Để góp phần nâng cao chất lượng công tác Bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu sốcho cán bộ công chức, viên chức ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nâng cao chấtlượng dạy học trong các nhà trường
Trang 1I PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Các nhà ngôn ngữ học cho rằng, nói là một trong bốn kỹ năng giao tiếp quantrọng trong việc dạy và học một ngôn ngữ Khi bạn biết một ngôn ngữ, trước hếtbạn phải nói được ngôn ngữ đó Kĩ năng nói mang tính phản xạ, giúp người học sửdụng được ngoại ngữ để bày tỏ ý kiến, suy nghĩ và cảm xúc với người đối diện,người nghe Như vậy, có thể khẳng định rằng, chính kĩ năng nói giúp ngôn ngữtiếng thực hiện được chức năng giao tiếp của mình Hơn thế nữa kĩ năng nói cũnggóp phần củng cố thêm kĩ năng nghe của người học, giúp tăng cường vốn từ vựng
và luyện tập các kĩ năng có liên quan Qua đó ta có thể thấy tầm quan trọng củaviệc phát triển kỹ năng nói trong dạy và học một ngôn ngữ nói chung và tiếng dântộc thiểu số nói riêng
Trong những năm qua, Đảng và nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, chế
độ đối với đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước nói chung và đội ngũ CBCCđếncông tác ở các vùng dân tộc và miền núi nói riêng Những CBCC được điều động,biệt phái đến công tác ở vùng dân tộc, miền núi đã đoàn kết sát cánh cùng với độingũ CBCC là người dân tộc thiểu số góp phần đẩy nhanh phát triển kinh tế, xã hộitừng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, giữ vững an ninhchính trị, trật tự an toàn xã hội ở các địa phương
Tuy nhiên, đa số CBCC đến công tác ở vùng dân tộc, miền núi còn gặpkhông ít khó khăn trong công tác cũng như trong sinh hoạt, mà một trong nhữngnguyên nhân là không biết tiếng dân tộc thiểu số và chưa am hiểu phong tục tậpquán, truyền thống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số Hạn chế này đã ảnhhưởng không nhỏ đến công tác tuyên truyền, vận động thuyết phục đồng bào dântộc thiểu số trong việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng vàpháp luật của Nhà nước
Ở Nghệ An đặc biệt là các huyện miền núi có nhiều dân tộc anh em cùngsinh sống, do đó nhiều nơi, trường, lớp có nhiều học sinh dân tộc khác nhau cùnghọc Vì vậy việc tổ chức dạy riêng tiếng dân tộc cho học sinh rất khó khăn, nhất làtrong điều kiện thiếu trầm trọng giáo viên dạy tiếng dân tộc Một khó khăn nữa là
từ nhiều năm nay chưa đạt được sự thống nhất về mẫu chữ, bộ Ở nước ta, ngườiThái chủ yếu sinh sống ở Tây Bắc và miền núi Thanh Nghệ Ở Nghệ An, ngườiThái cư trú ở các vùng rừng núi thấp, dọc theo con suối của các huyện miền núitrên trục đường 48 và đường 7, đông nhất là Mường Quai (Quế Phong), ChiêngNgam (Quỳ Châu), Khủn Tinh (Quỳ Hợp), Mường Quạ (Con Cuông)
Để góp phần nâng cao chất lượng công tác Bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu sốcho cán bộ công chức, viên chức ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nâng cao chấtlượng dạy học trong các nhà trường ở Nghệ An, đặc biệt để góp phần bảo tồn, pháttriển tiếng nói, chữ viết các dân tộc thiểu số thì khả năng giao tiếp là rất cần thiết.Việc nghiên cứu để đề xuất với các cấp lãnh đạo tổ chức triển khai có hiệu quảviệc dạy tiếng, chữ dân tộc thiểu số cho cán bộ công chức và cán bộ quản lý giáo
