng nói chữ viết dân tộc Thái
Trong quá trình thực hiện đề án, Trung tâm được Bộ Nội vụ chỉ định là đơn vị biên soạn, chỉnh sửa tài liệu tiếng dân tộc Thái cho CBCCVC đang công tác ở vùng dân tộc, miền núi tỉnh Nghệ An tại Quyết đinh số 485/QĐ-BNV và UBND tỉnh Nghệ An ra Quyết đình ban hành tại số 6548/QĐ-UBND Đây là bộ tài liệu được biên soạn công phu có tính khoa học và giao tiếp cao Tuy nhiên với thời lượng của khóa học với 300 tiết lý thuyết và 150 tiết thực hành thì chương trình chỉ mới giúp cho học viên biết tiếng nói, chữ viết của đồng bào dân tộc Thái, có khả năng nghe, nói tương đối tốt trong giao tiếp thông thường; đọc, viết được và có những hiểu biết cần thiết về văn hóa, phong tục tập quán của
Trang 3đồng bào Bên cạnh đó nguồn tài liệu tham khảo cho môn học này không nhiều chỉ có một số văn bản cổ do các nhà trí thức người dân tộc sưu tầm, một số bài viết của các tác giả nghiên cứu về tri thức bản địa của người Thái Nghệ An để phục vụ cho các lĩnh vực phát triển kinh tế, nông nghiệp, thủy lợi, y tế Hiện tại chưa có tác giả nào nghiên cứu, tập hợp các tri thức bản địa của người Thái Nghệ An để vận dụng vào trong công tác bồi dưỡng tiếng dân tộc Thái nói chung và công tác bồi dưỡng tiếng dân tộc Thái cho CBCCVC đang công tác tại vùng dân tộc miền núi tỉnh Nghệ An nói riêng
Xuất phát từ lý do đó, để nâng cao chất lượng của các khóa bồi dưỡng tiếng dân tộc Thái cho CBCCVC, giúp cho CBCCVC không chỉ biết chữ viết, biết tiếng nói của đồng bào mà còn am hiểu sâu sắc về văn hóa, phong tục tập quán, luật tục của đồng bào để có thể dễ dàng hơn trong công tác tuyên truyền phổ biến các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước Trong quá trình giảng dạy, cá nhân đã sưu tầm, tập hợp các nhóm tri thức bản địa của đồng bào Thái Nghệ An từ các bài viết của các tác giả cũng như trao đổi lấy thông tin trực tiếp từ các tri thức là người dân tộc Thái và lồng ghép vào trong chương trình học của học viên Nhờ có những tài liệu bổ trợ này mà chất lượng của khóa bồi dưỡng được nâng cao, vì thế tôi muốn chia sẻ sáng kiến mà cá nhân đã áp dụng với các đồng nghiệp với mong muốn công tác bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số cho CBCCVC tại Nghệ An ngày càng phát triển
1.2 Mục đích của sáng kiến kinh nghiệm
- Sưu tầm, tập hợp, lưu giữ các tri thức bản địa của người Thái tại địa bàn tỉnh Nghệ An từ các nguồn tài liệu khác nhau
- Chia sẻ kinh nghiệm về việc lồng ghép đưa các kiến thức này vào trong các bài giảng trong chương tình Bồi dưỡng tiếng dân tộc Thái cho CBCCVC đang công tác tại vùng dân tộc miền núi tỉnh Nghệ An
1.3 Đối tượng và phạm vi thực hiện:
- Thời gian: từ tháng 9 năm 2019 đến tháng 5 năm 2021
- Phạm vi: chương tình bồi dưỡng tiếng dân tộc Thái cho CBCCVC đang công tác tại vùng dân tộc miền núi của tỉnh Nghệ An
- Đối tượng: Học viên là cán bộ công chức viên chức, lực lượng vũ trang đang công tại 10 huyện miền núi của tỉnh Nghệ An
PHẦN II: NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Cơ sở pháp lý
- Nghị quyết Hội nghị TW 5 (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” trong đó nhấn mạnh đến việc bảo tồn tiếng nói, chữ viết và các giá trị văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số;
Trang 4- Chỉ thị Chỉ thị số 38/2004/CT- TTg Ngày 19/11/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số đối với cán bộ, công chức công tác ở các vùng dân tộc, miền núi;
- Quyết định số 03/2006/QĐ - BGD&ĐT ngày 24 tháng 01 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về ban hành chương trình khung dạy tiếng dân tộc thiểu số (có chữ viết) cho cán bộ công chức công tác ở vùng dân tộc thiểu số;
- Thông tư 36/2012/TT-BGDĐT ngày 24 tháng 10 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về ban hành Quy định về tổ chức dạy học, kiểm tra và cấp chứng chỉ tiếng dân tộc thiểu số;
- Quyết định số 6147/QĐ-UBND ngày 07/11/2014 của UBND tỉnh Nghệ An về phê duyệt đề án đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số cho CBCCVC đang công tác tại vùng dân tộc, miền núi tỉnh Nghệ An;
- Kế hoạch số 07/KH-UBND ngày 05 tháng 01 năm 2018 của UBND tỉnh Nghệ
An trong đó nhấn mạnh đến năm 2020, 100% cán bộ giáo viên đang công tác tại vùng dân tộc miền núi phải biết ít nhất 01 tiếng dân tộc thiểu số;
- QĐ số 3477/UBND.VX ngày 22 tháng 6 năm 2011của UBND tỉnh Nghệ An
về việc giao cho Trung tâm GDTX tỉnh Nghệ An tổ chức bồi dưỡng và cấp chứng chỉ tiếng dân tộc thiểu số cho CBCC và lực lượng vũ trang đang công tác tại vùng dân tộc miền núi tỉnh Nghệ An
- Quyết định số 6548/QĐ-UBND ngày 24 tháng 11 năm 2014 của UBND tỉnh Nghệ An về ban hành tài liệu Bồi dưỡng tiếng dân tộc Thái hệ Lai-Tay cho CBCCVC đang công tác tại vùng dân tộc, miền núi tỉnh Nghệ An
- Quyết định số 771/QĐ-TTg ngày 26 tháng 6 năm 2018 về việc phê duyệt Đề
án “Bồi dưỡng kiến thức dân tộc đối với Cán bộ, Công chức, viên chức giai đoạn 2018-2025”
2.1.2 Khái niệm về tri thức bản địa
Thuật ngữ Indigenuos Knowledge (Tri thức bản địa) được Robert Chambers dùng lần đầu tiên trong một ấn phẩm xuất bản năm 1979, sau đó được Brokensha và D.M.Warren sử dụng vào năm 1980 và tiếp tục phát triển, phổ biến cho đến nay Tri thức bản địa được hiểu là một dạng tri thức địa phương, tri thức truyền thống gắn liền với những kinh nghiệm trong ứng xử, tương tác với môi trường tự nhiên và trong tổ chức đời sống cộng đồng được tích luỹ, kế thừa liên tục từ đời này qua đời khác, thế hệ này qua thế hệ khác Với những kết quả nghiên cứu, thực nghiệm ở nhiều địa bàn/cộng đồng dân cư cho thấy tri thức bản địa có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội theo hướng hiệu quả và bền vững Ngân hàng thế giới (WB) cho rằng “Tri thức bản địa là tri thức địa phương, là nền tảng cơ bản cho việc thiết lập các quyết định liên quan đến địa phương trên mọi lĩnh vực của cuộc sống đương đại bao gồm quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, dinh dưỡng, thức ăn, y tế, giáo dục và
Trang 5trong các hoạt động xã hội và cộng đồng Tri thức bản địa còn cung cấp các chiến lược nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra cho cộng đồng dân cư địa phương” Hiện nay, bàn về khái niệm tri thức bản địa, chúng tôi đồng thuận với
ý kiến của Vũ Trường Giang là "có thể thấy khái niệm về tri thức bản địa, tri thức địa phương, tri thức truyền thống… thường được sử dụng đổi lẫn cho nhau
và nhiều nhà nghiên cứu đã đồng nhất các khái niệm này"
“Tri thức bản địa là tri thức được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài, qua kinh nghiệm ứng xử của con người với môi trường và xã hội; được lưu truyền từ đời này qua đời khác qua trí nhớ, qua thực tiễn sản xuất và thực hành
