Về mặt lí luận: Góp phần làm sáng tỏ tác dụng của việc sử dụng các phươngpháp dạy học tích cực, đặc biệt là phương pháp dạy học “Dựa trên dự án” và tíchhợp liên môn vào bài dạy trong việ
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN
TRƯỜNG THPT ĐẶNG THAI MAI
- -SÁNG KIẾN
GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
VÀ PHÁT HUY TÍNH SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC DỰ ÁN BÀI “VẬT LIỆU POLIME” – HÓA HỌC 12Tác giả:
Trang 2III THỜI GIAN, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
1 Những hạn chế của hoạt động đổi mới phương pháp dạy học. 4
2 Thực trạng học tập môn hóa học của học sinh 5
3 Thực trạng tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường
THPT
6
Trang 32 Một số hình ảnh hoạt động của các nhóm 45
Trang 4PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay, với thành tựu của các ngành khoa học, nhu cầu cuộc sống conngười càng cao Trong khi đó do tác động của điều kiện tự nhiên, biến đổi khí hậu,kim loại bị ăn mòn đi nhiều, nguồn khoáng sản ngày càng cạn kiệt, do đó, việc đitìm nguồn nguyên liệu thay thế là rất cần thiết Vật liệu polime đang được chú ý donhững tính năng cơ lí rất cao Vật liệu polime với sự phong phú về chủng loại và
đa dạng về tính chất đã có mặt khắp mọi lĩnh vực của cuộc sống Có thể nói, trongcuộc sống con người hiện nay từ ăn mặc đến chỗ ở, phương tiện đi lại đều khôngthể tách rời vật liệu polime Polime có nhiều ứng dụng quan trọng trong nhiều lĩnhvực, ngành nghề của cuộc sống như:
• Sản xuất đồ gia dụng: bạn có thể nhận thấy rõ ràng rất nhiều đồ gia dụng sử dụng trong nhà bạn được làm từ nhựa polime như rổ, chai lọ, áo mưa, ống dẫn điện, ống dẫn nước
• Lĩnh vực công nghiệp: các sản phẩm công nghiệp cũng sử dụng rất nhiều nhựa polime như quá trình sản xuất ô tô, máy bay
• Lĩnh vực thời trang: rất nhiều các loại quần áo hiện nay có pha một phần hoặc
hoàn toàn làm từ polime, các túi xách cũng được sử dụng nhiều polime bởi khả năng chống nước và độ bền mà nó mang lại
Mặc dù chúng có những ứng dụng, vai trò quan trọng là thế, thế nhưng cũng
để lại nhiều tác động xấu đến với môi trường, con người như :
• Quá trình để sản xuất polime sẽ tạo ra khí CO2 làm tăng hiệu ứng nhà kính, gia tăng sự biến đổi khí hậu và kèm theo các hệ lụy tới môi trường sống như: nước biển dâng cao, hạn hán, lũ lụt…
• Tác động xấu đến sức khỏe của con người: Vì các chất phụ gia được thêm vào sản phẩm để tạo nên các polime nhân tạo có thể gây tổn thương và làm thoái hóa thần kinh ngoại biên, làm tổn thương các cơ quan sinh dục nam
• Sự tồn tại của polime trong đất và nước sẽ ngăn cản quá trình trao đổi oxy làm xói mòn, sạt lở đất, không giữ được chất dinh dưỡng gây cây cối sinh trưởng
không tốt, sinh vật biển có thể bị chết do ăn phải chất thải,…
• Các polime ở dưới dạng bao bì plactic sẽ gây tắc nghẽn cống, kênh rạch và ao hồ,gây ứ đọng nước và gây ô nhiễm môi trường
• Nếu bạn đốt những sản phẩm polime sẽ gây độc cho sức khỏe và gây ô nhiễm môi trường trầm trọng
• Những dạng phế thải từ nhựa nhiệt dẻo như polietilen, polipropilen, polistiren,polivinyl clorua, polimetylmetacrylat hay các sản phẩm từ nhựa nhiệt rắn nhưepoxi, polieste không no, poliuretan và các chế phẩm từ cao su khi bị thải ra
Trang 5ảnh hưởng nặng nề đến môi trường do chúng tồn tại trong đất thời gian khá lâurất khó phân hủy Nếu đem chôn lấp vừa tốn diện tích đất vừa gây ô nhiễm chonguồn nước và đất Nếu dùng phương pháp đốt cũng tốn kém và còn gây ônhiễm môi trường do khói bụi, làm suy giảm tầng ozon và sinh ra các chất độchại hữu cơ khó phân hủy Nếu dùng phương pháp tái sinh thì cũng thu được sảnphẩm có chất lượng không cao, mà giá thành lại không phải là thấp
Bên cạnh đó, con người lại đang sử dụng các loại vật liệu thông dụng nàychưa thật sự tiết kiệm, an toàn và có trách nhiệm, thậm chí là bừa bãi Chính điềunày đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường, đến sự phát triển của xã hội
Hóa học là nghành khoa học thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên Hóa học có
sự kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và thực nghiệm Hóa học đóng vai trò quantrọng trong cuộc sống, sản xuất, góp phần lớn vào sự phát triển kinh tế xã hội
Là một trong những môn học có giá trị thực tiễn cao nhất, hóa học hiện diện ởmọi ngóc ngách trong cuộc sống Hầu như mỗi vật dụng nào chúng ta đang sửdụng đều là kết quả của hóa học Từ những món ăn hằng ngày, đồ dùng họctập, thuốc chữa bệnh, đến các hương thơm dịu nhẹ của nước hoa, mỹ phẩm,dược phẩm đều là sản phẩm của hóa học Hóa học được mệnh danh là “khoahọc trung tâm của các nghành khoa học” Vì có rất nhiều nghành khoa họckhác đều lấy hóa học làm cơ sở nền tảng phát triển như: vật lí học, sinh học,hay khoa học tội phạm, là cầu nối các nghành khoa học tự nhiên khác như vật
lí, sinh học, y dược và địa chất học Hóa học còn là cơ sở cho nhiều nghànhcông nghiệp khác phát triển như: công nghiệp, điện tử, luyện kim, dượcphẩm, Từ hàng ngàn năm trước hóa học đã xuất hiện với cái tên vô cùng thú
vị “Giả kim thuật” Giả kim thuật do những nhà giả kim xa xưa nghiên cứukim loại Với mục đích lớn nhất là biến đổi những chất bình thường, giá thành
rẻ thành những chất kim loại quý hiếm như vàng Hóa học hiện diện khắp nơitrong cuộc sống, qua đó thấy được vai trò vô cùng quan trọng của bộ môn hóahọc
Ngày nay cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, lao động của con
người hiện đại càng nhẹ nhàng hơn, năng suất lao động cao hơn, sản phẩm hànghóa nhiều hơn phục vụ nhu cầu vật chất và tinh thần của con người ngày càng đadạng Song trong công cuộc Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa, quá trình sản xuấtcủa con người cũng làm đã cho môi trường bị ô nhiễm, tài nguyên bị tàn phánghiêm trọng, thời tiết khí hậu bất thường … Nhân loại đang đứng trước nhữngnguy cơ tiềm ẩn đe doạ cuộc sống như: bệnh tật hiểm nghèo, ảnh hưởng tới tuổithọ và chất lượng cuộc sống Vì vậy, vấn đề ô nhiễm môi trường hiện nay khôngchỉ đòi hỏi sự quan tâm của một quốc gia, vùng lãnh thổ nào mà là vấn đề quantrọng, cấp thiết của toàn nhân loại Điều này đã được khẳng định tại Hội nghị của
Liên hiệp quốc về “Môi trường và phát triển” họp ở Riô- Đgia nêrô ngày
14/3/2002 Theo báo cáo của Bộ tài nguyên và môi trường, thực trạng môi trườngnước ta hiện nay là: Ô nhiễm nước, không khí và đất xuất hiện ở nhiều nơi, nhiều