Trang 2dục giáo viên, học sinh tại các huyện miền núi Nghệ An là một việc làm không thểthiếu trong chương trình giáo dục
Trong những năm qua Trung tâm GDTX tỉnh Nghệ An nay sáp nhập đượcgọi Trung tâm GDTXHN Nghệ An đã được Bộ nội vụ lựa chon Biên soạn và chỉnhsửa Bộ tài liệu Tiếng Thái hệ Lai Tay, được UNND tỉnh Ban hành và được SơGiáo dục và Đào tạo Nghệ An giao nhiệm vụ Bồi dưỡng tiếng nói và chữ viếttiếng Thái hệ chữ Lai tay đối với đội ngũ công chức, viên chức đến công tác ở cácvùng miền núi tỉnh Nghệ An Từ thực tiễn dạy học chúng tôi nhận thấy trong mộtlớp học có nhiều dân tộc khác nhau, chính vì vậy người dạy rất khó trong việcthống nhất phương pháp dạy học hiệu quả cho các đối tượng trong cùng một lớpđặc biệt khi dạy và phát triển kĩ năng nói Vì vậy chúng tôi chia các lớp học thành
03 nhóm đối tượng, gồm:
Nhóm 1: Người dân tộc Thái học tiếng Thái
Nhóm 2: Người dân tộc mông, khơ mú, dân tộc Thổ học tiếng Thái
Nhóm 3: Người Kinh học tiếng Thái
Trong quá trình dạy chúng tôi nhận thấy học viên ở hai nhóm đối tượng này(Nhóm 2 và nhóm 3) gặp trở ngại trong giao tiếp, khó vận dụng vào cuộc sống.Điều này chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra giúp cán bộ, công chức, giáo viên côngtác ở các vùng miền núi thực hiện tốt hơn trong công việc đặc biệt đối với giáoviên giảng dạy ở những vùng cao có tỷ lệ người dân tộc cao.Vì vậy làm sao để giáoviên giảng dạy tiếng Thái chú trọng phát triển kĩ năng nói cho học viên, đồng thờithúc đẩy cho học viên đầu tư thời gian và sử dụng kĩ năng này là một thách thứclớn
Nhận thức được vấn đề này chúng tôi đã nghiên cứu, tích lũy, tìm kiếm một sốphương pháp đơn giản, thiết thực nhằm gây hứng thú và phát triển kỹ năng nói cho
học viên trong quá trình giảng dạy và chia sẻ với đồng nghiệp với đề tài “Một số kinh nghiệm dạy kỹ năng nói hiệu quả ở các lớp bồi dưỡng tiếng dân tộc Thái
hệ Lai Tay cho cán bộ công chức, viên chức công tác tại vùng miền núi tỉnh Nghệ An‘.
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
2.1 Cán bộ công chức, viên chức tham gia các khóa bồi dưỡng tiếng dân tộcThái hệ Lai tay
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Trang 3- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp phỏng vấn, đàm thoại
- Phương pháp tìm hiểu thực tế
- Phương pháp thực nghiệm
5 Tính mới của đề tài:
Đưa ra được phương pháp dạy học mới áp dụng dạy tiếng dân tộc thiểu số nóichung và tiếng Thái hệ Lai tay nói riêng phù hợp với đối tương dạy học, lấy họcviên làm trung tâm, tạo cơ hội cho học viên thực hành nhiều trong lớp học từ đóphát triển kĩ năng nói, giúp họ giao tiếp dễ dàng đối với đồng bào dân tộc nơi họcông tác
II PHẦN NỘI DUNG
1 Cơ sở lý luận
1.1 Cơ sở pháp lý