xã hội Tri thức bản địa chứa đựng nhiều lĩnh vực của cuộc sống xã hội như sản xuất lương thực, thực phẩm, chăn nuôi; cất trữ và chế biến thức ăn; thu hái, sử dụng cây thuốc và cách chữa bệnh; truyền thụ kiến thức qua các thế hệ trong giáo dục; bảo vệ, quản lý và khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên;
tổ chức quản lý cộng đồng, giá trị xã hội, các luật lệ truyền thống trong làng bản
2.1.3 Tri thức bản địa của người Thái tại Nghệ An
Nghệ An là một tỉnh lớn, với diện tích trên 16.000km², dân số trên ba triệu người, có 5 dân tộc cư trú lâu đời trên địa bàn là Thái, Thổ, Khơ Mú, Mông, Ơ Đu Trong số bà con đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống tại Nghệ
An thì dân tộc Thái chiếm đông nhất là 295.312 người, chiếm 10,13% so với dân số toàn tỉnh và chiếm 69,92% trong tổng số các dân tộc thiểu số trong tỉnh (theo số liệu từ cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009)
Dân tộc Thái ở Việt Nam nói chung và ở Nghệ An nói riêng có di sản văn hóa phong phú và đa dạng, độc đáo và giàu bản sắc dân tộc Người Thái di cư đến Việt Nam trong thời gian từ thế kỷ VII đến thế kỷ XIII Trung tâm của họ khi đó là Điện Biên Phủ (Mường Thanh) Từ đây, họ tỏa đi khắp nơi ở trong nước như các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Thanh Hóa, Nghệ An Căn cứ vào nhiều tài liệu đã được công bố, tổ tiên người Thái đến sinh cư lập nghiệp trên rẻo đất vùng núi Nghệ An sớm nhất từ đời Trần Trong quá trình lịch sử cộng cư, chia
sẻ văn hóa và những kinh nghiệm đi kèm với nó, mang tính đặc thù địa phương
đã tạo nên những nét đặc trưng rất riêng của của người bản địa tại địa phương
đó
Trong thực tế tri thức bản địa thường được chia thành các nhóm: Nhóm thứ nhất là các tri thức dưới dạng kỹ thuật; Nhóm thứ hai là các tri thức dưới dạng văn hóa, tín ngưỡng Trong việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội ở khu vực nông thôn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhóm các tri thức dưới dạng kỹ thuật được kết hợp với các tri thức khoa học hiện đại để hoạch định chính sách, thiết lập các dự án phát triển kinh tế xã hội, giữ vững quốc phòng, an ninh; Nhóm các tri thức dưới dạng văn hóa, tín ngưỡng, được thường được sử dụng cho mục đích phát triển văn hóa - xã hội, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, tăng cường đoàn kết dân tộc, quản lý hành chính, quản lí tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái trong khu vực của cộng đồng
Trang 6Trong thời gian qua tôi đã sưu tầm, tập hợp được một số tài liệu về tri thức bản địa của người Thái tại Nghệ An từ các nguồn tài liệu khác nhau (Xem phụ lục 1)
2.1.4 Vai trò tri thức bản địa trong dạy học tiếng Thái
Tri thức bản địa của đồng bào dân tộc Thái bao gồm các loại trí khôn, kinh nghiệm, phong tục, lề lối ứng xử, các bài học của cộng đồng được hình thành trực tiếp từ lao động của người dân trong cộng đồng và được hoàn thiện củng cố dần, truyền lại cho thế hệ sau bằng truyền khẩu, bài hát, ngôn ngữ, luật tục
Để những tri thức này được bảo tồn cũng như ứng dụng vào trong cuộc sống hiện đại một cách có hiệu quả đòi hỏi đáp ứng yêu cầu cấp bách của công tác quản lý và phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh, quốc phòng đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức công tác ở các vùng có đồng bào dân tộc thiểu số phải biết tiếng dân tộc để giao tiếp và sử dụng trong công tác
Mặc dù trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, chế độ đối với đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước nói chung và đội ngũ cán bộ, công chức đến công tác ở các vùng dân tộc và miền núi nói riêng Tuy nhiên, đa số cán bộ, công chức đến công tác ở vùng dân tộc, miền núi còn gặp không ít khó khăn trong công tác cũng như trong sinh hoạt, mà một trong những nguyên nhân là không biết tiếng dân tộc thiểu số và chưa am hiểu phong tục tập quán, truyền thống văn hoá của đồng bào các dân tộc thiểu số Hạn chế này đã ảnh hưởng không nhỏ đến công tác tuyên truyền, vận động thuyết phục đồng bào dân tộc thiểu số trong việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
Tại Quyết định 771 cũng đã nêu rõ “Nâng cao, cập nhật kiến thức dân tộc, văn hóa dân tộc thiểu số, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác dân tộc; kỹ năng sử dụng tiếng dân tộc thiểu số cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tiếp xúc, làm việc trực tiếp với đồng bào dân tộc thiểu số Góp phần thực hiện hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội”theo chủ trương, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc
Quyết định số 03/2006/QĐ - BGD&ĐT ngày 24 tháng 01 năm 2006 của
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về ban hành chương trình khung dạy tiếng dân tộc thiểu số (có chữ viết) cho cán bộ công chức công tác ở vùng dân tộc thiểu số nhấn mạnh đến nội dung “Kết hợp chặt chẽ giữa việc dạy ngôn ngữ với trang bị vốn hiểu biết cơ bản về văn hóa, phong tục tập quán của đồng bào dân tộc Để việc học ngôn ngữ dân tộc giúp ích nhiều nhất cho người học, việc dạy tiếng dân tộc cần dựa trên ngữ liệu phản ánh cuộc sống lao động, sinh hoạt văn hóa, phong tục tập quán… của địa phương, qua đó trang bị cho người học những
Trang 7hiểu biết về tâm lý, tình cảm, văn hóa truyền thống… của đồng bào dân tộc Bên cạnh đó cũng cần có một số văn bản thường thức về khoa học, pháp luật, chính trị để người học có vốn từ ngữ cần thiết, vận dụng trong công tác tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vận động nếp sống mới và phổ biến khoa học”
Cuốn tài liệu “Bồi dưỡng tiếng dân tộc Thái hệ Lai-Tay cho CBCCVC đang công tác tại vùng dân tộc miền núi tỉnh Nghệ An”được ban hành tại Quyết định số 6548/QĐ-UBND ngày 24 tháng 11 năm 2014 của UBND tỉnh Nghệ An
có 10 chương gắn liền với 10 chủ đề liên quan đến các hoạt động trong cuộc sống hàng ngày của đồng bào cũng như giới thiệu những nét cơ bản nhất về văn hóa, phong tục, tập quán của đồng bào.Tuy nhiên với thời lượng của khóa bồi dưỡng 450 tiết học thì các nội dung trong tài liệu chỉ dừng lại ở mức giới thiệu ban đầu về các lĩnh vực của cuộc sống xã hội liên quan đến đồng bào
Vì vậy việc thu thập các kiến thức về tri thức bản địa và lồng ghép các tri thức này vào trong chương trình bồi dưỡng tiếng dân tộc Thái cho CBCCVC đang công tác tại các vùng dân tộc miền núi thực sự là cần thiết Đây chính là những tri thức, những phong tục tập quán, những nét văn hóa đặc trưng của đồng bào cần được bảo tồn gìn giữ cũng như giúp cho cán bộ đến gần hơn, hiểu hơn và thuận lợi hơn trong tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kết quả công tác bồi dưỡng tiếng dân tộc Thái tại tỉnh Nghệ An
