Một trong những điểm sáng của giai đoạn đầu đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT là xây dựng chương trình giáo dục phổ thông tổng thể và cácchương trình môn học, hoạt động giáo dục đáp ứng m
Trang 16 Điểm mới trong kết quả nghiên cứu của đề tài 5
Chương 1 – Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài 6
các trường THPT nơi tôi công tác
14
Chương 2 – Thiết kế các hoạt động học tập trong phần Hóa học hữu
cơ lớp 12 nhằm phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh
THPT
16
2.1.1 Mục tiêu của chương trình hóa học hữu cơ 12 16 2.1.2 Nội dung của chương trình hóa học hữu cơ 12 16
2.2 Thiết kế các hoạt động học tập theo định hướng phát triển năng
lực tự chủ và tự học
17
2.2.1 Dạng hoạt động tìm hiểu kênh hình, kênh chữ bằng văn bản 17
Trang 22.2.2 Dạng hoạt độngquan sát và phân tích kết quả thí nghiệm 24 2.2.3 Dạng hoạt động thực hành thí nghiệm 26 2.2.4 Dạng hoạt động giải quyết các tình huống trong thực tiễn đời sống 28
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG SÁNG KIẾN
Trang 3PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển nhanh chóng như hiện nay Cuộccách mạng công nghiệp 4.0 đã đưa ra triết lý giáo dục “Học cả đời” với nhân tốthen chốt là tính tự chủ và tự học trong học tập Người học tự chủ có thể đưa ramục tiêu, chọn nội dung và phương pháp học, giám sát và đánh giá quá trình họccủa mình Nhân tố tự chủ phát huy sẽ có vai trò rất lớn trong việc nâng cao chấtlượng đào tạo, góp phần phần hoàn thiện nhân cách của chính người học Tự học,
tự lĩnh hội tri thức bằng nhiều con đường khác nhau thì học sinh mới có thể bù đắpđược những thiếu khuyết về tri thức khoa học Vì vậy cần nhà trường phổ thôngthay đổi quan niệm và phương pháp học tập cho học sinh phù hợp với yêu cầu thựctiễn để có thể giúp các em trở thành người có khả năng tự chủ và tự học suốt đời
Từ đó có được sự tự tin trong cuộc sống và công việc
Trong Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8
khoá XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã nêu rõ” về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” Một trong những điểm sáng của giai đoạn đầu đổi mới căn bản,
toàn diện GD&ĐT là xây dựng chương trình giáo dục phổ thông tổng thể và cácchương trình môn học, hoạt động giáo dục đáp ứng mục tiêu chú trọng phát triểntoàn diện phẩm chất và năng lực cho người học, kết hợp với dạy chữ, dạy người vàdạy nghề Theo đó trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của BộGD&ĐT cũng chỉ rõ các nhóm năng lực mà học sinh cần đạt được Trong đó thìnăng lực ”tự chủ và tự học” được xem là nhóm năng lực quan trọng nhất đối vớihọc sinh
Thực tế dạy học cho thấy trình độ tiếp cận những kiến thức mới của HS cònhạn chế, khả năng tự chủ và tự học của HS chưa tốt, cách học ở đa số HS còn thụđộng và phụ thuộc vào bài dạy trên lớp của GV Đa số GV chưa có phương pháphợp lý, truyền thụ tri thức một chiều vẫn là phương pháp dạy học chủ đạo củanhiều giáo viên Việc dạy học hướng tới phát triển các năng lực của người học còn
ít được chú trọng, đặc biệt đối với năng lực tự chủ và tự học
Đặc trưng của môn Hóa học trong nhà trường phổ thông mang tính chất tổnghợp và có tính thực tiễn cao, kiến thức Hóa học rộng nhưng thời lượng học trên lớpchỉ có giới hạn Vậy nên, việc phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng Qua thực tiễn đổi mới các hoạt động học tập theohướng phát triển năng lực tự chủ và tự học môn Hóa học ở trường THPT nơi tôi
công tác đã đạt được kết quả nhất định, với những lí do trên tôi chọn đề tài: “Tổ chức các hoạt động học tập trong phần hóa học hữu cơ lớp 12 nhằm phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh THPT”
2 Mục đích nghiên cứu
Trang 4Đề tài nghiên cứu và thiết kế các hoạt động học tập theo định hướng phát
triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh, thông qua dạy học phần Hóa học hữu
cơ lớp 12
Ngoài ra, thực hiện đề tài này là cơ hội tốt giúp tác giả bồi dưỡng thêm kiếnthức để đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, rèn luyện năng lực tựhọc cho HS
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về năng lực tự chủ và tự học và hoạt động họctập theo định hướng phát triển NLTH làm cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
- Khảo sát, nghiên cứu, đánh giá về thực trạng dạy học phát triển năng lực tựhọc cho học sinh trong môn Hóa học ở các trường THPT trên địa bàn huyện tôiđang giảng dạy
- Thiết kế một số hoạt động học tập theo định hướng phát triển năng lực tự
chủ và tự học cho học sinh THPT trong phần Hóa học hữu cơ lớp 12
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng giả thuyết hiệu quả của việc bồi
dưỡng và phát huy năng lực tự chủ và tự học cho học sinh trong dạy học phần Hóa học hữu cơ lớp 12.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các hoạt động học tập trong phần hóa học hữu cơ lớp 12 phục vụ cho việc
phát triển năng lực tự chủ và tự học của HS
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Đề tài tập trung vào nghiên cứu, thiết kế các dạng hoạt động học tập theo định hướng phát triển năng lực tự chủ và tự học trong phần “Hóa học hữu
cơ lớp 12” Trong đó chú trọng vào các dạng hoạt động học tập như: Hoạt động
tìm hiểu tranh ảnh, sơ đồ, bảng biểu, văn bản; Hoạt động thực hành, quan sát,phân tích kết quả thí nghiệm; Hoạt động giải quyết tình huống trong thực tiễn, đờisống
- Không gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi huyện nơi tôi
công tác, với việc khảo sát điều tra các trường THPT trên địa bàn huyện để thấyđược thực trạng phát triển năng lực tự chủ và tự học cho HS qua dạy học môn Hóahọc
- Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu áp dụng cho học sinh khối 12 tại đơn vị
công tác trong năm học 2019 -2020 và 2020 - 2021
5 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
Để nghiên cứu đề tài chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:
Trang 5- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp nghiên cứu quan sát các sản phẩm hoạt động của học sinh
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp thống kê
6 Điểm mới trong kết quả nghiên cứu đề tài
- Về lý luận: Phân tích làm sáng tỏ cơ sở lý luận về năng lực tự chủ và
tự học Trong đó bao gồm hệ thống các khái niệm, quy trình thiết kế các hoạt độnghọc tập nhằm phát triển năng lực tự chủ và tự học
- Về thực tiễn:
+ Đánh giá được thực trạng năng lực tự học môn Hóa học của HS và thựctrạng dạy học nhằm phát triển năng lực tự chủ và tự học định hướng nghề nghiệpcủa học sinh THPT tỉnh Nghệ An
+ Thiết kế các dạng hoạt động học tập theo hướng phát triển năng lực tự chủ
và tự học cho học sinh qua dạy phần “Hóa học hữu cơ lớp 12”
+ Thông qua nội dung bài viết này chúng tôi muốn đóng góp thêm với cácbạn đồng nghiệp dạy bộ môn Hóa học nói chung về đổi mới PPDH nhằm phát huynăng lực học cho học sinh hiện nay
Trang 6PHẦN II - NỘI DUNG CHƯƠNG 1 – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Trên thế giới
Trong nền giáo dục cổ xưa, ý tưởng dạy học coi trọng người học và traoquyền tự chủ cho người học được chú ý đến từ thời cổ đại như Phương Tây cổ đại
có phương pháp giảng dạy của Heraclitus (530 - 475 TCN), Socrate (Hy Lạp,
469-390 TCN), Aristote (384-322 TCN) nhằm mục đích phát hiện “chân lý” bằng cáchđặt câu hỏi để người học tự tìm ra kết luận Khẩu hiệu dạy học của ông là “Mụcđích của giáo dục là làm cho con người tự nhận ra chính mình giữa đám đông”.Đầu thế kỉ XIX xuất hiện nhiều nghiên cứu về năng lực tự chủ và tự học nhữngnghiên cứu này thường tập trung mô tả quá trình tự học điển hình là nhà giáo dục
Mỹ John Dewey Xem tự học là HS chủ động và tích cực hoạt động, học thông quacách làm trong quá trình tự học HS vẫn tương tác với GV
Đầu thế kỉ XIX, vẫn đề tư chủ và tự học đã được nhều tác giả quan tâm vàđưa ra các biện pháp giúp học sinh học tập hiệu quả và hình thành năng lực tự chủ
và tự học Năm 2008, giáo sư tại Đại học Warwick - Richard Smith cho rằng tự học
có nghĩa là người học tự chủ Theo ông các yếu tố ảnh hưởng đến sự tự chủ củangười học như: mục tiêu học tập, nội dung học tập (tài liệu), các giai đoạn học tập,phương pháp và kỹ thuật, thời gian và địa điểm, qui trình đánh giá Tác giả James
H.Tronge với công trình “Những phẩm chất của người GV hiệu quả” xuất bản năm
2011, đã nhấn mạnh đến việc GV tạo lập một môi trường học tập hiệu quả cho HS
1.1.2 Việt Nam
Ở Việt Nam hoạt động tự chủ và tự học được chú ý từ thời phong kiến khi
mà giáo dục chưa phát triển Năng lực tự chủ và tự học được ghi nhận ở từng cánhân kiệt xuất, tự học thành tài Đến thời kì thực dân Pháp đô hộ giáo dục nước tavẫn còn rất hạn chế, phương pháp dạy học vẫn chỉ là truyền thụ kiến thức mộtchiều Vấn đề tự chủ và tự học, năng lực tự chủ và tự học vẫn chưa được quan tâmnghiên cứu.Từ năm 1975 đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về tự họcđược công bố Đi đầu trong lĩnh vực này phải kể đến các công trình nghiên cứu củaNguyễn Cảnh Toàn, Trịnh Quốc Lập…Nhiều GV cũng có những nghiên cứu để đưaviệc TH thành một hoạt động không thể thiếu trong quá trình dạy và học hiện nay.Tác
giả Nguyễn Thị Thanh với đề tài: “Vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học môn Hóa học 10 nâng cao nhằm phát triển một số năng lực cho học sinh” trong
đó tác giả tập trung vào phát triển NLTH và NL vận dụng kiến thức hóa học vàothực tiễn Tác giả Cao Cự Giác có bài báo nghiên cứu thực trạng phát triển NLTHmôn Hóa học của HS THPT
Trang 7Như vậy, tự chủ và tự học là một khái niệm được ra đời rất sớm, lịch sửnghiên cứu về tự chủ và tự học bắt đầu muộn hơn và nó gắn liền với việc nghiêncứu người học là trung tâm của quá trình giáo dục, cho đến ngày nay vấn đề tự chủ
và tự học vẫn được tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn nữa đặc tính của người
tự học, tuy nhiên với những thành công nghiên cứu bước đầu các tác giả đã xácđịnh được tự chủ và tự học không hẳn là học một mình, tự chủ và tự học nên đượcdiễn ra trong các cơ sở giáo dục, vị trí để học thì do người học tự quyết định, cáctác giả đã tập trung vào quá trình nhận thức của chủ thể người học, tìm ra nhữngyếu tố chi phối đến quá trình tự học để từ đó đề ra các biện pháp tác động tích cựcđến quá trình tự chủ và tự học của người học
cả các khía cạnh học, bao gồm cả việc xác định mục tiêu, xác định nội dung và tiếntrình, lựa chọn phương pháp học, giám sát và đánh giá quá trình học Để chịu tráchnhiệm cho việc của mình, người học cần phải hợp tác với giáo viên và các học sinhkhác
1.2.2.2 Những kỹ năng cần có của người tự chủ
Với định nghĩa như trên, người học tự chủ là người có khả năng chịu tráchnhiệm hoàn toàn cho việc của mình và cần có một số kỹ năng cần thiết Cụ thể là:
- Khả năng xác định và thiết lập mục tiêu học tập;
- Khả năng lập kế hoạch và thực hiện các hoạt động học tập;
- Sự hiểu biết về mục đích học tập của họ;
- Sự hiểu biết về quá trình học tập của chính họ;
- Kiến thức về một loạt chiến lược và kỹ năng học tập;
- Động lực rõ ràng, biết rõ bản thân học vì mục đích gì
1.2.2.3 Những lợi ích chính mà người học tự chủ có được
Khi có được sự tự chủ trong quá trình học thì người học sẽ nhận thấy rõnhững lợi ích chính mà học có được
Trang 8Thứ nhất, người học có tính chủ động Thực tế hiện nay việc học đang cầnchuyển đổi từ sự phụ thuộc hoàn toàn vào giáo viên sang xu hướng tăng cường khảnăng tự học, tự tìm kiếm tri thức của người học Học sinh phải tự chủ, có ý thứckiểm soát cách thức, thời gian và những gì được truyền đạt Đây cũng là nền tảngcủa phương pháp day học tích cực hiện nay.
Thứ hai, người học tự chủ đạt hiệu quả cao hơn trong học tập Bởi vì họ sẽmang tính cá nhân và tập trung hơn nên người học đạt được kiến thức họ cần đểhoàn thành vai trò của họ theo cách riêng của họ
Thứ ba,các kỹ năng cần thiết trong học tập tự chủ cũng là hững kỹ năng cầnthiết trong tương lai, ví dụ như tại nơi làm việc Từ đó người học sẽ có thêm động
lực để học tập, nuôi dưỡng ý thức học tập suốt đời, cả trong học tập và công việc
Thứ tư, tăng cường khả năng tự khám phá Khám phá là cách con người bắtđầu học từ thuở sơ khai một cách tự nhiên Quan điểm này cho rằng, con người đã
có quyền tự do khám phá và khám phá trước khi bắt đầu vào môi trường giáo dụcchính thức, nơi mà việc học tập diễn ra theo khuôn khổ của trường học Nghiêncứu tâm lý học nói rằng, tự chủ là một nhu cầu cơ bản của con người thúc đẩyngười học và nuôi dưỡng sự thích thú của họ đói với thế giớ xung quanh, tăng cảmgiác tò mò trí tuệ và khao khát kiến thức
1.2.2.4 Những khả năng của người học tự chủ
Học để trở thành tự chủ là một tiến trình cá nhân diễn ra dần dần và khôngbao giờ kết thúc Các nghiên cứu thường đồng ý rằng những khả năng quan trọngnhất là những khả năng cho phép người học tự lên kế hoạch cho hoạt động học tậpcủa mình, theo dõi tiến độ của học và đánh giá kết quả của họ
1.2.2 Lý thuyết về tự học
1.2.2.1 Khái niệm tự học
Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn, tự học được định nghĩa như sau: “Tự học
là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ: quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, … và có khi cả cơ bắp cùng các phẩm chất của mình, rồi cảđộng cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” Và học, cốt lõi là
tự học, là quá trình phát triển nội tại, trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình,
tự làm phong phú giá trị của mình bằng cách thu nhận và xử lý thông tin bên ngoàithành tri thức bên trong của con người mình
-Vai trò của tự học: Tự học được xem là một mục tiêu cơ bản của quá trình
dạy học; Rèn luyện kĩ năng tự học là phương cách tốt nhất để tạo ra động lực cho
HS trong quá trình học tập; Giúp cho mọi người có thể chủ động học tập suốt đời
- Các mức độ tự học:
+ Tự học hoàn toàn (không có GV);
Trang 9+ Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập;
+ Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa);
+ Tự học qua tài liệu hướng dẫn;
+ Tự lực thực hiện một số hoạt động học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của
+ Kỹ năng thực hiện kế hoạch
+ Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm
1.2.2.2 Năng lực tự học (NLTH)
- Khái niệm năng lực tự học: Năng lực tự học (NLTH) là khả năng của bản
thân người học tự giải quyết những vấn đề đặt ra một cách nhanh chóng và hiệuquả băng cách áp dụng kiến thức đã lĩnh hội vào những tình huống, những hoạtđộng thực tiễn để tìm hiểu thế giới xung quanh và có khả năng biến đổi nó Haynăng lực tự học là một khả năng trong đó người học là chủ thể tự giác tích cực, chủđộng, độc lập (hoặc hợp tác) chiếm lĩnh tri thức ở một lĩnh vực nào đó trong họctập, trong cuộc sống nhằm đạt được mục đích nhất định
-Cấu trúc năng lực tự học: Trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể
(Bộ GD&ĐT, 2017), cấu trúc của NLTH bao gồm 3 NL thành phần như sau:
+ NL xác định mục tiêu học tập, bao gồm: Xác định nhiệm vụ học tập, tự đặtmục tiêu học tập
+ NL lập kế hoạch và thực hiện cách học, bao gồm: Lập kế hoạch học tập,thực hiện kế hoạch học tập (chủ động tiếp nhận thông tin từ sách giáo khoa,kênhchữ, kênh hình), từ tài liệu tham khảo; lưu giữ thông tin có chọn lọc)
+ NL đánh giá và điều chỉnh việc học, bao gồm: Nhận ra và điều chỉnh đượcnhững sai sót, hạn chế của bản thân khi được GV, bạn bè góp ý; chủ động tìm kiếm
sự hỗ trợ của người khác khi gặp khó khăn trong học tập
1.2.2.3 Hoạt động học tập theo định hướng phát triển NLTH
Trang 10- Khái niệm hoạt động học tập (HĐHT) theo định hướng phát triển NLTH:
là hoạt động HS thực hiện các kĩ năng (KN) tự học và vận dụng các KN đóđể cóthể tự tìm tòi, khám phá kiến thức và vận dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống
Các HĐHT theo định hướng phát triển NLTH bao gồm: hoạt động xác địnhmục tiêu học tập; hoạt động lập và thực hiện kế hoạch học tập, lựa chọn được cácnguồn tài liệu học tập phù hợp, lưu giữ thông tin có chọn lọc bằng ghi tóm tắt,bằng sơ đồ tư duy, bảng biểu, sơ đồ; KN thực hiện theo tiến trình khoa học trongthực hành, biết quan sát phân tích kết quả và rút ra kết luận,
- Một số dạng hoạt động học tập (HĐHT) theo định hướng phát triển năng lực tự học trong dạy học Hóa học: Có nhiều dạng HĐHT được xây dựng, căn cứ
vào mục đích lí luận dạy học có dạng: HĐHT khởi động, HĐHT hình thành kiếnthức mới, HĐHT luyện tập - vậndụng, HĐHT mở rộng nâng cao
Trên cơ sở phân tích mục tiêu và nội dung Hóa học, căn cứ vào cấu trúc củaNLTH, để phát triển NL thực hiện kế hoạch học tập cho HS có thể có các dạngHĐHT sau:
+ Dạng hoạt động tìm hiểu kênh hình, kênh chữ bằng văn bản: Trong dạng
HĐHT này, HS suy nghĩ cá nhân, hoạt động nhóm để xử lí thông tin thu thập được
từ việc quan sát tranh ảnh, sơ đồ, bảng biểu, nội dung của văn bản; từ đó giải quyếtđược vấn đề đặt ra và diễn đạt nội dung dưới dạng điền từ, điền bảng, điền lược đồcâm, sơđồ thiếu hoặc ở mức cao hơn HS xử lí thông tin thu thập được từ cáckênh hình, kênh chữ để tóm tắt nội dung dưới dạng bảng biểu hoặc văn bản haysơđồ, sơđồ tư duy
+ Dạng hoạt động thực hành, quan sát và phân tích kết quả thí nghiệm:Trong hoạt động này, học sinh suy nghĩ cá nhân, hoạt động nhóm để quan
sát và lý giải các hiện tượng, kết quả thí nghiệm Xác định được bản chất của hiệntượng và tìm được các khái niệm, quá trình sinh học từ thí nghiệm Ở dạng này họcsinh không trực tiếp làm thí nghiệm mà quan sát thu nhận thông tin từ thí nghiệm
do GV biểu diễn, hoặc các thí nghiệm mô phỏng Đây là dạng hoạt động học tậplàm nền tảng cho hoạt động thực hành thí nghiệm
+ Dạng hoạt động thực hành thí nghiệm: Trong dạng này thì HS suy nghĩ cá
nhân, hoạt động nhóm để tự tiến hành thí nghiệm, giải quyết các vấn đề đặt ra theomột tiến trình nghiên cứu khoa học sau: quan sát và đặt câu hỏi nghiên cứu, thiết
kế được thí nghiệm, tiến hành thí nghiệm và thu thập kết quả, lí giải kết quả để kếtluận vấn đề
+ Dạng hoạt động giải quyết vấn đề trong thực tiễn, đời sống: Trong dạng
HĐHT này, HS suy nghĩ cá nhân, hoạt động nhóm xử lý thông tin thu thập từ cáctình huống trong thực tiễn, đời sống và nhữnghoạt động trải nghiệm để rèn luyện kĩnăng tự học
1.2.2.3 Quy trình thiết kế các hoạt động học tập theo định hướng phát triển năng lực tự học.
Trang 11Qua nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn, quy trình thiết kế các HĐHT theođịnh hướng phát triển NLTH trong dạy học Hóa họcbao gồm 5 bước sau:
- Bước 1: Xác định chủ đề học tập GV xác định chủ đề học tập, phân tích
mục tiêu về kiến thức, KN, thái độ và phát triển NL, chú trọng mục tiêu phát triểnNLTH Trên cơ sở đó, xác định những nội dung có thể phát triển NLTH của HS
- Bước 2: Phân tích nội dung, xác định các HĐHT phát triển NLTH Phân
tích nội dung của chủ đề nhằm xác định thành phần kiến thức, mối quan hệ giữakiếnthức mới và kiến thức đã biết của HS để thiết kế HĐHT sao cho phù hợp vớiNLTH của HS Sau khi phân tích nội dung, GV sẽ phác họa trình tự logic nội dungphù hợp, thậm chí có thể cải tiến cách trình bày các mạch kiến thức ở sách giáokhoa làm cơ sở để thiết kế các hoạt động khởi động, hoạt động hình thành kiếnthức, hoạt động luyện tập - vận dụng trong bài một cách thích hợp Trên cơ sởphân tích đó, GV xác định nội dung kiến thức có thể mã hóa thành các dạngHĐHT phát triển NLTH trong khâu của quá trình dạy học
- Bước 3: Sưu tầm, lựa chọn, xây dựng tư liệu cho việc thiết kế các HĐHT.