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã nhấn mạnh: “Các dân tộc trong đại giađình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùngnhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Phát triển kinh tế, chăm lo đờisống vật chất và tinh thần, xóa đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hóa, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của cácdân tộc… Cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gần gũi, hiểuphong tục tập quán, tiếng nói của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác dân vận.Chống các biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc”
Nghị quyết Hội nghị TW5 (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền vănhóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” trong đó nhấn mạnh đến việc bảotồn tiếng nói, chữ viết và các giá trị văn hóa của đồng bào các dân tộc
Ngày 09 tháng 11 năm 2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số38/CT-TTg về đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số đối với cán bộ,công chức công tác ở vùng dân tộc miền núi Trong Chỉ thị nêu rõ:” Yêu cầu củacông tác quản lý và phát triển kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng đòi hỏi đội ngũcán bộ, công chức công tác ở các vùng có đồng bào dân tộc thiểu số phải biết tiếngdân tộc để giao tiếp và sử dụng trong công tác Đặc biệt đối với cán bộ lãnh đạo,quản lý cấp huyện, xã, công chức nhà nước, sĩ quan, chiến sĩ trong lực lượng công
an, quân đội công tác ở các vùng dân tộc, miền núi Đây là một trong những nhiệm
vụ quan trọng và yêu cầu bắt buộc
Ngày 24 tháng 01 năm 2006, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ký Quyết định số03/2006/QĐ – BGD&ĐT về ban hành chương trình khung dạy tiếng dân tộc thiểu
số (có chữ viết) cho cán bộ công chức công tác ở vùng dân tộc thiểu số
Trang 4Ngày 24 tháng 10 năm 2012, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư36/2012/TT-BGDĐT quy định về tổ chức dạy học, kiểm tra và cấp chứng chỉ tiếngdân tộc thiểu số.
Quyết định số 771/QĐ-TTg ngày 26 tháng 6 năm 2018 của Thủ tướng Chínhphủ về việc phê duyệt Đề án “Bồi dưỡng kiến thức dân tộc đối với cán bộ, côngchức, viên chức giai đoạn 2018-2025”
Những năm gần đây , tỉnh Nghệ An đã ban hành nhiều văn bản liên quanđến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trong đó có đào tạo bồi dưỡng tiếng DTthiểu số cho cán bộ CCVC
Ngày 22 tháng 6 năm 2011, UBND tỉnh Nghệ An có Quyết định số 3477/UBND.VX về việc giao cho Trung tâm GDTX tỉnh Nghệ An tổ chức bồi dưỡng vàcấp chứng chỉ tiếng DTTS cho CBCC và lực lượng vũ trang đang công tác tại vùngdân tộc miền núi tỉnh Nghệ An
Ngày 07 tháng 11 năm 2014, UBND tỉnh Nghệ An có Quyết định số 6147/QĐ-UBND ban hành đề án Đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộcông chức, viên chức công tác ở vùng dân tộc miền núi tỉnh Nghệ An, giai đoạn2015-2020
Ngày 24 tháng 11 năm 2014, UBND tỉnh Nghệ An có Quyết định số 6548/QĐ-UBND về ban hành tài liệu Bồi dưỡng tiếng dân tộc Thái hệ Lai-Tay cho cán
bộ công chức, viên chức công tác ở vùng dân tộc miền núi tỉnh Nghệ An
Kế hoạch số 07/KH-UBND ngày 05 tháng 01 năm 2018 của UBND tỉnhNghệ An nhấn mạnh đến năm 2020, 100% cán bộ giáo viên đang công tác tại vùngdân tộc miền núi phải biết ít nhất 01 tiếng dân tộc thiểu số
Quyết định số 03/2006/QĐ-BGD ngày 24/01/2006 của Bộ trưởng Bộ Giáodục và Đào tạo về ban hành chương trình khung dạy tiếng dân tộc thiểu số cho cán