Thực hiện Chỉ thị số 38/2004/CT-TTg ngày 09/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 6147/QĐ-UBND ngày 07/11/2014 của UBND tỉnh Nghệ An về phê duyệt đề án đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số cho CBCCVC đang công tác tại vùng dân tộc, miền núi tỉnh Nghệ An Trung tâm GDTX tỉnh Nghệ An được UBND tỉnh Nghệ An giao cho nhiệm vụ tổ chức bồi dưỡng tiếng Thái cho CBCCVC tại Công văn số 3477/UBND.VX ngày 22 tháng
6 năm 2011 Trung tâm GDTX tỉnh Nghệ An là đơn vị có nhiều thuận lợi để triển khai đề án này Trung tâm GDTX tỉnh Nghệ An là đơn vị được Bộ Nội vụ giao cho biên soạn tài liệu Tiếng dân tộc Thái và đã được UBND tỉnh Nghệ An
ra Quyết định ban hành Trung tâm có đội ngũ giáo viên tiếng Thái cơ hữu và thỉnh giảng có nhiều năm kinh nghiệm trong giảng dạy, tâm huyết với nghề và
có ý thức học hỏi vươn lên
Đồng thời, công tác bồi dưỡng này được lãnh đạo Trung tâm rất quan tâm
và có kế hoạch chi tiết cụ thể: hàng năm Trung tâm đều xây dựng kế hoạch bồi dưỡng trình lên Sở Nội vụ và Sở Giáo dục và Đào tạo về số lượng lớp, số lượng học viên, đối tượng, kinh phí, địa điểm học để mở lớp bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số cho CBCC, giáo viên ở các huyện miền núi có nhiều đồng bào sinh
Trang 8sống Sau khi kế hoạch được phê duyệt và có Quyết định của các cấp có thẩm quyền, Trung tâm tiến hành các thủ tục sau
Lập danh sách học viên, xây dựng kế hoạch giảng dạy
Đồng thời để đáp ứng các nhu cầu của các cá nhân và tổ chức Trung tâm
có kế hoạch mở lớp tại Trung tâm và các đơn vị có nhu cầu đến hợp đồng
Tính đến tháng 02 năm 2021, Trung tâm đã tổ chức giảng dạy và cấp chứng chỉ cho gàn 6000 học viên là CBCCVC đang công tác tại 8 huyện dân tộc miền núi của tỉnh Nghệ An Kết quả kiểm tra cấp chứng chỉ với tỷ lệ % khá, giỏi khá cao (Xem phụ lục 2)
2.2.2 Tồn tại, bất cập công tác bồi dưỡng tiếng dân tộc Thái tại tỉnh Nghệ
An
Công tác bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số cho CBCCVC đang công tác tại vùng dân tộc miền núi của tỉnh Nghệ An có nhiều thuận lợi và được đánh giá khá hiệu quả như đã trình bày ở trên, tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại bất cập như;
Đội ngũ giáo viên dạy tiếng dân tộc thiểu số không được đào tạo chính quy còn thiếu về số lượng Các giáo viên có nghiệp vụ sư phạm, có phương pháp dạy học tốt phần lớn là người Kinh nên hiểu biết về văn hóa, phong tục tập quán cũng như ngôn ngữ chưa được chuyên sâu, các nghệ nhân người Thái có hạn chế
về phương pháp dạy hoc
Tài liệu bổ trợ, từ điển không nhiều hoặc không có, khó khăn cho cả giáo viên và học viên muốn tự học thêm
Do địa bàn rộng, đi lại khó khăn nên việc thực hiện dạy tiếng dân tộc thiểu số cho CBCCVC chỉ được thực hiện tại các trung tâm huyện, thành phố, trong khi nhu cầu cấp thiết là đội ngũ và nhà giáo đang công tác tại các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số thì không có điều kiện được đào tạo, bồi dưỡng
Một bộ phận cán bộ, công chức học xong tiếng dân tộc thiểu số nhưng không có điều kiện áp dụng thường xuyên nên không phát huy được tác dụng Một số cán bộ, công chức có động cơ học tập tiếng dân tộc chưa đúng đắn như nhằm mục tiêu chuẩn hóa, miễn giảm trong việc thi nâng ngạch công chức, bổ
Trang 9nhiệm nên thường chú trọng bằng cấp, ít quan tâm đến chất lượng và quy chế học tập Các cơ quan, đơn vị chưa xây dựng kế hoạch cho CBCC tham gia lớp đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc
Thời gian đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc còn rất ngắn chỉ khoảng 3 đến
6 tháng chủ yếu là lý thuyết trên lớp, thời lượng dành cho thực tế ít nên hiệu quả của một số lớp chưa cao đặc biệt là các lớp ở vùng có ít đồng bào sinh sống
2.3 Kinh nghiệm vận dụng tri thức bản địa vào công tác giảng dạy tiếng Thái cho CBCCVC đang công tác tại vùng dân tộc, miền núi tỉnh Nghệ
An
Cuốn tài liệu “Bồi dưỡng tiếng dân tộc Thái hệ Lai-Tay cho CBCCVC đang công tác tại vùng dân tộc miền núi tỉnh Nghệ An”được ban hành tại Quyết định số 6548/QĐ-UBND ngày 24 tháng 11 năm 2014 của UBND tỉnh Nghệ An
có 10 chương gắn liền với 10 chủ đề liên quan đến các hoạt động trong cuộc sống hàng ngày của đồng bào cũng như giới thiệu những nét cơ bản nhất về văn hóa, phong tục, tập quán của đồng bào.Tuy nhiên với thời lượng của khóa bồi dưỡng chỉ có 300 tiết lý thuyết và 150 tiết thực tế, các nội dung trong tài liệu chỉ dừng lại ở mức giới thiệu ban đầu về các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống xã hội liên quan đến đồng bào Vì vậy, để nâng cao chất lượng của các khóa bồi dưỡng, trong quá trình giảng dạy tôi đã áp dụng một số hoạt động để giúp cho học viên có những hiểu biết chuyên sâu hơn về văn hóa, phong tục tập quán, luật tục của đồng bào
2.3.1 Thu thập, phân loại các nhóm tri thức bản địa của người Thái từ các nguồn tài liệu khác nhau
Căn cứ vào chủ đề của chương, mục đích yêu cầu của bài học, lựa chọn những kiến thức liên quan đã được sưu tầm làm tài liệu tham khảo cho học viên
Chủ điểm 1: Gia đình và dòng tộc
* Bài 8: Tặc tuộng (Chào hỏi)
Mục đích yêu cầu: Trang bị và giúp cho học viên luyện tập kiến thức về
nghi thức chào hỏi của người Thái Nghệ An
Nội dung bài học: Lời chào, nghi thức chào hỏi, văn hóa giao tiếp ứng
xử
Tri thức bổ trợ: Mục 7: Tri thức về giáo dục cộng đồng
* Bài 10: Quan hệ hướn dao (Quan hệ gia đình)
Mục đích yêu cầu: Trang bị và giúp cho học viên luyện tập kiến thức về
gia đình, dòng tộc của người Thái Nghệ An
Nội dung bài học: Các thành viên trong gia đình, mô hình gia đình lớn
của người Thái
Trang 10Tri thức bổ trợ: Mục 8: Hôn nhân, quan hệ gia đình
* Bài 11: Chường hỏng tứng cuổng hướn (Đồ dùng trong gia đình)
Mục đích yêu cầu: Trang bị và giúp cho học viên luyện tập kiến thức về
đồ dùng trong gia đình, ngôi nhà sàn truyền thống của người Thái
Nội dung bài học: Đồ dùng gia đình, các gian nhà trong ngôi nhà sàn
truyền thống
Tri thức bổ trợ: Mục 15: Nhà ở
* Bài 12: Quám kỉn dù cuổng tới không chù mự (Cuộc sống hàng ngày)
Mục đích yêu cầu: Trang bị và giúp cho học viên luyện tập kiến thức về
các hoạt động hàng ngày của người Thái
Nội dung bài học: Các hoạt động hàng ngày của người Thái nói chung,
của người già, của thanh niên: Làm nương rẫy, chăn nuôi, đan lát, dệt vải, bắt
cá, hái rau, hái măng, lấy mật ong, sửa phai lấy nước…
Tri thức bổ trợ: Mục 1: Sản xuất nông nghiệp; mục 2: Chăn nuôi; mục:
6: Nghề thủ công; mục 4: Hái lượm, săn bắt, đánh cá, mục 3: Khai thác nguồn nước
Chủ điểm 2: Bản làng quê hương
* Bài 14: Ống tứ việc ban mướng (Các chức sắc)
Mục đích yêu cầu: Trang bị và giúp cho học viên luyện tập kiến thức về
bộ máy quản lý bản mường của người Thái
Nội dung bài học: Hệ thống chức dịch: Ổng tạo, tạo mướng, tạo ban,
chau ban, thau ban, ổng mo…
Tri thức bổ trợ: Mục 10: quản lý bản làng dòng họ
Chủ điểm 3: Thiên nhiên và môi trường
* Bài 19: Chừ pạy thiên nhiên tấng môi trường (Bảo vệ thiên nhiên và môi trường)
Mục đích yêu cầu: Trang bị và giúp cho học viên luyện tập kiến thức về
thiên nhiên môi trường và cách bảo vệ
Nội dung bài học: Môi trường sống của đồng bào, rừng, núi, nguồn nước,
những việc nên làm không nên làm để bảo vệ thiên nhiên và môi trường
Tri thức bổ trợ: Mục 3: Khai thác nguồn nước; mục 5: Bảo vệ rừng Chủ điểm 4: Văn hóa dân tộc
* Bài 20: Chường nùng tè mờ nhám hỏng cốn táy (Trang phục truyền thống của người Thái)
Trang 11Mục đích yêu cầu: Trang bị và giúp cho học viên luyện tập kiến thức về
trang phục truyền thống của người Thái
Nội dung bài học: Trang phục của phụ nữ Thái: váy áo, khăn, thắt lưng,
hoa tai, dây xà ích…; Trang phục của nam giới: quần ống rộng, áo, dao, bao dao…
Tri thức bổ trợ: Mục 6: Nghề thủ công; mục 14: Trang phục
* Bài 22: Hịt khóng ban mướng táy (Phong tục của người Thái)
Mục đích yêu cầu: Trang bị và giúp cho học viên luyện tập kiến thức về
một số phong tục điển hình của người Thái
Nội dung bài học: Một số phong tục điển hình của người Thái: nhà ở,
trồng trọt, thờ cúng, thức ăn, ma chay…
Tri thức bổ trợ: Mục 1: Sản xuất nông nghiệp; mục 2: Chăn nuôi; mục 9:
Hồn vía; mục 12: Ăn uống; mục 15: Nhà ở
Chủ điểm 7: Lao động sản xuất
* Bài 32: Cạc ngành nghề chiền tè nhám hỏng pớ táy (Các ngành nghề truyền
thống của người Thái)
Mục đích yêu cầu: Trang bị và giúp cho học viên luyện tập kiến thức về
một số ngành nghề truyền thống của người Thái
Nội dung bài học: Một số ngành nghề truyền thống của người Thái: đan
lát, trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải, chăn nuôi, làm ruộng
Tri thức bổ trợ: Mục 1: Sản xuất nông nghiệp; mục 2: Chăn nuôi; mục 6:
Nghề thủ công;
* Bài 34: Kỹ thuật liệng cửa, pục bông
Mục đích yêu cầu: Trang bị và giúp cho học viên luyện tập kiến thức về
kỷ thuật chăn nuôi, trồng trọt của người Thái
Nội dung bài học: Kỷ thuật chăn nuôi, kỷ thuật canh tác nương rẫy
Tri thức bổ trợ: Mục 1: Sản xuất nông nghiệp; mục 2: Chăn nuôi
Chủ điểm 9: Chăm sóc sức khỏe
* Bài 41: Pà bệnh lấng pển tấng xánh hè trị bênh (Các bệnh thông thường và
cách phòng bệnh)
Mục đích yêu cầu: Trang bị và giúp cho học viên luyện tập kiến thức về
một số bệnh thông thường và cách phòng bệnh của người Thái
Nội dung bài học: Bênh thông thường: cảm, sốt, bong gân, đau lưng, đau
bụng và cách phòng tránh
Tri thức bổ trợ: Mục 11: Chăm sóc sức khỏe
Trang 12* Bài 42: Pà chông hặc mạy chiền tè nhám hỏng cốn táy (Các bài thuốc cổ truyền của người Thái)
Mục đích yêu cầu: Trang bị và giúp cho học viên luyện tập kiến thức về
một số bài thuốc cổ truyền của người Thái
Nội dung bài học: Các cây thuốc ở quanh vườn nhà, ở rừng
Tri thức bổ trợ: Mục 11: Chăm sóc sức khỏe
Chủ điểm 10: Bảo vệ tổ quốc, chính sách, pháp luật
* Bài 46: Bảo vệ biên giới, hải đạo, biên giới tổ quốc
Mục đích yêu cầu: Trang bị và giúp cho học viên luyện tập kiến thức về
bảo vệ chủ quyền, biên giới, hải đảo, tuyên truyền vận động phong trào toàn dân bảo vệ tổ quốc
Nội dung bài học: bảo vệ chủ quyền, biên giới, hải đảo, tuyên truyền
vận động phong trào toàn dân bảo vệ tổ quốc
Tri thức bổ trợ: Mục 13: An ninh quốc phòng
Căn cứ vào nội dung chương trình, đặc điểm tình hình của địa phương cũng như trình độ học viên mà giáo viên lựa chọn nội dung để cung cấp cho học viên một cách hiệu quả nhất
2.3.2 Thiết kế các nội dung kiến thức phù hợp để lồng ghép vào trong các bài học bằng các tài liệu phát tay để giúp học viên vừa luyện đọc vừa có thêm kiến thức về văn hóa, phong tục, tập quán của đồng bào
* Bài 20: Chường nùng tấng tành dong hỏng mè nhính cốn táy (Trang phục
và trang sức truyền thống của phụ nữ Thái)
Trang 17 Bài 22: Tri thức bản địa cuổng kỉn hỏng cốn táy (Tri thức bản địa về
ẩm thực của người Thái)
Trang 272.3.3 Trải nghiệm thực tế
Chương trình bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số cho CBCCVC có thời lượng 450 tiết trong đó có 300 tiêt lý thuyết và 150 tiết thực hành 150 tiết thực hành được chia làm 2 đợt đi thực tế vào các bản mường người Thái Đây là những trải nghiệm quý giá giúp cho học viên được thực hành ngôn ngữ, được tận mắt chứng kiến cuộc sống thực hàng ngày của đồng bào, được nghe giới thiệu về các nét văn hóa đặc trưng, những tri thức đã được học trên lớp một cách thực tế nhất
Chương trình trải nghiệm thực tế của các lớp bồi dưỡng như sau
Sau mỗi chuyến đi thực tế các học viên viết bài thu hoạch về kiến thức, kinh nghiệm thu thập được về 1 trong 10 chủ đề đã học
Mẫu kế hoạch, sản phẩm đi thực tế của các lớp Bồi dưỡng tiếng Thái cho CBCCVC đang công tác tại vùng dân tộc miền núi tỉnh Nghệ An (Xem phụ lục 3)
2.4 Các hoạt động thực hiện sáng kiến kinh nghiệm
Thu thập kiến thức về tri thức bản địa của người Thái Nghệ An từ nhiều nguồn khác nhau Từ nguồn tư liệu thu thập được phân loại các nhóm tri thức như ở mục 2.3.1 và lưu trữ dưới dạng bản mềm
Tổ chức sinh hoạt chuyên môn, trao đổi chia sẻ kiến thức chuyên môn, phương pháp giảng dạy cũng như những tư liệu về tri thức bản địa về phong tục tập quán, văn hóa đặc trưng, luật tục, những đổi mới trong cuộc sống của đồng bào thu thập được từ các nguồn khác nhau
Trên cơ sở những tư liệu thu thập được, soạn bài lồng ghép đưa những tư liệu liên quan đến nội dung bài học để học viên thảo luận, bổ sung thêm các nét đặc trưng của vùng miền hoặc sử dụng những tư liệu đó phát tay cho học viên xem như là tài liệu bổ trợ tham khảo thêm ở nhà
Xây dựng mạng lưới giáo viên dạy tiếng thái và các nghệ nhân trong toàn tỉnh Hàng năm tổ chức hội thảo để các giáo viên có cơ hội chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm giảng dạy lẫn nhau
Nâng cao chất lượng, hiệu quả của các chuyến đi thực tế vào tận bản làng cho các lớp bồi dưỡng tiếng dân tộc Thái Các chuyến đi thực tế tăng cường thêm thời gian trải nghiệm tại các gia đình người Thái, các giao lưu với già làng trưởng bản giúp cho giáo viên học viên có điều kiện thực hành ngôn ngữ và hiểu thêm về các tri thức bản địa của người dân
2.5 Kết quả của sáng kiến
Như ở phần Đặt vấn đề đã nêu, qua hơn một năm áp dụng sáng kiến này vào trong chương trình giảng dạy tiếng dân tộc Thái cho CBCCVC đang công
