ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA HÓA NGUYỄN THỊ NGỌC THỦY ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẠI MỘT S
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA HÓA
NGUYỄN THỊ NGỌC THỦY
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN KHOA HỌC
ĐÀ NẴNG, 2014
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA HÓA HỌC
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẠI MỘT SỐ BỆNH VIỆN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN KHOA HỌC
SVTH: NGUYỄN THỊ NGỌC THỦY
LỚP: 10CQM GVHD: ThS PHẠM THỊ HÀ
ĐÀ NẴNG, 2014
Trang 3ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TRƯỜNG ĐHSP Độc lâp – Tự do – Hạnh phúc
KHOA HÓA
NHIỆM VỤ KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Họ và tên sinh viên: Nguyễn Thị Ngọc Thủy
Lớp: 10CQM
1 Tên đề tài: Đánh giá hiện trạng và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý chất thải rắn tại các bệnh viện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
2 Nội dung nghiên cứu:
- Hiện trạng công tác quản lý chất thải rắn tại các bệnh viện
- Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý chất thải rắn tại các bệnh viện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
3 Giáo viên hướng dẫn: ThS Phạm Thị Hà
4 Ngày giao đề tài: 10/2013
5 Ngày hoàn thành: 05/2014
Chủ nhiệm Khoa Giáo viên hướng dẫn
(ký và ghi rõ họ tên) (ký và ghi rõ họ tên)
Sinh viên đã hoàn thành và nộp báo cáo cho Khoa ngày 16 tháng 05 năm 2014
Kết quả điểm đánh giá:
Ngày…tháng…năm…
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
(ký và ghi rõ họ tên)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt khoảng thời gian hoàn thành bài khoá luận tốt nghiệp, em luôn nhận được sự quan tâm của các thầy, các cô trong khoa Hoá học, niềm động viên của các bạn trong lớp
Em xin chân thành cảm ơn
Em cũng xin chân thành cảm ơn ThS Phạm Thị Hà đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ động viên em trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành bài luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, 13 tháng 5 năm 2014
Nguyễn Thị Ngọc Thủy
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 3
1.1 Tổng quan về rác thải y tế 3
1.1.1 Đặc điểm 3
1.1.2 Nguồn phát sinh chất thải y tế 3
1.1.3 Phân loại chất thải y tế 4
1.1.4 Công tác thu gom và vận chuyển rác thải y tế 8
1.1.5 Lưu trữ rác thải y tế 8
1.1.6 Xử lý rác thải y tế 9
1.2 Giới thiệu về một số bệnh viện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 10
1.2.1 Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng 11
1.2.2 Bệnh viện Ung thư Đà Nẵng 12
1.2.3 Bệnh viện C Đà Nẵng……… ……… 14
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 16
2.1 Đối tượng nghiên cứu 16
2.2 Phạm vi nghiên cứu 16
2.3 Nội dung nghiên cứu 16
2.4 Phương pháp nghiên cứu 16
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 16
2.4.2 Phương pháp thực địa 17
2.4.3 Phương pháp điều tra bằng anket và phỏng vấn 17
2.4.4 Phương pháp thống kê 17
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 18
Trang 63.1 Kết quả khảo sát khối lượng và thành phần chất thải rắn y tế phát sinh 18
3.2 Kết quả khảo sát hiện trạng phân loại, thu gom chất thải y tế 20
3.2.1 Công tác phân loại chất thải rắn y tế 20
3.2.2 Công tác thu gom chất thải rắn y tế 21
3.3 Kết quả khảo sát hiện trạng lưu trữ rác thải y tế 28
3.3.1 Lưu trữ rác thải tại bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng 28
3.3.2 Lưu trữ rác thải tại bệnh viện C Đà Nẵng 29
3.3.3 Lưu trữ rác thải tại bệnh viện Ung thư Đà Nẵng 29
3.4 Kết quả khảo sát hiện trạng vận chuyển rác thải y tế……… 29
3.4.1 Vận chuyển rác thải tại bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng 29
3.4.2 Vận chuyển rác thải tại bệnh viện C Đà Nẵng 29
3.4.3 Vận chuyển rác thải tại bệnh viện Ung thư Đà Nẵng 30
3.5 Kết quả khảo sát hiện trạng tái chế chất thải rắn y tế 30
3.5.1 Hiện trạng tái chế rác thải tại bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng 30
3.5.2 Hiện trạng tái chế rác thải tại bệnh viện C Đà Nẵng 30
3.5.3 Hiện trạng tái chế rác thải tại bệnh viện Ung thư Đà Nẵng 30
3.5.4 Đánh giá việc tái chế chất thải tại các bệnh viện 31
3.6 Ý kiến cộng đồng về công tác quản lý chất thải rắn tại các bệnh viện 32
3.6.1 Ý kiến cộng đồng về chất lượng môi trường khu vực khám, chữa bệnh 32
3.6.2 Ý kiến cộng đồng về chất lượng môi trường xung quanh của các bệnh viện 34
3.6.3 Ý kiến cộng đồng về mức độ thường xuyên của công tác thu gom rác thải y tế 35 CHƯƠNG 4 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN TẠI CÁC BỆNH VIỆN 37
4.1 Những tồn tại, khó khăn trong công tác quản lý chất thải rắn tại các bệnh viện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng 37
4.2 Các biện pháp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý chất thải rắn y tế 38
4.2.1 Đề xuất mô hình tổ chức quản lý chất thải y tế 38
4.2.2 Quy định khung pháp luật/quy định chung 40
Trang 74.2.3 Công tác đào tạo, tuyên truyền, giáo dục 41
4.2.4 Các giải pháp công nghệ 41
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43
1 Kết luận 43
2 Kiến nghị 43 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8
khám, chữa bênh tại BV Đa khoa Đà Nẵng
32
Hình 3.6 Biểu đồ kết quả khảo sát chất lượng môi trường khu vực
khám, chữa bênh tại bệnh viện C Đà Nẵng
33
Hình 3.7 Biểu đồ kết quả khảo sát chất lượng môi trường khu vực
khám, chữa bênh tại bệnh viện Ung thư Đà Nẵng
33
Hình 3.8 Biểu đồ kết quả khảo sát chất lượng môi trường xung quanh
tại bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng
34
Hình 3.9 Biểu đồ kết quả khảo sát chất lượng môi trường xung quanh
tại bệnh viện C
34
Hình 3.10 Biểu đồ kết quả khảo sát chất lượng môi trường xung quanh
tại bệnh viện Ung thư Đà Nẵng
35
Hình 3.11 Biểu đồ kết quả khảo sát mức độ thường xuyên thu gom rác
thải
36
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Lượng chất thải phát sinh từ các bệnh viện trung bình ngày 18 Bảng 3.2 Thành phần chất thải rắn từ các bệnh viện 20 Bảng 3.3 Số lượng các thiết bị dung để thu gom rác thải tại bệnh viện
Trang 10CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT BSCKI: Bác sĩ chuyên khoa I
BSCKII: Bác sĩ chuyên khoa II
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đà Nẵng hiện là đô thị loại I với tốc độ phát triển nhanh nhất Việt Nam, cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế thì nhu cầu về nhà ở, trường học, y tế… của người dân cũng tăng lên Tuy nhiên, việc phát triển kinh tế lại kéo theo chất lượng môi trường ngày càng suy giảm và xuất hiện thêm nhiều loại bệnh tật cho con người
Chính vì thế, thành phố đã cho xây dựng nhiều bệnh viện (BV) nhằm điều trị cho các bệnh nhân trên địa bàn thành phố và một số tỉnh lân cận Việc xây dựng nhiều bệnh viện có ý nghĩa nhân văn vô cùng to lớn không chỉ riêng với người dân thành phố
mà còn với cả xã hội, giúp chữa trị cho hàng ngàn bệnh nhân mỗi ngày, tuy nhiên nó cũng gây ra nhiều sức ép cho môi trường, đặc biệt lượng rác thải thải ra mỗi ngày của bệnh viện là rất lớn, trong đó chủ yếu là rác thải nguy hại như kim tiêm, bông băng dính máu bệnh nhân, các dụng cụ y tế như dao, kéo… Để quản lý tốt việc thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải từ bệnh viện là không hề đơn giản, vậy hiện tại các khâu quản lý chất thải trong các bệnh viện ở thành phố Đà Nẵng diễn ra như thế nào? Những mặt tích cực và một số tồn tại trong công tác quản lí chất thải rắn (CTR) tại bênh viện
ra sao?
Vì những lí do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu với nội dung: “Đánh giá hiện
trạng và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý chất thải rắn tại một số bệnh viện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” nhằm tìm hiểu
và đánh giá hiện trạng thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn tại các bệnh viện, đồng thời đề xuất 1 số ý kiến để công tác quản lý chất thải rắn được thực hiện tốt hơn
Trang 122 Mục tiêu và ý nghĩa thực tiễn
Đề tài này nhằm khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý và xử lý chất thải rắn y tế tại một số bệnh viện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, qua đó tìm ra những tồn tại của công tác quản lý CTR y tế và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý rác thải y tế
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
1.1 Tổng quan về rác thải y tế
1.1.1 Đặc điểm [1]
Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo Chất thải y tế có thể ở dạng rắn, lỏng và dạng khí
Chất thải y tế nguy hại là chất thải có một trong những thành phần như máu, dịch
cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận và cơ quan của người, động vật; bơm kim tiêm và các vật sắc nhọn, dược phẩm, hoá chất và các chất phóng xạ dùng trong y tế Nếu những chất thải này không được tiêu huỷ sẽ gây nguy hại cho môi trường và sức khoẻ con người
1.1.2 Nguồn phát sinh chất thải y tế [11]
Nguồn phát sinh chất thải y tế chủ yếu: bệnh viện; các cơ sở y tế khác như trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ sinh, phòng khám ngoại trú, trung tâm lọc máu; các trung tâm xét nghiệm và nghiên cứu y sinh học; ngân hàng máu Hầu hết các CTR y tế đều có tính chất độc hại và tính đặc thù khác với các loại CTR khác Các nguồn xả chất lây lan độc hại chủ yếu là ở các khu vực xét nghiệm, khu phẫu thuật, bào chế thuốc…
Trang 14Bảng 1.1: Nguồn phát sinh chất thải y tế
Chất thải sinh hoạt Chất thải từ khu hành chính, nhà bếp, các loại bao gói…
Chất thải chứa các vi
trùng gây bệnh
Các phế thải từ phẫu thuật, các cơ quan nội tạng của người sau khi mổ xẻ và của động vật sau quá trình xét nghiệm, các loại bông gác, máu của bệnh nhân…
Chất thải bị nhiễm bẩn Các thành phần thải ra của bệnh nhân, chất tẩy rửa sàn
nhà…
Chất thải đặc biệt
Các loại chất thải đặc biệt hơn các loại trên, các chất phóng xạ, dược phẩm… từ các khoa khám bệnh, khoa dược…
1.1.3 Phân loại chất thải y tế [2]
Theo Quy chế quản lý chất thải Y tế, Bộ Y tế, Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 về phân loại chất thải y tế, rác thải y tế được phân thành 5 loại chất thải chính trong các cơ sở Y tế như sau:
- Chất thải lây nhiễm;
- Chất thải phóng xạ;
- Chất thải hóa học;
- Các bình chứa khí có áp suất;
- Chất thải thông thường;
a Nhóm chất thải lây nhiễm
Nhóm chất thải lây nhiễm được phân thành các phân nhóm cụ thể trong bảng 1.2
Trang 15Bảng 2: Thành phần nhóm chất thải lây nhiễm
Các vật sắc nhọn Bơm tiêm, kim tiêm, lưỡi và cán dao, đinh mổ, cưa, các ống
tiêm, mảnh vỡ thủy tinh
Chất thải nhiễm khuẩn Những vật liệu thấm máu, thấm dịch: bông, gạc, băng, dây
truyền máu, các ống dây lưu dẫn
Chất thải có nguy cơ
lây nhiễm cao
Găng tay, lam kính, ống nghiệm, bệnh phẩm
Chất thải giải phẫu Mô, cơ quan người: chân, tay, rau thai, bào thai
Trang 16các chất hóa học hỗn hợp; các dung dịch làm sạch và khử khuẩn, phenol, dầu mỡ và các dung môi làm vệ sinh
d Các bình chứa khí có áp suất
Là những chất thải như bình đựng O2, CO2, bình ga, bình khí dung và các bình đựng khí dùng một lần Các bình này dễ gây cháy, nổ khi thiêu đốt vì vậy phải thu gom riêng
e Chất thải thông thường
Nhóm chất thải thông thường gồm:
- Chất thải sinh hoạt, chất thải không bị nhiễm các yếu tố nguy hại, phát sinh từ các buồng bệnh, phòng làm việc, các bộ phận cung ứng, nhà kho, nhà giặt, nhà ăn bao gồm: giấy báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng cát tông, túi nilon, túi đựng phim, vật liệu gói thực phẩm, thức ăn dư thừa của người bệnh, hoa và rác quét dọn từ các sàn nhà
- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh
f Hướng dẫn phân loại CTR y tế
Theo quy định của Bộ Y tế - Quy chế quản lý chất thải y tế - 2007, chất thải rắn
y tế phải được phân loại tại nguồn, và trong quá trình thu gom phải có bao bì, túi đựng phù hợp theo quy định về màu sắc:
- Màu xanh: Đựng chất thải sinh hoạt - các bình áp suất nhỏ
- Màu vàng: Đựng chất thải lây nhiễm
- Màu đen: Đựng chất thải hóa học nguy hại và chất thải phóng xạ
- Màu trắng: Đựng chất thải tái chế
Mỗi khoa phòng cần được trang bị các loại thùng rác màu khác nhau đặt tại những vị trí thích hợp Các thùng rác phải có nắp đậy, có chân đạp và dễ cọ rửa Các thùng được lót các túi nylon đúng màu quy định (xanh, vàng, đen) Trên túi có vạch ghi
rõ “Không đựng quá vạch này” ở mức 2/3 túi Có dây buộc đi theo túi Bơm tiêm và vật sắc nhọn được phân loại riêng và cho vào thùng đựng vật sắc nhọn theo đúng quy định
Trang 17- Thùng, túi nilon màu xanh để đựng chất thải sinh hoạt bao gồm: giấy, báo, tài
liệu, khăn, gạc, các đồ dùng và các vật liệu y tế chăm sóc người bệnh không dính máu… thức ăn thừa, vật liệu đóng gói, hoa, lá cây, rác quét dọn từ các sàn nhà (trừ chất thải thu gom từ các buồng cách ly) và từ các khu vực ngoại cảnh
- Thùng, túi nilon màu vàng để thu gom các loại chất lâm sàng không sắc nhọn
bỏ
+ Các mô và các tổ chức, phủ tạng của cơ thể (dù nhiễm khuẩn hay không nhiễm khuẩn)
+ Mọi loại chất thải phát sinh từ các buồng cách ly
- Thùng, hộp màu vàng đựng các vật sắc nhọn để thu gom các chất thải lâm sàng sắc nhọn như: kim tiêm, bơm tiêm kèm hoặc không kèm kim tiêm, dao mổ, pipet Pasteur, các lam kính xét nghiệm, đĩa nuôi cấy bằng thủy tinh, các lọ thủy tinh dính máu hay các vật sắc nhọn khác…
- Thùng, túi màu đen để thu gom các chất thải hoá học và chất thải phóng xạ + Chất thải hóa học: kim, lọ thủy tinh đựng chất thải hóa học, thuốc hóa trị + Chất thải phóng xạ: các dụng cụ có dính chất phóng xạ phát sinh trong quá trình chẩn đoán và điều trị như kim tiêm, ống nghiệm, chai lọ đựng chất phóng xạ, dụng cụ chứa nước tiểu của người bệnh đang điều trị chất phóng xạ…
Trang 181.1.4 Công tác thu gom và vận chuyển rác thải y tế [2], [7]
Theo quy định của Bộ Y tế, phương tiện thu gom, chứa đựng chất thải y tế phải đạt các tiêu chuẩn về màu sắc:
- Thùng màu vàng để thu gom các túi, hộp chất thải màu vàng;
- Thùng màu đen để thu gom các túi, hộp chất thải màu đen;
- Thùng màu xanh để thu gom các túi, hộp chất thải màu xanh;
- Thùng màu trắng để thu gom các túi, hộp chất thải màu trắng;
Chất thải từ các khoa, phòng phải được thu gom và vận chuyển về nơi tập trung chất thải của bệnh viên, sau đó nhân viên vệ sinh hoặc hộ lý chịu trách nhiệm thu gom các chất thải từ nơi phát sinh tới nơi tập trung chất thải của các khoa, phòng Khi rác đầy ở mỗi thùng rác, nhân viên vệ sinh cột túi, mang vào một khu vực chứa rác của khoa
Hàng ngày đội vệ sinh tới nhận rác tại mỗi khoa, mang rác đi bằng xe kéo tay đậy kín đến nhà chứa rác tập trung chất thải của bệnh viện xe vận chuyển rác từ các khoa, phòng đến nơi thu gom chất thải theo đúng giờ quy định
Chất thải được thu gom và vận chuyển bằng xe chuyên dụng, phải có xe để vận chuyển riêng cho từng loại rác: xe rác sinh hoạt và xe rác thải y tế
1.1.5 Lưu trữ rác thải y tế [2]
Sau khi được các nhân viên thu gom, rác thải y tế (RTYT) và rác thải sinh hoạt (RTSH) phải được đưa đến địa điểm tập trung, theo quy định của Bộ Y tế là nơi lưu trữ rác thải, hay nhà rác của bệnh viện
Nơi chứa chất thải tại các bệnh viện phải cách xa an toàn nơi chứa thức ăn hoặc khu vực nấu ăn, phải được khóa để tránh những người không có nhiệm vụ tùy tiện ra vào, phải có thiết bị lau rửa, quần áo bảo hộ và các túi rác hoặc thùng chứa phải được
bố trí ở nơi thuận tiện, phải có lối đi cho xe thu gom rác vào được dễ dàng và phải gần nguồn nước để vệ sinh Tất cả các chất thải chứa trong đó phải xa ánh sang mặt trời và các chất thải độc hại phải được tách riêng khỏi chất thải thông thường
Trong các bệnh viện, chất thải được thải ra hàng ngày và thời gian lưu trữ chất
Trang 19thải độc hại là 48 giờ, các chất thải dược phẩm không quá 1 tuần, riêng chất thải bệnh phẩm thì phải được đốt hoặc chôn ngay
- Chất thải y tế từ các phòng thí nghiệm sau khi được khử trùng hoặc tẩy uế sẽ được đốt tại chỗ hoặc ngoài trời Tuy nhiên, nhiều bệnh viện thiếu các chất tẩy uế cần
để khử trùng loại chất thải này
- Chất thải dược phẩm với biện pháp xử lý hiện nay gồm chôn lấp tại chỗ, thải
ra nơi thu gom rác công cộng, đốt trong các lò đốt thô sơ và đốt ngoài trời
- Chất thải bệnh phẩm xử lý với phương pháp tiêu hủy bằng đốt trong các lò đốt thô sơ, đốt ngoài trời và chôn lấp dưới đất Tại nhiều bệnh viện, thường ghi nhận chó
và các động vật khác đào bới các chất thải bệnh phẩm không được chôn lấp kỹ lên mặt đất làm ô nhiễm môi trường
1.1.7 Ảnh hưởng của rác thải y tế đến môi trường và sức khỏe con người [1], [11]
a Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với môi trường
Khi chất thải y tế không được xử lý đúng cách (chôn lấp, thiêu đốt không đúng qui định, tiêu chuẩn) thì sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí và sự ô nhiễm này sẽ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khỏe con người, hệ sinh thái
Ảnh hưởng tới môi trường đất và nước: trong rác thải y tế sinh ra từ các hoạt
Trang 20động chuyên môn, thường có chứa các mầm bệnh, các loại vi khuẩn, kí sinh trùng ; nếu không được xử lý đúng quy định thì khả năng phát tán vào môi trường là rất cao, các mầm bệnh này có khả năng tồn lưu lâu trong môi trường đất, sau đó sẽ xâm nhập trực tiếp vào cơ thể người qua da, hô hấp, hay ăn uống rồi gây bệnh hoặc xâm nhập vào môi trường nước gây ô nhiễm cho môi trường nước, bao gồm cả nguồn nước mặt
và nước ngầm, và sẽ tiếp tục gây bệnh cho con người
Không chỉ ảnh hưởng tới môi trường đất, nước, chất thải y tế còn tác động môi trường không khí: gây ra mùi hôi thối nếu chất thải lây nhiễm được lưu giữ không đúng theo quy định, hay lưu giữ quá lâu Bên cạnh đó, bụi khói sinh ra do việc đốt rác bằng các lò đốt thủ công, bao gồm cả các khí độc như đioxin, CO sẽ gây ô nhiễm tới môi trường không khí
b Ảnh hưởng của chất thải y tế đến sức khỏe con người
Trong rác thải bệnh viện có nhiều chất nguy hiểm có nguy cơ lây nhiễm,truyền bệnh và độc hại Ở nước ta do có khí hậu nóng ẩm nên khả năng phát sinh ra những ổ dịch bệnh lại càng cực kì nguy hiểm hơn Ví dụ như bệnh tả, kiết lị, sốt xuất huyết Việc tiếp xúc với các hóa chất có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương Đó là do trong chất thải y tế có chứa đựng các yếu tố truyền nhiễm, chất độc hại, các loại hóa chất và dược phẩm nguy hiểm, các chất phóng xạ, các vật sắc nhọn
1.2 Giới thiệu về một số bệnh viện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Hệ thống y tế của thành phố ngày càng hiện đại, hoàn chỉnh và đồng bộ từ tuyến thành phố đến quận, huyện và xã, phường Theo con số của Tổng cục Thống kê (Việt Nam) thì vào năm 2011, thành phố Đà Nẵng có 69 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sở
Y tế thành phố, trong đó có 12 bệnh viện, 1 Bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng và 56 trạm y tế Số giường bệnh trực thuộc sở Y tế Đà Nẵng là 3.442 giường Tính đến đầu năm 2010, Đà Nẵng có tỷ lệ 12,3 bác sỹ/10.000 dân, 45 giường/10.000 dân Cũng theo thống kê năm 2011, Đà Nẵng có 746 bác sĩ, 342 y sĩ,
756 y tá và 275 nữ hộ sinh Bệnh viện Đà Nẵng (quy mô 1.000 giường) được nâng lên
Trang 21là bệnh viện hạng I vào năm 2003 Năm 2012, Bệnh viện Phụ sản – Nhi được thành lập mới với quy mô 550 giường bệnh
Đà Nẵng cũng có một hệ thống bệnh viện, phòng khám tư nhân đang dần phát triển: Bệnh viện Ung thư (quy mô 500 giường), Bệnh viện Trí Tâm, Bệnh viện Đa khoa Hoàn Mỹ,… Tháng 3 năm 2012, thành phố thành lập giải thưởng “Tỏa sáng blouse trắng” nhằm tuyên dương những cá nhân người tốt, việc tốt Đến cuối năm
2012, Đà Nẵng đã hoàn thành mục tiêu Bảo hiểm y tế toàn dân, với 91,6% dân số tham gia Bảo hiểm y tế, đi trước 2 năm so với cả nước (2014)
1.2.1 Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng
Bệnh viện Đà Nẵng là bệnh viện tuyến cuối cùng của thành phố Đà Nẵng, chịu trách nhiệm thu dung điều trị bệnh nhân của thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam và một số tỉnh Miền Trung và Tây Nguyên như Quảng Ngãi, Bình Định, Đak Lak… Ngoài chức năng khám chữa bệnh, bệnh viện còn là cơ sở thực hành của Trường Đại học Y Huế, Học viện Quân Y, Trường Cao đẳng Y tế TW2
Bệnh viện mở rộng quan hệ hợp tác với các tổ chức nước ngoài, tranh thủ các nguồn viện trợ để nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị và giao lưu về chuyên môn, chuyển giao các kỹ thuật mới trong chẩn đoán và điều trị
Với quy mô 1010 giường bệnh, hơn 1200 cán bộ nhân viên bao gồm 31 Tiến sĩ (TS) và Bác sĩ chuyên khoa II (BSCKII), 204 Thạc sĩ (ThS) và bác sĩ chuyên khoa I (BSCKI), tiếp đón khoảng 2.000 bệnh nhân mỗi ngày, Bệnh viện Đà Nẵng đang phải luôn nỗ lực tự hoàn thiện mình để đáp ứng với nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân thành phố Đà Nẵng và khu vực lân cận
Cơ sở hạ tầng: Được sự đầu tư của Uỷ ban nhân dân thành phố, cùng với sự viện trợ nhân đạo của nhiều tổ chức từ thiện đặc biệt là Tổ chức Đông Tây hội ngộ Hoa Kỳ với kinh phí hơn 15 triệu USD, toàn bộ bệnh viện đã và đang được xây dựng lại theo một quy hoạch của một bệnh viện hiện đại
Các kỹ thuật chẩn đoán: X Quang kỹ thuật số, CT scan đa lớp cắt đặc biệt là 64 dãy, chụp mạch xoá nền, Cộng hưởng từ TESLA 1.5, chụp cắt lớp đơn quang từ, siêu
Trang 22âm màu, siêu âm 4 chiều, nội soi chẩn đoán và can thiệp của các chuyên ngành, đo độ loãng xương bằng kỹ thuật DEXA, hệ thông phòng thí nghiệm hiện đại về sinh hoá, huyết học tự động, kỹ thuật PCR
1.2.2 Bệnh viện Ung thư Đà Nẵng
Bệnh viện Ung thư Đà nẵng là một bệnh viện chuyên khoa Ung thư loại I hoàn chỉnh của thành phố Đà Nẵng, quy mô 500 giường bệnh nội trú Bệnh viện được đặt tại phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng với diện tích 15 hecta Bệnh viện có chức năng tiếp nhận khám, chẩn đoán, điều trị có hiệu quả mọi bệnh lý ung thư, làm tốt công tác dự phòng bệnh ung thư cho nhân dân thành phố Đà Nẵng và khu vực miền Trung, triển khai các chương trình nghiên cứu khoa học – công nghệ và tham gia công tác đào tạo nguồn nhân lực chuyên môn ngành ung thư Đặc biệt, bệnh nhân ung thư nghèo tại Đà Nẵng và khu vực miền Trung có cơ hội được khám chữa bệnh miễn phí với chất lượng tốt Bệnh viện thực hiện 6 nhiệm vụ do Bộ Y tế quy định:
6 Quản lý kinh tế trong bệnh viện
Lãnh đạo thành phố Đà Nẵng giao cho bệnh viện 3 nhiệm vụ chính : làm tốt công tác khám, chữa bệnh cho bệnh nhân ung thư trong khu vực, tầm soát và phát hiện sớm bệnh ung thư và triển khai các chương trình NCKH về bệnh ung thư
Bệnh viện gồm có 21 khoa, phòng và trung tâm:
- Bảy phòng chức năng: Phòng Tổ chức Cán bộ; Phòng kế hoạch tổng hợp; Phòng Hành chính Quản trị; Phòng tài chính – Kế toán; Phòng Vật tư Trang thiết bị y tế; Phòng Điều dưỡng; Phòng Công nghệ Thông tin
Trang 23- Năm khoa cận lâm sàng: Khoa Dược; Khoa Giải phẫu bệnh; Khoa Xét nghiệm
và Truyền máu; Khoa Chẩn đoán Hình ảnh, Nội soi và Thăm dò chức năng; Trung tâm nghiên cứu phòng chống ung thư
- Chín khoa lâm sàng: Khoa khám bệnh; Khoa Điều trị tích cực và chăm sóc giảm nhẹ; Khoa Gây mê hồi sức; Khoa Bệnh lý tổng hợp; Khoa Vú và Phụ khoa; Khoa Tạo máu; Khoa Tiết niệu, đầu cổ và lồng ngực, Khoa tiêu hóa, Khoa Kỹ thuật phóng
xạ và Y học hạt nhân Bệnh viện sẽ triển khai các kỹ thuật chẩn đoán và điều trị bệnh ung thư với mục tiêu chẩn đoán sớm và chính xác, điều trị toàn diện và hiệu quả mọi bệnh lý ung thư Các kỹ thuật chẩn đoán chính là khám lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh
và thăm dò chức năng, xét nghiệm tế bào và tổ chức học
Bệnh viện được đầu tư xây mới hoàn chỉnh các công trình hạ tầng với 3 khối nhà chính: Khối Hành chính và Hội trường, Khối Điều trị nội trú và Khối Kỹ thuật nghiệp vụ Tổng diện tích sàn khoảng 54.000 m2 và diện tích xây dựng trung bình cho mỗi giường bệnh gần 110 m2 Bệnh viện được thiết kế theo mô hình bệnh viện khách sạn với cảnh quan trong bệnh viện rất hài hòa, tiện nghi và thân thiện mọi phòng bệnh đều có phòng vệ sinh riêng, hệ thống điều hòa trung tâm và hệ thống khí trung tâm Bệnh viện dành một khu nhà nghỉ gần 50 phòng (khoảng 400 giường) để người nhà bệnh nhân có điều kiện nghỉ ngơi trong thời gian chăm sóc bệnh nhân tại bệnh viện Bệnh viện cũng có 1 khu nhà dành cho nhân viên, sinh viên đến thực tập và khu nhà dành cho chuyên gia trong và ngoài nước đến giúp đỡ bệnh viện Bệnh viện có hệ thống trang thiết bị hiện đại và đồng bộ, đáp ứng tốt nhu cầu khám chữa bệnh ung thư Các hệ thống chẩn đoán và theo dõi điều trị ung thư như máy CT- scan đa lát cắt, máy MRI 3,0T, máy tăng sáng truyền hình, máy siêu âm màu 4 chiều, máy nội soi can thiệp, máy SPECT, PET-CT, máy đếm tế bào tự động 40 thông số, máy xét nghiệm sinh hóa tự động, ELISA tự động, FACS, miễn dịch hóa tổ chức, máy cắt lạnh, hệ thống phân tích gen… Các hệ thống trang thiết bị xạ trị ung thư kỹ thuật cao như máy
xạ trị gia tốc, máy xạ phẫu, xạ trị áp sát liều cao, CT mô phỏng… Các cơ sở điều trị hiện đại như 10 phòng mổ chuẩn, khu hậu phẫu 40 giường bệnh, khu Hồi sức cấp cứu
Trang 24và chăm sóc giai đoạn cuối 50 giường bệnh và khu ghép tủy xương 6 phòng ghép chuẩn…
Đội ngũ nhân lực chuyên môn của bệnh viện với các Phó giáo sư, Tiến sỹ, Bác
sỹ chuyên khoa II, Bác sỹ chuyên khoa I, Thạc sỹ y học, Bác sỹ nội trú, Kỹ sư vật lý hạt nhân, Cử nhân kỹ thuật y học, Cử nhân điều dưỡng và các chức danh chuyên môn khác, đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh ung thư chất lượng cao Các nhân viên chuyên môn được tuyển dụng với yêu cầu cao về khả năng chuyên môn, khát khao khoa học, phẩm chất đạo đức và yêu thương bệnh nhân, sẵn sàng cho mục tiêu khám chữa bệnh
1.2.3 Bệnh viện C Đà Nẵng
Bệnh viện C Đà Nẵng là bệnh viện trực thuộc Bộ y tế nằm ở trung tâm thành phố Đà Nẵng có nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh cho cán bộ trung, cao cấp của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong khu vực miền Trung – Tây Nguyên Trong những năm gần đây, được Nhà nước đầu tư và xây dựng cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện đại, đồng thời thường xuyên nhận được sự hỗ trợ về mặt chuyên môn của các chuyên gia đầu ngành cũng như các chuyên gia nước ngoài, Bệnh viện luôn thực hiện tốt nhiệm vụ Cùng với việc nâng cao chất lượng khám và giải quyết nhanh, cấp cứu kịp thời cho các ca bệnh nặng, bệnh viện đã và đang triển khai thành công nhiều kỹ thuật cao như: mổ sọ lấy não tụ, mổ u não, mổ thoái vị đĩa đệm, mổ u tủy sống đoạn
cổ, ngực, lưng và thắt lưng, mổ cắt phân thùy gan, cắt bán phần dạ dày, phẫu thuật tái tạo dây chằng quạ đòn, phẫu thuật thay chỏm xương đùi, mổ cắt khối tá tụy, mổ phẫu thuật nội soi tiêu hóa… Bệnh viện cũng không ngừng đầu tư trang thiết bị mới và hiện đại góp phần giúp bệnh nhân giảm bớt đau đớn, không mất nhiều thời gian và chi phí trong việc vận chuyển bệnh nhân lên tuyến trên Bệnh viện C Đà Nẵng có một đội ngũ
y bác sĩ luôn phục vụ bệnh nhân nhiệt tình chu đáo, xem nỗi đau của bệnh nhân như nỗi đau của mình, luôn đề cao tinh thần "Lương y như từ mẫu" Bên cạnh đó, Bệnh viện C Đà Nẵng đã không ngừng đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ viên chức Hàng năm, Bệnh viện thường xuyên gởi bác sĩ đi đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhân điều dưỡng, kỹ thuật cao cấp Mặt khác, Bệnh viện hết sức
Trang 25chú trọng cử cán bộ tham gia các khoá học ngắn hạn và dài hạn tại nước ngoài như: Đức, Mỹ, Australia, Israel, Nhật Bản, Hàn Quốc Hơn nữa, Bệnh viện còn quan tâm thực hiện công nghệ thông tin trong Bệnh viện Điện tử để giúp bệnh nhân tránh được các thủ tục hành chính phiền hà, thầy thuốc có nhiều thời gian chú trọng trao dồi chuyên môn hơn Bệnh viện C Đà Nẵng tiếp tục ứng dụng nhiều kỹ thuật tiên tiến mới vào thực tiễn hoạt động, sẵn sàng đón tiếp và phục vụ tận tình, chu đáo cho tất cả các đối tượng có nhu cầu đến khám và chữa bệnh tại bệnh viện, tiếp nhận bệnh nhân cấp cứu 24h/24h, tích cực điều trị bệnh bằng cả tâm huyết của người cán bộ y tế
Bệnh viện có tổng số 550 nhân viên và cán bộ, y bác sĩ Trong đó có 4 Tiến sĩ,
26 Thạc sĩ, 10 bác sĩ chuyên khoa I, 52 bác sĩ chuyên khoa II, 43 bác sĩ và 5 dược sĩ,
221 điều dưỡng
Trang 26CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG
NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Chất thải rắn y tế bao gồm chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn nguy hại, chất phát sinh tại các bệnh viện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Quá trình phân loại, thu gom, lưu trữ, vận chuyển chất thải rắn y tế hiện tại trên địa bàn thành phố
2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng
- Bệnh viện C Đà Nẵng
- Bệnh viện Ung thư Đà Nẵng
2.3 Nội dung nghiên cứu
Đề tài này nhằm nghiên cứu thực trạng thu gom, lưu trữ, vận chuyển chất thải rắn tại các bệnh viện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng với các mục tiêu chính:
- Tìm hiểu về rác thải tại bệnh viện (các loại rác, nguồn phát sinh, số lượng bao nhiêu, thành phần, tính chất)
- Tìm hiểu về hệ thống thu gom, lưu trữ, vận chuyển, xử lí rác thải tại các bệnh viện
- Tìm hiểu thực trạng quản lí rác thải hiên nay tại các bệnh viện
- Ý kiến cộng đồng về công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn trên địa bàn
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các tài liệu liên quan, trên cơ sở đó phân tích, tổng quát, khái quát hóa thông tin để làm rõ vấn đề Đây là phương pháp nhằm giảm bớt các công việc ngoài thực địa Tài liệu, số liệu được thu thập từ các cơ quan sau :
- Khoa Kiểm soát Nhiễm khuẩn, Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng;
- Phòng Hành chính – Quản trị, Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng;
Trang 27- Phòng Điều dưỡng, Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng;
- Khoa Kiểm soát Nhiễm khuẩn, Bệnh viện C Đà Nẵng;
- Khoa Kiểm soát Nhiễm khuẩn, Bệnh viện Ung thư Đà Nẵng;
- Phòng Hành chính Tổng hợp, Bệnh viện Ung thư Đà Nẵng;
2.4.2 Phương pháp thực địa
Quan sát thực tế quy trình và cách thức quản lý tại các bệnh viện
2.4.3 Phương pháp điều tra bằng anket và phỏng vấn
Sử dụng phiếu điều tra đồng thời phỏng vấn công nhân đang làm công tác thu gom và cán bộ, nhân viện, bệnh nhân tại các bệnh viện Phiếu điều tra gồm 18 câu hỏi dạng trắc nghiệm và câu hỏi phỏng vấn, thời gian hoàn thành từ ngày 01/04/2014 đến
ngày 06/04/2014 Số phiếu được sử dụng là 100 phiếu cho mỗi bệnh viện
2.4.4 Phương pháp thống kê
Thống kê và xử lý số liệu thu thập được
Trang 28CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Kết quả khảo sát khối lượng và thành phần chất thải rắn y tế phát sinh
Lượng CTR phát sinh trung bình tại mỗi bệnh viện là 0.96kg/giường/ngày, trong
đó chất thải y tế chiếm 0.14-0.2 kg/giường/ngày Lượng chất thải trung bình ngày được thống kê trong bảng 3.1
Bảng 3.1: Lượng chất thải phát sinh từ các bệnh viện trung bình ngày
Bệnh viện Bệnh viện Đa Khoa Bệnh viện Ung thư Bệnh viện C
Từ bảng 3.1 có thể thấy tổng khối lượng CTR phát sinh trung bình ngày tại các bệnh viện không đồng đều, nhiều nhất là tại bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng và thấp nhất
là tại bệnh viện Ung thư Đà Nẵng, khối lượng CTR phát sinh không chỉ phụ thuộc vào
số lượt người đến khám chữa bệnh tại các bệnh viện, mà còn phụ thuộc vào tình hình bệnh tật thực tế của người bệnh, mực độ tuân thủ quy tắc khám chữa bệnh và đôi khi là thói quen của các cán bộ y tế tại các bệnh viện
Sự gia tăng khối lượng chất thải y tế theo từng năm tại 3 bệnh viện được thể hiện qua biểu đồ dưới đây:
Trang 29Hình 3.1: Biểu đồ về sự gia tăng khối lượng chất thải y tế theo từng năm
Qua biểu đồ ta thấy, hầu như tổng khối lượng rác thải từng năm của mỗi bệnh viện đều tăng, riêng bệnh viện Ung thư Đà Nẵng vì mới đi vào hoạt động nên chỉ có số liệu của năm 2013, và trong những năm tới còn có thể tăng nhiều hơn nữa
Đối với khối lượng chất thải y tế phân chia theo thành phần phát sinh tại các bệnh viện, cho đến nay vẫn chưa có số liệu thống kê cụ thể
Do vậy, tôi đã tới khu vực lưu trữ chất thải tại các bệnh viện để trực tiếp phân loại và xác định tỉ trọng theo khối lượng của mỗi thành phần trong rác thải y tế kết quả khảo sát thành phần của 3 bệnh viện trong khu vực nghiên cứu được trình bày trong bảng 3.2
Trang 30Bảng 3.2: Thành phần chất thải rắn từ các bệnh viện Thành phần chất thải (%) Bệnh viện Đa
Khoa
Bệnh viện Ung Thư
Bệnh viện C
Nhìn chung, mức độ chênh lệch theo thành phần của các loại chất thải rắn y tế phát sinh tại các bệnh viện là không quá nhiều, trong đó nhóm chất thải bơm, kim tiêm luôn chiếm tỷ trọng cao nhất, điều này chứng tỏ hoạt động khám chữa bệnh tại các trạm y tế là tương đối giống nhau
3.2 Kết quả khảo sát hiện trạng phân loại, thu gom chất thải y tế
3.2.1 Công tác phân loại chất thải rắn y tế
CTR y tế phát sinh sau các bệnh viện sẽ do chính các y bác sĩ phân loại ngay tại nơi phát sinh chất thải Dưới mỗi xe đẩy tay dành cho việc tiêm và phát thuốc tại mỗi