Trang 6vấn đề vệ sinh môi trường đã phát sinh cả ở thành thị và nông thôn Môi trường bắtđầu ô nhiễm, trước hết là do khai thác dầu Các sự cố môi trường như bão lụt, hạnhán ngày càng tăng lên Môi trường bị ô nhiễm là do ý thức bảo vệ môi trường củacon người còn kém Hơn nữa do dân số nước ta tăng nhanh và tập trung quá đôngvào các đô thị lớn nên tình trạng ô nhiễm không khí, nguồn nước ngày càng trầmtrọng Điều quan trọng là tình trạng ô nhiễm môi trường đang trực tiếp ảnh hưởngxấu đến đời sống và sức khoẻ của con người Các căn bệnh hiểm nghèo như: ungthư, dịch tiêu chảy cấp, bệnh ngoài da đều có nguyên nhân bắt nguồn từ môitrường sống bị ô nhiễm nặng nề Chính vì vậy việc giáo dục ý thức bảo vệ môitrường cho con người, đặc biệt là học sinh vô cùng quan trọng, đòi hỏi không chỉnhà trường mà toàn xã hội cần quan tâm thực hiện Ở cấp học THPT, nội dunggiáo dục môi trường phải được coi là nội dung chính thống, có hệ thống, có chấtlượng và phải hiệu quả Cần phải giúp các em tự mình chiếm lĩnh được tri thức, kỹnăng và tự thân các học sinh xác định được thái độ phải đối xử đúng đắn với thiênnhiên như chính ngôi nhà của mình Việc giáo dục môi trường trong nhà trườngphổ thông chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng, đặc biệt là với bộ môn có mối liên
hệ chặt chẽ đời sống và thực tiễn như bộ môn hóa học thì việc giáo dục ý thức bảo
vệ môi trường cho các thế hệ học sinh lại cần được chú trọng hơn nữa
Ngày nay, dạy học phát triển phẩm chất, năng lực đang trở nên phổ biến trên thếgiới Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực thể hiện sự quan tâm tới việc ngườihọc làm được gì sau quá trình đào tạo chứ không thuần túy là chỉ biết được gì;quan tâm tới người dạy sẽ dạy như thế nào để hình thành phẩm chất, năng lực củangười học chứ không phải chỉ là dạy nội dung gì cho người học với mong muốnngười học biết càng nhiều, càng sâu Dạy học hiện đại đặt ra hàng loạt các yêu cầuđối với các thành tố của hoạt động dạy học, trong đó đặc biệt lưu tâm đến PPDHphát triển phẩm chất, năng lực cho người học Xu hướng hiện đại được hiểu làkhuynh hướng, chiều hướng mang tính mới, tiên tiến Xu hướng hiện đại về PP,KTDH phát triển phẩm chất, năng lực được xem xét là chiều hướng lựa chọn và sửdụng các PP, KTDH mới, tiên tiến nhằm phát triển phẩm chất, năng lực Tiếp tụcđổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tính tíchcực, chủ động, sáng tạo của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều,ghi nhớ máy móc Việc lựa chọn được các PPDH và KTDH phù hợp với khả năngcủa HS, của GV; tính chất của hoạt động cụ thể trong kế hoạch dạy học, điều kiện
cơ sở vật chất của nhà trường, địa phương nhằm đạt được mục tiêu phát triển phẩmchất, năng lực đã đề ra là hết sức quan trọng Định hướng chung của Bộ Giáo Dục
về phương pháp dạy học, giáo dục đảm bảo các tiêu chí sau:
• Tích hợp, lồng ghép nội dung lý thuyết trong thực hành, thảo luận; kết hợp liên
hệ kiến thức, kĩ năng của môn công nghệ với kiến thức, kĩ năng của các môn học,hoạt động giáo dục khác một cách phù hợp, thiết thực
• Chú trọng dạy học trải nghiệm; vận dụng linh hoạt các PP, KT dạy học và hìnhthức tổ chức, không gian hoạt động, học tập, tạo cơ hội để học sinh rèn luyện kĩ
Trang 7năng, vận dụng kiến thức thông qua các chủ đề, nội dung thực tế vào thực hành,vận dụng kiến thức vào tình huống thực tế cuộc sống.
• Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; tạo điều kiện để học sinh
tự tìm hiểu, mở rộng tri thức, tiếp tục phát triển các phẩm chất, năng lực cần thiếtcủa học sinh THPT
• Khai thác, sử dụng hợp lí thiết bị dạy học, mạng internet; tận dụng các chất liệu,vật liệu sẵn có ở địa phương
Nhận thấy trong giai đoạn hiện nay, nhiều học sinh còn lười học, chưa có tính
tự giác Đa số các em học sinh còn tiếp thu kiến thức một cách thụ động, chưa cóniềm đam mê đối với môn học và tính sáng tạo trong học tập của các em còn bịhạn chế Vì vậy, việc sử dụng các PP, KT dạy học nhằm phát huy tính tích cực,chủ động, sáng tạo của học sinh là hết sức cần thiết
Và một trong các phương pháp mang lại tính hiệu quả cao của việc phát huyđược tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh đó là phương pháp “Dạy họcdựa trên dự án” hay còn gọi là “Dạy học dự án” Dạy học dựa trên dự án là cáchthức tổ chức dạy học, trong đó học sinh thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp,trong đó có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, tạo ra các sản phẩm có thể giớithiệu, trình bày
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi xin được chia sẻ đề tài : “Giáo dục ý thức bảo
vệ môi trường và phát huy tính sáng tạo của học sinh thông qua dạy học dự án bài “Vật liệu polime”” – Hóa học 12.
II MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI.
1 Mục tiêu
Nghiên cứu về vật liệu polime và tầm quan trọng của vật liệu polime trongđời sống của con người Bằng những kiến thức hóa học hiểu được những tác độngcủa nó đối với môi trường sống
Nghiên cứu về thực trạng, nguyên nhân, hậu quả của việc sử dụng thiếu hợp
lý nguồn năng lượng Từ đó đưa ra giải pháp của vấn đề sử dụng vật liệu polimetrong cuộc sống
2 Nhiệm vụ
Nghiên cứu các nội dung cơ sở lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài Tìm hiểu thực trạng về tính chủ động, tích cực trong việc lĩnh hội kiến thứcmôn hóa học cũng như khả năng tư duy sáng tạo, vận dụng kiến thức đã học đượcvào thực tiễn đời sống của học sinh
Tìm hiểu khái niệm, điều kiện sử dụng, các giai đoạn của phương pháp dạyhọc dựa trên dự án, cũng như ý nghĩa của nó trong việc phát triển phẩm chất chủyếu và năng lực của học sinh
Sử dụng việc dạy học dự án vào bài dạy và các phương pháp dạy học tíchcực như: tích hợp liên môn, hợp tác nhóm nhỏ, dạy học STEAM…vào bài dạy
Trang 8“Vật liệu polime” nhằm tạo sự hứng thú, sinh động trong việc tiếp thu kiến thức
của học sinh Và quan trọng hơn nữa là qua đó giúp cho học sinh phát huy đượctính sáng tạo, có ý thức bảo vệ môi trường và tái sử dụng các vật liệu phế thải
Thực nghiệm sư phạm để nghiên cứu hiệu quả của giáo án đã xây dựng vàkhả năng áp dụng vào quá trình dạy học, rút ra kết luận, giúp học sinh THPT pháttriển năng lực sáng tạo và hình thành thái độ, hành vi đúng đắn trong hoạt độngnhận thức cũng như trong đời sống xã hội
III THỜI GIAN, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
1 Thời gian: Đề tài được thực hiện nghiên cứu và áp dụng trên đối tượng học
sinh kéo dài 2 tuần
2 Đối tượng nghiên cứu: Ý thức bảo vệ môi trường, tính sáng tạo của học
sinh lớp 12 sau khi học bài “Vật liệu polime”
3 Phạm vi nghiên cứu:
Dạy học dự án bài “Vật liệu polime” – Hóa học 12
Tích hợp các môn học: vật lí, địa lý, công nghệ, giáo dục công dân trongdạy bài “Vật liệu polime” – Hóa học 12
Ý thức, trách nhiệm của học sinh đối với việc bảo vệ môi trường sống cũng như tính sáng tạo của các em trong việc tái chế vật liệu polime thành những vật liệu hữu ích
IV ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI.