bộ công chức công tác ở vùng dân tộc thiểu số
Sở Giáo dục Và Đào tạo cũng đã tham mưu cho UBND tỉnh Nghệ An mởmột số lớp bồi dưỡng cho cán bộ, giáo viên công tác tại vùng miền núi
1.2 Tầm quan trọng của việc dạy kỹ năng nói trong các lớp Bồi dưỡng Tiếng dân tộc Thái hệ Lai Tay cho CBCCVC
Trong quá trình dạy tiếng dân tộc Thái, việc áp dụng các phương pháp mớivào trong giảng dạy là hết sức cần thiết, phù hợp với sự nghiệp dạy học, lấy họcviên làm trung tâm luôn được đặt ra một cách bức thiết, nên người giáo viên luônphải tìm tòi khám phá những biện pháp tối ưu nhất Khi giảng dạy để phát huy tínhsáng tạo và khả năng giao tiếp của học viên thì một trong bốn kỹ năng không thểthiếu được đối với người học tiếng dân tộc Thái là kỹ năng nói Thực chất thì kỹnăng nói không phải là một kỹ năng đơn lẻ mà là một tập hợp các kỹ năng (kỹnăng nghe, kỹ năng nói, kỹ năng đọc và kỹ năng viết) Nói là một trong bốn kỹ
Trang 5năng cơ bản và quan trọng trong việc dạy tiếng dân tộc Thái Nói là phương tiệnhữu hiệu và cần thiết cho học viên có thể nắm vững, củng cố kiến thức thông quacác buổi học thực hành nhằm tạo cơ hội cho học viên phát triển kĩ năng nói tựnhiên nhất, mở rộng vốn từ vựng cũng như hiểu sâu thêm văn phong, cách sử dụngngôn ngữ mình đang học, bên cạnh đó cũng giúp các học viên hiểu biết thêm vềvăn hoá, thể thao phong tục tập quán, … của đồng bào dân tộc.
Thực tế cho thấy, về kỹ năng nói học viên thường cảm thấy thiếu tự tin, sợsai, sợ mắc lỗi khiến họ e dè trong giao tiếp vì những lí do sau:
Thứ nhất do lớp đông, học viên học thụ động ngồi nghe giáo viên giảng, ít
có cơ hội giao tiếp đẫn đến chán học, thiếu động lực
Thứ hai phần đông học viên vẫn chưa chú trọng việc học tập và chú trọngthực hành nói, ngược lại thường chú trọng ngữ pháp, từ vựng để làm bài kiểm tra,các bài thi hơn là nhằm đến mục tiêu lâu dài như khả năng nói để giao tiếp phục vụcho công việc
Để khắc phục được tình trạng này, trước hết người giáo viên phải làm saocho học viên có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc học tiếng dân tộcThái, nhất là làm cho học viên yêu thích, hứng thú, quan tâm đến việc phát triển kỹnăng nói một cách hiệu quả hơn
2 Cơ sở thực tiễn
2.1 Thực trạng về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học tại các Trung tâm GDNN-GDTX huyện nơi đặt lớp.
Hầu hết các Trung tâm chưa có phòng học chuyên dụng dành cho việc dạy
và học ngoại ngữ, thiết bị dạy học ngoại ngữ chưa đáp ứng yêu cầu Điều này đãgây không ít trở ngại, giảm hứng thú cho học viên khi học trong việc dạy ngoạingữ nói chung và dạy tiếng dân tộc thiểu số nói riêng
2.2 Tình hình thực tế của học viên
Đa dạng về đối tượng, số lượng học viên trong một lớp đông đối với một lớphọc ngoại ngữ, thường từ 45 đến 50 học viên Hầu hết học viên là cán bộ côngchức, viên chức có độ tuổi từ 35 đến 50 tuổi làm việc ở những lĩnh vực khác nhaunhư giáo viên, cán bộ công chức xã, huyện, bộ đội, y sĩ, bác sĩ, công chức,viênchức làm việc ở các Sở, ban ngành
2.3 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình tổ chức dạy và học tiếng dân tộc thiểu số.