Trang 28tại vùng dân tộc miền núi tỉnh Nghệ An, chất lượng của công tác bồi dưỡng đã nâng lên rõ rệt cụ thể:
Học viên hiểu rõ hơn, sâu sắc hơn các tri thức về văn hóa, phong tục, tập quán, luật tục của đồng bào thông qua các tài liệu phát tay về các nhóm tri thức bản địa của người Thái Nghệ An có liên quan trong nội dung bài học
Thông qua đọc thêm tài liệu, học viên làm giàu thêm được vốn từ vựng, phong cách nói, cách viết của đồng bào Thái từ đó giao tiếp với đồng bào tự nhiên hơn, gần gũi hơn
Hiểu rõ về ngôn ngữ, hiểu rõ về văn hóa, phong tục, tập quán của đồng
bào giúp cho học viên là CBCCVC sẽ làm tốt công tác dân vận
Kết quả các lớp học mà cá nhân có tham gia giảng dạy vận dụng nội dung của sáng kiến, tỷ lệ học viên đạt khá giỏi cao hơn (xem phụ lục 4)
PHẦN III: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT
Trong những năm qua, UBND tỉnh Nghệ An đã chỉ đạo các đơn vị liên quan triển khai thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 38/2004/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ góp phần bảo tồn, phổ biến tiếng nói và chữ viết của đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và tiếng dân tộc Thái nói riêng cũng như thu thập, lưu trữ
và truyền bá những tri thức bản địa, tri thức tinh hoa nhất của đồng bào Thái Nghệ An, những tri thức được kết tinh và lưu truyền qua hàng trăm năm hình thành và phát triển của đông bào Trung tâm GDTX tỉnh với nhiệm vụ được giáo tiếp tục tổ chức tốt các lớp bồi dưỡng tiếng dân tộc Thái cho CBCCVC trong thời gian tới Ngoài tài liệu tốt, sự quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện của các cấp chính quyền về chủ trương, chính sách, kinh phí đòi hỏi mỗi giáo viên phải thực
sự tâm huyết, yêu nghề, có trách nhiệm với với công việc được giao
Để làm tốt công tác này tôi có một số đề xuất sau:
3.1 Đối với Trung tâm GDTX-HN Nghệ An
Tổ chức chuyên đề về đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng; tăng cường giao lưu trao đổi để cán bộ, giáo viên có điều kiện học hỏi rút kinh nghiệm trong dạy và học tiếng dân tộc
Mời nghệ nhân người dân tộc thiểu số tham gia viết tài liệu về văn hóa, phong tục tập quán, viết truyện… và tham gia trong các Hội thảo, các lớp tập huấn về tiếng dân tộc Từ đó nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc cho CBCC công tác ở vùng dân tộc, miền núi
Tổ chức sưu tầm, tập hợp, lưu trữ các nguồn tài liệu về dân tộc Thái nói chung và dân tộc Thái ở Nghệ An nói riêng
3.2 Đối với Sở Nội vụ, Sở Giáo dục và Đào tạo
Trang 29Tăng cường công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức cho đội ngũ CBCC về vai trò, ý nghĩa của công tác đào tạo, bồ dưỡng tiếng dân tộc thiểu số cho CBCC
Đổi mới và thực hiện nghiêm túc công tác đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc cho CBCC công tác ở vùng dân tộc, miền núi
Tích cực tổ chức các lớp tập huấn, các hội nghị, hội thảo, hội thi để trao đổi kinh nghiệm về đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng tiếng dân tộc trong giao tiếp
và trong giảng dạy Tổ chức cho cán bộ cốt cán về dạy tiếng dân tộc của các Sở GDĐT tham quan học tập tại những địa phương có kết quả cao về công tác đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc cho CBCC công tác ở vùng dân tộc và miền núi
Củng cố và từng bước chuẩn hóa đội ngũ giáo viên dạy tiếng dân tộc đáp ứng yêu cầu mới hiện nay Mở các khóa đào tạo về tiếng dân tộc tại các trường Đại học, Cao đẳng Sư phạm để có các khóa đào tạo giáo viên dạy tiếng dân tộc
hệ chính quy
Tập trung bồi dưỡng nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực quản lý cho đội ngũ cán bộ quản lý, chỉ đạo việc đào tạo bồi dưỡng tiếng dân tộc cho CBCC
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, quản lý tốt việc tổ chức đào tạo
và cấp phát chứng chỉ tiếng dân tộc thiểu số cho CBCC trên địa bàn các tỉnh Đổi mới kiểm tra, đánh giá theo hướng nâng cao chất lượng các lớp dạy tiếng dân tộc
Đổi mới và đa dạng các hình thức tổ chức lớp học nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho CBCC trong quá trình tham gia đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc
Tham mưu thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức tham gia đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc
Phụ lục 1: Một số tri thức bản địa của người Thái Nghệ An
1 Tri thức bản địa trong sản xuất nông nghiệp
Những tri thức bản địa trong hoạt động sản xuất và khai thác bảo vệ rừng của của cộng đồng các dân tộc ở các xã vùng biên giới, mà tiêu biểu là của người Thái được thể hiện thông qua những câu tục ngữ, câu nói truyền khẩu từ đời này sang đời khác Những tri thức bản địa mang tính dân gian này vẫn được phát huy trong cuộc sống của họ, điều này có tác dụng rất lớn đối với vấn đề góp phần triển kinh tế, xã hội
Người Thái Nghệ An đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm tri thức trong hoạt động sản xuất nông nghiệp để ổn định cuộc sống, an ninh lương thực Các kinh nghiệm chọn đất ruộng, đất rẫy; bảo quản các giống lúa truyền thống bản địa thích ứng với điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu của vùng núi cao, đặc biệt là các giống lúa nếp có giá trị cao về dinh dưỡng Điểm đặc sắc nhất trong nông
Trang 30nghiệp của người Thái là hệ thông tri thức canh tác lúa nương Điểm nổi bật tiếp theo là nông lịch của người Thái cho thấy đó là những sáng tạo nhất định trong việc xây dựng hệ thống nông lịch của mình
1.1 Tri thức canh tác ruộng nước
Cũng như người Thái Tây Bắc, người Thái Nghệ An chuyên sống bằng việc canh tác lúa nước là chính Ruộng ở đây bao gồm ruộng bậc thang và ruộng bằng Một cánh đồng được gọi là tống na (tống=khu/cánh đồng) Trong tống na
có nhiều hon na, Trong hon na có nhiều hới na (thửa ruộng)
Như vậy, khái niệm na của người Thái là khoảng đất bằng, xung quanh có
bờ ngăn giữ nước để trồng lúa Việc tạo ra na tống là tạo ra bờ ngăn để chia thành từng thửa sao cho thích hợp từng khu đất về độ thấp, chiều ngang dọc công viecj chủ yếu là đắp bờ ngăn nước Còn na hon và na tén vốn không có mặt bằng tự nhiên, nếu có cũng rất hẹp cho nên phải tập trung vào khâu tạo mặt bằng sau đó mới đắp bờ ngăn nước Tên gọi của các tống na thường gắn liền với một khúc suối, một loại cây, một nhân vật hay một sự kiện nào đó Trong quá trình canh tác người Thái có 3 tiêu chí để phân loại ruộng: theo địa hình, theo nguồn nước và theo chất lượng ruộng
Với cách phân loại theo địa hình: Ruộng thung lũng/ruộng bằng (na tống)
và ruộng bậc thang (na hừn căn=ruộng theo nấc) Ruộng bận thang lại được chia thành 3 dạng theo độ cao thấp khác nhau Phần ruộng sâu nhất, thấp nhất gọi là
na lọng (bao gồm cả ruộng sình lầy=na bướm hay na lốm) phần ruộng nằm ở địa hình sườn dốc gọi là na hon, thửa ruộng trên cao thường thiếu nước gọi là na tén
Phân loại ruộng theo nguồn nước: ruộng nước mưa (na nặm phạ/na lạnh) và ruộng nước ngâm (na nặm chẹ)
Phân loại ruộng theo chất lượng ruộng: Ruộng tốt là ruộng nhiều mùn ở cạnh bản (na hang ban và na pác mướng), ruộng xấu là ruộng ít mùn ở kề bên bãi cát cạnh suối, hay ở nới cao xa
Canh tác ruộng nước thường có 2 vụ trong năm
Vụ chiêm: Thường làm đất từ tháng 11, 12 năm trước, cấy lúa vào tháng 1 hoặc tháng 2 (tháng 1 âm lịch) năm sau Những năm rét đậm, rét hại kéo dài thường cấy vào tháng 2 (sau tết âm lịch) Thu hoạch vào tháng 5, 6 (tháng 4, 5
âm lịch) tùy nơi khí hậu nóng lạnh khác nhau
Vụ mùa: Sau khi thu hoạch vụ chiêm thì làm đất cấy vào tháng 7 (tháng 6 âm) thu hoạch vào tháng 10, 11 (tháng 9,10 âm)
a) Các loại giống lúa ruộng
Giống được chọn và cất giữ từ vụ trước Các loại nếp như: nếp thơm, nếp cái chỉ cấy vụ mùa
Trang 31Khau cay nọi (Lúa nếp thơm): Hạt tròn, vỏ có màu xám sáng, hơi có lông ngắn Giống lúa này cây cứng, cao ít đổ Khi lúa chín thơm cả cánh đồng Đồ xôi đầu làng ở cuối làng cũng thấy mùi thơm
Khau non (Lúa nếp thường): Hạt dài vỏ màu vàng nhạt Lúa này năng suất nhưng cây yếu hay đổ
Khau vong (Nếp hạt tròn): Vỏ màu nâu, gạo trắng, dẻo
Khau páy tá (Nếp dẻo): Hạt tròn, vỏ màu vàng nhạt, đồ xôi chỉ khoảng
25-30 phút là chín
Khau tán (Nếp cái): Hạt to tròn, vỏ màu hơi mốc, gạo trắng, cơm dẻo
Khau mác cuối (Lúa quả chuối): Hạt dài màu sét, gạo trắng, cơm dẻo
Khau chăm khếm (Lúa tẻ kim): Vỏ vàng có gai ở đuôi, hạt lúa nhỏ dài như kim Khau chăm tám (Lúa tẻ tám thơm): Hạt nhỏ dài vỏ màu sét Gạo trắng thơm
đủ gieo mạ chuẩn bị cấy lúa của mình
c) Kỹ thuật làm đất
Lần 1: Sau thu hoạch tháng 10 năm trước thường rơm rạ còn lại trên đồng Đồng bào dùng trâu, bò cày bừa làm rơm rạ ngã xuống để ngâm thành phân lần này gọi là “phứa tạp phường” (bừa ngã rơm)
Lần 2: Sau bừa lần 1 cỡ 7-10 ngày bừa để làm lật nát rơm ra và làm tơi đất gọi là “phứa lấn” (bừa chờ)
Lần 3: Sau lần thứ 2 khoảng 7-10 ngày lại bừa lật đất “phứa pộc” để cho đất ngấm phân và rơm rạ, phân xanh tơi nát
Lần 4: Trước khi cấy lúa bừa cho nát, nhuyễn đất, san phẳng đều tạo mặt bằng trong thửa ruộng để cấy lúa gọi là “lát” Lần bừa này là cuối cùng, bừa xong phải cấy lúa ngay trong ngày Nên phải tính toán kỹ giữa lao động cấy, số
mạ đã nhổ và sẽ nhổ cho phù hợp Nếu ruộng “lát” trong ngày không cấy hết thì hôm sau phải bừa lại mới cấy tiếp
d) Cách cấy lúa
Cả đàn ông, đàn bà có thể cấy lúa Nhưng chủ yếu là phụ nữ nhận vai trò cấy lúa Còn đàn ông là nhổ mạ, làm đất (cày, bừa) Trước đây đồng bào nhổ mạ
Trang 32bó thành từng đon cắt bớt lá mạ cho gọn Nhưng không được cắt đến bẹ chỉ cắt nửa lá mạ Bó mạ là nhổ mạ lên rũ sạch đất cầm đủ nắm tay lấy lạt bó lại thành một bó Bó mạ cũng là đơn vị tính diện tích ruộng của người Thái
Đồng bào thường tính: Thửa ruộng này 100 bó mạ, thửa ruộng kia 50 bó
mạ, cánh đồng này rộng 1000 bó mạ, cánh đồng kia 500 bó mạ hoặc nhà ông A được chia ruộng 1000 bó mạ, nhà ông B được chia phần ruộng 600 bó mạ…Cấy lúa theo hàng hoặc hình răng sấu Nếu theo hàng thì hàng cách hàng 18- 20cm (khoảng gang tay), cây cách cây 15-16 cm (khoảng 2/3 gang tay)
e) Chăm sóc, làm cỏ, bón phân
Một vụ lúa phải làm cỏ 3 lần:
Lần 1: Khi lúa đã ra lá non khoảng 20.30 ngày sau cấy làm cỏ sục bùn Lần 2: Khi lúa đã lên cao khoảng 30- 40 cm (sau 50-60 ngày) chuẩn bị lên đòng thì làm cỏ và bón thúc bằng phân chuồng ủ tơi hoặc loại phân hóa học cần thiết khác
Lần 3: Lúc đã làm đòng sắp trổ thì phát dọn xung quanh bờ, không lội xuống ruộng tránh làm gẫy cây lúa
Đồng bào thường bón phân cho ruộng 2 lần trong một vụ:
Lần 1: Bón lót, phân xanh thì bón sau bừa đợt một Rải phân thành từng đống nhỏ lấy chân dẫm xuống bùn Bón lót bằng phân chuồng thì đến trước lần bừa thứ 4 mới bón để bừa rải ra ruộng, tránh bón lâu sẽ bị nước rửa trôi mất vì ruộng của đồng bào thường là ruộng bậc thang, dòng nước chảy từ thửa ruộng cao xuống thửa ruộng thấp cuối cùng thải ra suối, ra sông
Lần 2: Bón thúc, như trên đã nói, bón vào lần làm cỏ thứ 2 vì lần 1 lúa còn
ăn phân bón lót Lần này chỉ bón phân chuồng ủ tơi
g) Bảo vệ lúa ruộng
Ngày xưa chưa có thuốc diệt sâu bọ đồng bào thường thắp đóm để bắt bướm, châu chấu về ban đêm Tổ chức bắt sâu, rải tro bếp nguội để chống sâu
bọ Làm bẫy bắt chim, chuột, làm khớp (tạo tiếng động), bù nhìn, cung, nỏ giả đặt ra ruộng rẫy để xua chim thú…
h) Bảo quản lúa
Ngày trước đồng bào gùi, gánh lúa về nhà hoặc kho của mình Nếu lúa đã khô thì xếp vào kho hoặc xếp thành từng đống trong nhà, trên gác Số nào chưa khô thì để riêng phơi ra ngoài sàn (chàn) vì nhà người Thái thường làm chàn ra
để phơi phóng các thứ Sau đó mới cất vào kho hoặc xếp vào đống Nếu là thóc hạt thì xếp vào bồ, sọt Ngày nay lúa được tuốt ra thành hạt ngoài đồng đưa về phơi khô cất vào bì tải nơi khô ráo
1.2 Tri thức canh tác nương rẫy
Trang 33Ở miền tây Nghệ An, ngoài một số vùng có điều kiện làm ruộng nước như Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong,Con Cuông còn nhiều vùng khác như Tương Dương, Kỳ Sơn, Quế Phong vì điều kiện địa hình không cho phép làm ruộng, người Thái ở đó phải canh tác nương rẫy là chính Ngay cả những địa phương vốn chuyên làm ruộng nước cũng có nhiều bộ phận cư dân phải sống bằng nương rẫy là chính vì họ không có đất ruộng Nhiều nơi người ta phải kết hợp canh tác cả ruộng lẫn nương để bổ trợ cho nhau
Thực tế, với người Thái canh tác nương rẫy có vai trò đáng kể Ngoài thóc, gạo còn cung cấp các loại khoai, sắn, ngô, kê, lạc, vừng
Theo tiếng Thái rẫy (hày) là khoảng đất rừng được người ta chặt, phát, đốt
để trồng trọt Đây chính là lối canh tác “đao canh hỏa chủng” Ở miền tây Nghệ
An, mặc dù Người Thái sống bằng canh tác rẫy chưa đến nỗi “3 ngày chuyển nhà, 3 tháng rời bản”“Xảm nghến nhại hướn, xảm bưởn nhại ban) như một số tộc người canh tác bằng nương rẫy ở Tây Bắc, nhưng nhìn chung canh tác rẫy thường bấp bênh hơn làm ruộng nước, bởi phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên
Người Thái Nghệ An canh tác rẫy với nhiều loại cây trồng khác nhau như rẫy lúa (hày khau), rẫy ngô (hày đưởi), rẫy kê (hày phàng)
Căn cứ theo địa hình, giống cây trồng, kỹ thuật canh tác, thời vụ người Thái đã phân rẫy thành các loại như sau:
Theo đại thế: rẫy dốc, rẫy bằng (hày pú, hày piếng)
Theo kỹ thuật canh tác: rẫy dùng cuốc (hày bai), rẫy dùng cày (hày thay), rẫy dùng dao rìu (hày huốt)
Theo mùa vụ: rẫy vụ mùa (hày múa), rẫy vụ chiêm (hày đọ/hày xeng) Theo thời gian sử dụng: rẫy vụ một (hày mớ), rẫy vụ hai (hày lộc), rẫy vụ
vụ là các tháng 3,4,5 phát, ủ tháng 6 đốt và gieo hạt, tháng 10 thu hoạch Trong quá trình canh tác người Thái chú trọng nhất các khâu: thời vụ, xuống giống, bảo vệ khi thu hoạch
1.2.1 Canh tác lúa nương
Trang 34Người Thái có thế mạnh trong kỹ thuật canh tác lúa nương với một hệ thống những tri thức liên hoàn các khâu từ chọn đất canh tác đến khâu thu hoạch và để lúa giống:
b) Các loại giống lúa nương
Tập quán canh tác lúa nương lâu đời đã giúp người Thái tạo được nhiều loại giống lúa nương, bao gồm cả lúa nếp và lúa tẻ
Các gống lúa nếp gồm:
Khau háng ngùa (hạt lúa có râu màu vàng như đuôi bò),
Khau mạc khẻn (hạt tròn, gạo trắng thơm, dẻo),
Khau pé lạnh (có đặc tính chịu được nắng hạn),
Khau cắm pạnh háng (nếp cẩm làm thuốc, lá và hạt lúa, gạo màu tím, hạt lúa có râu),
Khau xay khòn (vỏ hơi tím, gạo có màng lụa tím, bẻ hạt gạo thì trắng), Kháu dói (hạt vàng nhạt, có tia đỏ, gạo có mùi thơm)
Các giống lúa tẻ gồm:
Khau chăm háng (hạt lúa dài màu vàng có râu),
Khau chăm khếm (hạt lúa dài có râu ngắn nhọn),
Khau chăm xế (hạt lúa có râu trắng - loại này có thể dùng gạo nấu cháo với thịt gà có màu lông trắng cộng với một số vị thuốc khác dùng cho người bị gãy xương hoặc mới ốm dậy ăn bồi bổ; hiện nay giống này không phổ biến nhiều)
Tất cả các giống lúa trên đều phù hợp với môi trường và chất đất ở vùng biên giới Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của người Thái, trong số những loại giống lúa trên, có một số loại cho năng suất cao hơn, đó là: khau háng ngùa, kháu mác khén, kháu chăm háng, kháu dói, kháu mác có
c) Trỉa lúa nương
Trang 35Kinh nghiệm trỉa lúa nương của người Thái thường sử dụng hai cách chính:
Cách 1: Dùng gậy gỗ vừa nắm tay (cỡ cán cuốc, cán thuổng) vát hơi nhọn đầu gốc, chọc lỗ tra hạt rồi lấy chân gạt nhẹ mùn đất lấp hạt Mỗi lỗ tra từ 8 đến 12 hạt lúa giống
Cách 2: Dùng thuổng chọc đất tra hạt lúa Mỗi lỗ tra từ 8 đến 12 hạt lúa giống
Cả hai cách đều không chọc sâu hoặc nông quá, chỉ chọc sâu cỡ 5 đến 6
cm là vừa Trong lúc tra hạt, không để hạt lúa rơi vãi ra ngoài nhằm tránh chuột, chim phát hiện sẽ bới móc chỗ tra lúa để ăn mất Nếu tra ít quá, lúa thưa, cây kém năng suất; tra nhiều quá thì cụm lúa quá dày, cây không to, bông nhỏ, dễ bị sâu bệnh Do vậy, chỉ tra từ 8 đến 12 hạt để có cụm lúa thành bụi khoảng 20 đến
30 cây cả nhánh là vừa Như vậy, lúa sẽ to đòng, đủ ánh sáng, ít sâu bệnh, bông
to dài, nhiều hạt, năng suất cao Với cả hai cách trên, mật độ lỗ cách lỗ khoảng
từ 30 đến 40 cm là vừa và phải chọc lỗ theo kiểu kiềng ba chân để các bụi lúa dễ tiếp ánh sáng Lúa nương gieo thường đẻ nhiều hơn và bông to hơn
Thời gian gieo trồng yêu cầu không kéo dài ngày Do vậy, theo tập quán canh tác, bà con thường đổi công cho nhau; nếu số người đi trồng lúa đông thì chỉ một hoặc hai ngày là gieo xong lúa giống
d) Bảo vệ lúa
Với người Thái, việc chăm sóc, bảo vệ nương rẫy luôn được coi trọng Ngoài làm cỏ, vun gốc, ngay từ khi bắt đầu gieo lúa, họ đã phải đề phòng chuột, thú rừng và sâu bệnh phá hoại lúa
- Cách phòng trừ chuột và gà rừng:
Biện pháp thông thường là phát sạch cỏ, bốc hoặc đốt hết các đống rác trên nương là những nơi chuột có thể làm ổ Dùng cây cỏ rào xung quanh nương tại các nơi trọng điểm chuột hay đến, thỉnh thoảng để trừ ra một khoảng trống nhỏ đặt bẫy tre vào để khi chuột đi qua sẽ sập bẫy; hoặc dùng những phiến đá mỏng rộng làm bẫy sập để vừa diệt chuột, chắn chuột vừa còn có tác dụng ngăn chặn sự phá hoại của gà rừng
- Cách phòng trừ sâu bệnh:
Theo kinh nghiệm dân gian, người Thái đã sử dụng một số kiểu ma thuật cũng như cách trừ sâu bệnh như sau:
Đối với bệnh sâu xanh cuốn lá, người Thái bắt khoảng 5 đến 10 con sâu
về trộn ít muối rồi bỏ vào ống nứa bịt kín rồi treo lên gác bếp gọi là “muối chua” Với cách làm này, họ cho rằng có thể sâu ngoài nương tự mất đi
Khi lúa bị bệnh vàng lá, người Thái lấy củ nghệ vàng giã nhỏ rồi rải trên nương lúa, rải càng nhiều càng tốt nhưng chủ yếu là ở những đám lúa bị bệnh
Trang 36Lúa bị bệnh chấm hồng (chấm nhỏ) ở lá lúa, người Thái bắt từ 3 đến 5 con cua sống, dùng cây nứa cắm một đầu vào con cua còn đầu kia cắm xuống đất; tương tự như vậy, cắm rải ra trên nương tại khu vực lúa bị bệnh khoảng từ
10 đến 15 con cua
e) Thu hoạch lúa rẫy
Khi lúa trên nương bắt đầu chín thì chọn ngày cắt lấy khoảng 15 đến 20 cụm lúa non đem về làm cốm để mời ông thổ công đất rẫy Đồng thời làm một sàn bằng nứa vầu hoặc bương để phơi lúa, tập trung lúa đã cắt về để bó thành cụm cho dễ vận chuyển Sau khi gặt lúa làm cốm, chờ khoảng ít ngày cho lúa chín già đều khắp rẫy thì tổ chức đi gặt Đồng bào dùng dụng cụ tự tạo cầm tay (gọi là hép) cắt từng bông lúa Tuy nhiên, có nơi đồng bào cũng dùng liềm, hái cắt lúa, sau đó đập lúa lấy hạt tại rẫy để mang về nhà
g) Bảo quản lúa rẫy
Sau khi cắt được lúa, đồng bào làm cọc rơm phơi lúa tại nơi cắt; xòe đon lúa ra đặt lên cọc rơm khoảng từ 3 đến 4 bụi rơm vơ dồn lại bẻ thành cọc, rồi đặt đon lúa lên trên Cứ để đon lúa khô tại chỗ như vậy, nếu nắng to thì từ sáng đến chiều, ít nắng thì hai ngày sau dồn lúa về chòi rẫy để bảo vệ Sau 1 đến 2 ngày đồng bào buộc 2 đon lúa lại với nhau thành từng đôi gọi là cum lúa để gánh lúa, vác về nhà hoặc treo vào xà làm tại rẫy
h) Cách để lúa giống
Chọn giống ở thửa ruộng lúa tốt, trong đó chọn cắt những bông trội, hạt đều, không có bệnh tật Lấy giống lúa chín rộ không lấy lúa còn non hoặc quá cỗi (lói) Lói có nghĩa là cọng lúa (rơm) đã gục xuống Như vậy hạt lúa quá già khó bảo quản, chất lượng nảy mầm không cao Lúa chưa chín đều (non) mầm đang yếu làm giống cũng không tốt
Lúa làm giống phải là lúa hạt mẩy đều, không lép, không mốc và được phơi khô quạt sạch, không bị mối mọt, điều cơ bản nhất là lúa giống phải được chọn tại các đám lúa tốt nhất trên nương và chín già tuyệt đối Sau khi phơi thật
khô đều thì lấy lạt buộc cho chặt, rồi mới cất lúa giống chờ vụ gieo hạt năm sau
i) Kinh nghiệm chọn ngày và thời tiết trong canh tác lúa nương
Theo kinh nghiệm của người Thái, lúa nương có 3 loại: lúa sớm, lúa vụ lỡ
Trang 37Chọn thời tiết: Tháng 3 ÂL là tháng có nhiều nắng nên là tháng đốt nương Tháng 4 và tháng 5 là tháng bắt đầu có mưa nhiều nên là các tháng trồng lúa Sau 5 tháng chăm sóc và bảo vệ thì đến tháng 9 tháng 10 là lúa chín, cũng là bắt đầu vào mùa khô nên người ta thu hoạch lúa vì vừa dễ thu vừa lúa không bị
ẩm mốc, mọc mầm
Lịch sản xuất nông nghiệp của người Thái
Tháng Tiếng Thái Công việc chính