GV cần thu thập tư liệu từ sách, báo, tạp chí giáo dục, trang web khoa học có liênquan để xây dựng kho tư liệu nhằm tạo điều kiện khai thác có hiệu quả nội dungcủa chủ đề
- Bước 4: Thiết kế các HĐHT theo định hướng phát triển NLTH Từ nguồn
tư liệu thô, GV cần sàng lọc, cấu trúc lại cho HS sử dụng thuận tiện, dễ hiểu, dễvận dụng GV lựa chọn tư liệu và mã hóa tư liệu thành HĐHT trong dạy học Sinhhọc 11, bao gồm: hoạt động quan sát, phân tích kết quả TN; hoạt động thực hànhTN; hoạt động thực hành xác định mẫu vật; hoạt động tìm hiểu tranh ảnh, sơđồ,bảng biểu, văn bản; hoạt động giải quyết tình huống trong thực tiễn, đời sống
- Bước 5: Thiết kế kế hoạch sử dụng các HĐHT Các HĐHT được xem như
một biện pháp dạy học nhằm phát triển NLTH Xác định các hình thức dạy học (cánhân, hợp tác hay các nhóm nhỏ) và thời lượng của HĐHT, hoạt động ở nhà haytrên lớp, sử dụng trong khâu nào Trên cơ sở đó, GV soạn kế hoạch bài học chophù hợp
1.2.2.4 Các tiêu chí đánh giá năng lực tự học
- Công cụ đánh giá năng lực tự học
+Dựa vào chuẩn KT – KN
+ Phối hợp đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì Giữa đánh giá của
GV và tự đánh giá của HS, giữa đánh giá nhà trường và gia đình, xã hội
+ Kết hợp giữa các hình thức đánh giá
- Các tiêu chí đánh giá năng lực tự học
+ Cách giải quyết vấn dề trong một tình huống cụ thể
+ Kết quả thu thập được quá trình tự hoc (ghi chép, nghiên cứu )
Trang 12+ Kết quả các bài kiểm tra.
1.3 Cơ sở thực tiễn
1.3.1 Khái quát về địa bàn và mẫu phiếu khảo sát
Đơn vị nơi tôi công tác là một huyện nằm ở trung tâm tỉnh Nghệ An Huyện
có diện tích 350.433 km2, dân số 193.890 người (2010) Phía Bắc giáp huyện Tân
Kỳ, Anh Sơn; Nam giáp huyện Nam Đàn, Nghi Lộc; Đông giáp huyện Yên Thành
và Tây giáp huyện Anh Sơn, Thanh Chương Đơn vị nơi tôi công tác là huyện hiện
có 33 đơn vị hành chính gồm 1 thị trấn, 32 xã, số trường THPT trên toàn huyện là
Bảng1.1 Số lượng giáo viên và học sinh tham gia khảo sát đề tài
- Kết quả điều tra từ GV(Phụ lục 1: mẫu 1)
Bảng 1.2 Kết quả điều tra thực trạng phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh trong dạy học Hóa học
Tỉ lệ lựa chọn (%)
Rất cầnthiết Cần thiết
Không cầnthiết
1 Việc rèn luyện năng lực, kĩ
năng tự chủ và tự học cho học 100%
Trang 13sinh có cần thiết hay không?
2
Thầy (cô) có thường xuyên tổ
chức hoặc hướng dẫn cho học
sinh các phương pháp tự chủ
và tự học ?
Thườngxuyên
Thỉnh thoảng Không bao
Dạy kiến thứcmới
Chuẩn bị bài
ở nhà
4 Phương pháp hoặc kĩ thuật
dạy học nào được sử dụng dạy
tự chủ và tự học?
PP dạyhọc theo
dự án
PP dạy học giảiquyết vấn đề
PP bàn taynặn bột
5 Thái độ của HS khi được
hướng dẫn tự học ?
Rất hứngthú
Hứng thú Không hứng
thú
Kết quả điều tra từ HS(Phụ lục 1: mẫu 2)
Bảng 1.3 Kết quả điều tra năng lực tự chủ và tự học môn Hóa Học
của học sinh THPT
Rất quan trọng Quan trọng Không quan trọng
giành bao nhiêu
thời gian cho việc
Trang 14Những khó khăn trong quá trình tự học
1 Em có gặp khókhăn trong việc
tìm tài liệu không
Qua bảng số liệu trên, chúng tôi có một số đánh giá như sau
- Việc rèn luyện năng lực, kĩ năng tự chủ và tự học cho HS hiện nay rất đượcquan tâm để thực hiện Tất cả 100% GV được khảo sát đều chọn phướng án “rấtcần thiết”để rèn luyện kĩ năng tự chủ và tự học cho HS
- Về mức độ thường xuyên tổ chức hoạt động tự chủ và tự học: Có 61,1%
GV được khảo sát cho là thỉnh thoảng có tổ chức cho HS Có đến 33,3% GV chưabao giờ tổ chức các hoạt động cho HS , và chỉ có 5,6% GV là thường xuyên tổchức hoạt động cho HS Điều này rất có ý nghĩa trong việc rèn luyện và phát triểnnăng lực người học
- Về hình thức tự chủ và tự học thì 55,6% GV cho HS tự học ở nhà, còn trênlớp chỉ có 27,7% số GV có tổ chức cho HS Điều này thể hiện còn ít GV quan tâmrèn luyện cho HS tự học tại lớp vì sợ mất thời gian, ảnh hưởng đến việc dạy họckiến thức mới Cần thiết phải tăng cường tổ chức cho HS tự học tại lớp, vì ở lớp
GV dễ dàng quan sát và hướng dẫn HS tự học tốt hơn Cũng như vậy, ở lớp cầnthiết kế các hoạt động tự chủ và tự học để có thể học cá nhân và hoạt động nhóm
Trang 15- Về thái độ của HS khi tự học: Hầu hết GV đều nhận được sự hợp tác từ HSqua tinh thần hứng thú trong tiết học Tổ chức tự học để HS phát huy bản thân làđiều hoàn toàn phù hợp đối với lứa tuổi THPT
- Từ những điều trên cho thấy việc tổ chức cho học sinh tự học trên lớp và ởnhà, tự học cá nhân và học theo nhóm đang rất cần được phổ biến sâu rộng đến độingũ GV và nên tạo điều kiện nhiều hơn để GV có thể tạo điều kiện cho HS pháttriển năng lực tự chủ và tự học Tuy nhiên, việc GV tổ chức cho học sinh tự họccũng mới chỉ mang tính tự phát, GV chưa thực sự nhấn mạnh việc rèn luyện kĩnăng cũng như chưa kiểm tra đánh giá những gì HS đạt được thông qua tự học
Qua quá trình khảo sát, phỏng vấn, điều tra việc dạy học theo hướng pháttriển năng lực tự học cho HS THPT trên địa bàn huyện cho thấy: Về nhận thức GVđều xác định được rằng việc phát triển năng lực tự chủ và tự học cho HS là cầnthiết, đã được gia đình, nhà trường, xã hội quan tâm.Nhìn chung HS của trường cónhận thức đầy đủ về vai trò, bản chất, ý nghĩa của tự chủ và tự học, tự nghiên cứuđối với sinh học Tuy nhiên, việc giành thời gian và sử dụng các biện pháp tự họccho môn học này chưa được chú trọng, chủ yếu tập trung học kỹ để chuẩn bị chothi và kiểm tra Một trong những khó khăn dẫn tới thực trạng trên là do HS thiếucác kỹ năng tự học, chưa có cách học, chưa tự chủ, chưa có đủ tài liệu và cácphương tiện hỗ trợ học tập Chưa được hướng dẫn phương pháp tư hoc thông quacác hoạt động học tập.Thời gian học tập còn ít do yêu cầu học thêm, áp lực thi cử
Như vậy, việc hướng dẫn, khuyến khích, tạo điều kiện để HS tự học chưađược chú trọng nên HS còn gặp nhiều khó khăn trong tự học.Việc sử dụng các hoạtđộng học tập, bài tập phát triển năng lực tự chủ và tự học cho HS chưa được chú ýđúng mức Việc xây dựng các hoạt động học tập hiện nay còn tập trung nhiều đếntruyền thụ kiến thức, rèn kĩ năng, đáp ứng thi cử, chưa chú trọng đến phát triểnnăng lực cho HS trong đó có năng lực tự chủ và tự học Đây là cơ sở thực tiễn chocác đề xuất nghiên cứu của đề tài