Trang 62.3.1 Thuận lợi
Trung tâm có đội ngũ giáo viên cơ hữu tham gia giảng dạy Bồi dưỡng tiếng dân tộc Thái Đa số giáo viên đều là giáo viên ngoại ngữ có kinh nghiệm trong giảng dạy, có cơ hội tiếp cận phương pháp dạy học mới, có trách nhiệm và nhiệt huyết trong công việc
Bên cạnh đó, Trung tâm luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của UBND tỉnh, Sở Nội vụ, Sở GD&ĐT trong việc triển khai các văn bản liên quan đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trong đó có đào tạo bồi dưỡng tiếng DT thiểu số cho cán bộ CCVC
Với Đề án Đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số cho cán bộ công chức,viên chức công tác ở vùng dân tộc miền núi tỉnh Nghệ An, giai đoạn 2015-2020(theo Quyết định số 6147 QĐ-UBND ngày 07/11/2014 UBND tỉnh Nghệ An), mỗinăm Trung tâm được giao chỉ tiêu từ 07-08 lớp tiếng Thái được cấp kinh phí đàotạo Sở Giáo dục & Đào tạo cũng đã tham mưu cho UBND tỉnh Nghệ An mở một
số lớp bồi dưỡng cho cán bộ, giáo viên công tác tại vùng miền núi Vì vậy số họcviên của Trung tâm luôn được ổn định trong thời gian vừa qua
Với việc nhận thức rõ được tính cấp thiết và lâu dài của công tác đào tạo, bồidưỡng tiếng dân tộc, các địa phương đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các bộ,công chức, viên chức của đơn vị được đi học tiếng dân tộc thiểu số Cán bộ CCVCcông tác ở các vùng dân tộc miền núi cơ bản đã xã định được việc học tập tiếngDTTS là nhu cầu đồng thời là nhiệm vụ
Người học là CBCCVC là những người có trình độ nhận thức cao nên có ýthức trong việc học tập, học có mục đích rõ ràng, có kinh nghiệm giao tiếp, có kiếnthức xã hội phong phú Học tự nguyện, vừa làm vừa học nên người học tâm lýthoải mái tạo nên sự thuận lợi cho giáo viên giảng dạy
2.3.2.Khó khăn
Do các lớp học đều tổ chức tại các huyên miền núi nơi cán bộ công chứccông tác tại mười huyện miền núi tỉnh Nghệ An nên giáo viên giảng dạy tiếng dântộc thiểu số rất vất vả trong việc đi lại
Tài liệu bổ trợ, từ điển tiếng Thái chưa đầy đủ, chưa đáp ứng được so vớinhu cầu của việc dạy và học Mỗi địa phương lại có những phương ngữ khác nhaunên gây khó khăn cho người dạy và người học
Học viên cơ bản là CBCC công tác trên nhiều lĩnh vực khác nhau đòi hỏivốn từ vựng phải nhiều, phức tạp, nhiều thuật ngữ chuyên ngành trong khi khảnăng đáp ứng của các tài liệu học không bao quát nổi
Vẫn còn một số cán bộ, công chức ở địa phương vừa tham gia học lại vừabận công tác nên không tham gia đầy đủ khóa học; do các cơ quan đơn vị chưa xâydựng kế hoạch cho CBCC tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng tiếng dân tộc Một
số khác tham gia với mục đích để chuẩn hóa lấy chứng chỉ thay thế chứng chỉ
Trang 7ngoại ngữ khi nâng hạng, nâng ngạch nên chưa thực sự quan tâm đến chất lượng
và quy chế bồi dưỡng
2.4 Thực trạng dạy kỹ năng nói cho học viên:
Việc dạy học ngôn ngữ còn theo phương pháp truyền thống, giáo viên daỵhọc viên ghi chép, máy móc, chưa lấy học viên làm trung tâm, giáo viên chưa tạo
ra các hoạt động để học viên có cơ hội thực hành giao tiếp
Đôi khi giáo viên còn chưa thật sự quan tâm đến việc phân loại các đốitượng học viên, chỉ gọi học viên khá, giỏi xung phong mà bỏ quên đối tượng cầnquan tâm ở đây chính là các học viên người kinh, người dân tộc Thổ học tiếngThái, nên các học viên ở đối tượng này ít hoặc không cơ hội giao tiếp tiếng Thái.Điều này dẫn đến hạn chế trong việc sử dụng ngôn ngữ đã được học để giao tiếptrong cuộc sống phục vụ cho nhu cầu công việc
Chúng tôi khảo sát số lượng CBCCVC học tiếng dân tộc Thái hệ Lai Taytại
các huyện miền núi và Trung tâm từ năm 2011-2020 cụ thể như sau:
HỌC
ĐỊA ĐIỂM DẶT LỚP
SỐ LƯỢNG HỌC VIÊN
NGƯỜI DT THÁI NGƯỜI DT KHÁC
Trang 11Từ cơ sở lý luận và thực tiễn trên, cùng với kinh nghiệm trong quá trìnhgiảng dạy, chúng tôi mạnh dạn đưa ra một vài phương pháp dạy kỹ năng nói hiệuquả thông qua đề tài: “Một số kinh nghiệm dạy kĩ năng nói hiệu quả tại các lớpBồi dưỡng tiếng dân tộc Thái cho CBCCVC đang công tác tại vùng miền núi tỉnhNghệ An”.
