Phương pháp nghiên cứu đề tài Để hoàn thành đề tài, trong quá trình tiến hành nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp sau: Phương pháp thống kê Dựa trên những khảo sát cụ t
Trang 1KHOA NGỮ VĂN -
Trang 2KHOA NGỮ VĂN -
CẢM HỨNG SÁNG TÁC CỦA SƯƠNG NGUYỆT MINH
Đà Nẵng, tháng 05/2014
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thanh Trường Kết quả nghiên cứu là trung thực
và chưa có tài liệu nào công bố
Đà Nẵng, ngày 15 tháng 5 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Hà Thị Thương Trúc
Trang 4MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài 4
5 Bố cục khóa luận 5
PHẦN NỘI DUNG 6
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG 6
1.1 Cảm hứng sáng tác trong tác phẩm nghệ thuật 6
1.1.1 Quan niệm về cảm hứng sáng tác 6
1.1.2 Biểu hiện của cảm hứng sáng tác trong tác phẩm nghệ thuật 8
1.2 Cảm hứng chủ đạo trong truyện ngắn Việt Nam đương đại 10
1.2.1 Hướng đến phản ánh những vấn đề bình dị trong cuộc sống đời thường 10
1.2.2 Hướng về sự vận động trong đời sống nội tâm của con người 12
1.3 Truyện ngắn Sương Nguyệt Minh trong dòng cảm hứng sáng tác truyện ngắn đương đại 15
Chương 2 NHỮNG BIỂU HIỆN CẢM HỨNG SÁNG TÁC QUA TẬP TRUYỆN NGẮN CHỢ TÌNH 18
2.1 Về thiên nhiên 18
2.1.1 Thiên nhiên thơ mộng, đậm sắc màu 18
2.1.2 Thiên nhiên giao hòa với con người 21
2.2 Về con người 25
2.2.1 Con người cô đơn trước quy luật hiện tồn 25
2.2.2 Con người thức tỉnh trong bản thể tự nhiên 31
2.2.3 Con người mang khát vọng nhân tính 34
Trang 53.1 Xây dựng nhân vật qua miêu tả ngoại hình và tâm lí 38
3.1.1 Ngoại hình nhân vật – Sự khắc họa chân dung 38
3.1.2 Diễn biến tâm lí – Sự thể hiện tính cách 41
3.2 Không – thời gian nghệ thuật 45
3.2.1 Không – thời gian sinh hoạt đời thường 45
3.2.2 Không – thời gian tâm lí 49
3.3 Ngôn ngữ 52
3.3.1 Ngôn ngữ nhân vật 53
3.3.2 Ngôn ngữ người kể chuyện 55
3.4 Giọng điệu 59
3.4.1 Giọng điệu trữ tình, đậm chất thơ 60
3.4.2 Giọng điệu triết lý, suy tư 62
KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Cảm hứng là một trong những yếu tố đầu tiên của quá trình sáng tạo nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng Là một trong những thành phần nội dung cấu thành nên tác phẩm văn học, cảm hứng sáng tác luôn là đối tượng được các nhà lí luận, nghiên cứu, phê bình quan tâm
Trong dòng chảy văn học dân tộc, truyện ngắn đương đại ngày càng đáp ứng được những yêu cầu thẩm mĩ và thị hiếu của độc giả Minh chứng rõ nhất cho sự lên ngôi của truyện ngắn chính là sự xuất hiện hàng loạt những gương mặt như: Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Minh Châu, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Nguyễn Ngọc Tư… Nhà văn Sương Nguyệt Minh là một trong số đó
Chợ tình của Sương Nguyệt Minh là tập truyện ngắn lấy cảm hứng từ
cuộc sống thời hậu chiến Chiến tranh đã lùi xa, con người đã không còn phải vật lộn với mưa bom bão đạn mà được trở về với cuộc sống thường nhật, một cuộc sống “vốn lắm nỗi buồn nhưng chẳng bao giờ thiếu niềm vui” Con người giờ đây ngoài đi tìm lại bản ngã đã đánh rơi còn hướng về cội nguồn dân tộc với những nét đẹp của văn hóa truyền thống và hòa mình vào thiên nhiên vạn vật Tất cả là đều là nguồn cảm hứng bất tận để Sương Nguyệt Minh tạo nên những thành phẩm nghệ thuật đầy sáng tạo
Thực hiện nghiên cứu đề tài “Cảm hứng sáng tác của Sương Nguyệt
Minh qua tập truyện ngắn Chợ Tình” sẽ giúp chúng tôi có thêm nhiều hiểu
biết về thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn của nhà văn cũng như góp phần khẳng định vị trí và những đóng góp của Sương Nguyệt Minh cho truyện ngắn đương đại
Trang 72 Lịch sử vấn đề
Với “sức đàn ông lực điền trên cánh đồng chữ nghĩa” [27], các sáng tác của Sương Nguyệt Minh đã tạo ra một làn sóng dư luận sôi nổi trong giới nghiên cứu phê bình và thu hút được sự quan tâm của nhiều độc giả Trong khuôn khổ của đề tài, chúng tôi chỉ giới thiệu những công trình, bài viết tiêu
biểu liên quan đến phạm vi nghiên cứu:
Trong bài Sự cố vạ chữ của nhà văn Sương Nguyệt Minh, nhà văn Hồ Phương khi đọc truyện Nỗi đau dòng họ - một truyện ngắn nằm trong tập Chợ
tình đã bộc bạch: “Mình đọc truyện thấy có mùi, có vị Truyện đầu tay, nhưng
cảm thấy đã rõ hình hài cốt cách một người viết chuyên nghiệp trong đó ” [29]
Nhà văn Tạ Duy Anh trong bài Sương Nguyệt Minh giữa thế giới hư
thực khi nói về tác động của những trải nghiệm đời thực trong truyện ngắn
của Sương Nguyệt Minh, ông cho rằng “Sương Nguyệt Minh đi nhiều, thích trải nghiệm, đam mê quan sát và những phẩm chất đó khiến văn của ông khoáng đạt, giầu chất thơ, tiềm tàng nhiều nội lực Tính cách mạnh mẽ, khí khái, nghiêm túc với vốn ngôn ngữ phong phú cho ông có một giọng văn vừa buông tuồng, nhấn nhá kiểu dân dã vừa nghiêm cẩn, cốt cách.” Bàn thêm về
Những vùng trời của họ thì tác giả bài viết cho đây “là một truyện ngắn đầy
tính bi kịch của một hài kịch nhân thế…” [23]
Nguyễn Hữu Quý gọi những nhà văn như Sương Nguyệt Minh, Nguyễn Bình Phương là “lớp đàn anh trong đội ngũ nhà văn quân đội xuất hiện sau 1975” và kết luận: “lớp nhà văn quân đội sau năm 1975 đã có những đóng góp vào nền văn học đổi mới của nước nhà với những tên tuổi nổi bật như Nguyễn Bình Phương, Trần Anh Thái, Sương Nguyệt Minh, Nguyễn Đình
Tú Đỗ Bích Thúy, Phạm Duy Nghĩa ” [28] Có cùng ý kiến này, tác giả
Nguyễn Văn Hùng trong bài viết Truyện ngắn về đề tài lịch sử từ đầu thế kỉ
Trang 8XX đến nay – đôi nét phác thảo cũng gọi những nhà văn như Sương Nguyệt
Minh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Huy Thiệp… là “những cây bút đàn
anh đàn chị đã khẳng định được phong cách của mình trên văn đàn” [26]
Trong bài Phụ nữ làng quê hiện đại trong truyện Sương Nguyệt Minh,
Trịnh Minh Hiếu viết: “Bằng nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật tinh tế sắc sảo, cái nhìn đôn hậu yêu thương, nhà văn Sương Nguyệt Minh đã đi sâu vào những trạng thái tâm lý, các góc khuất trong tâm hồn phong phú, đa cảm của phụ nữ chân quê” [25] Tác giả bài viết cũng nhận định Sương Nguyệt Minh
đã “đi sâu vào tâm trạng phức tạp của những cô gái nông thông mơ ước được
thay đổi cuộc sống, được thoát khỏi cảnh chân lấm tay bùn (Đi qua đồng
chiều; Mây bay cuối đường; Những bước chân vào đời; Sao băng lúc mờ tối)”
[25]
Nhìn chung các công trình nghiên cứu và các bài viết trên đã đi vào đánh giá một số phương diện nội dung và hình thức truyện ngắn Sương Nguyệt Minh Tuy nhiên vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống
về đề tài “Cảm hứng sáng tác của Sương Nguyệt Minh qua tập truyện ngắn
Chợ tình” Đây chính là lí do chúng tôi chọn đề tài này làm đề tài khóa luận
tốt nghiệp
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là “Cảm hứng sáng tác của Sương Nguyệt Minh
qua tập truyện ngắn Chợ tình” được thể hiện qua các bình diện: những biểu
hiện của cảm hứng sáng tác và các phương thức thể hiện cảm hứng sáng tác
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là tập truyện ngắn Chợ tình do nhà xuất
bản Hội nhà văn ấn hành vào năm 2007 và một số sáng tác khác của Sương
Nguyệt Minh
Trang 94 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Để hoàn thành đề tài, trong quá trình tiến hành nghiên cứu, chúng tôi đã
sử dụng một số phương pháp sau:
Phương pháp thống kê
Dựa trên những khảo sát cụ thể về cảm hứng sáng tác của Sương Nguyệt
Minh qua các truyên ngắn trong tập Chợ tình, phương pháp thống kê giúp
người nghiên cứu tổng hợp được những dẫn chứng minh chứng cho các đánh giá nhận định của mình Với việc khảo sát, thống kê các truyện ngắn trong tập truyện và một vài những truyện ngắn khác của nhà văn Sương Nguyệt Minh, người nghiên cứu có thêm điều kiện để quá trình nghiên cứu diễn ra một cách
có hệ thống
Phương pháp phân tích, tổng hợp