Trang 16CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ CÁC HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP TRONG PHẦN HÓA HỌC HỮU
CƠ LỚP 12 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ CHỦ VÀ TỰ HỌC CHO
HỌC SINH THPT 2.1 Chương trình Hóa học hữu cơ 12
2.1.1.Mục tiêu của chương trình Hóa học hữu cơ 12
Về kiến thức: Giúp HS hiểu và trình bày được những kiến thức phổ thông,
cơ bản về: Hợp chất chức nhóm chức: khái niệm, đặc điểm cấu tạo, tên gọi, ứngdụng và tính chất hóa học của các hợp chất hữu cơ đó
Về kĩ năng: Củng cố và tiếp tục phát triển ở học sinh các kĩ năng: Quan sát,
nhận xét, phân tích, tổng hợp, so sánh các sự vật, hiện tượng hóa học cũng như kĩnăng phân tích kênh hình, bảng biểu, kết quả thực hành thí nghiệm.Phát triển kĩnăng quan sát, thu thập thông tin từ thực tiễn cuộc sống
Về thái độ, hành vi: Góp phần bồi dưỡng cho HS: Có tình yêu thiên nhiên, ý
thức và hành động thiết thực bảo vệ môi trường xung quanh
2.1.2.Nội dung của chương trình Hóa học hữu cơ lớp 12
Chương trình và Hóa học 12 chuẩn đã được soạn thảo theo quan điểm đổimới Chương trình đã thể hiện rõ tính khoa học, tính hiện đại và tính thực tiễntrong một cấu trúc logic, hợp lí, đảm bảo thực hiện đúng mục tiêu đào tạo của nhàtrường phổ thông
Phần Hóa học hữu cơ lớp 12: Trong phần này, chương trình đề cập đến cáctính chất của các hợp chất hữu cơ chứa nhóm chức:
- Về hợp chất hữu cơ chứa nhóm chức thường có cấu tạo phức tạp, nhiềuđồng phân
- Về danh pháp: Là phần khó cho học sinh ghi nhớ và phân biệt các loại tênthông thường, tên theo hệ thống IUPAC, tên gốc-chức, hơn nữa HCHC có nhiềuđồng phân lại có tên gọi khác nhau
- Về tính chất hóa học: các phản ứng của HCHC thường là phản ứng thủyphân, phản ứng oxi hóa, phản ứng trùng hợp, phản ứng trùng ngưng là nội dungkhó cho học sinh
Phần này có đề cập tới 4 nội dung cơ bản sau:
+ Chương 1: Este - Lipit
+ Chương 2: Cacbohiđrat
+ Chương 3: Amin, amino axit và protein
+ Chương 4: Polime và vật liệu polime
Trang 172.2 Thiết kế các hoạt động học tập theo định hướng phát triển NLTC vàTH
2.2.1 Xây dựng hệ thống câu hỏi bài tập dạng tìm hiểu tranh ảnh, sơ đồ, bảng biểu, văn bản.
*HĐ: (Dạy bài 1 – Este)
Dựa vào văn bản và kênh hình dưới đây hoàn thành bảng kiến thức sau:
Hình 1: Một số este có mùi thơm đặc trưng
“ Este là hợp chất hữu cơ, hầu hết este là những chất lỏng có mùi thơm đặc trưng , không tan hoặc rất ít tan trong nước nhưng lại tan nhiều trong rượu và các dung môi hữu cơ Este thường nhẹ hơn nước (trừ một số ít), thông thường ta thấy este được tạo từ ancol và axit có khối lượng phân tử thấp có mùi quả Ví dụ như: isoamyl axetat (CH3COO-(CH2)2-CH(CH3)2) có mùi chuối chín, etyl butirat
CH 3 CH 2 CH 2 COOC 2 H 5 ) có mùi dứa, etyl isovalarat có mùi táo,… thường được dùng trong công nghiệp thực phẩm, este được tạo từ axit có khối lượng phân tử thấp và ancol có khối lượng phân tử cao thường cho mùi hoa Ví dụ như benzylaxetat(CH 3 COOCH 2 C 6 H 5 ) có mùi hoa nhài, geranyl axetat(CH 3 COOC 10 H 17 )
có mùi hoa hồng, linalyl axetat có mùi hoa oải hương,… thường được dùng trong công nghiệp hóa mĩ phẩm Este rất quan trọng trong nền công nghiệp hiện đại để đáp ứng nhu cầu của con người”.
Dựa vào đoạn trích trên hãy cho biết:
Trang 18(3) Tên gốc hiđrocacbon (từ ancol) + tên gốc axit có đuôi at
(4) Phần lớn là chất lỏng ở nhiệt độ thường, ít tan trong nước tan nhiều trong một
số dung môi hữu cơ, thường có mùi thơm đặc trưng Nhiệt độ sôi của este thấp hơnnhiệt sôi của ancol và axit có cùng số nguyên tử cacbon tương ứng
(5) (1); thay nhóm OH ở nhóm cacboxyl của axit cacboxylic bằng nhóm OR.
(2);RCOOR/ (3); Lỏng (4); rất ít tan (5); thơm (6); chuối chín (7); dứa (8); táo.(9); tạo hương
* HĐ: (Dạy bài 2 – Lipit)
Hình 2: Một số nguồn cung cấp chất béo từ động vật và thực vật
Trang 19“Chất béo là một trong những thành phần cơ bản trong thức ăn của con người Khi bị oxi hóa chậm trong cơ thể nhờ các enzin xúc tác, chất béo cung cấp nhiều chất béo hơn chất đạm, chất đường từ 2-3 lần Vì chất béo không tan trong nước nên chúng không thể thấm qua thành ruột để đi nuôi cơ thể Nhờ có các enzin xúc tác, chất béo bị thủy phân thành glixerol và axit béo Glixerol được hấp thụ trực tiếp, còn axit béo được mật chuyển thành dạng tan dễ dàng hấp thụ qua mao trạng của ruột vào thành ruột Ở thành ruột, glixerol và axit béo kết hợp lại thành chất béo mới Chất béo đi vào máu và mô mỡ Ở đây chất béo bị oxi hóa thành CO 2 , H 2 O và giải phóng năng lượng cung cấp cho hoạt động của cơ thể”
(Trích SGK hóa học 12 trang 12)
Dựa vào hình 2 và đoạn trích hoàn thành câu trả lời:
(1) Khoanh đúng hoặc sai vào nhận định sau:
-Chất béo tan tốt trong nước và nhẹ hơn nước
- Ở nhiệt độ thường chất béo thường ở trạng thái lỏng hoặc
rắn Khi phân tử có gốc hiđrocacbon không no, chất béo ở
trạng thái lỏng Khi trong phân tử có gốc hiđrocacbon no chất
(2) Trong mỡ động vật các triglixerit chủ yếu là các gốc axit béo no nên thường là
chất rắn Còn trong dầu thực vật( dầu lạc, dầu vừng ) các triglixerit chứa chủ yếu
là gốc axit béo không no nên thường là chất lỏng ở nhiệt độ phòng
(3) Chất béo là một este đa chức nên có tính chất hóa học giống este đó là phản
ứng thủy phân, ngoài ra còn có phản ứng cộng hiđro của chất béo lỏng
Trang 20* HĐ: ( Dạy bài 5 – Glucozơ)
Hình 3: Quả nho chứa nhiều glucozơ
Cho đoạn trích sau:“Glucozơ là chất có giá trị dinh dưỡng đối với người giá, trẻ em và người ốm, nhất là trẻ em Người ta còn sử dụng nó để làm thuốc tăng lực trong y học Ngoài ra glucozơ được dùng để tráng gương, tráng phích và
là sản phẩm trung gian trong sản xuất ancol etylic từ các nguyên liệu có tinh bột hoặc xenlulozơ”
“Glucozơ có CTPT là C 6 H 12 O 6 Để xác định cấu tạo của glucozơ người ta căn cứ vào các dự kiện sau:
- Glucozơ có phản ứng tráng bạc và bị oxi hóa bởi nước brom tạo thành axit gluconic, chứng tỏ phân tử glucozơ có nhóm CH=O.