Chúng tôi phải thực sự đổi mới phương pháp dạy học của mình thì mới đápứng được nhu cầu đào tạo hiện nay và phải nhận thức rõ giá trị giao tiếp của ngônngữ trong cuộc sống cũng như nắm chắc cách thực hành loại hình bài dạy để cảithiện chính mình đem lại lợi ích cho người học
2.5 Tiến trình dạy kỹ năng nói
Kỹ năng nói là một kỹ năng quan trọng trong việc học tiếng dân tộc thiểu sốnói chung và tiếng dân tộc Thái hệ Lai tay nói riêng Nó giúp học viên vận dụngđược kiến thức đã học trong sách vở và kiến thức hàng ngày “Nói” là kết quả của
kỹ năng Nghe, Đọc, Viết kết hợp với kiến thức ngôn ngữ Như chúng ta đã biết
Trang 12một trong những khó khăn học viên thường gặp khi học nói là họ không có nhiều
cơ hội để nói trên lớp do số lượng lớp đông, thời lượng học chủ yếu dành cho việcdạy từ vựng, dịch bài trong khi đó không quan tâm đến việc rèn luyện kỹ năng nóitừng bước với những hoạt động phù hợp để sau mỗi giờ học học viên có thể vậndụng được vào tình huống giao tiếp cụ thể Học viên phải biến nó thành kiến thứccủa mình để có thể vận dụng bất kỳ ở đâu và khi nào Vì vậy giáo viên đóng vai tròquan trọng trong dẫn dắt học viên đạt mục tiêu đề ra Dạy tiếng dân tộc Thái theohướng dạy ngôn ngữ giao tiếp và giúp học viên giao tiếp bằng tiếng dân tộc Thái
có hiệu quả, giáo viên không chỉ rèn luyện kỹ năng nói cho học viên ở các tiết dạy
mà phải thường xuyên vận dụng các thủ thuật để luyện nói trong các loại hình bàihọc cho học viên Để dạy một giờ luyện nói đạt kết quả cao, qua nhiều năm đúc rútkinh nghiệm chúng tôi đã tiến hành 3 giai đoạn:
Trước khi nói
Trong khi nói
Sau khi nói
Mỗi giai đoạn có nhiệm vụ, mục đích khác nhau tùy thuộc vào nội dung vàđặc thù của mỗi bài mà ở từng giai đoạn chúng tôi vận dụng các thủ thuật, phươngpháp, hình thức tổ chức khác nhau:
Giai đoạn 1:Trước khi nói
Mục đích yêu cầu: Cho học viên thấy rõ mục đích, yêu cầu của giờ học Họcviên được cung cấp từ vựng, cấu trúc; làm quen với nội dung của chủ đề Giai đoạnnày đóng vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục đích của giờ học Nó giúphọc viên hình thành được ý tưởng và nội dung những điều mà học viên sẽ nói Đểgợi mở và tạo những kiến thức đã học phục vụ cho hoạt động nói, yêu cầu các họcviên luyện tập nhóm, cặp, cả lớp liệt kê các ý có liên quan đến chủ đề đang thảoluận rồi tổng hợp ý kiến Các thủ thuật cho giai đoạn này giáo viên có thể lựa chọnlà:
- Nối từ và tranh
- Giới thiệu trước từ vựng mới
- Ôn lại từ vựng cũ có liên quan đến bài học bằng phương pháp tạo cơ hộicho học viên động não, nói lên ý tưởng liên quan đén chủ đề
Giai đoạn 2: Trong khi nói
Mục đích yêu cầu: Ở giai đoạn này phải thực hiện được nhiệm vụ chính củagiờ học Vì vậy học viên phải diễn đạt được những điều được hướng dẫn, gợi mở