1 Bướn chiếng - Phát nương sắn, nương ngô khoảng 5-8 ngày
- Phát nương trồng lúa
2 Bướn xoong - Tiếp tục phát và chặt hạ cây gỗ nương lúa
- Cuối tháng 2 đốt và dọn nương sắn, ngô
- Dọn cây cỏ dây nhợ đốt không cháy hết
- Trồng lúa vụ lỡ, cuối tháng bắt đầu trồng lúa mùa
5 Bướn há Tập trung trồng lúa mùa
6 Bướn hộc - Làm cỏ lúa 3-4 lần, kéo dài đến tháng 7
7
Bướn chệt - Tiếp tục làm cỏ lúa
- Thu hoạch ngô mùa
8 Bướn pét - Thu hoạch lúa sớm
9
Bướn cáu
- Chăm sóc lúa kết hợp phòng trừ sâu bệnh phá hoại lúa
- Thu hoạch lúa vụ lỡ
10 Bướn xịp Tập trung thu hoạch lúa mùa
11
Bướn mốt - Chuyển lúa về nhà và cất trong kho lúa
- Đi tìm đất làm nương cho vụ sau
12 Bướn cháp - Phát nương trồng lúa (đối với ngày xưa còn rừng
Trang 38Đất trồng ngô phát thực bì vào tháng 11, 12 (tháng 11 âm lịch) năm trước hoặc tháng giêng năm sau Sang tháng 2 (tháng 1 âm) đốt dọn sạch Thực bì đất trồng ngô không cần dọn sạch bằng làm đất trồng lúa
Tỉa ngô vào tháng 2 hoặc tháng 3 dương lịch (tháng 1,2 âm) đến cuối tháng
6 hoặc tháng 7 (tháng 6 âm)sẽ cho thu hoạch ngô nếp Riêng giống ngô mới thì theo hướng dẫn của trạm khuyến nông huyện và chính quyền địa phương
Kỹ thuật tỉa ngô nếp cũng dùng dụng cụ tương tự như tỉa lúa Nhưng mỗi
hố chỉ cho vào 1-2 hạt, hố cách hố 40 – 45 cm theo kiểu răng sấu (chân kiềng) không bố trí theo hàng
ở cây trội (cây tốt) trong rẫy Lấy những bắp căng tròn đều hạt (chặt cả cây, bắp còn vỏ) đã chín đều về treo ngược cây ngô phơi nắng sau đó treo trên gác bếp hoặc trên trần nhà sàn Lúc chuẩn bị đến vụ mới đồng bào bóc từng bắp ngô chọn bắp có hạt đều, không mọt nẩy ra phơi khô để chuẩn bị đi tỉa
1.2.3 Tri thức trồng sắn
Người Thái, Hmông, Dao, Khơmu có kinh nghiệm nếu cắm đất không dính là đất tơi xốp thích hợp để trồng sắn, khoai và các loại cây có củ Đất trồng sắn phải tơi xốp không nhiều loại cây thân gỗ có vị đắng như cây xoan rừng, xoan ta,
Trang 39ràng ràng Sắn trồng ở sườn đồi, trên đồi dễ thoát nước củ sắn sẽ không bị úng
dễ thu hoạch, chất lượng sắn sẽ không bị xơ cứng mà nhiều bột hơn
Xử lí thực bì làm rẫy sắn từ tháng giêng đến tháng 2 đốt dọn sạch Cuối tháng 2 hoặc đầu tháng 3 (tháng 1, 2 âm) trồng sắn khi đó cây sắn chưa ra lộc mới, nếu ra lộc mới chất lượng giống không tốt
Sắn trồng bằng hom, hom sắn được đồng bào chọn để dành từ tháng 11, 12 năm trước (khi thu hoạch sắn)
Các loại giống sắn truyền thống (bản địa)
- Mền có lón (sắn trắng): Cây thấp, cuống lá xanh nhạt, ít cành, củ nhỏ ngắn, vỏ lụa mỏng, vỏ trong màu trắng, ăn sống có thể say, năng suất không cao, nay không dùng
- Mền có táy hoặc mền có lánh (sắn tây hoặc sắn đỏ): Cây cao, cuống lá đỏ, nhiều cành, củ nhỏ dài, vỏ lụa mỏng, vỏ trong đỏ, ăn sống không say Đồ và nướng ăn rất bở, thơm ngon, ít củ năng suất thấp, nay không còn trồng
- Mền có lé (sắn xanh): Cây cao, cuống lá màu xanh, nhiều cành, vỏ lụa ngoài dày, vỏ trong màu xanh nhạt, ăn sống bị say, năng suất cao (củ to, nhiều củ) Luộc ăn hay đồ ăn thường có vị đắng dễ say
- Mền có ón (sắn củ khoai): Cây to cao, cuống lá hơi đỏ, cây thường nhiều cành, củ to (có khi đến 10kg/củ) Vỏ lụa củ sắn dày có khía, vỏ trong dày màu tía, củ sắn có khi tròn như củ khoai lang, ăn sống không say Luộc hoặc đồ ăn
bở, ngon nhưng không thơm
- Mền có tăm (sắn lùn năng suất cao): Loại sắn này mới nhập nơi khác về sau năm 2000, cây thấp,cuống lá hơi xanh, củ nhiều, không ăn sống được, không luộc hoặc đồ ăn được vì hay bị say, phải qua chế biến mới dùng được Loại sắn này trồng cho các nhà máy chế biến là chủ yếu, đồng bào ít sử dụng tại chỗ Cây sắn để làm giống là những cây khoẻ, nhặt mắt, không xây xước Sau khi chặt để cây sắn nằm ngang lấy rơm rạ hoặc cành lá phủ lên trên Cũng có trường hợp đồng bào chọn đám sắn có cây tốt đủ tiêu chuẩn giống để lại chưa thu hoạch đến khi cần trồng mới lấy cây làm giống Tuy nhiên vẫn phải chặt cây sắn giống trước khi ra lộc
Khi trồng cắt từng đoạn ngắn cỡ 3- 4 mắt dài 10 -15cm, dùng cuốc đào hố rộng 20- 25 cm, sâu 8- 10 cm tra hom sắn xuống hố lấp lại đạp chặt xuống để giữ ẩm cho hom sắn giống Khoảng cách hố 60 – 65cm, trồng theo thế chân kiềng (răng sấu)
Chăm sóc, làm cỏ, bảo vệ sắn:
Lần 1: Khi sắn mọc cao khoảng 30- 40 cm làm cỏ, xáo xới vun gốc
Lần 2: Sắn lên cao 60- 70 cm phát dọn cỏ, tỉa bớt cây, mỗi gốc chỉ để 1- 2 cây
Trang 40Lần 3: Sắn lên cao cỡ 1m phát dọn cỏ không xáo, xới vì ảnh hưởng đến củ sắn đang ra
Thu hoạch sắn :
Thấy lá sắn vàng 1/3 từ gốc lên (khoảng tháng10 ) là có thể thu hoạch sắn Thời gian thu hoạch đến tháng 12 Nếu để sang tháng giêng sắn bắt đầu ra lộc thì củ sắn bị xượng (ít bột )
2 Tri thức bản địa trong chăn nuôi
Trong xã hội truyền thống của người Thái Nghệ An, chăn nuôi đã khá phát triển, hầu hết các gia đình đều nuôi trâu, bò, lợn, gà, vịt một số nơi vùng cao còn nuôi thêm ngựa để làm phương tiện đi lại và thồ hàng Việc chăn nuôi chỉ phổ biến ở phạm vi gia đình, quy mô nhỏ
Theo quan niệm của người Thái, gia súc được coi là tài sản quý trong nhà, nên việc gia đình nào nuôi được nhiều hay ít sẽ đánh giá nhà giàu hay ngèo
Phương thức chăn nuôi của người Thái mang tính chất nửa chăm sóc, nửa tự nhiên Trâu bò vừa được thả rông, vừa được chăn dắt hoặc buộc vào cọc cắm cố định Lợn, gà, vịt hàng ngày được cho ăn vào buổi sáng và chiều tối tự đi kiếm ăn
Người Thái ở Nghệ An đã đúc rút nhiều kinh nghiệm trong phòng và chữa bệnh cho gia súc, gia cầm Nhiều bà lang biết chữa bệnh cho trâu bò bằng mẹo khá hiệu nghiệm Vào mùa đông, người ta thường đốt lửa cạnh chuồng để đuổi ruồi muỗi
và giữ ấm cho trâu, sau mỗi buổi cày bừa hay kéo gỗ trước khi được thả vào rừng trâu thường được cho ăn muối Để vỗ béo lợn, người ta thường nấu cám lợn trộn với quả đu đủ xanh để tẩy giun, nấu cháo bằng cám gạo cho đàn lợn con để chúng có sức
đề kháng và chóng lớn
Chọn giống trâu đực: Chọn trâu có hình thon dài, cao to, đầu to, sừng khoẻ, sừng đều, 4 chân mập guốc chân chụm, đuôi dài, răng đều, trắng không bị sâu, mông mập, lưng không gù, không ưỡn xuống (lưng thẳng) , xoáy ở đầu và 2 bên sườn đẹp
Chọn trâu cái: Bụng to, vú đều, mập, thể hình to cao, mông mập, răng trắng, không bị sâu, lưng hơi võng…
Chọn lợn giống: Thân dài, khoẻ ăn, lông mượt, chân to, mõn to
Chọn giống gà: Gà chân vàng, mào đỏ tươi, dáng đẹp Nếu là mái thì lưng phẳng, đít bầu thì sẽ đẻ nhiều trứng…
Chọn cá giống: Ngày xưa đồng bào thường đào ao thả các trôi, cá chép, cá dốc Giống cá lấy từ sông, suối tự nhiên Sau này mua giống cá của các tổ chức
cá nhân đem bán tại địa phương như cá trắm cỏ, chép, cá mè, cá trôi, rô lai…
3 Tri thức bản địa về khai thác sử dụng nguồn nước sản xuất