- Glucozơ tác dụng với Cu(OH) 2 cho dung dịch màu xanh lam, chứng tỏ phân tử glucozơ có nhiều nhóm OH ở vị trí kề nhau.
- Glucozơ tạo este chứa 5 gốc axit CH 3 COO chứng tỏ phân tử có 5 nhóm OH.
- Khử hoàn toàn glucozơ, thu được hecxan, chứng tỏ có 6 nguyên tử C trong phân
tử tạo thành một mạch không nhánh.”( Trích SGK Hóa học 12 – trang 22)
Từ đoạn trích trên và hình 4 hãy hoàn thành nội dung sau:
(1) Glucozơ là hợp chất…(1)……., ở dạng mạch hở phân tử có cấu tạo của……
(2)……và……(3)……… Công thức cấu tạo của glucozơ dạng mạch hở………(4)
……… Glucozơ có trạng thái…(5)…….và…(6)……….trong nước, có vị…(7)… Glucozơ có…(8)………nhất là trong…(9)……… đặc biệt có nhiều trong
…… Glucozơ là một…(10)…….saccarit
(2) Nhận định về tính chất hóa học của glucozơ
(3) Glucozơ có những ứng dụng nào?
Hướng dẫn trả lời:
Trang 21(1): (1)Tạp chức, (2) anđehit đơn chức, (3)ancol 5 chức.
(6)tan, (7)ngọt, (8)trong hầu hết các bộ phận của cây, (9) quả nho chín, (10)mono
(2): Glucozơ có tính chất hóa học của anđehit đơn chức và ancol đa chức ngoài ra
glucozơ còn có có phản ứng lên men tạo ancol etylic
(3): Glucozơ làm thuốc tăng lực cho người già trẻ em và người ốm.Trong công
nghiệp tráng gương, tráng ruột phích Glucozo được sử dụng trong nước truyền,nước hoa quả trong y tế,đường glucozo để chữa huyết áp thấp, làm bánh kẹo, nướcgiải khát Trong thực phẩm hàng ngày , glucozo dùng để làm sữa chua, làm bánh,làm gia vị thực phẩm
* HĐ: (Dạy bài 6 – Saccarozơ, tinh bột và xenlulozơ)
“Saccarozơ (C 12 H 22 O 11 ) không có phản ứng tráng bạc và không làm mất màu nước brom, chứng tỏ phân tử saccarozơ không có nhóm chức CHO Khi đun nóng dung dịch saccarozơ với H 2 SO 4 loãng được dung dịch có phản ứng tráng bạc
do trong dung dịch thu được sau khi đun nóng có glucozơ và fructozơ”.( Trích
SGK Hóa học 12- trang 27)
Hình 4: Mía – nguồn cung cấp saccarozơDựa vào đoạn trích và hình 4 hãy trả lời các câu hỏi sau:
(1).Trong tự nhiên saccarozơ có nhiều ở đâu? Tính chất vật lý của saccarozơ.
(2) Cấu tạo phân tử của saccarozơ?
(3) Nhận định về tính chất hóa học của saccarozơ.
(4).Những ứng dụng của saccarozơ.
Hướng dẫn trả lời:
(1):- Saccarozơ là loại đường phổ biến nhất có nhiều trong thực vật, nhiều nhất
trong cây mía, củ cải đường và hoa thốt nốt
CH6 2OH CHOH CHOH CHOH CHOH CH O5 4 3 2 1
Trang 22- Saccarozơ là chất kết tinh không màu, không mùi, có vị ngọt, nóng chảy 1850c,tan tốt trong nước đặc biệt là trong nước nóng.
(2): Saccarozơ là một loại đisaccarit được cấu tạo từ một gốc glucozơ và một gốc
fructozơ liên kết với nhau qua nguyên tử oxi Trong phân tử saccarozơ không cónhóm chức anđehit(CH=O), chỉ có các nhóm chức ancol(OH)
(3): Saccarozơ có tính chất của ancol đa chức và có phản ứng thủy phân.
( 4): Là thực phẩm quan trọng cho người.
- Trong công nghiệp thực phẩm, saccarozơ là nguyên liệu để sản xuất bánh kẹo, nước giải khát, đồ hộp
- Trong công nghiệp dược phẩm, saccarozơ là nguyên liệu dùng để pha thuốc.Saccarozơ còn là nguyên liệu để thuỷ phân thành glucozơ và fructozơ dùng trong
kĩ thuật tráng gương, tráng ruột phích
* HĐ: (Dạy bài 9 – Amin)
Phân tử amoniac Thế 1H bởi R 1 Thế 2H bới R 1 và R 2 Thế 3H bới R 1 , R 2 và R 3
Tên gốc R ghép amin
Tên thay thế Tên ankan ghép amin
H2N[CH2]6NH2 hexametylenđiamin Hexa -1,6 - điamin
Bảng 1: Tên một vài amin
2 1 3
Trang 23Dựa bảng 1 hãy trả lời các câu hỏi sau:
(1) Khái niệm về amin
(2) Amin có mấy bậc? Cách xác định bậc của amin?
(3) Cách gọi tên amin?
(4) Dự đoán tính chất hóa học của amin?
Hướng dẫn trả lời:
(1): Khi thay thế nguyên tử hiđro trong phân tử NH3 bằng gốc hiđrocacbon được
amin
(2): Amin có 3 bậc: amin bậc 1, amin bậc 2 và amin bậc 3.
Bậc của amin được tính bằng số gốc hiđrocacbon liên kết với nguyên tử nitơ
(3): Tên gọi:
Tên gốc – chức: Tên gốc hiđrocacbon tương ứng + amin
Tên thay thế: Tên ankan + vị trí + amin
(4): Amin có tính bazơ (tác dụng được với axit)
* HĐ: (Dạy bài 10 – Amino axit)
Công thức cấu tạo Tên thay thế Tên bán hệ
thống
Tên thường
Kí hiệu
H 2 NCH 2 COOH Axit 2 – amino
etanoic
Axit amino axetic Glyxin Gly
CH 3 CH(NH 2 )COOH Axit 2 - amino
propanoic
Axit - amino propionic
Alanin Ala
(CH 3 ) 2 CHCH(NH 2 )COOH
Axit 2 - amino – 3 – metylbutanoic
Axit
- amino isovaleric
H 2 N –[CH 2 ] 4 CH(NH2)COOH Axit
2,6 – điamino hexanoic
Axit
- điamino caproic
HOOCCH(NH 2 )CH2CH2COOH Axit
2- amino 1,5- đioic
penta-Axit -amino glutaric
Glutamic Glu
Bảng 2: Tên gọi của một số amino axit
Dựa vào bảng 2 Hãy hoàn thành các câu hỏi sau:
Trang 24(1) Khái niệm về amino axit?
(2) Tên gọi của amino axit?
(3) Cấu tạo phân tử của amino axit? Tính chất vật lý của các amino axit?
(4) Dự đoán tính chất hóa học của amino axit?
Hướng dẫn trả lời:
(1): Amino axit là loại hợp chất tạp chức, phân tử chứa đồng thời nhóm amino
(NH2) và nhóm cacboxyl (COOH)
(2): -Tên thay thế: Axit + số chỉ vị trí nhóm NH2 + amino+ tên thông thường của
axit cacboxylic tương ứng với mạch chính
- Tên bán hệ thống: Axit + chữ cái chỉ vị trí nhóm NH2 + amino+ tên hệ thống củaaxit cacboxylic tương ứng với mạch chính
Chữ cái Hi Lạp :
(3): –Cấu tạo phân tử: Phân tử aminoaxit có nhóm cacboxyl(COOH) thể hiện tính
axit, nhóm amin(NH2) thể hiện tính bazơ nên thường tương tác với nhau
Amino axit tồn tại dạng ion lưỡng cực, dạng này cân bằng với dạng phân tử quacân bằng sau:
H2N-R-COOH H3N+-R-COO
Tính chất vật lý : Do amino axit là những hợp chất ion lưỡng cực nên ở điều kiện
thường chúng là chất rắn kết tinh, dễ tan trong nước, nhiệt nóng chảy cao (4):Tính chất hóa học của aminoaxit: Tính chất lưỡng tính, tính axit-bazơ, phản
ứng este (phản ứng riêng của nhóm COOH), phản ứng trùng ngưng
2.2.2 Xây dựng câu hỏi, bài tập dạng quan sát và phân tích kết quả thí nghiệm.
* HĐ (Dạy bài 2 – Lipit)
Cho một lượng chất béo rắn (tristearin), vào bát sứ đựng dung dịch NaOH, đun sôi nhẹ hỗn hợp khoảng 30 phút đồng thời khuấy đều Để nguội hỗn hợp thu được hỗn hợp rắn đồng nhất Rót thêm 10- 15 ml dung dịch NaCl bão hòa vào hỗn hợp, khuấy nhẹ đó giữ yên hỗn hợp, thấy có lớp chất rắn màu trắng nhẹ nổi trên mặt nước đó là muối natri của axit béo.
Từ kết luận của thí nghiệm cho biết:
(1) Có phản ứng hóa học xảy ra trong kết quả thí nghiệm trên hay không? Nếu có
Trang 25*HĐ (Dạy bài 9 – Amin)
“Nhúng giấy quỳ tím vào dung dịch metylamin hoặc propylamin, màu của giấy quỳ tím chuyển thành xanh Nếu nhúng vào dung dịch anilin, quỳ tím không đổi màu” Hãy giải thích?
Hướng dẫn trả lời:
Các amin đều có tính bazơ, gốc R làm ảnh hưởng đến tính bazơ của amin.Nhóm ankyl có ảnh hưởng làm tăng mật độ electon ở nguyên tử nitơ do đó làm lựcbazơ tăng; nhóm phenyl (C6H5) làm giảm mật độ electron ở nguyên tử nitơ do đólàm giảm lực bazơ Nên dung dịch metylamin hoặc propylamin làm màu của giấyquỳ tím chuyển thành xanh, còn dung dịch anilin, không đổi màu quỳ tím
* HĐ (Dạy bài 10 – Amino axit)
Thực nghiệm: Nhúng giấy quỳ tím vào dung dịch glyxin thấy màu quỳ tím không đổi Nếu nhúng quỳ tím vào dung dịch axit glutamic thì màu quỳ tím chuyển sang màu hồng, còn trong dung dịch lysin, quỳ tím chuyển màu xanh Hãy giải
thích?
Hướng dẫn trả lời:
Amino axit có thể có tính axit, bazơ hoặc trung tính tùy thuộc vào số nhóm chức (- NH2) và (– COOH)
- Glyxin H2N – CH2 – COOH không làm quì tím đổi màu do có cân bằng
-Axit glutamic là quì tím hóa đỏ do có cân bằng
- Lysin làm quì tím hóa xanh do Lysin có cân bằng
Trang 262.2.3.Xây dựng câu hỏi, bài tập dạng hoạt động thực hành thí nghiệm.
* HĐ: (Dạy bài 1 – Este).
Khi đọc thông tin trên báo Enternews.vn về cách sản xuất xà phòng.” Từ thời cổxưa khi hóa học hữu cơ chưa ra đời con người cũng đã biết nấu xà phòng từ dầu
mỡ với các chất kiềm”
Bạn Hà thắc mắc tại sao lại điều chế được xà phòng bằng cách như vậy thì
An giải thích: “ Mỡ là một loại chất béo mà chất béo là hợp chất este Este có phản ứng thủy phân trong môi trường axit và môi trường kiềm Khi este thủy phân trong môi trường kiềm còn gọi là phản ứng xà phòng hóa”.
Bạn An đã làm thí nghiệm để giải đáp thắc mắc của bạn Hà
1.Bạn An tiến hành thí nghiệm với mục đích: Xác định tính chất hóa học của
-Cho vào 2 ống nghiệm mỗi ống 2 ml etylaxetat, sau đó thêm vào ống thứ nhất 1
ml dung dịch H2SO4 20% vào ống thứ hai 1 ml dung dịch NaOH 30%
- Lắc đều cả 2 ống nghiệm, lắp ống sinh hàn đông thời đun sôi nhẹ( có thể đuncách thủy) trong khoảng 5 phút
-Quan sát cả 2 ống nghiệm trước khi tiến hành thì nghiệm Sau khi kết thúc thínghiệm quan sát hiện tượng So sánh hiện tượng trước và sau khi làm thí nghiệmrồi rút ra nhận xét
Em hãy tiến hành thí nghiệm các bước trên như bạn An Rút ra kết luận.
*HĐ (Dạy bài 5 – Glucozơ)
Khi đọc tạp chí hóa học với cuộc sống trên mạng Internet Để nhận biết sự
có mặt của đường glucozơ trong nước tiểu, người ta có thể dùng dung dịchAgNO3/NH3 hoặc Cu(OH)2 để thử
Bạn Nam thắc mắc vì sao lại làm được như vậy thì Tuấn giải thích: “ Ở dạng mạch hở phân tử glucozơ có cấu tạo bởi một gốc anđehit và 5 gốc ancol do
Trang 27đó có thể phản ứng được với AgNO 3 /NH 3 (tính chất của chức anđehit) và phản ứng được với Cu(OH) 2 (tính chất của ancol đa chức)”.
Bạn Tuấn đã tiến hành thí nghiệm để giải đáp thắc mắc cho bạn Nam
Thiết kế thí nghiệm:
1 Bạn Tuấn tiến hành thí nghiệm với mục đích: Xác định tính chất hóa học của
glucozơ
2 Dụng cụ và hóa chất:
- Dụng cụ: Ống nghiệm (10 cái), ống hút, kẹp gỗ, giá, đèn cồn
- Hóa chất: Dung dịch CuSO4 0,5%, dung dịch NaOH 10%, dung dịch glucozơ 1%,dung dịch AgNO3 1%, dung dịch NH3
3 Cách tiến hành:
Thí nghiệm 1: Phản ứng của glucozơ với Cu(OH)2
Cho vào ống nghiệm vài giọt dung dịch CuSO4 0,5%, 1ml dung dịch NaOH 10%.Sau khi phản ứng xảy ra, gạn bỏ phần dung dịch dư, giữ lại kết tủa Cu(OH)2 Chothêm vào đó 2ml dung dịch glucozơ Lắc nhẹ ống nghiệm
Quan sát hiện tượng, giải thích và viết phương trình phản ứng hóa học xảy ra.Thí nghiệm 2: Phản ứng của glucozơ với dung dịch AgNO3 trong amoniac
Cho vào cùng một ống nghiệm sạch 1ml dung dịch AgNO3 1%, sau đó nhỏ từnggiọt dung dịch NH3 cho đến khi kết tủa vừa xuất hiện lại tan hết Thêm tiếp 1mldung dịch glucozơ 1% Đun nóng nhẹ
Quan sát hiện tượng, giải thích và viết phương trình phản ứng hóa học xảy ra
Em hãy tiến hành 2 thí nghiệm theo các bước trên như bạn Tuấn Rút ra nhận xét, kết luận về tính chất hóa học của glucozơ.
*HĐ (Dạy bài 6 - Saccarozơ, Tinh bột và xenlulozơ)
Khi xem bộ phim trên kênh VTV3 do Trung Quốc sản xuất thì An được biết:
Để viết thư mật thì người ta có thể dùng nước cơm hay cháo loãng viết lên tờ giấytrắng nét chữ sẽ có màu trắng như tờ giấy nhìn vào sẽ không thấy gì, để đọc đượcnội dung bức thư người ta dùng dung dịch iot
Bạn An thắc mắc tại sao lại làm được như vậy thì Nga giải thích:” Trong nước cơm hay cháo loãng có thành phần chính là tinh bột mà phân tử tinh bột hấp phụ iot tạo ra màu xanh tím Khi đun nóng, iot bị giải phóng ra khỏi phân tử tinh bột làm mất màu xanh tím đó Khi để nguội iot bị hấp phụ trở lại làm mất màu xanh tím Tính chất này dùng để nhận ra tinh bột bằng iot và ngược lại”.
Bạn Nga đã làm thí nghiệm để giải đáp thắc mắc của bạn An
1 Bạn Nga tiến hành thí nghiệm với mục đích: xác định tính chất hóa học của
tinh bột
Trang 282.Dụng cụ và hóa chất:
-Dụng cụ: Giá, ống nghiệm, ống hút, kẹp gỗ, đèn cồn
-Hóa chất: củ khoai lang hoặc dung dịch tinh bột, dung dịch iot
3.Cách tiến hành: Nhỏ dung dịch iot vào ống nghiệm đựng dung dịch hồ tinh bột
hoặc mặt cắt củ khoai lang
Quan sát hiện tượng, giải thích
Em hãy tiến hành thí nghiệm theo các bước như bạn Nga Rút ra nhận xét, kết luận
về tính chất hóa học của tinh bột
2.2.4 Xây dựng câu hỏi, bài tập dạng giải quyết các tình huống trong thực tiễn đời sống.
* HĐ (Dạy bài 2 – Lipit)
Bác Hoa vốn có thói quen chiên rán bất cứ thứ gì cũng phải ngập trong dầu
và số dầu thừa đó Bác thường giữ lại để lần sau chiên rán Chồng Bác thường nói Bác nên nấu ăn khoa học hơn Mỗi lần dùng nên lấy lượng vừa đủ không dùng lại lần sau nữa Nhưng vì thấy dầu chưa đen lại thừa nhiều quá nên Bác hay tiếc mà bảo là dùng lại 1-2 lần không sao hết Mới đây Bác được biết có người phụ nữ 30 tuổi ở Trung Quốc bị ung thư gan do thói quen dung dầu ăn không khoa học, Bác Hoa bắt đầu thấy lo lắng Giải thích vì sao không được dùng dầu ăn chiên đi chiên lại nhiều lần?
Hướng dẫn trả lời: Thành phần chính của dầu ăn là axit béo không no, gốc axit
béo không no này bị phá hủy bởi nhiệt độ, khi bị phá hủy các gốc axit béo không
no này bị oxi hóa thành anđehit, nhiệt độ càng cao chất này sinh ra càng nhiều,chất này có tác động xấu đến tế bào gan thận Nếu sử dụng liên tục dầu ăn chiên đichiên lại nhiều sẽ gây nên bệnh đặc biệt là bệnh ung thư
*HĐ ( Dạy bài 6 – Saccarozơ, Tinh bột và xenlulozơ)
Sáng hôm đó trong tiết học môn Hóa học, khi tiến hành thí nghiệm về axit nitric Do không cẩn thận Hoa đã làm té axit HNO 3 vào tà chiếc áo mình đang mặc.Khi đó Hoa quan sát không thấy có hiện tượng gì Đến chiều khi lấy áo đi giặt Hoa lại thấy chỗ áo lúc sang bị axit HNO 3 té vào bị thủng Hoa thắc mắc vì sao lại như vậy? Bằng hiểu biết của mình hãy giải thích giúp bạn
Hướng dẫn trả lời:
Quần áo chúng ta mặc được dệt bằng sợi bông, thành phần hóa học chínhcủa sợi bông là xenlulozơ Xenlulozơ không tan trong nước và đa số dung môikhác nhưng dễ tan trong axit HNO3 đặc nên làm thủng quần áo Chiếc áo Hoa mặccũng vậy được dệt bằng sợi bông Lúc đầu bạn không thấy áo bị thủng vì khi đónồng độ axit HNO3 còn loãng nhưng khi áo khô nồng độ axit ngày càng đặc cuốicùng sẽ làm thủng áo.(Xenlulozơ phản ứng được với axit HNO3 đặc)
Trang 29*HĐ (Dạy bài 6 - Saccarozơ, Tinh bột và xenlulozơ)
An thắc mắc: Gạo nếp và gạo tẻ đều có thành phần chính là tinh bột Nhưngkhi ăn xôi được nấu lên từ gạo nếp lại dẻo hơn cơm nấu lên từ gạo tẻ Bằng hiểubiết của mình em hãy giải thích giúp bạn?
Hướng dẫn trả lời:
Tinh bột là hỗn hợp không tách rời nhau của amilozơ và amilopectin,amilopectin là vỏ bọc nhân amilozơ Amilozơ có mạch dài xoắn lại tan trong nướccòn amilopectin có cấu trúc mạch phân nhánh hầu như không tan trong nước, trongnước nóng amilopectin trương lên thành hồ tinh bột Tính chất này quyết định tínhdẻo của tinh bột Trong hạt thông thường như gạo tẻ, ngô tẻ lượng amilopectinchiếm khoảng 80% còn lại là amilozơ Tinh bột trong gạo nếp, ngô nếp lượngamilopectin chiếm khoảng 98% nên rất dẻo
*HĐ (Dạy bài 9 – Amin)
Cứ mỗi lần mua cá về trước khi chế biến thành món ăn Bác Năm thường dùng giấm, chanh hay khế để rửa cá Bằng hiểu biết của mình em hãy giải thích vì sao bác Năm làm như vậy?
Hướng đẫn trả lời:
Thực chất cá có mùi tanh là do trong cá có chứa một chất có gốc amin có mùi vị
còn có một số amin khác như đimetylamin, metylamin Mà amin có tính bazơ BácNăm dùng chanh, giấm hay khế đều là các chất có tính axit để rửa sẽ làm giảm đimùi tanh của cá
*HĐ: (Dạy bài 14 – Vật liệu polime)
Cho hình ảnh và đoạn thông tin sau:
Trang 30“Hiện nay việc sử dụng túi nilon, đồ nhựa dùng một lần phổ biến trong đời sống sinh hoạt của con người Mặc dù đem lại sự tiện lợi, nhưng việc sử dụng các sản phẩm này ngày càng nhiều đang gây ra những tác hại rất lớn đến môi trường.
Ô nhiễm môi trường là một trong những vấn đề cấp bách hiện nay, nó đe dọa đến
đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu và nhiều hệ lụy khác mà con người phải gánh chịu Giáo dục cho mỗi người có ý thức bảo vệ môi trường-một giải pháp bảo vệ môi trường cho tương lai Đặc biệt là rác thải nhựa (chai nhựa, túi nilon, hộp đụng đồ ăn…) Rác thải nhựa là những vật nhựa chủ yếu là chất dẻo bị thải ra môi trường sau quá trình sử dụng Nếu không có biện pháp xử lý kịp thời thì chẳng mấy chốc môi trường sẽ ngập tràn rác thải nhựa.”
Hãy cho biết:
(1) Chất dẻo là gì?
(2) Tìm hiểu một số loại polime dùng làm chất dẻo?Ứng dụng?
(3).Ảnh hưởng của rác thải nhựa đến môi trường?
(4) Trách nhiệm của bản thân về sử dụng vật liệu polime có tính dẻo, việc tái sử
dụng và biện pháp thay thế để tạo môi trường?
Hướng dẫn trả lời:
(1): Chất dẻo là những vật liệu polime có tính dẻo
(2): Một số loại polime dùng làm chất dẻo:
PE là chất dẻo mềm, nóng chảy ở nhiệt độ trên 1100C, có tính “trơ tương đối” củaankan mạch không phân nhánh, được dùng làm màng mỏng, vật liệu điện, bìnhchứa,…