từ giai đoạn trước Tùy thuộc vào nội dung và hình thức bài học mà giáo viên cần
Trang 13vận dụng phương pháp, cách thức tổ chức sao cho linh hoạt với từng đối tượng họcviên để tất cả các học viên đều có cơ hội luyện tập Học viên khá giúp đỡ học viênyếu hơn Trong quá trình giảng dạy tiếng Thái chúng tôi đã sử dụng và đúc rútmột số thủ thuật mang lại hiệu quả dạy kĩ năng nói cho học viên ở giai đoạn này
mà giáo viên có thể lựa chọn là:
- Hỏi – đáp
- Đóng vai
- Đặt câu với tranh ảnh/ từ gọi ý
- Thảo luận: Đưa ra từ vựng, cấu trúc liên quan đến chủ đề
- Phỏng vấn có hướng dẫn: Khám phá vốn từ vựng cảu học viên liên quanđến các chủ đề
- Tranh luận
- Hội thoại chừa trống
- Lập hội thoại mới đưa vào mẫu
- Xâu chuỗi lời nói
Ở giai đoạn này tùy theo mục đích thực hành giáo viên có thể chia lớp theocặp hoặc nhóm theo đối tượng học viên phù hợp
- Sử dụng tranh cho học viên miêu tả theo chủ đề
- Thảo luận: Học viên được chia thành các nhóm thảo luận những khía cạnhkhác nhau của cùng một vấn đề Ở hoạt động này giáo viên có thể chia nhóm ghépmỗi nhóm có vài người Thái lồng vào để hỗ trợ về từ và phát âm
- Tranh luận: Đây là một hoạt động nói sôi nổi, thu hút được nhiều học viêntham gia Giáo viên cần đưa ra các vấn đề với những ý kiến trái chiều rõ nét để tạohứng thú cho cuộc tranh luận Hoạt động này giáo viên cần đưa ra chỉ dẫn rõ ràngđối với các nhóm và giám sát chặt chẽ việc sử dụng ngôn ngữ đích thực trong quátrình thảo luận của các nhóm trước khi tranh luận trước lớp
Hoạt động này chúng tôi chia nhóm cùng đối tượng để tập trung vào nhómhọc viên không phải là dân tộc Thái
Giai đoạn 3: Sau khi nói
Mục đích yêu cầu: Hoạt động để hoàn chỉnh kĩ năng nói giúp học viên sửdụng ngôn ngữ riêng, kiến thức vốn có của học viên với các cấu trúc và từ vựngvừa được luyện vào tình huống cụ thể hoặc sản sinh lời nói sau khi đã được học vềngữ liệu trong giai đoạn “Trước khi nói”, “Trong khi nói” Học viên cần phải vậndụng những điều đã học vào giao tiếp trong cuộc sống hằng ngày Vì vậy đòi hỏimức độ nói phải trôi chảy, vận dụng tình huống nhanh, linh hoạt Chính vì vậy,người học ở giai đoạn này đã hoàn toàn sẵn sàng cho việc phát triển những ý haynhững nội dung đã được đề cập trong giai đoạn trong khi nói và liên hệ những gì
đã học được thực hành với đời sống thực Trong các hoạt động ở giai đoạn này họcviên có thể thực hành theo cặp hay nhóm ở các đối tượng khác nhau không phân
Trang 14biệt giữa người Thái hay người kinh vì ở giao đoạn này là cố gắng tạo các hoạtđộng thực hành với đời sống thực Các thủ thuật cho giai đoạn này giáo viên có thểlựa chọn là:
Thứ nhất, tổ chức các hoạt động nhóm: Điều này giúp tăng cơ hội và thời