Về mặt lí luận: Góp phần làm sáng tỏ tác dụng của việc sử dụng các phươngpháp dạy học tích cực, đặc biệt là phương pháp dạy học “Dựa trên dự án” và tíchhợp liên môn vào bài dạy trong việc phát triển khả năng sáng tạo và hứng thú họctập cho học sinh
Về mặt thực tiễn: Thiết kế giáo án một bài dạy cụ thể với việc sử dụng cácphương pháp dạy học tích cực như: dạy học dự án, phương pháp đóng vai, hợp tácnhóm nhỏ, dạy học STEAM…; kết hợp với tích hợp liên môn và hệ thống câu hỏibài tập có nội dung liên quan đến vật liệu polime, hiểu biết về các vật liệu polime
Từ đó thúc đẩy học sinh có ý thức bảo vệ môi trường, tuyên truyền, hướng dẫncộng đồng sử dụng vật liệu polime an toàn, tiết kiệm, hiệu quả, giảm thiểu ô nhiễmmôi trường Đồng thời phát huy được tính tích cực sáng tạo của học sinh thông quaviệc tái chế vật liệu polime
PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I CƠ SỞ LÝ LUẬN
- Về thực trạng học tập bộ môn Hoá học của học sinh ở các trường THPT: đa số
HS đang học tập mang tính đối phó, chưa thực sự hứng thú với môn học
Trang 9Hóa học là bộ môn khoa học gắn liền với tự nhiên, đi cùng đời sống của conngười Việc học tốt bộ môn hóa học trong nhà trường sẽ giúp học sinh hiểu được
rõ về cuộc sống, những biến đổi vật chất trong cuộc sống hàng ngày Vì vậy việchiểu biết về hoá chất và nắm được những tính chất của chất giúp chúng ta biết vậndụng để giải các bài tập, xử lí các tình huống diễn ra trong tự nhiên và sử dụng hoáchất đúng cách, hiểu được tầm quan trọng của hoá chất để ứng dụng vào thực tiễnsản xuất và đời sống con người Từ những hiểu biết này giáo dục cho học sinh ýthức bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của Tổ quốc, đồng thời biết làm những việc bảo
vệ môi trường sống trước những hiểm họa về môi trường do con người gây ratrong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhằm tạo dựng một cuộc sống ngàycàng tốt đẹp hơn
Mặc dầu là bộ môn được coi là khó đối với học sinh, nhưng nếu tạo cho họcsinh hứng thú khi học bài trên lớp thì việc học môn hóa học lại trở nên nhẹnhàng, bằng cách cho học sinh nắm chắc các kiến thức cơ bản, sát với thực tế đờisống, sản xuất, đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của nhu cầu lao động sản xuất vàtiếp tục học lên cao của học sinh Vì vậy, người giáo viên đóng một vai trò cực kỳquan trọng trong chất lượng giảng dạy nói chung, trong giảng dạy bộ môn hóa họcnói riêng
- Về phương pháp dạy học(PPDH) tích cực hiện nay tại các trường THPT; vai tòcủa PPDH tích cực trong dạy học
PPDH tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉnhững phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủđộng, sáng tạo của người học “Tích cực” trong PPDH tích cực được dùng với
nghĩa tức là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với không hoạt động, thụ động chữ
không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực PPDH tích cực hướng tới việc hoạt độnghóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, tức là tập kết vào phát huytính tích cực của người học chứ không phải là tập kết vào phát huy tính tích cựccủa người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì thầy giáo phải
nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động
Trên thực tiễn, trong qúa trình dạy học người học vừa là đối tượng của hoạtđộng dạy, lại vừa là chủ thể của hoạt động học Phê chuẩn hoạt động học, dưới sựchỉ đạo của thầy, người học phải hăng hái chủ động cải biến chính mình về trithức, năng lực, thái độ hoài nghi, hoàn thiện nhân cách, không ai làm thay chomình được Bởi vậy, nếu người học không tự giác chủ động, không chịu học,không có biện pháp học tốt thì hiệu quả của việc dạy sẽ rất hạn chế Như vậy, khi
đã chú trọng vị trí hoạt động và vai trò của người học thì dĩ nhiên phải phát huytính hăng hái chủ động của người học Tuy nhiên, dạy học lấy học trò làm trọngtâm không phải là một biện pháp dạy học cụ thể Đó là một tư tưởng, quan điểmgiáo dục, một cách tiếp cận quá trình dạy học chi phối tất cả qúa trình dạy học về
Trang 10mục đích, nội dung, biện pháp, công cụ, tổ chức, đánh giá… chứ không phải chỉliên quan đến biện pháp dạy và học.
Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy Cách dạy chỉ đạo cách học,nhưng trái lại thói thường học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy của thầy.Chẳng hạn, có trường hợp học sinh đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng thầygiáo chưa đáp ứng được, hoặc có trường hợp thầy giáo tích cực vận dụng PPDHtích cực nhưng không thành công vì học sinh chưa thích nghi, vẫn quen với lối họctập thụ động Vì thế, thầy giáo phải bền chí dùng cách dạy hoạt động để dần dầnxây dựng cho học sinh phương pháp học tập chủ động một cách vừa sức, từ thấplên cao Trong đổi mới phương pháp dạy học phải có sự hợp tác cả của thầy và trò,
sự phối hợp ăn nhịp hoạt động dạy với hoạt động học thì mới hiệu quả Như vậy,việc dùng thuật ngữ “Dạy và học tích cực” để phân biệt với “Dạy và học thụđộng”
II CƠ SỞ THỰC TIỄN
- Vai trò của bộ môn hóa học trong việc hình thành và phát triển trí dục học sinh Hóa học là nghành khoa học thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, nghiên cứu về thành phần, cấu trúc, tính chất và sự biến đổi của các đơn chất và hợp chất Hóa học có sự kết hợp chặt chẽ giữa lý thuyết và thực nghiệm, là cầu nối các nghành khoa học tự nhiên khác như vật lí, sinh học, y dược, địa chất học Những tiến bộ trong lĩnh vực hóa học gắn liền với sự phát triển của những phát hiện mới trong các lĩnh vực của các nghành sinh học, y học và vật lý Hóa học đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống, sản xuất, góp phần vào sự phát triển kinh tế, xã hội Những thành tựu của hóa học được ứng dụng vào các nghành vật liệu, năng lượng, y dược,công nghệ sinh học, nông - lâm – ngư nghiệp và nhiều lĩnh vực khác
Trong chương trình giáo dục phổ thông, Hoá học là môn học thuộc giai đoạngiáo dục định hướng nghề nghiệp ở cấp THPT, được học sinh lựa chọn theo địnhhướng nghề nghiệp, sở thích và năng lực của bản thân Môn Hoá học giúp học sinh
có được những tri thức cốt lõi về hoá học và ứng dụng những tri thức này vào cuộcsống, đồng thời có mối quan hệ với nhiều lĩnh vực giáo dục khác
- Ý nghĩa của hoạt động sáng tạo trong quá trình học tập của học sinh
Hoạt động TNST là hoạt động giáo dục, trong đó, dưới sự hướng dẫn và tổchức của nhà giáo dục, từng cá nhân học sinh được tham gia trực tiếp vào các hoạt
động thực tiễn khác nhau của đời sống gia đình, nhà trường cũng như ngoài xã hội
với tư cách là chủ thể của hoạt động, qua đó phát triển năng lực thực tiễn, phẩmchất nhân cách và phát huy tiềm năng sáng tạo của cá nhân mình
Việc hoạt động TNST xuất hiện như một nội dung mới trong chương trìnhgiáo dục phổ thông tổng thể đã dành được sự quan tâm cũng như ý kiến từ dư
luận Hoạt động TNST không gọi là môn học mà là hoạt động giáo dục Hoạt động
TNST được xem là một bộ phận hữu cơ không thể thiếu trong quá trình giáo dụcnói chung, quá trình dạy học nói riêng ở nhà trường phổ thông, góp phần thực hiện
Trang 11các mục tiêu giáo dục đào tạo của nhà trường phổ thông Một môi trường lớp họctốt luôn đòi hỏi phải có sự sáng tạo – điều khiến cho các bài học và công việc họctập trở nên thú vị Yếu tố sáng tạo được tích hợp trong chương trình giảng dạy sẽgiúp học sinh học hỏi những điều mới, cải thiện năng lực giao tiếp và các kĩ năngcảm xúc và xã hội Các lớp học sáng tạo sẽ làm thay đổi cách học sinh học tập vàcách chúng áp dụng các kiến thức đã học vào cuộc sống thực Vai trò quan trọngcủa sự sáng tạo có thể thấy rõ thông qua những lợi ích thiết thực mà hoạt động giáodục này mang lại như sau:
• Giúp học sinh học với niềm vui: Hoạt động sáng tạo tạo cơ hội cho học sinh học
tập trong niềm vui, giúp học sinh học tập mà không cảm thấy bị áp lực
• Tự do thể hiện quan điểm: Không giống như các phương pháp giảng dạy truyền
thống, các lớp học sáng tạo cho học sinh cơ hội thể hiện bản thân
• Phát triển cảm xúc: Sự sáng tạo rất quan trọng đối với sự phát triển cảm xúc của
học sinh Học sinh phải học cách tương tác và thể hiện bản thân trước các bạn xung quanh Khi học sinh có thể thể hiện cảm xúc thật của mình một cách sáng tạotrong lớp học, chúng sẽ cảm thấy tự tin hơn
• Tăng cường khả năng tư duy: Sáng tạo có thể kích thích khả năng tư duy tưởng
tượng ở học sinh Đó là lý do tại sao giáo viên thúc đẩy các hoạt động như câu hỏi
mở, hoạt động nhóm, các buổi thảo luận, tranh biện
• Giảm căng thẳng và lo lắng: Việc học tập theo cách truyền thống sẽ khiến học
sinh cảm thấy căng thẳng, mệt mỏi Sự sáng tạo, cảm giác vui vẻ này giúp học sinhthư giãn và giảm bớt sự lo lắng, từ đó chuẩn bị tốt cho các kỳ thi
• Tăng cường kỹ năng giải quyết vấn đề: Các hoạt động động não sẽ kích thích
các kỹ năng giải quyết vấn đề ở học sinh Sáng tạo thực sự có thể thay đổi cách họcsinh tiếp cận một vấn đề, suy nghĩ sâu và giàu trí tưởng tượng hơn
• Cải thiện sự tập trung và sự chú ý: Các phương pháp giảng dạy truyền thống
thường gây nhàm chán khiến học sinh cảm thấy buồn ngủ, mất tập trung Các chiến lược giảng dạy sáng tạo sẽ cải thiện sự tập trung và sự chú ý của học sinh, từ
đó khiến thời gian dành cho việc học trở nên hiệu quả hơn
• Giúp học sinh giao tiếp tốt hơn: Một môi trường lớp học sáng tạo mở ra cho
học sinh một thế giới giao tiếp Học sinh có thể thực hiện việc thảo luận cởi mở và chủ động Điều này cũng kích thích kĩ năng giải quyết vấn đề trong nhóm và cảm giác gần gũi với nhau
• Theo đuổi theo đam mê: Việc tìm được điều là niềm đam mê và theo đuổi nó
chính là yếu tố tạo nên thành công trong cuộc sống Trong các lớp học sáng tạo, học sinh được học tập với các hoạt động học tập đa dạng dựa trên thế mạnh của người học Học sinh có cơ hội theo đuổi niềm đam mê của bản thân, điều này mang lại học sinh cảm giác hạnh phúc, tự do và thoải mái để sáng tạo
Trang 12• Cơ hội trong tương lai: Những người sáng tạo thường có lợi thế hơn hẳn trong
tương lai so với những người có kỹ năng học tập đơn thuần Nhất là trong bối cảnhthế giới có những chuyển biến mạnh mẽ như ngày nay, kĩ năng sáng tạo sẽ giúp học sinh có khả năng thích ứng và khẳng định mình, tạo ra sự khác biệt của bản thân trong cuộc sống Chính các lớp học sáng tạo là nơi nuôi dưỡng và chuẩn bị điều đó cho học sinh
• Tư duy đổi mới: Câu hỏi mở và thảo luận trong lớp là hai chiến lược giảng dạy
sáng tạo phổ biến giúp học sinh phát triển tư duy đổi mới Học sinh có cơ hội suy nghĩ nghiêm túc hơn các chủ đề và đưa ra những ý tưởng sáng tạo
• Thúc đẩy việc học tập suốt đời: Một người có tư duy sáng tạo luôn có mong
muốn học những điều mới Đó chính là kĩ năng học tập suốt đời Nó giúp học sinh luôn tích cực tham gia vào các hoạt động học tập không chỉ trên lớp mà cả ngoài cuộc sống Nói cách khác, chính các lớp học sáng tạo sẽ dạy học sinh các kĩ năng cần thiết của việc học tập suốt đời
Trong hai bài diễn thuyết trên TED talk, đó là “Liệu trằng trường học đã giếtchết sự sáng tạo” và “Làm thế nào để có thể thoát khỏi thung lũng chết của giáo dục” Sir Ken Robinson đã nêu lên tầm quan trọng của sáng tạo trong nền giáo dục ngày nay Để làm được điều đó, có lẽ chúng ta cần phải thực hiện rất nhiều công việc, nhưng trong đó quan trọng nhất vẫn là người giáo viên – người có thể tạo dựng được môi trường học tập sáng tạo – người thực hành các phương pháp giảng dạy sáng tạo – người là hình mẫu và truyền cảm hứng cho học sinh về sự sáng tạo
III THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ
1 Những hạn chế của hoạt động đổi mới phương pháp dạy học.
PPDH là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Để đổi mới PPDH, đòi hỏi người thầy không chỉ có bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng mà còn phải tự mình vượt qua những thói quen đã ăn sâu, bám rễ (một số thầy cô giáo viên nhiều năm bám theo chương trình cũ, phương pháp dạy học truyền thống đã ăn sâu vào nghiệp vụ sư phạm nên rất khó để dứt bỏ trong ngày một, ngày hai) Hoạt động đổi mới PPDH hiện nay có những thuận lợi
và khó khăn như sau:
Trang 13* Khó khăn:
Một trong những biểu hiện của việc đổi mới PPDH là chúng ta cần đa dạng hóa và vận dụng nhuần nhuyễn các hình thức học tập: Học sinh làm việc cá nhân, thảo luận nhóm, … Với cơ sở vật chất hiện nay – bàn ghế cố định - thì việc tổ chứcthảo luận nhóm cũng gặp một số khó khăn trong quá trình di chuyển (với một số nước tiên tiến hoặc một số trường trong nước, mỗi bàn chỉ có một học sinh thì việc
tổ chức thảo luận nhóm trong giờ dạy rất thuận tiện)
Ứng dụng CNTT và các phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học là một trong các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đổi mới PPDH theo quan điểm hiện đại nhưng hiện tại vẫn còn một số giáo viên vì trình độ ứng dụng CNTT còn hạn chế, hoặc chưa sử dụng thành thạo các thiết bị hiện đại nên còn lúng túng hoặc có tâm lí “e ngại” khi đổi mới PPDH Mặt khác số lượng máy tính
và máy chiếu ở nhiều trường còn chưa đảm bảo đáp ứng được nhu cầu của GV và
HS Vì thế, tuy việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy đã đem lại hiệu quả cao nhưngmức độ ứng dụng trong nhà trường và bản thân giáo viên chưa cao, chưa rộng rãi
và chưa thể trở thành một hệ thống ứng dụng đồng bộ trong môi trường giáo dục hiện nay
Với cách tổ chức thi cử - kiểm tra - đánh giá như hiện nay, một số bộ môn rất ngại thay đổi PPDH, muốn dạy khác đi cũng không được, buộc thầy cô một số
bộ môn phải dạy cho học sinh cách học vẹt để vào phòng thi dễ kiếm điểm, để đỗ đạt
Bên cạnh những kết quả bước đầu đã đạt được, việc đổi mới phương pháp dạy học,kiểm tra đánh giá ở trường trung học phổ thông vẫn còn nhiều hạn chế cần phải khắc phục Cụ thể là:
Hoạt động đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học phổ thông chưa mang lại hiệu quả cao Truyền thụ tri thức một chiều vẫn là phương pháp dạy học chủ đạo của nhiều giáo viên Số giáo viên thường xuyên chủ động, sáng tạo trong việc phối hợp các phương pháp dạy học cũng như sử dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học sinh còn chưa nhiều Hoạt động kiểm tra đánh giá chưa bảo đảm yêu cầu khách quan, chính xác, công bằng; việc kiểm tra chủ yếu chú ý đến yêu cầu tái hiện kiến thức và đánh giá qua điểm số đã dẫn đến tình trạng giáo viên và học sinh duy trì dạy học theo lối "đọc-chép" thuần túy, học sinh học tập thiên về ghi nhớ, ít quan tâm vận dụng kiến thức.Nhiều giáo viên chưa vận dụng đúng quy trình biên soạn đề kiểm tra nên các bài kiểm tra còn nặng tính chủ quan của người dạy Hoạt động kiểm tra đánh giá ngay trong quá trình tổ chức hoạt động dạy học trên lớp chưa được quan tâm thực hiện một cách khoa học và hiệu quả Các hoạt động đánh giá định kỳ, đánh giá diện rộng quốc gia, đánh giá quốc tế được tổ chức chưa thật sự đồng bộ hiệu quả
Thực trạng trên đây dẫn đến hệ quả là không rèn luyện được tính trung thực trong thi, kiểm tra; nhiều học sinh phổ thông còn thụ động trong việc học tập; khả
Trang 14năng sáng tạo và năng lực vận dụng tri thức đã học để giải quyết các tình huống thực tiễn cuộc sống còn hạn chế.
2 Thực trạng học tập môn hóa học của học sinh.
Một thực tế cho thấy môn hoá học là một môn trừu tượng, kiến thức rộng, khôkhan, học sinh khó tiếp thu, chỉ học trên sách vở mà ít quan tâm đến những hiệntượng, tự nhiên, ứng dụng thực tế, điều này làm cho các em mau quên kiến thức và
dễ chán, cảm thấy kiến thức hoá học thật trừu tượng, khó hiểu dẫn đến không yêuthích bộ môn, học một cách thụ động không biết giải quyết những hiện tượng liênquan đến kiến thức hoá học diễn ra xung quanh, không biết ứng dụng kiến thứcthực tiễn vào cuộc sống, ảnh hưởng đến vốn hiểu biết và kĩ năng sống của các em.Nếu không có những bài giảng và phương pháp hợp lí, phù hợp với thế hệ học tròthì dễ làm cho học sinh thụ động trong việc tiếp thu, cảm nhận
Thực trạng cho thấy với đặc thù của bộ môn, học sinh cảm thấy rất khó khăntrong vấn đề lĩnh hội và tiếp thu kiến thức, dẫn đến không yêu thích môn học ,hoặc có tư tưởng chỉ học thuộc lòng những kiến thức trong sách vở để kiểm tra, thi
cử chứ không phải học để hiểu biết, vận dụng vào thực tiễn đời sống nên việc tiếpthu kiến thức diễn ra một cách thụ động, hạn chế khả năng tư duy, sáng tạo, tầmnhìn, tầm hiểu biết kiến thức khoa học
Đặc điểm của bộ môn hóa là mang tính thực nghiệm cả về định tính và địnhlượng Khái niệm hóa học luôn trừu tượng, khó hiểu, không quan sát bằng mắtthường được (như nguyên tử, phân tử…) Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy rằngphần lớn học sinh học rất yếu về môn khoa học tự nhiên, trong đó có môn hóa học
* Thuận lợi:
Được sự quan tâm của nhà trường, phân công giảng dạy đúng chuyên môn,được tham gia các lớp tập huấn chuyên môn do Sở GDĐT tổ chức Giáo viên cótrình độ chuyên môn vững vàng, nhiệt tình trong công tác
Học sinh chấp hành khá tốt nội qui nhà trường, được trang bị đầy đủ SGK
Về cơ sở vật chất được quan tâm đầu tư xây dựng theo hướng kiên cố hóa; trường,lớp khang trang, thoáng mát, có trang thiết bị thực hành cơ bản đáp ứng nhu cầu tốithiểu, tạo điều kiện tốt cho việc học tập, sinh hoạt và vui chơi giải trí
* Khó khăn: a Đối với giáo viên
Do nhiều lý do nên giáo viên vẫn còn dạy học theo lối truyền thống, truyềnthụ kiến thức theo lối một chiều, chưa mạnh dạn trong việc đổi mới PPDH Một sốgiáo viên có ý thức đổi mới PPDH nhưng chỉ mang tính đối phó khi có thao giảng,
dự giờ, kiểm tra Một bộ phận giáo viên không tích cực đầu tư trong tiết dạy cũngnhư công tác soạn giảng, thậm chí còn sao chép giáo án của người khác hoặc tảitrên mạng về điều chỉnh chút ít để làm giáo án của riêng mình và để đối phó; lên
Trang 15lớp thiếu sự chuẩn bị phương tiện, đồ dùng dạy học dẫn đến tình trạng dạy chay,giờ học nhàm chán, thiếu thu hút, không gây được hứng thú cho học sinh.
Trong quá trình dạy học còn nặng về truyền thụ lý thuyết, ít vận dụng kiếnthức vào thực tiễn cuộc sống, ít cho học sinh thực hành thí nghiệm mà chủ yếu làthí nghiệm biểu diễn của giáo viên
b Đối với học sinh: Một bộ phận học sinh có ý thức tự học còn thấp, nănglực tiếp thu bài chưa tốt Phương pháp học tập của học sinh chưa phù hợp với đặcthù bộ môn, thụ động trong học tập, tái hiện một cách máy móc rập khuôn những
gì giáo viên giảng, lười suy nghĩ tìm tòi sáng tạo Còn nhiều học sinh chưa chú tâmvào việc thực hiện hiệm vụ của giáo viên giao trên lớp, làm bài tập ở nhà, lười suynghĩ, lười chép bài hoặc chép qua loa cho có lệ Đa số học sinh không học bài cũ,không nghiên cứu bài mới trước khi đến lớp Nhiều học sinh mất căn bản về kiếnthức toán học nên khi gặp những bài toán khó có liên quan nhiều đến kiến thứctoán học thì các em lại không làm bài được Từ đó dẫn đến chất lượng học tập củacác em thấp Một bộ phận gia đình học sinh chưa quan tâm nhiều đến việc học tậpcủa các em, thiếu sự phối hợp với nhà trường trong việc giáo dục con em mình
3 Thực trạng tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo ở trường THPT.
Thực trạng các hoạt động TNST đang được áp dụng trong các nhàtrường hiện nay trong chương trình hiện hành đều là các hoạt động chủ yếu được tổ chức dựa trên các chủ đề đã được quy định trong chương trình với các hình thức còn chưa phong phú và học sinh thường được chỉ định, phân côngtham gia một cách bị động
Giáo viên tổ chức hoạt động cho học sinh nhưng không rõ hoạt động đó
sẽ hướng tới hình thành những năng lực gì của các em Điều đó không phù hợp với một chương trình định hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh
Đa số giáo viên đã thấy rõ vị trí vai trò của hoạt động TNST trong nhà trường, song phần vì thời gian dành cho hoạt động còn hạn chế, một số GV còn chú trọng chuyên môn, một số chưa tích cực cập nhật sự đổi mới, số khác tích cực tham gia nhưng chưa có kỹ năng tổ chức từ đó dẫn đến GV ngại việc hoặc làm qua loa,hiệu quả hoạt động không cao
HS chưa có kỹ năng, cũng chưa được định hướng cụ thể nên còn e dè, thậmchí chưa nhiệt tình tham gia các hoạt động tập thể Cha mẹ học sinh chưa thật sựnhận thức về tầm quan trọng của hoạt động, còn chưa ủng hộ con em tham gia hoạtđộng tập thể
Công tác quản lí, chỉ đạo các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong các nhà trường đã được trú trọng, Tuy nhiên, đây là một nội dung mới nên trong quá trình tổ chức hoạt động TNST cho học sinh, vẫn còn lúng túng, chưa khoa học tạonên nhiều ý kiến trái chiều, băn khoăn về yêu cầu, cách thức tổ chức thực hiện, về khả năng của học sinh vì vậy để việc tổ chức hoạt động TNST cho học sinh có
Trang 16hiệu quả, BGH các nhà trường cần có những biện pháp cụ thể trong quản lý chỉđạo các HĐTNST.
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh trong trường THPT là một hoạt
động rất cần thiết Tuy nhiên, tại các trường THPT nhìn chung hoạt động này chưa
được chú trọng và quan tâm đúng mực.Vì vậy hiệu quả của việc giảng dạy ở cáctrường THPT do các hoạt động trải nghiệm sáng tạo mang lại hiện nay chưa caomặc dầu đã có sự quan tâm Do vậy, việc tăng cường tổ chức các hoạt động trảinghiệm sáng tạo trong giảng dạy ở trường THPT là rất quan trọng
Để minh họa cho điều này tôi đã làm khảo sát nhỏ đối với học sinh, giáoviên trong trường như sau:
3.1 Đối với học sinh
- Khảo sát về hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong học tập: Để thấy
được sự hứng thú của học sinh đối với các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trongquá trình học tập tôi làm phiếu khảo sát và thu được kết quả như sau:
Kết quả khảo sát tiến hành trên 780 học sinh khối 11 và 12 và thu được kết quảnhư sau:
Bảng kết quả điều tra về mức độ cần thiết của các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong học tập và mức độ hứng thú của học sinh đối với các hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Tổng số học
sinh điều tra
Kết quả điều tra
Rất cần thiết
Cần thiết
Không cần thiết
Rất hứng thú
Hứng thú
Không hứng thú
Như vậy theo kết quả bảng điều tra thì phần lớn học sinh rất muốn đượctham gia các hoạt động trải nghiệm sáng tạo Bởi đây là cơ hội cho các em đượctrải nghiệm thực tế, được thể hiện mình và làm những điều mình thích, vì có nhữnghọc sinh có thể học trên lớp không tốt nhưng kiến thức thực hành và kiến thức thực
tế của các em rất tốt
3.2 Đối với giáo viên
Để thấy được mức độ cần thiết của việc xây dựng các hoạt động trải nghiệmsáng tạo trong dạy học cho học sinh trong nhà trường tôi làm khảo sát như sau:
Trang 17- Khảo sát về mức độ quan tâm của giáo viên về hoạt động trải nghiệm sángtạo trong dạy học.
Câu 1: Thầy ( cô) thấy hoạt động trải nghiệm sáng tạo đối với việc dạy học ở
trường THPT là:
- Rất cần thiết - Cần thiết - Không cần thiết
Câu 2: Việc trải nghiệm sáng tạo cho môn hóa học là:
- Rất cần thiết - Cần thiết - Không cần thiết
Câu 3: Thầy (cô) đã tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo nào cho học sinh lớp mình
dạy chưa?
- Đã tổ chức - Chưa tổ chức
Sau khi khảo sát trên 72 giáo viên tôi nhận được kết quả như sau:
Bảng kết quả điều tra về mức độ quan tâm của giáo viên trong việc tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học
Tổng
số giáo
viên
điều tra
Kết quả điều tra
Rất cần thiết
Cần thiết
Khôn
g cần thiết
Rất cần thiết
Cần thiết
Không cần thiết
Đã tổ chức
Chưa tổ chức
IV NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC TRẠNG
1 Về phía giáo viên.
* Về mặt khách quan:
Một số các trường còn chưa có phòng thí nghiệm thực hành hoặc có nhưng chưađáp ứng được yêu cầu nên việc dạy học còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt trong cáctiết thực hành Trang thiết bị hỗ trợ cho công tác dạy của giáo viên và học tập củahọc sinh còn thiếu Hệ thống các phòng chức năng tại một số trường còn thiếu, hệthống trang thiết bị và các điều kiện hỗ trợ dạy học tại các trường chưa thật sự đápứng được điều kiện dạy học trong giai đoạn đổi mới và phát triển giáo dục
Trang 18Chương trình hiện tại còn quá tải so với khả năng nhận thức của học sinhnên nhiều em không theo kịp nội dung bài học Do điều kiện học sinh của huyện đa
số là con của nông dân nên các em ngoài việc học tập còn phụ giúp gia đình làmkinh tế nên thời gian đầu tư cho việc học tập không được nhiều Khả năng vậndụng kiến thức của học sinh còn hạn chế nên ảnh hưởng không nhỏ đến kết quảhọc tập của các em Nhiều cha mẹ học sinh đi làm ăn xa nên việc theo dõi, đôn đốchọc tập của các em ở nhà chưa thường xuyên là liên tục
Trình độ của GV tại các trường THPT chưa đồng bộ
* Về mặt chủ quan:
Giáo viên chưa nhận thức hết tầm quan trọng việc đổi mới, thiếu tính kiêntrì và thường xuyên trong việc thực hiện đổi mới PPDH Sự đa dạng các phươngtiện, kỹ thuật dạy học còn hạn chế làm ảnh hưởng đến kết quả dạy và học
Giáo viên ít quan tâm đến công tác đầu tư, chuẩn bị cho tiết dạy, trong giảngdạy ít quan tâm đến các học sinh yếu, kém Hoạt động giảng dạy vẫn còn dựa vàokinh nghiệm truyền thống, bỏ qua xây dựng kế hoạch Vì thế, GV đã phải vướngmắc không ít những khó khăn trong điều kiện các hoạt động dạy và học đang đượcđổi mới mạnh mẽ Đổi mới chương trình dạy học, đổi mới phương pháp và kiểmtra đánh giá kết quả học tập của HS chưa có sự gắn kết, điều này dẫn đến chấtlượng và hiệu quả trong các hoạt động đổi mới dạy học không được như mongmuốn
Một số cán bộ quản lý, giáo viên còn mơ hồ, không hiểu những phươngpháp dạy học hiện đại, phát triển năng lực học sinh Cho nên, trong sinh hoạtchuyên môn, còn lúng túng, bối rối, thiếu cụ thể, chi tiết trong chỉ dẫn, trong minhchứng về những phương pháp, cách dạy hiện đại trên
2 Về phía học sinh.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến các em không thích môn hóa học là
do môn hóa học các em được làm quen lần đầu tiên và trễ hơn so với các môn học khác Kiến thức hóa học tương đối nhiều và khó mà khả năng ghi nhớ của HS còn hạn chế Kiến thức hóa học là một chuỗi có liên quan chặt chẽ với nhau Kiến thức trước làm tiền đề cho kiến thức sau, kiến thức sau được xây dựng từ kiến thức trước
Đa số học sinh không nắm vững lý thuyết dẫn đến không áp dụng được lý thuyết để giải quyết các vấn đề thực tiễn dẫn đến chưa say mê học tập môn hóa học
mà ngược lại cảm thấy sợ hãi, ghét học môn hóa học Thậm chí có những vấn đề thực tiễn đã hướng dẫn chi tiết, giải quyết xong nhưng khi gặp lại học sinh vẫn còn
bỡ ngỡ, không làm được
Một bộ phận lớn phụ huynh chưa quan tâm đến việc học của con em mình Học sinh chưa xác định được động cơ học tập
Trang 19Học sinh học tập thụ động, lười học không chịu học bài, làm bài tập và thiếutinh thần hợp tác với giáo viên trong giờ học Khả năng tự ghi bài của học sinh cònchưa tốt nên trông chờ vào việc ghi bảng, đọc chép của giáo viên Một số học sinhcòn mê chơi các trò chơi điện tử rồi dẫn đến bỏ học, cúp tiết, thiếu tôn trọng giáoviên.
Qua đó tôi thấy, số học sinh yêu thích môn hóa học còn rất ít, nên tôi nhận thấy trách nhiệm của mình rất quan trọng, là phải tìm hiểu nguyên nhân do đâu các
em không thích học bộ môn hóa và trách nhiệm của tôi là một người dạy phải tìm tòi phương pháp giảng dạy thích hợp nhằm kích thích hứng thú học tập cho học sinh từ đó các em yêu thích môn học hơn nhằm nâng cao chất lượng dạy và học
V NỘI DUNG
1 Các môn tích hợp được sử dụng
Hóa học 12 Bài 14: vật liệu
polime
I Chất dẻo
II TơIII Cao su
II 1 Ô nhiễm môi trường vàtrách nhiệm của công dân trongviệc bảo vệ môi trường
11
Bài 12: Chính sách tàinguyên và bảo vệ môitrường
II 1 Tình hình tài nguyên, môitrường ở nước ta hiện nay
II 3 Trách nhiệm của công dânđối với chính sách tài nguyên vàbảo vệ môi trường
II Tác động của cuộc cáchmạng khoa học và công ngệhhiện đại đến sự phát triển xãhội
Trong đó, môn vật lí và môn công nghệ có liên quan đến phần nhận biếttính chất của vật liệu polime để các em sử dụng hợp lí Môn giáo dục công dân,địa lí giúp cho học sinh tìm hiểu thêm về sự biến đổi của môi trường
Trang 20xung quanh, nhận biết và hiểu được trách nhiệm của bản thân Từ đó, các em họcsinh sẽ có ý thức tốt hơn trong việc bảo vệ môi trường sống, phát huy được khảnăng sáng tạo trong việc tái chế sử dụng vật liệu polime.
2 Thiết bị dạy học và học liệu được sử dụng
Sách giáo khoa và sách giáo viên Hóa học 12- Nguyễn Xuân Trường
(Tổng Chủ biên) và cộng sự NXB Giáo dục
- Sách Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Hóa học
- Máy tính, máy chiếu projector
- Phiếu học tập
- Hình ảnh và tư liệu liên quan đến nội dung bài học của mạng Internet
- Các ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học: Sử dụng phần mềm Pwer point
3 Chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ và những phẩm chất, năng lực HS
có thể hình thành và phát triển trong dạy học
a) Kiến thức:
Nêu được khái niệm, thành phần chính, sản xuất và ứng dụng của: chất dẻo, vật liệu compozit, tơ tổng hợp và tơ nhân tạo, cao su thiên nhiên và cao su tổng hợp
b) Kĩ năng:
- Viết được công thức cấu tạo của polime từ monome và ngược lại
- Viết được các PTHH tổng hợp một số polime thông dụng, các PTHH cụthể điều chế một số chất dẻo, tơ, cao su,
- Phân biệt được polime thiên nhiên với polime tổng hợp hoặc nhân tạo
- Học tập hợp tác, thu nhập thông tin, xử lý thông tin và vận dụng thực hànhthí nghiệm
- Vận dụng kiến thức (vật lý, hóa học, toán học, công nghệ, địa lí, giáo dục công dân) để giải quyết vấn đề thực tiễn và môi trường
- Giải được một số bài tập có liên quan
- Có kĩ năng vận dụng các kiến thức trong bài học vào thực tế đời sống, bảo
vệ nguồn tài nguyên vô giá
c) Thái độ:
- Yêu thích bộ môn Hóa học
- Tích cực tham gia các hoạt động tập thể
- Tích cực sử dụng và bảo quản được một số vật liệu polime trong đời sống antoàn, hiệu quả
- Tuyên truyền, hướng dẫn cộng đồng sử dụng vật liệu an toàn hiệu quả, giảm
ô nhiễm môi trường
d) Các năng lực chính hướng tới:
Trang 21 Năng lực tự học: HS xác định được mục tiêu học tập là:
- Nêu được tính chất vật lí, ứng dụng, một số phương pháp tổng hợp polime (trùng hợp, trùng ngưng)
- Nêu được khái niệm, thành phần chính, sản xuất và ứng dụng của: chất dẻo, tơ tổng hợp và tơ nhân tạo, cao su thiên nhiên và cao su tổng hợp
Năng lực giải quyết vấn đề:
- Nhận thức được thực trạng, nguyên nhân, hậu quả của việc sử dụng thiếu hợp lý các nguồn năng lượng
- Trình bày được thực trạng, giải pháp của vấn đề về sử dụng vật liệu polime trong cuộc sống
- Nhận thức được tình hình tài nguyên, môi trường, sự ô nhiễm môi trường hiện nay và trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với việc bảo vệ môi trường sống
Năng lực tư duy sáng tạo:
HS đặt ra được nhiều câu hỏi về chủ đề học tập:
- Vì sao phải sử dụng vật liệu polime?
- Sử dụng vật liệu polime như thế nào là hiệu quả, an toàn, tiết kiệm?
Năng lực tự quản lý:
Quản lí bản thân : Nhận thức được các tình huống tác động đến quá trình học tập của bản thân
- Thời gian: Lập thời gian biểu cá nhân (nhóm) dành cho chủ đề
- Kinh phí: Có tốn nhiều tiền không?
Xác định đúng quyền và nghĩa vụ học tập chủ đề
- Bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ để hoàn thành chủ đề
- Quản lí nhóm: Lắng nghe và phản hồi tích cực, tạo hứng khởi học tập
- Hợp tác tích cực để hoàn thành chủ đề
Năng lực giao tiếp
Năng lực giao tiếp giữa các học sinh trong nhóm, ngoài nhóm; các bạn học sinh trong và ngoài trường, với giáo viên…
Năng lực hợp tác
- Làm việc cùng nhau, chia sẻ kinh nghiệm
- Làm việc với giáo viên hướng dẫn trong quá trình thực hiện chủ đề
Năng lực sử dụng CNTT và truyền thông (ICT)
- Sử dụng internet tìm kiếm thông tin liên quan
- Trình bày báo cáo nghiên cứu bằng công nghệ thông tin
- Sử dụng các phần mềm liên quan
Năng lực sử dụng ngôn ngữ
- Sử dụng Tiếng Việt:
- Sử dụng các thuật ngữ chuyên ngành
Trang 22- Sử dụng văn phong khoa học để viết báo cáo nghiên cứu.
- Sử dụng ngôn ngữ đối thoại, thảo luận, giải thích, thuyết trình
4 Giao nhiệm vụ cho học sinh:
nghiệp: Thiết kế các vật dụng hữu ích, thời trang, đồ chơi vv từ vật liệu phế thải
5 Thiết kế bài dạy:
I Tiết 1: Dạy học theo dự án, hoạt động nhóm.
- GV thực hiện chia lớp thành 3 nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm
- Thời gian thực hiện: 1 tuần trước khi thực hiện bài giảng
Nhóm 1: Tìm hiểu về chất dẻo: khái niệm, tính chất, ứng dụng và thực trạng sử dụng các vật liệu bằng chất dẻo hiện nay; đề xuất các giải pháp sử dụng tiết kiệm, hiệu quả?
Nhóm 2: Tìm hiểu về tơ: khái niệm, tính chất, ứng dụng và thực trạng sử dụng các vật liệu bằng tơ hiện nay; đề xuất các giải pháp sử dụng tiết kiệm, hiệu quả?
Nhóm 3: Tìm hiểu về cao su: khái niệm, tính chất, ứng dụng và thực trạng sử dụng các vật liệu bằng cao su hiện nay; đề xuất các giải pháp sử dụng tiết kiệm, hiệu quả?
- GV đề xuất các câu hỏi nghiên cứu; các nhóm thảo luận, thống nhất các vấn đề cần nghiên cứu Thời gian cho mỗi nhóm chuẩn bị nội dung là 1 tuần
- Sau đó, trong tiết học, các nhóm sẽ lần lượt trình bày các vấn đề của nhóm mình, các nhóm khác thảo luận, đặt câu hỏi và góp ý; sau đó GV nhận xét, bổ sung và nhấn mạnh các vấn đề quan trọng nhất (kết hợp hình ảnh, video minh họa)
II Tiết 2: Dạy học theo dự án, hoạt động nhóm, steam, hoạt động trải nghiệm
Trang 23BÀI 14: VẬT LIỆU POLIME (T1)
I Mục tiêu:
1 Về kiến thức
- Khái niệm về các loại vật liệu polime: chất dẻo, cao su, tơ
- Thành phần, tính chất và ứng dụng của các vật liệu polime chất dẻo, cao su, tơ
- Công thức monome, công thức polime và phản ứng điều chế một số polime tổng hợp dùng làm chất dẻo, tơ, cao su
2 Về kĩ năng
- Phân biệt khái niệm chất dẻo, tơ tổng hợp và tơ nhân tạo, cao su thiên nhiên vàcao su tổng hợp
- Viết các PTHH cụ thể điều chế một số chất dẻo, tơ, cao su thông dụng.
- Sử dụng và bảo quản được một số vật liệu polime trong đời sống
- Vận dụng mối liên quan giữa các loại hợp chất hữu cơ làm bài tập tổng hợp cácmonome, polime đi từ các chất vô cơ, hữu cơ cơ bản, từ nguồn nguyên liệu cósẵn trong tự nhiên và các bài tập khác về polime
- Tìm được thông tin trong bài học, trên các phương tiện thông tin đại chúng vềvấn đề lợi ích và tác hại của vật liệu polime đối với môi trường và con người Xử
lí các thông tin, rút ra nhận xét về một số vấn đề ô nhiễm và chống ô nhiễm môitrường
- Biết phát hiện một số vấn đề thực tế về thực trạng sử dụng vật liệu polime hiệnnay
- Vận dụng để giải quyết một số tình huống về môi trường trong thực tiễn
3 Về thái độ
- Say mê, hứng thú học tập, trung thực, yêu thích bộ môn Hóa học, yêu khoa học
- Học sinh thấy được tầm quan trọng của các hợp chất polime trong đời sống vàtrong sản xuất, phương pháp tổng hợp ra chúng mà có hứng thú học tập, đi sâutìm hiểu nội dung của chương và ngành hóa học polime trong tương lai
- Tích cực tham gia các hoạt động tập thể
- Có ý thức vận dụng kiến thức đã học về polime vào thực tiễn cuộc sống, phục vụđời sống con người
- Tuyên truyền, hướng dẫn cộng đồng sử dụng vật liệu polime an toàn hiệu quả,giảm thiểu ô nhiễm môi trường
- Học sinh nhận thức được về trách nhiệm của bản thân, góp phần bảo vệ môitrường và vận động người thân, cộng đồng cùng chung tay bảo vệ môi trườngsống
Trang 244 Năng lực cần hướng tới :
- Năng lực tự học;
- Năng lực tư duy sáng tạo;
- Năng lực hợp tác, giao tiếp;
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học;
- Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua môn hoá học;
- Năng lực thuyết trình;
- Năng lực sử dụng CNTT và truyền thông;
- Năng lực tư duy logic, phát triển toán học;
- Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn
II Chuẩn bị
1 Giáo viên: GV thực hiện chia lớp thành 3 nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm.
Sau đó, giáo viên tổ chức cho các nhóm giới thiệu bài báo cáo của nhóm mình Cácnhóm sẽ bổ sung, góp ý cho nhau và cuối cùng giáo viên nhận xét, đánh giá
2 Học sinh: Mỗi nhóm học sinh tiếp nhận nội dung đã được giao Mỗi nhóm tự
phân công nhóm trưởng và nhiệm vụ cho các thành viên của nhóm, tổ chứcnghiên cứu, trình bày và báo cáo kết quả nghiên cứu Sản phẩm nghiên cứu củacác nhóm là báo tường, báo ảnh, bài viết tổng hợp các tư liệu sưu tầm được từnguồn thông tin sách, báo, mạng internet
III Phương tiện:
- Giấy A0, máy chiếu, laptop + SGK Hóa học 12
IV Phương pháp:
Dạy học theo dự án
V Tiến trình bài học
1 Ổn định lớp
2 Nội dung bài mới:
I Tiết 1: Dạy học theo dự án, hoạt động nhóm, steam.
- GV thực hiện chia lớp thành 3 nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm
- Thời gian thực hiện: 1 tuần trước khi thực hiện bài giảng
Nhóm 1: Tìm hiểu về chất dẻo: khái niệm, tính chất, ứng dụng và thực trạng sử dụng các vật liệu bằng chất dẻo hiện nay? Đề xuất các giải pháp sử dụng tiết kiệm, hiệu quả?
Trang 25Nhóm 2: Tìm hiểu về tơ: khái niệm, tính chất, ứng dụng và thực trạng sử dụng các vật liệu bằng tơ hiện nay? Đề xuất các giải pháp sử dụng tiết kiệm, hiệu quả? Nhóm 3: Tìm hiểu về cao su: khái niệm, tính chất, ứng dụng và thực trạng sử dụng các vật liệu bằng cao su hiện nay? Đề xuất các giải pháp sử dụng tiết kiệm, hiệu quả?
- GV đề xuất các câu hỏi nghiên cứu; các nhóm thảo luận, thống nhất các vấn đềcần nghiên cứu Thời gian cho mỗi nhóm chuẩn bị nội dung là 1 tuần
- Sau đó, trong tiết học, các nhóm sẽ lần lượt trình bày các vấn đề của nhóm mình(Khuyến khích sử dụng hình ảnh, video minh họa), các nhóm khác thảo luận, đặtcâu hỏi và góp ý; cuối cùng GV nhận xét, bổ sung và nhấn mạnh các vấn đề quantrọng nhất (kết hợp hình ảnh, video minh họa)
KẾ HOẠCH THỰC HIỆN DỰ ÁN CỦA CÁC NHÓM HỌC SINH
1 Chất dẻo: Nhóm 1
Mục đích: Tìm hiểu khái niệm, đặc điểm, tính chất của chất dẻo, các Polime
thường dùng làm chất dẻo, ứng dụng của chất dẻo trong đời sống và trong công nghiệp, việc sử dụng chất dẻo ảnh hưởng như thế nào tới môi trường, cách khắc
phục và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực Thông qua nghiên cứu dự án “Khám phá thế giới chất dẻo” phát triển được năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn
đề, năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông
Thành viên trong nhóm: Nhóm trưởng, thư ký và các thành viên
Thời gian thực hiện dự án: 6 ngày
- Nhóm trưởng: Quản lý chung, trình bày báo cáo trước lớp
-Thư ký: Ghi chép các ý kiến trong các cuộc họp nhóm, phụ trách hồ sơ học tập
- Thông tin tìm kiếm (Nhóm trưởng và các thành viên): Các thông tin liên quan đến chất dẻo, tình hình sử dụng chất dẻo ảnh hưởng đến môi trường…
- Tổng hợp thông tin (Nhóm trưởng và các thành viên): Các thành viên trong nhóm
tự phân công các công việc
Kế hoạch thực thực hiện dự án: Cả nhóm thảo luận, thống nhất các vấn đề cần
nghiên cứu
Đề xuất các câu hỏi nghiên cứu Câu hỏi 1: Khái niệm chất dẻo? Tính dẻo? Vật liệu compozit?
Câu hỏi 2: Viết công thức monome, công thức polime, phản ứng điều chế các
polime được dùng làm chất dẻo?
Câu hỏi 3: Ứng dụng của các polime đó trong đời sống và công nghiệp? Lấy ví
dụ?
Trang 26Câu hỏi 4: Chất dẻo có thể thay thế vật liệu nào trong chế tạo các đồ gia dụng,
thiết bị, máy móc, dụng cụ y tế? Ứng dụng đó của chất dẻo là do tính chất hóa học,vật lý hay cơ học tạo ra?
Câu hỏi 5: Thực trạng sử dụng các đồ dùng, vật dụng được làm từ chất dẻo hiện
nay như thế nào? Đưa ra các số liệu đề chứng tỏ ảnh hưởng của vật liệu chất dẻo đến môi trường?
Câu hỏi 6: Đề xuất các giải pháp sử dụng đồ vật làm bằng chất dẻo tiết kiệm, an
toàn, hiệu quả?
Phương án thực nghiệm –tìm tòi nghiên cứu:Nghiên cứu tài liệu, tiến hành thí
nghiệm, quan sát mẫu vật thật
Thành viên trong nhóm: Nhóm trưởng, thư ký và các thành viên
Thời gian thực hiện dự án: 6 ngày
Phân công nhiệm vụ:
- Nhóm trưởng: Quản lý chung, trình bày báo cáo trước lớp
-Thư ký: Ghi chép các ý kiến trong các cuộc họp nhóm, phụ trách hồ sơ học tập
- Thông tin tìm kiếm (Nhóm trưởng và các thành viên): Các thông tin liên quan đến tơ, đồ dùng, vật liệu làm từ tơ, cấu trúc phân tử, tính chất của polime dùng làm
tơ tổng hợp, tình hình sử dụng các vật liệu bằng tơ ảnh hưởng đến môi trường…
- Tổng hợp thông tin (Nhóm trưởng và các thành viên): Các thành viên trong nhóm
tự phân công các công việc
Kế hoạch thực thực hiện dự án:
Cả nhóm thảo luận, thống nhất các vấn đề cần nghiên cứu
Đề xuất các câu hỏi nghiên cứu:
Câu hỏi 1: Khái niệm? Tơ được phân thành bao nhiêu loại, ưu và nhược điểm của
mỗi loại đó?
Câu hỏi 2: Viết công thức monome, công thức polime, phản ứng điều chế một số
loại tơ tổng hợp thường gặp?
Câu hỏi 3: Hãy tìm hiểu một số ứng dụng của tơ thiên nhiên, tơ bán tổng hợp, tơ
tổng hợp trong đời sống và sản xuất, cho biết các ứng dụng đó có liên quan gì đến tính chất vật lý và hóa học của polime được dùng làm tơ?
Trang 27Câu hỏi 4: Hãy cho biết thực trạng sử dụng các vật liệu tơ đó hiện nay trong đời
sống sinh hoạt và công nghiệp? Anh hưởng của chất phế thải các vật liệu tơ đến môi trường?
Câu hỏi 5: Đề xuất các giải pháp sử dụng vật liệu bằng tơ tiết kiệm, an toàn, hiệu
quả?
Phương án thực nghiệm –tìm tòi nghiên cứu: Nghiên cứu tài liệu, tiến hành thí
nghiệm, quan sát mẫu vật thật
Thành viên trong nhóm: Nhóm trưởng, thư ký và các thành viên
Thời gian thực hiện dự án: 6 ngày
Phân công nhiệm vụ:
- Nhóm trưởng: Quản lý chung, trình bày báo cáo trước lớp
-Thư ký: Ghi chép các ý kiến trong các cuộc họp nhóm, phụ trách hồ sơ học tập
- Thông tin tìm kiếm (Nhóm trưởng và các thành viên): Các thông tin liên quan đến cao su, đồ dùng, vật liệu làm từ cao su, cấu trúc phân tử, tính chất của polime được làm từ cao su, tình hình sử dụng cao su ảnh hưởng đến môi trường…
- Tổng hợp thông tin (Nhóm trưởng và các thành viên): Các thành viên trong nhóm
tự phân công các công việc
Kế hoạch thực thực hiện dự án:
Cả nhóm thảo luận, thống nhất các vấn đề cần nghiên cứu
Đề xuất các câu hỏi nghiên cứu:
Câu hỏi 1: Khái niệm, phân loại cao su?
Câu hỏi 2: Cấu tạo, tính chất và ứng dụng của cao su thiên nhiên? Cao su lưu
Trang 28Câu 6: Hãy cho biết thực trạng sử dụng các vật liệu cao su hiện nay trong đời sống
sinh hoạt và công nghiệp? Anh hưởng của chất phế thải các vật liệu cao su đến môitrường?
Câu hỏi 7: Đề xuất các giải pháp sử dụng vật liệu cao su tiết kiệm, an toàn, hiệu
quả?
Phương án thực nghiệm –tìm tòi nghiên cứu: Nghiên cứu tài
liệu, tiến hành thí nghiệm, quan sát mẫu vật thật
3 Tiến trình bài giảng:
Trang 30Hoạt động của GV Hoạt động của
HS
Nội dung kiến thức
Hoạt động 1: CHẤT DẺO
Mục tiêu: Phân biệt các tính chất?
Kiến thức môn học tích hợp: môn vật lí
- Giáo viên mời đại diện nhóm 1 báo
cáo về vấn đề chất dẻo với các câu hỏi
gợi ý đã được chuẩn bị trước
- Yêu cầu các nhóm khác theo dõi,
dụng các vật liệu chất dẻo hiện nay,
những hệ quả mà nó mang lại đối với
môi trường và con người; Từ đó nhấn
mạnh các giải pháp giúp giảm thiểu
những tác động đó và giúp các em học
sinh truyền tải được rõ ràng thông điệp
mà các em muốn gửi đến vì một môi
trường không rác thải, không ô nhiễm
- HS các nhóm theo dõi, thảo luận nhận xét, bổ sung
- Học sinh quan sát
I Chất dẻo
1 Khái niệm về chất dẻo và vật liệu compozit.
- Chất dẻo là những vật liệu polime có tính dẻo
- Khi trộn polime với chất độn thích hợp thu được vật liệu mới
có độ bền, độ chịu nhiệt tăng lên so với polime thành phẩm
Đó là vật liệu compozit