Đây được xác định là phương pháp cơ bản để người nghiên cứu đi sâu khám phá đề tài Do mục đích của đề tài nên mức độ phân tích ở từng truyện ngắn có sự chênh lệch Người nghiên cứu đã dựa vào những biểu hiện của cảm hứng sáng tác trong tác phẩm nghệ thuật để đi vào tìm hiểu sự xuất hiện
và tác dụng của chúng trong các truyện ngắn nằm trong tập Chợ tình Từ đó,
rút ra những nhận xét có tính tổng hợp, khái quát, làm nổi rõ vấn đề nghiên cứu
Phương pháp so sánh, đối chiếu
Khi nghiên cứu cảm hứng sáng tác của Sương Nguyệt Minh qua những
truyện ngắn nằm trong tập Chợ tình người nghiên cứu có sự đối chiếu, so
sánh với cảm hứng sáng tác trong từng truyện với nhau và với một số truyện ngắn của các văn nghệ sĩ khác để thấy được sự khác nhau giữa tác giả và họ,
từ đó góp phần khẳng định phong cách của nhà văn
Trang 105 Bố cục khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và thư mục Tài liệu tham khảo, phần
Nội dung của khóa luận gồm các chương sau:
- Chương 1 Cơ sở lí luận chung
- Chương 2 Những biểu hiện cảm hứng sáng tác qua tập truyện ngắn
Chợ tình
- Chương 3 Một số phương thức thể hiện cảm hứng sáng tác qua tập
truyện ngắn Chợ tình
Trang 11PHẦN NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG 1.1 Cảm hứng sáng tác trong tác phẩm nghệ thuật
1.1.1 Quan niệm về cảm hứng sáng tác
Xuất hiện lần đầu tiên trong triết học cổ Hi Lạp, cảm hứng sáng tác mặc
dù đã được nhiều nhà nghiên cứu mở rộng và phát triển song khái niệm này cho đến nay vẫn chưa được thống nhất Tuy nhiên chính điều này cũng lại góp phần rất lớn vào sự phong phú của kho tàng lí luận văn học nhân loại Mặc dù còn chưa được thống nhất hoàn toàn, song quan niệm cảm hứng sáng tác hiện
có một vài cách hiểu sau:
G.N.Pôpêlôp trong cuốn Dẫn luận nghiên cứu văn học đã cho rằng cảm
hứng là từ mà nhà văn dùng để chỉ “trạng thái hưng phấn cao độ của cuộc sống mà họ miêu tả” [15;tr.141] Ông còn viết: “Sự lí giải, đánh giá sâu sắc và chân thực – lịch sử đối với các tính cách được miêu tả vốn nảy sinh từ ý nghĩa dân tộc khách quan của các tính cách ấy là cảm hứng tư tưởng sáng tạo của nhà văn và của tác phẩm của nhà văn” [15;tr.141]
Trong Lí luận văn học, vấn đề và suy nghĩ Nguyễn Văn Hạnh và Huỳnh
Như Phương cho rằng: “Cảm hứng là sự thiết tha và nhiệt tình nồng cháy gợi nên bởi một tư tưởng nào đó… Cảm hứng biến sự nhận thức của trí tuệ về một tư tưởng nào đó trở thành lòng say mê đối với tư tưởng đó, trở thành năng lượng và thành khát vọng nồng nhiệt” [5;tr.208 – 209]
Nói về mối quan hệ chặt chẽ giữa cảm hứng sáng tác, tư tưởng của nhà văn và sự tiếp nhận của độc giả, nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,
Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học cho rằng cảm hứng là
“trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn
Trang 12với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm” [4; tr 44 - 45]
Trong cuốn Lí luận văn học do Phương Lựu chủ biên khi nghiên cứu
cảm hứng sáng tác ở quá trình vận động và phát triển, các tác giả đã khám phá
ra rằng: “Cảm hứng là trạng thái tâm lí căng thẳng nhưng say mê khác thường Sự căng thẳng của ý chí và trí tuệ, sự dồi dào về cảm xúc khi đã đạt đến sự hài hòa kết tinh sẽ bùng cháy trong tư duy nghệ thuật của nhà văn dẫn dắt họ đến những mục tiêu da diết bằng con đường gần như trực giác, bản năng” [12; tr.210] Nhà nghiên cứu còn nói thêm “Cảm hứng sáng tác là một thứ vô thức, phi lí mà nhà văn không thể tự chủ, tự giác được” [12; tr.210]…
“cảm hứng trong tác phẩm phải phục tùng quy luật tình cảm là phải khêu gợi, khơi mở chứ không thẳng đuột một chiều” [12; tr.270]
Tác giả Nguyễn Quýnh trong Từ di sản khi nói về cảm hứng thì ví nó với
hiện tượng tự nhiên: “Người như sông biển, chữ như nước, hứng thì như gió Gió thổi tới sông biển cho nên nước lay động làm thành gợn, thành sóng, thành ba đào Hứng chạm vào người ta cho nên chữ nổi dậy, không thể nín được mà sinh ra ở trong lòng, ngâm vịnh ở ngoài miệng, viết nên ở bút nghiên, giấy mực Gió không bám vào chỗ nào nhất định, hứng cũng biến động, không ở yên… Có người nói: Tâm người ta như chuông, như trống; hứng như chày và dùi Hai thứ đó gõ, đánh vào chuông, trống khiến chúng phát ra tiếng, hứng đến khiến người ta bật ra thơ, cũng tương tự như vậy” [19;tr.109]
Như vậy, cảm hứng là một trạng thái, một quy luật của tình cảm Nó bắt nguồn từ tình cảm và chịu sự chi phối của tình cảm người nghệ sĩ Cảm hứng sáng tác trong tác phẩm thể hiện tư tưởng của nhà văn, chủ đề của chính tác phẩm đó Nó là trạng thái tâm lí đặc biệt, là sự hưng phấn cao độ để kích thích
Trang 13sự sáng tạo của người nghệ sĩ từ đó làm cái gốc để tạo nên phong cách của nhà văn cũng như phong cách của tác phẩm văn học
1.1.2 Biểu hiện của cảm hứng sáng tác trong tác phẩm nghệ thuật
Cảm hứng trong tác phẩm nghê thuật bắt nguồn từ cuộc sống Nhà
nghiên cứu phê bình Phương Lựu khi nói đến mối quan hệ giữa văn học và hiện thực đời sống đã cho rằng: “Bất kì nền văn nghệ nào cũng hình thành trên một cơ sở hiện thực nhất định Bất kì một nghệ sĩ nào cũng thoát thai từ một môi trường sống nào đó Bất kì một tác phẩm nào cũng là sự khúc xạ từ những vấn đề trong cuộc sống” [13;tr.81] Cuộc sống bên ngoài chính là nguồn cảm hứng bất tận cho sự ra đời của các tác phẩm nghệ thuật Chúng được khúc xạ qua lăng kính của người nghệ sĩ rồi chịu sự nhào nặn, chi phối của lí trí lẫn tình cảm của họ và đi vào tác phẩm, trở thành hình tượng được
phản ánh trong đó Từ việc ghi lại những biến cố lớn lao của lịch sử bằng cảm
hứng anh hùng ca, văn học đặc biệt là truyện ngắn sau 1975 dần chuyển mình sang phản ánh những vấn đề bình dị, đời thường trong cuộc sống Truyện
ngắn Bước qua lời nguyền Tạ Duy Anh xoáy sâu vào những mối hận thù
truyền kiếp và những bi kịch mà nó để lại trong đời sống tinh thần của mỗi người dân làng Đồng Nhỏ là mối thù giữa hai gia đình của nhân vật tôi và nhân vật Quý Anh, lớn là mối thù giữa hai giai cấp địa chủ và nông dân trong
xã hội cũ Niềm hi vọng về một ngày mai tươi sáng của làng Đồng - nơi không còn những hận thù tăm tối, được tác giả gửi vào hai nhân vật tôi và Quý Anh Cùng với thời gian, tình yêu của họ đã chiến thắng hận thù để đươm hoa kết trái Bằng ngồn cảm hứng đó, nhà văn đứng trên lập trường của một người trí thức tiến bộ trong xã hội mới đi sâu, nói nhiều về những hận thù dai dẳng với mong muốn có thể xoa dịu những nỗi đau, hàn gắn những vết thương và xích gần khoảng cách giữa con người và con người
Trang 14Cảm hứng trong tác phẩm nghệ thuật biểu hiện ở vấn đề Trong Vân đài loại ngữ Lê Quý Đôn từng nói đến ba yếu tố quan trọng cấu thành nên tác
phẩm văn học “… Một là tình, hai là cảnh, ba là sự Trong lòng có cảm xúc thật sự rung lên thành lời, thực tế bên ngoài gây thành ý rồi dùng lời lẽ, điển tích để nói việc ngày nay, ghi việc ngày xưa hay thuât lại truyện hiện tại đều
tự nhiên, có tinh thần… Tình là người, cảnh là tự nhiên, sự là hợp nhất cả trời
và đất Lấy tình tham cảnh, lấy cảnh hội việc, gặp việc thì nói ra lời, thành tiếng Như vậy cảnh không hẹn mà tự đến, nói không mong mà tự hay…” Một tác phẩm văn học có giá trị và có sức sống vượt thời gian phải là tác phẩm chứa đựng trong đó tính vấn đề, tính “việc” Vấn đề mà nó thể hiện có thể là vấn đề của một quốc gia, một dân tộc, một tập thể, một cộng đồng hay cũng có thể là vấn đề của một cá nhân mang tầm vóc vĩ mô hay mang dáng dấp của thời đại mà anh ta đang tồn tại Sau thắng lợi lịch sử năm 1975, thay bằng cảm hứng anh hùng ca, Nguyễn Minh Châu đi sâu vào khai thác cảm
hứng bi kịch trong đời sống thường ngày Chiếc thuyền ngoài xa là truyện
ngắn được viết bằng nguồn cảm hứng đó Đằng sau bức ảnh đẹp về cuộc sống
và người lao động trên biển mà Phùng chụp được là cả một bức tranh đầy nước mắt về cuộc sống của gia đình người đàn bà làng chài Nhà văn đã đặt ra vấn đề cách nhìn nhận và đánh giá về con người cũng như cuộc sống thời hiện đại Ở đó, chỉ có cái nhìn đa diện nhiều chiều và lòng đồng cảm, sẻ chia, con người ta mới có thể phát hiện được vẻ đẹp thật sự của cuộc sống xung quanh
Ở đó chỉ khi ta đặt mình vào vị trí của người đối diện, ta mới có thể hiểu và cảm thông cho họ
Cảm hứng trong tác phẩm nghệ thuật được thể hiện bằng ngôn ngữ và các thủ pháp nghệ thuật Văn học là loại hình nghệ thuật lấy ngôn từ làm chất
liệu để phản ánh hiện thực cuộc sống Bởi vậy nên thể hiện cảm hứng của nhà văn chứa đựng trong tác phẩm cũng được xem như là chức năng của ngôn
Trang 15ngữ và các thủ pháp nghệ thuật Ví như để thể hiện được cảm hứng triết luận
trong truyện ngắn Hậu thiên đường, để người đọc có thể hiểu được quy luật
nhân sinh từ cái nhìn hàng ngày, Nguyễn Thị Thu Huệ đã sử dụng những từ ngữ đời thường, mang tính chất suy nghiệm, triết lí, có sức lay động tâm hồn độc giả Cùng với đó thì giọng điệu trong truyện có chút trầm buồn hệt như một tiếng thở dài chứa đựng bao nỗi niềm trăn trở của người mẹ về tình yêu thương và trách nhiệm của mình với con gái Bên cạnh ngôn ngữ, giọng điệu thì một số thủ pháp nghệ thuật khác cũng góp phần không nhỏ trong việc thể hiện cảm hứng triết luận của nhà văn về cuộc sống xung quanh
Có rất nhiều loại cảm hứng mà người nghệ sĩ có thể chọn lựa trong quá trình thai nghén và sáng tạo một tác phẩm nghệ thuật nói chung và văn học nói riêng Cũng có không ít sáng tác được viết trên nền nhiều nguồn cảm hứng khác nhau Song đằng sau một sáng tạo nghệ thuật đích thực luôn có một dòng cảm hứng chủ đạo, xuyên suốt toàn bộ tác phẩm và có mối liên hệ chặt chẽ với các cảm hứng khác trong đó Sự kết hợp này vừa tạo được nét riêng cho từng đứa con tinh thần của người nghệ sĩ mà lại vừa nâng cao giá trị của tác phẩm
1.2 Cảm hứng chủ đạo trong truyện ngắn Việt Nam đương đại
1.2.1 Hướng đến phản ánh những vấn đề bình dị trong cuộc sống đời thường
Xuất phát từ nhu cầu khám phá bản thân và cuộc sống ở cái nhìn đa diện, nhiều chiều, thay vì những tác phẩm viết dưới sự chi phối của cảm hứng hướng đến những vấn đề vĩ mô như trong giai đoạn trước đó truyện ngắn sau
1975 thu mình lại trong những vùng cảm hứng ở phạm vi hẹp hơn hướng đến những điều bình dị của cuộc sống thường nhật Những vấn đề được khai thác
ở chiều sâu thay vì mở rộng phạm vi phản ánh
Trang 16Khi người ta trẻ của Phan Thị Vàng Anh là câu chuyện được lấy cảm
hứng từ những người trẻ tuổi trong cuộc sống hiện nay Với lối sống gấp gáp
và hời hợt, cách nghĩ, cách làm, cách yêu và cách quan niệm đều khác xa hoàn toàn so với những thế hệ đi trước, cuộc sống này với họ chỉ là sự tẻ nhạt buồn chán Trên nền cảm hứng ấy, nhà văn đã đi vào khai thác những biến chuyển tâm lí cũng như cách ứng xử của nhân vật Xuyên đối với các sự việc xảy ra xung quanh cô Từ đó mang đến cho độc giả một cách lí giải, hợp lí hóa những việc Xuyên làm, những suy nghĩ của Xuyên, cách ứng xử của cô trước các sự việc Đó chính là tuổi trẻ Mỗi người đọc khi đến với truyện ngắn này đều phần nào tìm thấy bản thân mình trong đó Bởi ai cũng có một thời trẻ, một thời ngây dại, một thời sai… để rồi từ đó tìm ra ý nghĩa đích thực của cuộc sống và nhận ra giá trị của chính mình
Những va chạm đời thường giữa những con người không cùng thế hệ là
một trong những vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thời hậu chiến Tướng về
hưu của Nguyễn Huy Thiệp là truyện ngắn được khơi nguồn sáng tạo từ đó
Câu chuyện xoay quanh nhân vật ông Thuấn – một con người nhưng lại cô đơn lạc loài trong chính thế giới người Trong khoảng thời gian từ lúc ông về hưu đến khi ông qua đời, ở chính ngôi nhà của mình, sống với gia đình mình nhưng ông Thuấn không thể bắt nhịp được với cuộc sống của thời hện đại Những va chạm nảy sinh và kéo dài cho đến khi ông mất Ông trở thành một sinh vật lạ, lạc lõng và đơn độc giữa cuộc đời
Trong thời khắc chuyển mình của lịch sử, xã hội phải đối mặt với nhiều thách thức nảy sinh, văn học cũng vì thế mà có nhiều thử thách không nhỏ Làm sao để có thể ghi lại những chuyển động tinh tế của đời sống xã hội trong thời khắc lịch sử này là một câu hỏi lớn cho sự tìm tòi, sáng tạo của các văn nghệ sĩ Chính vì vậy cảm hứng anh hùng ca, cảm hứng lãng mạn trong văn học giai đoạn trước đã dần nhường chỗ cho cảm hứng đời tư - thế sự, và
Trang 17một vài cảm hứng khác như cảm hứng phê phán hay cảm hứng triết luận Với quan niệm “nhà văn phải đứng hai chân giữa mặt đất đầy hiểm họa, giữa thập loại chúng sinh” (Nguyễn Minh Châu) các văn nghệ sĩ viết truyện ngắn lúc bấy giờ bằng nguồn cảm hứng phong phú và cái nhìn đa diện nhiều chiều
đã tái hiện một cách chân thực và sinh động những biến chuyển tinh vi của đời sống đưa đến cái nhìn chân thực cho độc giả đương thời
1.2.2 Hướng về sự vận động trong đời sống nội tâm của con người
Văn xuôi, nhất là truyện ngắn từ sau 1975 đã bắt đầu đi vào quá trình
“đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn chương minh họa” (Nguyễn Minh Châu) Tuy nhiên, nó vẫn chỉ được xem là “cái đương đại chưa hoàn thành” [2;tr.9] Phải từ những năm 80 trở về sau, đặc biệt là sau năm 2000, nhìn vào truyện ngắn nói riêng và văn xuôi nói chung người ta mới thấy được sự đổi mới rõ rệt trên cả hai bình diện là nội dung phản ánh và nghệ thuật thể hiện, mang lại một diện mạo mới cho văn đàn Lúc bấy giờ lịch sử đã bước sang một trang mới, kéo theo đó là hàng loạt những thay đổi trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng cũng không nằm ngoài dòng chảy đó Lấy cảm hứng từ sự thay đổi của tư duy con người
mà truyện ngắn dần đi sâu vào các ngõ ngách của tâm hồn họ để khai thác những vấn đề phức tạp trong tâm tư, tình cảm của họ trước sự xoay vần của
cuộc sống Trong bài Đổi mới văn học vì sự phát triển, Vũ Tuấn Anh khẳng
định: “Đối tượng nghiên cứu và khám phá của văn học không chỉ là xã hội mà
còn là con người với tất cả sự phức tạp và bí ẩn của nó” Văn học lúc này đây
“chuyển từ tính thống nhất, một khuynh hướng cảm hứng sang tính nhiều khuynh hướng” [2;tr.7] trở về với đúng bản chất của nó, là tiếng nói đại diện cho bản ngã con người
Nếu như văn chương giai đoạn 1945 – 1975 khai thác con người dưới góc nhìn của chủ nghĩa anh hùng, tập thể; Số phận và đời tư của họ đều gắn
Trang 18liền với vận mệnh của đất nước; Tình yêu của họ cũng hướng tới lí tưởng của
cả một cộng đồng dân tộc như Nguyệt và Lãm thì khi đến với con người trong văn học sau 1975 ta sẽ thấy họ được soi chiếu dưới góc nhìn của giới tính, số phận, của quyền lợi vật chất, tinh thần, quyền bình đẳng và sự tự do cho mỗi cá nhân Họ có những trăn trở không hẳn là nỗi lo cơm áo, gạo tiền như những con người trước Cách mạng, cũng không phải là những nỗi lo về
sự tồn vong của quốc gia, dân tộc như trong hai cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mĩ… Họ trăn trở vì bản thân, vì khát vọng sống là chính mình, khát vọng khẳng định cái tôi bản ngã Văn xuôi, đặc biệt là truyện ngắn Việt Nam từ sau năm 2000 đã đi sâu phản ánh được sự biến chuyển trong ý thức hệ của con người thời đại mới Họ bắt đầu sống là chính họ với những
nỗi lo, những khát khao, những mong muốn rất Đời và rất Người
Người ta thấy hình ảnh lão Khúng với khuôn mặt hằn bao vết tích của thời gian đang cùng con khoang đen dắt díu nhau, lê những bước chân chậm
rãi ra chợ trong Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu Lão đi bán con bò,
bán người bạn đời của lão Câu chuyện tưởng chừng như chỉ có vậy thôi nhưng đã để lại trong lòng độc giả bao đắn đo, suy nghĩ Phải chăng đó chỉ là câu chuyện về một số phận đã an bài của một con bò? Những tâm tư, suy nghĩ của lão Khúng trên đường dắt con bò ra chợ liệu chỉ dành cho một thứ vật nuôi trong nhà? Và kết thúc của truyện khi con bò quay về lại với gia đình lão Khúng liệu đã phải là một kết thúc có hậu? Truyện đã mở ra cho người đọc những cái nhìn mới mẻ về cách đối nhân xử thế trong cuộc sống hiện đại Đó cũng chính là nguồn sáng để Nguyễn Minh Châu dệt nên những dòng suy nghĩ miên man chảy tràn trong tâm hồn lão Khúng
Trong Người của mỗi người, Dạ Ngân viết về nỗi niềm của người mẹ
tuổi đã xế chiều trước sự khước từ trách nhiệm của những đứa con Người mẹ
đã tảo tần một đời để nuôi dạy những đứa con khôn lớn và trưởng thành, cho
Trang 19đến lúc chết vẫn một lòng hi sinh vì các con Bà đã đắn đo, cân nhắc để chọn lựa cho mình một cái chết mà không làm liên lụy đến những đứa con Những đấu tranh trong suy nghĩ của người mẹ đã được Dạ Ngân ghi lại một cách chân thực và tỉ mỉ, gợi lên cho người đọc những suy tư, trăn trở về giá trị của cuộc sống đương thời, về tình mẫu tử và về cách hành xử của con cái đối với các bậc sinh thành
Những diễn biến tâm lý của Nương trong Cánh đồng bất tận của Nguyễn
Ngọc Tư chỉ là con đường độc mộc trước sự trêu ngươi của số phận nghiệt ngã Nhân vật của Nguyễn Ngọc Tư trong cả quá trình sống dường như chỉ có một mình Một mình lớn lên Một mình khóc Một mình chịu đựng Một mình đau khổ Và rồi kết thúc truyện là hình ảnh Nương với sự mường tượng về một hình hài nhỏ bé đang lớn dần trong mình cô Những suy nghĩ về một ngày mai xa xăm trong Nương hệt như hình ảnh cánh đồng bất tận cứ nối dài, nối dài miên man vô tận Những trang văn mộc mạc, chân chất ấy được khơi nguồn từ chính cuộc sống, con người và đặc biệt là nền văn hóa sông nước của những người dân miền Tây Nam Bộ
Bên cạnh những sáng tác của Nguyễn Minh Châu (Chiếc thuyền ngoài
xa) thì Dạ Ngân (Nhìn từ phía khác), Y Ban (I am đàn bà), Võ Thị Hảo (Dây neo trần gian), Tạ Duy Anh (Bước qua lời nguyền), Phạm Thị Hoài (Năm ngày), Nguyễn Thị Thu Huệ (Thành phố đi vắng), Phan Thị Vàng Anh (Hoa muộn), Đỗ Hoàng Diệu (Bóng đè) … là những gương mặt tiêu biểu, góp phần
không nhỏ vào sự trở mình ngoại mục của văn xuôi giai đoạn này
Hiện thực ngổn ngang về đời sống nội tâm của con người sau bao nhiêu năm phải giấu đi vì chiến tranh giờ đã lại có thể rực cháy trong tâm hồn của người nghệ sĩ Có cái lúng túng, cái vụng về trong thể hiện những cảm xúc suy nghĩ từ tận sâu đáy lòng của các nhân vật Song đó mới chính là những gì vốn có, là những thứ thuộc về bản chất của cuộc sống con người Từ con
Trang 20người của đám đông, của cộng đồng tập thể đến với con người sống với những nỗi niềm của bản thân, vui theo cách mình vui và buồn theo cách của mình, là cả một quá trình vận động trong ý thức nghệ thuật của nhà văn, gắn liền với cảm hứng sáng tạo của họ được ghi dấu trong từng tác phẩm
1.3 Truyện ngắn Sương Nguyệt Minh trong dòng cảm hứng sáng tác truyện ngắn đương đại
Sương Nguyệt Minh từng nói: “Nhà văn là người sáng tạo không ngừng như dòng sông chảy liên tục chở nặng phù sa tươi tốt bồi đắp cho bờ bãi, ruộng đồng Dòng sông không chảy là sông lấp, sông chết Nhà văn ngừng sáng tạo là nhà văn rơi vào lãng quên trong lòng bạn đọc Tự mình thỏa mãn, nhấm nháp quả ngọt của quá khứ cũng tệ hại như viết mà lặp lại mình Nó là
sự trì trệ, ì ra, đứng lại, không phát sinh, phát triển Đổi mới sáng tác trước hết
là khác với cái mình đã viết, còn vượt qua những tác phẩm cũ của mình thì lại càng khó khăn, nhọc nhằn hơn Nó là cuộc nhà văn thi đấu ma ra tông khắc nghiệt với chính mình Nhà văn luôn phải khác biệt mới không lẫn vào đám đông làng văn” [30] Trong dòng cảm hứng đời tư – thế sự, kế thừa và phát huy thành công của những nhà văn đi trước, truyện ngắn của ông tiếp tục đi sâu vào khai thác những ngõ ngách của cuộc sống đời thường, nói về những thay đổi của con người thời hậu chiến trước sự thay da đổi thịt hàng ngày của đất nước
Từng là người cầm súng, Sương Nguyệt Minh thấu hiểu những đau thương mất mát mà cuộc chiến tàn khốc đã để lại cho quân và dân ta Trong những tác phẩm viết về chiến tranh và hậu quả mà nó để lại, tác giả tập trung phản ánh những bi kịch mà những người ở chốn hậu phương phải gánh chịu
Đó là hình ảnh người vợ mòn mỏi chờ chồng, cha mẹ chết mòn vì mong con
(Đêm làng Trọng Nhân), là tình yêu mới chớm nở chưa kịp nói đã phải chia
xa (Quãng đời xưa in dấu), là phút giây vội vàng trao gửi một lần để mãi không gặp lại trong thương nhớ, day dứt (Ngày xưa nơi đây là cửa rừng), là hình ảnh những đứa con sinh ra không đủ hình hài (Mười ba bến nước)…
Trang 21Những mất mát, đau thương đó mới chính là gương mặt thật đáng sợ của chiến tranh Được viết trong sự đan xen của cảm hứng ngợi ca và cảm hứng bi kịch, những truyện ngắn ấy của Sương Nguyệt Minh đã thật sự cho người đọc cái nhìn mới hơn, khác hơn, nhân bản hơn và thật hơn về đề tài chiến tranh đưa đến cho họ sự nhận thức đúng đắn về cuộc chiến tranh lịch sử của dân tộc
Những tập truyện như Đêm làng Trọng Nhân, Người ở bến sông Châu,
Đi qua đồng chiều, Mười ba bến nước, Chợ tình là tập hơp của những truyện
ngắn được khơi dòng cảm xúc từ “không gian làng quê với những con người mộc mạc, nghĩa tình mà bộn bề những bi kịch trước sự tấn công của cơ chế thị trường với tấm lòng lo âu của một người con nặng tình với quê hương” [36] Đọc từng trang truyện ngắn của ông, chúng ta có dịp được cùng trải nghiệm với những điều bình dị nhất trong cuộc sống đời thường Đó có thể là
ánh hoàng hôn lúc chiều muộn (Hoàng hôn màu cỏ biếc), là ánh trăng quê lung linh mờ tỏ (Sao băng lúc mờ tối), là giếng làng nơi bén duyên cho những chàng trai cô gái mới lớn (Đi qua đồng chiều), cây đa (Đêm làng Trọng
Nhân), bến nước (Mười ba bến nước)… Chính những hình ảnh đó, đi vào
trong truyện ngắn của Sương Nguyệt Minh đã trở thành những biểu tượng văn hóa đặc trưng của vùng quê nông thôn
Truyện ngắn Sương Nguyệt Minh thường để lại ấn tượng sâu sắc về số phận của các nhân vật trước cuộc đời Họ là những người lính bước ra từ
chiến tranh mang theo những “di họa” mà chiến tranh để lại (Đêm làng Trọng
Nhân, Hòn đá cháy màu lửa); cũng có khi họ là những người trẻ với những
rung động, xúc cảm đầu đời (Đi qua đồng chiều, Một trò đời); họ là những tâm hồn cô đơn trước sự hối hả của cuộc sống thời đại (Vùng trời của họ,
Nanh sấu); hoặc cũng có thể là thân phận nhỏ bé của người phụ nữ (Mười ba bến nước, Đàn bà); và đôi khi họ còn là những người bị phụ bạc trong tình
yêu (Tha phương, Giếng cạn)… Mỗi người một số phận, mỗi người một cuộc
Trang 22đời nhưng họ đều thể hiện sự ưu tư, trăn trở của nhà văn trước sự xô bồ, gấp gáp của cuộc sống
Đặt truyện ngắn của Sương Nguyệt Minh trong sự đối sánh với những tác phẩm ở cùng thời kì, dưới góc nhìn của cảm hứng sáng tác, chúng ta thấy được cả một sự cố gắng lớn lao của người cầm bút Những tác phẩm của ông
dù là được viết dưới sự soi chiếu của nguồn cảm hứng nào, cũng đều gây được cho độc giả sự tò mò, thích thú Và cũng chính những sáng tác này đã không ít lần tạo ra những luồng dư luận trái chiều, tốn nhiều giấy mực của giới nghiên cứu, phê bình lẫn báo chí Song đúng như nhà văn Nguyễn Khắc Trường – Chủ tịch Hội đồng văn xuôi – Hội Nhà văn Việt Nam nhận xét,
“Anh có nói rằng cứ viết là hay bị nhắc nhở thực ra đó chính là một người đã
có ý thức về nghề, khi viết đã đặt ra vấn đề Nếu không đặt ra vấn đề gì thì câu chuyện sẽ rất nhàm cho nên tác giả đã có ý thức đặt ra vấn đề Mà đã có vấn đề thì nó hay bị gay cấn, nó hay đụng chạm đến đời sống của người này, người kia cho nên mới bị kiện cáo, phản ứng là vì thế Mà tôi thấy đó là một điều đáng mừng Nếu mà viết không có điều gì để người ta phải băn khoăn,
nó cứ trôi tuột đi thì đọc xong người ta cũng không nhớ điều gì Điều ấy chính
là một điều hạnh phúc” [26] Những nguồn cảm hứng trong sáng tác của Sương Nguyệt Minh không mới, song đến với truyện ngắn của ông, đặc biệt
là Chợ tình thì chúng được bộc lộ rõ hơn, đặt ra được nhiều vấn đề mà xã hội
đang quan tâm hơn và đặc biệt gần gũi với độc giả hơn
Trang 23Chương 2 NHỮNG BIỂU HIỆN CẢM HỨNG SÁNG TÁC QUA
TẬP TRUYỆN NGẮN CHỢ TÌNH
2.1 Về thiên nhiên
2.1.1 Thiên nhiên thơ mộng, đậm sắc màu
Thiên nhiên từ bao đời nay đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho văn chương nói riêng và cho tất cả các loại hình nghệ thuật nói chung Nó đã trở thành một mảng đề tài làm nên sắc mặt đa diện của văn học từ xa xưa Không chỉ trong thơ, trong văn xuôi mà đặc biệt là trong truyện ngắn hiện đại, khi yêu cầu chú trọng đến mô tả đời sống nội tâm của con người thì hình ảnh thiên nhiên thơ mộng, đầy màu sắc là một phần không thể thiếu nhằm làm nền
cho sự xuất hiện của hình ảnh con người Với Sương Nguyệt Minh, trong Chợ
tình thiên nhiên không chỉ đất diễn cho nhân vật, nó còn là nguồn cảm hứng
để nhà văn viết nên những truyện ngắn làm nên tên tuổi của ông Chính vì vậy, mà có người gọi Sương Nguyệt Minh là “nhà văn của cảnh sắc đồng quê lung linh” [26]
Trăng luôn được xem là biểu tượng của cái đẹp và là nguồn cảm hứng cho rất nhiều nghệ sĩ Người ta có thể thưởng trăng và lấy nó làm cảm hứng cho một khúc nhạc, một bức họa, một bài thơ hay một cuốn tiểu thuyết… Trăng trong truyện của Sương Nguyệt Minh cũng đẹp, đặc biệt là hình ảnh trăng quê, trăng rừng đã tạo nên một không gian vừa yên tĩnh, vừa trong lành lại thơ mộng, lung linh: “Đường làng lênh loáng ánh trăng, màu vàng bát ngát trùm lên xóm mạc… Mặt giếng tròn vành vạnh, trăng nhởn nhơ soi mình dưới nước Xung quanh rơm rạ cuối vụ gặt còn phơi đầy, vương cả vào thềm giếng” [17;tr.13] Trăng không chỉ soi sáng cảnh vật lúc về đêm mà còn rọi sáng cả những con người nhỏ bé dưới vòm trời kia
Trang 24Trong Quãng đời xưa in dấu, trăng đã bầu bạn cùng những con người
mang trên mình sứ mệnh của cả dân tộc Sau những thời khắc sinh tử cùng mưa bom, bão đạn, màn đêm biên giới cũng trở nên đẹp và thơ mộng biết bao dưới cái nhìn của cô sinh viên trường Cao đẳng Mĩ thuật: “Đêm ấy, trời biên giới Tây Ninh đầy trăng sao… Dòng sông mênh mang đầy ánh bạc… Trăng sáng rờ rỡ còn sao thì chi chít nhập nháy hoài… Trăng đổ ánh bạc xuống sông
và sao cũng thi nhau ngụp lặn dưới dòng nước mênh mang này…” [17;tr.102], “Đêm vắng Khe vắng Và trăng thanh… mùi hương hoa dại, mùi
cỏ nước thơm thoang thoảng dưới trăng ngàn…” [17;tr.54] Trăng đẹp và viên mãn hòa điệu cùng nhịp chảy của những con nước trên sông, trên suối hệt như
sự trong sáng trong tâm hồn của cô gái trẻ
Bên cạnh trăng, ánh hoàng hôn trong văn Sương Nguyệt Minh cũng mang vẻ đẹp thơ mộng đến lạ lùng, không sao tả xiết khi “Mặt trời tà tà xuống dần… Làng mạc ở hai bên bờ Núi non cũng ở hai bên bờ… mặt trời như cái mâm thau đỏ ối neo trên mặt nước Đúng là sông chạy đến tận đường chân trời Mặt nước lóng lánh bởi sóng đuổi nhau từ một con thuyền nhỏ tí xíu xa tít tắp… ráng đỏ trùm lên tất cả…” [17;tr.240] Hình ảnh thung cỏ lúc hoàng hôn “mênh mông cỏ là cỏ, rờn rợn đến chân trời Cỏ xanh mát mắt Tầm nhìn rộng ra, dài hơn, vòm trời cao lên Trâu đàn xếp thành hàng dài, nhẩn nha bước theo lối mòn trên đồng cỏ Con nọ nối đuôi con kia, che lấp cả một đoạn đường chân trời” [17;tr.249] Trong khung cảnh hoành hôn tuyệt đẹp đó, Văn Ngọ - một nhà thơ, nhà họa sĩ với “cái đầu già nua và ý nghĩ cằn cỗi”, “với tư duy công thức”, “hết thời run rẩy” đã cùng với Sẻ Núi “dán mắt nhìn về phía chân trời” để nhìn cảnh “thung cỏ đang đón mặt trời vào lòng đất” để cảm nhận vẻ đẹp của thời khắc hoàng hôn mà thế giới tự nhiên mang lại
Thiên nhiên trong bức tranh làng quê mang đến cảm hứng sáng tạo cho Sương Nguyệt Minh không chỉ là những khung cảnh hết sức thơ mộng mà
Trang 25còn mang đầy màu sắc Nó có thể là màu của những bông lúa chín “đồng chiều trơ gốc rạ” nhưng vẫn có “vài đám ruộng nhà ai đó chưa gặt Lúa trĩu bông vàng xuộm…”[17;tr.5] Có thể là màu sắc của những bộ cánh côn trùng
“Muồm muỗm, cào cào, châu chấu nhiều vô kể, đậu xúm xít hai bên bờ cỏ, có con xòe áo khoác xanh, áo cánh đỏ làm dáng…” [17;tr.5] Là màu của vùng đất cao nguyên đầy nắng gió, màu của bầu trời “Đường mòn chạy trên đất vàng sẫm lẫn sỏi, chạy trên ghềnh đá, chập chùng ghềnh đá Đứng ở đỉnh đèo nhìn lên chỉ thấy trời xanh” [17;tr.49]… Tất cả đều là những sắc màu quen thuộc, gần gũi với người lao động Qua cái nhìn của Sương Nguyệt Minh, chúng đi vào trong tác phẩm chỉ bằng vài nét chấm phá xanh, đỏ nhưng đã để lại những ấn tượng đậm nét trong lòng người đọc về hình ảnh thôn quê mộc mạc
Đến với Chợ tình bên cạnh bức tranh thiên nhiên thơ mộng, đầy màu sắc,
độc giả không thể bỏ những bản nhạc du dương của đồng quê được diệt nên
từ những sinh vật nhỏ bé mà rất đỗi thân thuộc với người dân như “Tiếng dế
nỉ non và tiếng chẫu chuộc nhảy tõm xuống nước” [17;tr.5]; “Tiếng vịt kêu: Cạc… Cạc… Cạc… Rồi tiếng trâu rống: Ọ…ọ…ọ” [17;tr.7] Chốc chốc lại
có tiếng động xào… xào [17;tr243]; “chim rừng đi ăn về muộn đang thảng thốt kêu” [21;tr.60]; “thỉnh thoảng tiếng vịt trời kiếm ăn về muộn lại kêu, thả từng tiếng một vào thinh không, nghe gai cả người” [17;tr.67]; “Làng xao xác tiếng gà gáy Tiếng lộc cộc đập móng trâu đòi ra khỏi chuồng lẫn tiếng người
đi chợ sớm nói khao khao trong sương đục” [17;tr.77]; “Tiếng cá đớp trăng quẫy dưới sông Tiếng dế mèn, dế trũi nỉ non Tiếng gió rải đồng cỏ, đồng lúa
rì rào Lúc gần rồi lại lúc xa…” [17;tr.294]; “Sóng lăn tăn đuổi nhau Lá trang
lá súng chao nhẹ dập dờn Cuống hoa súng nhô cao lên mặt nước, cánh hoa trắng ngà bật tung Hương thoảng dìu dịu lẫn mùi cỏ rược nồng nồng Một con thuyền nhỏ đang lách trong lá trang, lá súng…” [17;tr.244] Những âm
Trang 26thanh ấy chính là âm thanh của sự sống tươi đẹp ngoài đời kia, chúng thấm đẫm trong ý thức nhà văn, tạo nguồn cảm hứng để ông viết nên những con chữ mang đậm bóng hình quê hương yên ả, thanh bình Việc ghi lại những chuyển động tinh tế của các sự vật xung quanh một cách vô cùng chi tiết và sinh động đã làm cho bức tranh thiên nhiên ấy thêm phần đẹp đẽ
Nhà văn Thạch Lam từng nói: “Công việc của nhà văn là phát hiện ra cái đẹp ở chỗ không ai ngờ tới, tìm cái đẹp kín đáo và che lấp của sự vật, để cho
người đọc một bài học trông nhìn và thưởng thức” [30] Với Chợ tình Sương
Nguyệt Minh đã làm được điều đó Mọi sự hứng khởi, cảm giác thăng hoa trước những vẻ đẹp dung dị nhất, đời thường nhất, chân thật nhất của thiên nhiên đều đã được nhà văn vẽ lại bằng những con chữ cũng dung dị và đời thường không kém bản chất của nó trong các câu chuyện Hình ảnh thiên nhiên thơ mộng, đầy màu sắc ấy chính là một góc nhìn đầy mĩ cảm của người nghệ sĩ
2.1.2 Thiên nhiên giao hòa với con người
Vừa là một nhà văn, một nhà báo lại vừa là một người chiến sĩ đi ra từ chiến trận, hơn ai hết, những chuyến đi đã mang đến cho Sương Nguyệt Minh nhiều những trải nghiệm về cuộc sống Những trải nghiệm đó chính là nguồn
tư liệu vô cùng quý giá làm nên cảm hứng để ông sáng tạo ra nhiều tác phẩm
có giá trị Là một người đi nhiều, sống nhiều và gần gũi với thiên nhiên, với Sương Nguyệt Minh thiên nhiên luôn có một mối giao hòa đặc biệt khăng khít với con người
Trăng cũng có những lúc hòa điệu với tâm hồn con người, như một người bạn hòa cùng tâm trạng của Xâng “Đêm tôi leo lên tầng thượng ngôi nhà đang xây dở đứng một mình trông trăng suông Trăng suông, cái thứ màu nhạt thếch dễ làm cho lòng người cô đơn, héo úa Trăng suông vãi xuống nền
xi măng trơ cứng, vô hồn, khô xác…” [17;tr.128] Giờ đây với Xâng, mọi thứ
Trang 27dường như đổ sập xuống Anh đã mất nàng như vậy Anh chấp nhận điều đó Nhưng sao vẫn bã bời, chán nản đến cùng cực Ánh trăng suông đêm đó với cái màu nhàn nhạt hệt như sự bạc bẽo của cuộc đời, con người đang phủ đầy quanh anh
Cũng là hoàng hôn màu đỏ ối, nhưng khác với ánh hoàng hôn màu cỏ
biếc trong Hòn đá cháy màu lửa bức tranh thiên nhiên thơ mộng về thời khắc
kết thúc của một ngày dài ấy lại hiện lên một cách đầy mệt nhọc: “Lúc ấy, hoàng hôn đang buông đỏ ối Dãy núi tây lộc mờ xanh…” [17;tr.154] Hai tâm hồn đã từng ở trên hai chiến tuyến trái ngược nhau, từng kẻ mất người còn với nhau giờ đây trước một buổi chiều tà, khi mặt trời dần khuất núi, họ lại cùng hòa vào nhau để hướng về một nơi xa xôi trong quá khứ, nơi có hòn
đá cháy màu lửa – kỉ vật mà cả hai đều đã vất vả ngược xuôi đi tìm chỉ để nhắc nhớ về một thời anh dũng, một thời máu lửa đã qua trong chiến tranh
Hoàng hôn màu đỏ ối cũng xuất hiện trong Đi qua đồng chiều “Hoàng hôn
đỏ ối một góc chân trời… Gió thổi Gió thổi miên man đi qua cánh đồng chiều” [17;tr.26] Lúc này đây, màu của hoàng hôn không còn là màu riêng của một hiện tượng tự nhiên nữa Nó là màu của tâm trạng Na tiễn Hương và Thăng đi trong nước mắt Có gì đó tiếc nuối, có chút nhớ, chút thương và có
cả sự tủi hờn ẩn dấu trong đôi mắt đẫm lệ Bức tranh hoàng hôn màu đỏ ối vì vậy mà chiếu rọi cả một góc chân trời Như Nguyễn Du từng nói “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, bức tranh hoàng hôn thơ mộng ấy đã được phủ lên một màu tâm trạng, màu của sự chia li, của nhớ thương và tiếc nuối như để cùng sẻ chia với nỗi buồn của Na, để vực cô khỏi những tủi hờn của số phận những con người ở vùng quê lam lũ
Thiên nhiên trong truyện ngắn Chợ tình dường như hòa cùng một nhịp
tâm hồn của những người đi chợ: “Chợ tình họp vào cuối mùa xuân”, những người đi chợ tình với tâm trạng hứng khởi, chờ đợi thì đi vào “lúc tối mò, đất
Trang 28trời còn giao hòa với nhau làm một… Núi rừng bịt bùng tối đen…” [17;tr.30] Đến lúc “trời rạng sáng Sương lập lềnh trôi ngang bờm ngựa” thì “những cây
sa mộc nhỏ xanh thẫm, thân thẳng đứng, kiêu hãnh vươn ngọn tạn trời cao Sa mộc mọc chênh vênh trên sườn núi, không sợ giá rét, chịu được nắng nóng, khô hạn Và đá chất chồng Đá ngờm ngợp đá Đá chặn đứng trước mặt Đá chắn sau lưng Đá bủa vây bốn bề Đâu đâu cũng chỉ đá là đá…” [17;tr.33] Thiên nhiên miền rừng hoang sơ như chính bản chất đơn giản của những con người được sinh ra từ đó vậy Người dân miền rừng sống và gắn bó cả đời mình với thiên nhiên ấy nên dường như những gì của tự nhiên cũng đi vào con người họ Bản thân họ vừa mang sức sống tiềm tàng của sa mộc lại vừa
có được sự cứng cáp, khỏe mạnh của đá
Thiên nhiên hòa cảm với từng cung bậc, từng giai điệu của cảm xúc con người Khi hay tin Seo Say qua đời, trước mặt Páo mọi thứ dường như cũng
đổ sập: “Cao nguyên đá câm lặng Trời đất cũng câm lặng Đá chất chồng đá Tối tăm Hoang sơ…” [17;tr.45] “Đêm miền rừng… Trăng miền rừng gầy và xanh xao hơn trăng thành phố Sao thưa thớt, nhấp nháy không biết mệt Trời đêm cao hơn, xa xăm, vời vợi…” [17;tr.53] Chính trong cái đêm của miền rừng này, Miên đã thao thức nhớ về Sinh, về đêm đầu tiên gặp Sinh Miền kí
ức về Sinh là một cái gì đó đẹp lắm nhưng cũng cao và xa lắm, hệt như bầu trời đêm nay vậy, nó khiến Miên không thể với tới, không thể chạm vào, thức tỉnh cô trở lại với cuộc sống đời thường nơi có chồng cô, con cô đag đợi cô ở
nhà Chưa hết, trong Tha phương, ngày mà Xâng gặp lại người yêu của mình,
đó là một ngày “cuối tháng”: “ Mưa suốt ngày rồi tạnh Ánh nắng lúc cuối chiều bừng lên Những hòn cuội trắng chòi lên mặt cát long lánh…” [17;tr.125] như dự báo gần về sự xuất hiện của nàng, dự báo xa về những chuyển biến trong suy nghĩ của chàng trai Bởi chính sau ngày gặp lại cô gái, anh đã bắt đầu bị những cảm giác như ái ngại, chua xót rồi tự ti, mặc cảm,
Trang 29tiếp đó là chán nản, bã bời đeo bám Cuối cùng, nhớ đến lời cha dạy lúc khăn gói ra thành phố đi học, Xâng đã quyết định đi xa để lập thân Ánh nắng cuối chiều bừng lên trong buổi chiều hoàng hôn đó hệt như sự bừng tỉnh của anh sau một giấc mộng dài để tìm lại chính mình Hòa chung không khí ấm cúng của những ngày giáp tết, hòa vào sự háo hức được trở về quê sau một năm miệt mài nơi đất khách của những con người xa xứ, “Trời hơi lạnh Mưa bụi bay Từ các cửa ô, đào, quất, hoa tươi nối đuôi nhau theo xe thồ vào thành phố…” [17;tr.63] Cái se lạnh ngày giáp tết dường như không còn là cái lạnh của tự nhiên Nó kéo gần khoảng cách của những con người có chung dòng máu lại với nhau để sưởi ấm, yêu thương nhau bởi mỗi dịp tết đến xuân về là thời khắc đoàn tụ, sum vầy
Khi con người sống với khát khao bản ngã, muốn được sống, được yêu
và được trao hết tất cả cho người mình yêu, thiên nhiên dường như cũng thấu hiểu cho nỗi lòng của họ, đồng cảm với họ “Chúng tôi quấn vào nhau dưới gốc cây sồi già Bên ngoài: gió vẫn thổi Ngàn lau phơ phất Chim rừng đi ăn muộn đang về thảng thốt kêu Cả cây sồi già oặn mình rung lá…” [17;tr.60] Đến cả gió, cả sóng cũng muốn xích gần khoảng cách của hai con người cô đơn nơi rằng hoang “Chúng tôi ngồi bên nhau Sóng sông vỗ oằm oặp Gió hơi lạnh Vô tình tôi hơi nép vào người anh…” [17;tr.103] Rồi như thiên nhiên cũng hiểu được sự “cựa quậy” trong tâm hồn của những người vừa trưởng thành khi được “thả hổ về rừng”: “Buổi tối, từng cặp nháy nhau khỏi làng đi chơi từ lúc hoàng hôn vừa lụi Đêm đêm đom đóm bay xanh xao Tiếng tắc kè kêu chẵn lẻ báo mưa nắng chỉ làm cho màn đêm thêm huyền bí…” [17;tr.114] Chính giữa nền thiên nhiên bao la ấy, bao nhiêu tình cảm đã được nảy nở, bao nhiêu sự chung đụng về cả thể xác lẫn tâm hồn của những tình yêu đầu đời đã đến một cách tự nhiên nhất, bản năng nhất
Trang 30Bức tranh thiên nhiên trong Chợ tình không chỉ đẹp thơ mộng, lung linh
nhiều màu sắc và ngập tràn âm thanh mà còn gắn bó giao hòa mật thiết với đời sống của con người Thiên nhiên lúc này dường như là nhân chứng cho tình yêu và những khát khao sống của những con người trong truyện để rồi về sau khi mỗi lần nhắc nhớ, họ lại dường như được trở về với quá khứ, với một thời vụng dại, thơ ngây của chính mình
2.2 Về con người
2.2.1 Con người cô đơn trước quy luật hiện tồn
Sau 1975, con người cô đơn xuất hiện trong truyện ngắn như một tất yếu của sự vận động và phát triển lịch sử văn học Các nhà văn lúc này bằng sự phản ánh đa diện nhiều chiều đã mang đến cho độc giả nhiều cái nhìn mới hơn, ở nhiều góc cạnh hơn về con người trong thời hiện đại
Chúng ta bắt gặp con người cô đơn trong các sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Ngọc Tư, Phan Thị Vàng Anh, Phạm Thị Hoài… và nhiều những tác giả khác trong dòng chảy của văn xuôi đương đại Trong truyện ngắn của Sương Nguyệt Minh, nhà văn tập trung khắc họa kiểu nhân vật cô đơn trước những điều nhỏ nhặt bình thường trong cuộc sống, cô đơn trên con đường tìm về với những giá trị của quá khứ và có cả cái cô đơn trong tình yêu… Họ cô đơn trong quy luật sinh tồn của tại hóa
Ở rất nhiều truyện ngắn của mình, Sương Nguyệt Minh đi sâu khai thác hình ảnh những con người lạc thời lang thang đi tìm quá khứ Trong tập
truyện ngắn Chợ tình kiểu nhân vật này là hình ảnh hồn ma cụ tổ họ Hoàng
thoắt ẩn thoắt hiện trong giấc mơ của nhân vật: “Lúc sống, ta vốn là một nông phu Khi về cõi âm ta quen ở trong một nấm mộ đất cỏ xanh ngút Ta quen tiếng ếch nhái, tiếng côn trùng lúc mưa rét, tiếng dế lúc đêm hôm sương đọng…” [17;tr.73] Nhưng đến khi từ giã cõi trần về với tiên tổ, con cháu lại không hề hiểu được tâm ý của cụ, họ xây nào là “Mộ lớn mộ bé, nhà mồ toàn
Trang 31bê trông cốt thép, bôi xanh đỏ tím vàng lòe loẹt, sặc sỡ… Mộ cụ tổ họ mình
có tường bao quanh có nhà mái cong che mưa che nắng, có cái bia ghi công đức…” [17;tr.70 – 71]; nào là “quân hầu, lính gác, nghê quỳ, rồng chầu, hổ phục” [17;tr.74] Họ biến nghĩa địa Mã Giáng trở thành “thành phố của người đã chết “Mấy chục đời rồi, xa dần…” suy nghĩ của con người ta cũng thay đổi theo bước chuyển của kinh tế thị trường Mọi thứ giờ đây được quy đổi tất cả đều bằng tiền “Nhà chú ba xuất đinh, chú và thằng Cò, thằng Coăm
vị chi là một trăm năm mươi ngàn đồng” [17;tr.64], “năm mươi ngàn đồng là hơn hai thùng thóc bằng mười gánh rau răm” [17;tr.70], “Một gánh rau răm những một trăm bó, một bó chỉ bán được năm mươi đồng, mười gánh rau răm mới đủ tiền cho một xuất đinh; ba đứa lớn lấy vợ rồi đưa nhau vào ở tít trong Tây Nguyên, còn năm đứa vẫn lông nhông ở nhà Bao giờ chị dâu mới gánh
đủ chín mươi gánh rau răm đi chợ?”… Lúc này đây mối bận tâm lớn nhất của con cháu trong họ không phải là cụ tổ muốn gì, nghĩ gì mà là sĩ diện là danh tiếng họ tộc “Họ Hoàng nhà ta to nhất làng mà chịu thua các họ chỉ mấy chục xuất đinh ấy à” [17;tr.70] Cụ tổ trở nên đơn độc, lạc loài giữa cõi âm và cũng lạc loài luôn trong chính dòng tộc của mình giữa con đàn cháu đống, sự lạc loài của những con người lạc thời sinh sống
Bi kịch của con người cô đơn lạc thời không chỉ có ở những người đã
khuất về thế giới bên kia Trong Hòn đá cháy màu lửa, có một con người với
thân thể không còn nguyên vẹn trước sự tàn phá của chiến tranh đã vượt ngàn vạn dặm xa xôi để đi tìm một hòn đá khắc chữ - ân nhân cứu mạng của hắn Hắn đang lần từng bước về lại quá khứ nơi có hòn đá ghi dấu một thời oanh liệt trên chiến trường của tuổi thanh xuân bỏ lại những mưu sinh bộn bề của cuộc sống Nhưng rồi trước sự hối hả vì nỗi lo cơm áo, gạo tiền của những người xung quanh, hắn trở thành kẻ cô độc Cứ đi đến đâu, hễ hỏi về hòn đá là hắn nhận ngay được câu trả lời: “Tưởng mua vé số, lại hỏi thăm Chú ni kì
Trang 32cục vậy Hòn đá thì mắc gì tới con?” [17;tr.144]; hoặc “Tưởng đến hớt cái tóc cợp, ai dè…” [17;tr.145] Không chỉ nhận sự cau có của cô bé bán vé số đang
ế ẩm mà còn là sự hững hờ của ông thợ cắt tóc lề đường, lúc này hắn nhận ra
“Ai cũng bị cuốn vào vòng mưu sinh”, “họ chối từ hắn một cách vô tình, lạnh lùng và nhẫn tâm” [17;tr.145] Hắn hết bẽ bàng rồi đi dật dờ, loanh quanh Hắn thấy như là hắn đang “đi bên ngoài cuộc đời của cả những người thợ mưu sinh bình thường” [17;tr.145] Sự cô đơn đến tột cùng, hắn dường như bị tách ra khỏi xã hội Một mình đơn độc trên hành trình tìm lại quá khứ nhưng hắn chưa bao giờ từ bỏ bất kì một cơ hội nào, dù nhỏ để tìm được hòn đá Có
lẽ quá khứ đã cho hắn sức mạnh, thôi thúc hắn tiếp tục độc hành trên con đường đầy gian nan và thử thách phía trước
Trong truyện có cái cô đơn dành riêng cho những con người lạc chốn
Đó là hình ảnh người mẹ trong Những vùng trời của họ Lên thành phố sống
với gia đình con trai, trước sự cao sang của căn nhà và sự đài các của cô con dâu - con gái ông thứ trưởng, bà mẹ chồng suốt đời chân lấm tay bùn đã không thể hòa hợp với vùng trời riêng đó bà cũng “đầy tâm trạng”, “mừng ít,
lo nhiều” Cảm giác đầu tiên khi đặt chân về đến nhà con trai là “Ngỡ ngàng
Xa lạ Cái gì cũng lần đầu bắt gặp, bà đã về đến nhà con trai mà tưởng đang ở tận đẩu đâu” [17;tr.157] Là một người bất đắc dĩ mới theo con lên thành phố,
bà vẫn giữ những thói quen sinh hoạt như khi còn ở quê “tự rót nước uống; nước lưng lưng chén thì vòi tắc, bà ngậm miệng vào vòi ấm thổi sục sục cho thông vòi rồi rót tiếp Dường như uống chén không đã, theo thói quen ở nhà
bà bỏ chén xuống mặt bàn, đưa vòi vào miệng tu ừng ực bà mẹ chồng co chân lên, tay bó gối, ngồi góc sa lông gỗ mun hoa bóng lộn, ngơ ngác…” [17;tr.161]; “Bà cụ vô tình đặt cả đôi chân sần chai, ngón nứt nẻ, kẽ móng dính đầy bùn đất lên mặt xa lông mun hoa; móng tay bà xói vào các kẽ móng chân sáy bùn đất ra, theo thói quen bà đã từng làm ở nhà quê…” [17;tr.162]
Trang 33Sự cô đơn của người mẹ cũng từ những sự việc nhỏ ấy mà nảy sinh và ngày càng lớn dần Bà cô đơn khi không thể hòa nhập được với cuộc sống nơi phố thị đầy bon chen, toan tính Lại càng cô đơn hơn khi sống cùng một nhà nhưng mẹ chồng nàng dâu không thể hòa hợp lẫn nhau
Xâng, một thanh niên nuôi ước mơ thoát nghèo bằng con đường học đại học cũng rơi vào trạng thái cô đơn của con người lạc chốn Từ quê ra phố nuôi chí học hành thành tài, Xâng đã luôn cố gắng để biến ước mơ thành hiện thực Anh nhận thức được: “tha phương như tôi có thể gọi là sướng Yêu và được yêu Học và được trợ cấp, sống không dư giả, đàng hoàng nhưng cái gì cũng được hưởng, được biết Không ân hận, nuối tiếc đoạn đời đã qua…” [17;tr.118] Nhưng rồi cuộc sống trớ trêu, dòng đời xô đẩy, Xâng vừa mất bạn gái, vừa không kiếm được việc làm phù hợp, để bám trụ thành phố, anh đã phải “theo chúng bạn đi làm cửu vạn” vác cát, khuân gạch Cũng từ đây cuộc sống của anh rẽ sang một trang khác Anh từng trải qua những lời dụ dỗ ngon ngọt của lão chủ nhà bên A, chịu sự khinh rẻ, diễu cợt của lão chủ thầu… nhưng đứng trước tất cả những điều đó, Xâng chỉ “lặng thinh Chân lí thuộc
về kẻ mạnh…” Ngày gặp lại nàng cũng là những ngày mà với Xâng là cô đơn, là tủi nhục nhất “Bỗng tôi xây sẩm mặt mày Ngẫu nhiên Tình cờ Hay
số phận sắp đặt đến mức cười ra nước mắt thế này… Tôi cảm thấy mình nhỏ
bé giữa cõi đời mênh mông” [17;tr.126] Để rồi anh phải thốt lên trong cô đơn, lạc lõng giữa màn đêm có trăng suông với ánh sáng mờ nhạt đang chiếu rọi nhân gian : “Ơi trời! bao nhiêu thân phận hạnh phúc, khổ đau, lam lũ dưới gầm trời này?” [17;tr.129]
Nếu như trong truyện của Nguyễn Ngọc Tư ta bắt gặp hình ảnh người nghệ sĩ độc hành trên con đường đi tìm cái đẹp thì đến với truyện ngắn của Sương Nguyệt Minh ta lại thấy được cái cô đơn của những con người đi tìm tình yêu đích thực Lăng chàng trai quê thật thà chất phác, một lòng một dạ vì
Trang 34Bống chị, đứng ra gánh vác, lo toan giải quyết những khó khăn của nhà Bống:
“Tôi dốc ống, tiền cha tôi tích cóp để lại, tiền tôi làm thuê… Tôi bán bộ xà tích bạc của mẹ đẻ lại vừa đủ đền chiếc khăn thêu Phượng múa…” [17;tr.220] Rồi quyết tâm “Bống chị để tôi lo Tôi sẽ đi làm thùng đào, thùng đấu vượt nền… tôi sẽ có tiền, Bống chị đi học… Từ hôm đó tôi lăn ra làm như trâu cày giữa vụ” [17;tr.221 – 222] để Bống có thể an tâm học hành để nuôi ước mơ “sau này Bống chị đưa tôi ra Hà Nội” [17;tr.222] Nhưng rồi tất
cả mọi cố gắng vì tình yêu, vì ước mơ của Lăng đều bị dập tắt “Tôi chưa kịp
đi tìm thì Bống chị đi ô tô về Bống về cùng ông người Đài Loan tuổi ngoại ngũ tuần” [17;tr.225] Bống giờ đây “mất hết dấu vết cô Bống mặc quần phin mỏng, áo gụ, tóc buông… ngày nào” [17;tr.225 – 226] Lăng chỉ còn biết cười
“Một nắm vàng bằng bao nhiêu gánh phân trâu? Bao nhiêu hòn đất vượt? Bao nhiêu chuyến xe chở chã đất nung, chum vại sành? Một nắm vàng bằng bao nhiêu tình người? Cân! Đong! Đo! Đếm! ” [17;tr.228] Tình yêu vốn là địa hạt của hai tâm hồn đồng điệu song không phải lúc nào thứ tình cảm cao đẹp
ấy cũng có thể viên mãn, tròn đầy Trong tập Chợ tình có không ít những mối
tình dang dở để rồi trên con đường chông chênh để kiếm tìm tình yêu đích thực của đời mình, các nhân vật lại phải vò võ trong cô đơn Với khả năng đi sâu khám phá đời sống nội tâm phức tạp của con người, SươngNguyệt Minh
đã cho người đọc thấy được những hiện thực ngổn ngang trong đời sống tâm hồn của con người trong thời hiện đại
Miên trong Ngày xưa nơi đây là cửa rừng cũng là người mang trong
mình cái cô đơn hướng về tình yêu Là một người luôn nặng lòng với tình yêu dang dở trong quá khứ và day dứt với hạnh phúc hiện tại, Miên đã không ít lần vướng vào vòng luẩn quẩn để rồi phải thốt lên: “Ôi! Cuộc đời ơi! Sao người quá bất công Người cho con một tấm chồng tử tế nhưng không cho trái tim con rung động tình yêu với người đàn ông con đầu ấp tay gối Con đuổi
Trang 35hình bắt bóng, con săn tìm hạnh phúc xa vợi mà chưa một lần nắm bắt được” [21;tr.48] Từ sự hàm ơn đến tình yêu trong sáng nhưng cũng vô cùng mãnh liệt của cô gái mười bảy tuổi “đang học năm cuối cùng bậc phổ thông”, Miên
đã không ngần ngại trao cho Sinh cái quý giá nhất của đời con gái trước lúc anh ra trận và hi sinh ở chiến trường Miên không quên được những ngày tháng đó, cô đã cố gắng “xóa hình ảnh của Sinh trong đầu nhưng không xóa được… nằm bên chồng, cả khi ân ái vẫn nhớ đến Sinh” [17;tr.58] Miên cô đơn một mình trong sự đấu tranh dai dẳng giữa quá khứ và hiện tại để rồi có lúc cô tự vấn, hoài nghi: “Nếu tôi không yêu Sinh, tôi không hiến dâng hết mình đời con gái cho Sinh thì tôi có yên ổn khi sống với chồng tôi không? Câu trả lời là: có, và câu trả lời cũng là: không… Tôi có khoảnh khắc sung sướng hạnh phúc, không ân hận nhưng sau này buồn day dứt…” [17;tr.59] Cuộc đấu tranh dai dẳng đầy phức tạp trong nội tâm Miên mỗi lúc một gay gắt Qua quá trình đấu tranh đó, người đọc cũng thấy được trong cô ý chí của một con người luôn muốn vượt lên hoàn cảnh, vượt lên số phận
Những dạng thức con người cô đơn lạc thời, lạc chốn hay cô đơn trong tình yêu… đều không phải là những mẫu hình nhân vật mới Tuy nhiên đến
với truyện ngắn của Sương Nguyệt Minh nói chung và tập Chợ tình nói riêng,
nhà văn đã xây dựng hình ảnh những con người cô đơn mang một sắc thái khác Họ cô đơn nhưng không bi lụy Điều này khác hẳn với hình ảnh con người cô đơn trong các sáng tác của các nhà văn đi trước Họ cô đơn, họ quẩn quanh trong một vòng suy nghĩ đơn độc nhưng ở họ, ta lại thấy được một sự
cố gắng không ngừng nghỉ để hòa nhập với cuộc đời và con người mà có thể nhờ đó, họ tìm được cho mình những lối đi riêng, thức tỉnh chính mình khỏi
vòng luẩn quẩn Đặc biệt, so với những tập truyện trước, ở tập Chợ tình, cảm
hứng về xây dựng hình tượng con người cô đơn có phần rõ nét hơn, độc đáo hơn
Trang 362.2.2 Con người thức tỉnh trong bản thể tự nhiên
Một trong những thành tựu của văn học sau 1975 là bên cạnh sự tồn tại của không ít những sáng tác vẫn mang âm hưởng ngợi ca trong cảm hứng sử thi thì có nhiều những truyện ngắn đã đi sâu khai thác và khám phá cảm hứng đời tư – thế sự Văn xuôi lúc bấy giờ, đặc biệt là truyện ngắn được ví như là những thước phim tài liệu chân thực, sinh động nhất về đời sống vật chất cũng như tâm hồn con người
Với con người thức tỉnh, các nhà văn luôn đặt họ trước những thử thách đầy khắc nghiệt của cuộc sống thường nhật Nhân vật phải trải qua một quá trình thức nhận rồi từ đó hiểu ra và thức tỉnh bản thân khỏi vòng ảo mộng trở
về với những điều dung dị, bình thường trong cuộc sống hàng ngày Con người thức tỉnh trong truyện ngắn của Sương Nguyệt Minh cũng vậy Họ đối mặt với những biến cố trong cuộc sống đời thường và rồi thức tỉnh bản thân trong những điều nhỏ nhất
Đời sống vợ chồng nhiều khi không tránh khỏi những cãi vã, xung đột Miên sau khi giận dỗi chồng và bỏ về quê với mẹ, chìm sâu vào quá khứ một thời với tình yêu cháy bỏng cùng Sinh đã dần nhận ra những giá trị đích thực của cuộc sống gia đình Quá khứ với Miên là một phần trong cuộc sống
“Ngày xưa vẫn rưng rưng hiện về” trong trí nhớ của cô, vẫn ở đó trong tâm trí
cô nhưng cô cũng kịp thức tỉnh bản thân để quay về với thực tại “tôi lại về với chồng Tôi lại về với con tôi Tôi sẽ kể nốt cho chồng tôi nghe rằng: ngày ấy tôi đã xin tiền của mẹ mua tem và phong bì Tôi đã nằm bò trên sàn nhí nhoáy ghi tên người và địa chỉ nhận thư Tôi đã gửi giúp những người lính trẻ không biết bao nhiêu lá thư tới gia đình, người thân của họ…” [17;tr.62] Sự xa cách, nhớ thương dần làm cho tình cảm của Miên chuyển hóa từ tình yêu đôi lứa với Sinh trở thành tình cảm của những người hậu phương vững chắc cho tiền tuyến vững tâm
Trang 37Trong Một trò đời, một lần nữa nhà văn lại đưa người đọc đến với những
mâu thuẫn, xung đột nhỏ trong cuộc sống vợ chồng mà nhiều khi chị phải giận đến “phát khóc” Gặp lại người mình đã từng yêu trong quá khứ, Trang xúc động “xốn xang tình cảm sau bao ngày gặp lại” [17;tr.81] và rồi “nếu như không có tiếng loa giới thiệu đến lượt Hoan biểu diễn” thì “chẳng biết chuyện
gì sẽ xảy ra” giữa họ Nhìn “nét mặt, ánh mắt, nụ cười đều hàm chứa một sự sung sướng, mãn nguyện” [17;tr.82] của Hoan, “tôi lại chợt nhớ đến chồng, trong lòng đầy nghẹn ngào, tủi thân” [17;tr.82] So với một ông chồng “âm lịch” quanh năm suốt tháng bận quân phục, “không rượu chè, bia bọt, không quán xá và cũng chẳng bao giờ mời bạn bè đến nhà nhậu nhẹt… biết nhường nhịn, chiều vợ, quý con” [17;tr.82] thì trong mắt tôi “Hoan ga lăng rất đàn ông và nghệ sĩ” “Tôi nhìn anh biểu diễn Chăm chăm Lặng lẽ Và xao động Lòng tôi nấp nỏm, trông đợi Một thoáng tự hào, kiêu hãnh, suýt nữa tôi quay sang nói với người bên cạnh: “Người nghệ sĩ kia chính là người tôi đã từng yêu thương…” [17;tr.83] Nhưng rồi trước mắt Trang, mọi thứ dường như chỉ
là một màn kịch và đến khi hạ màn Trang mới vỡ lẽ: “Tôi bị bất ngờ Bàng hoàng, tôi đứng nhìn Hoan Hoan đang bốc những đồng tiền lẻ trong mũ các con khỉ, bỏ vào túi Hoan móc từng đồng tiến lẻ trong tay con Lục Lạc… Giọng Hoan bực dọc, cáu kỉnh: “dân tỉnh lẻ, nghèo bỏ mẹ Toàn tiền hai trăm đồng rách” [17;tr.92] Mọi thứ từ lung linh, rực rỡ bỗng trở nên mờ nhòe trong mắt Trang Cô “lặng lẽ quay đầu Ra khỏi rạp hát, tôi thất thểu bước, nước mắt cứ trào ra” [17;tr.92]
Những gì mà Lăng trong Giếng cạn trải qua từ cuộc tình với Bống chị và
những gì anh nhận được cũng đã thức tỉnh anh khỏi giấc mơ “Bống chị sẽ đưa Lăng ra thành phố” Bị Bống chị phụ tình “Tiếng Bống chị mà không phải Bống Vậy là Bống và tôi: như hai người quen biết sơ sơ ở làng Như chưa từng cõng nhau qua chỗ lội Như chưa từng chụm đầu học bài tóc mai cháy
Trang 38xém” [17;tr.229], Lăng đau khổ “tôi nằm úp thìa khóc như mưa Khóc cho mối tình bị phụ bạc Khóc cho sự ngu đần của thằng con trai quanh năm không đi khỏi huyện” [17;tr.228] Nhưng là nam nhi, chí có thừa, “Tôi giao hết nhà cửa, vườn tược, xe bánh lốp, trâu dái nhờ thầy Đô nhà thơ trông coi
và bán táng tống, bán táng hộ” rồi đi “Chếc xe đang nổ máy xịch xịch bất ngờ rồ ga phóng vụt đi Một đoạn đường xa ngoái lại vẫn thấy Bống em đứng lặng im nhìn theo Lòng tôi tự nhiên dịu lại…” [17;tr.231] Lăng đã thực sự thoát khỏi tình yêu mộng mị “của thằng con trai quanh năm không đi khỏi huyện” để đi tìm tương lai cho riêng mình
Ở Tha phương và Sao băng lúc mờ tối hình ảnh con người thức tỉnh
được khắc họa rất rõ nét qua hai nhân vật là Xâng và Văn Cả hai đều lên thành phố với hi vọng có thể lập thân, lập nghiệp bằng con đường thi cử, học hành Cả hai đều đã trải qua những rung động của tình yêu đầu đời ở nơi phố thị và cũng từ đây những chuyện dở khóc, dở cười đã xảy đến với họ Với
Xâng chàng trai trong Tha phương, bi kịch là khi anh nhận ra “Hóa ra những
ngày ấy, tháng ấy, nàng sống bằng hai con người Nàng yêu tôi và cặp bồ với
gã chủ thầu? Nàng lấy tiền của thằng già nuôi thằng trẻ? Ôi trời! Những năm
tháng xa” [17;tr.127] Còn bi kịch mà Văn trong Sao băng lúc mờ tối gặp phải
là sự trớ trêu của số phận khi đồng tiền và tham vọng đã đẩy anh đi quá xa khiến anh đánh mất tình yêu với Miên: “Làm hoàng đế, làm ông chủ của chị một đêm! Sao không phải là hai đêm, ba đêm, một trăm đêm và mãi mãi” [17;tr.291] Cả hai đều đã đánh mất tình yêu trong những bộn bề chật vật của cuộc sống Và rồi cũng từ đó, họ thức tỉnh mình khỏi những hư ảo về danh vọng: “Hôm sau, khoảng mười giờ tôi bỏ học buổi sáng quay trở lại nhà chị thanh toán nốt tiền làm thuê và chào vĩnh biệt Dứt khoát không quay trở lại
đó nữa…” [17;tr.293]; “Hôm sau tôi viết cho cha tôi một lá thư Tôi vận câu cha dặn năm xưa: đi tìm nơi khác làm ăn, sinh sống, đất trời rộng lắm không