lượng người học được thực hành nói tiếng Thái Bên cạnh đó, một số người học cóthể e ngại nói trước lớp nhưng lại cảm thấy thoải mái khi nói trong một nhóm nhỏ
Thứ hai, sử dụng ngôn ngữ đơn giản: Nhìn chung yêu cầu về độ khó trong
sử dụng ngôn ngữ nói cần hạ thấp hơn so với yêu cầu về độ khó trong sử dụngngôn ngữ đọc - viết Nếu người học có thể dễ dàng sử dụng từ vựng và cấu trúcngữ pháp, họ sẽ tự tin và có thể diễn đạt ý tưởng một cách trôi chảy
Thứ ba, lựa chọn các chủ đề hấp dẫn nhằm tạo hứng thú cho người học Thứ tư, đưa ra hướng dẫn cụ thể trong các hoạt động thảo luận: Cần đảm
bảo tất cả các thành viên trong nhóm đều nắm rõ nhiệm vụ của họ và đều có nhữngđóng góp cho hoạt động thảo luận
Thứ năm, kiểm soát việc người học dùng ngôn ngữ đích: Giáo viên cần giámsát chặt chẽ các hoạt động nói của người học và đưa ra hình phạt thích hợp để hạnchế tình trạng người học dùng tiếng mẹ đẻ mà không dùng tiếng dân tộc Thái
2.6 Một số kinh nghiệm trong vịêc dạy kĩ năng nói tại các lớp Bồi dưỡng tiếng dân tộc Thái cho CBCC công tác tại các huyện miền núi Nghệ An.
Trong đề tài chúng tôi tập trung vào hoạt động phát triển kĩ năng nói cho họcviên ở giai đoạn sau khi nói mà chúng tôi đã áp dụng có hiệu quả trong trong quá
Trang 15trình dạy Bên cạnh đó, chúng ta có thể lồng ghép các hoạt động này để phát triển
kĩ năng ở bước sau của tiết dạy nghe, đọc, viết
1 Đặt chuỗi câu hỏi để đoán thông tin
Mục đích:
Giúp học viên phát triển và hoàn thiện được kỹ năng nghe nói, đặc biệt làkhả năng phản ứng và xử lí thông tin kịp thời
- Giúp học viên sáng tạo và tự tin hơn
- Giúp quá trình học và thực hành ngôn ngữ diễn ra theo cách tự nhiên và tựtin nhất
- Giúp học viên hiểu và biết thêm về văn hóa phong tục tập quán của ngườiThái
- Giáo viên đưa ra chủ đề để luyện tập
- Học viên làm việc theo nhóm khoảng 3-5 phút
- Giáo viên quan sát và giúp học viên
- Một số cặp hoặc nhóm thực hành hỏi và đoán thông tin về chủ đề liên quan
- Các cặp hoặc nhóm khác có thể bổ sung hoặc chỉnh sửa (nếu cần thiết)
- Giáo viên nhận xét và sữa lỗi
Ví dụ: Bài 21: Cha (trang 80) bài 21 “ Các lễ hội ở miền núi Nghệ An”
chúng tôi có thể áp dụng hoạt động “đặt chuỗi câu hỏi để đoán thông tin”.Hoạt động này có thể thực hành cặp hoặc nhóm trong vòng 3 hoặc 5 phút.Một người trong cặp hoặc nhóm biết tên Lễ Hội ( các lễ hội được đoánkhông thuộc các lễ hội trong bài, với mục đích tìm hiểu thêm các lễ hội khác
ở Nghê An, hoặc trong nước nhằm tạo cơ hội cho học viên thực hành đặtnhiều câu hỏi) Một người khác hoặc các thành viên trong nhóm đặt câu hỏi
để lấy thông tin trả lời Ví dụ: Lễ hội này được tổ chức khi nào? Ở đâu?Những đặc trưng văn hóa của lễ hội?Các hoạt động thường được tổ chức ở
lễ hội?
Ví dụ: