Mặc cho sự đổi thay của thời đại, sự tiến bộ của khoa học công nghệ có hiện đại đến đâu đi chăng nữa thì người thầy còn là người yêu thương tưới tắm cho những hạt giống tương lai với tìn
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGHỆ AN TRƯỜNG THPT QUỲNH LƯU 3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2020 - 2021
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC ……… … 2
DANH MỤC VIẾT TẮT 4
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Tính mới của đề tài 2
1.3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 2
1.3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu 3
1.3.3 Cấu trúc đề tài 3
PHẦN II: NỘI DUNG 4
Chương 1: Nâng cao hiệu quả sử dụng CNTT trong dạy và học thời đại công nghệ mới 4
1.1 Cơ sở lý luận: 4
1.2 Cơ sở thực tiễn 5
1.3.Lợi ích của công nghệ thông tin trong dạy học……… 8
Chương 2:ĐA DẠNG CÁC HÌNH THỨC DẠY VÀ HỌC BẰNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG MÔN LỊCH SỬ 10
2.1 Công nghệ thông tin và vai trò trong dạy học Lịch sử ở trường THPT 10
2.2 Dùng CNTT để khai thác tư liệu từ kênh hình phục vụ trong dạy và học lịch sử 11
2.2.1 Kênh hình trong dạy học lịch sử: 11
2.2.2 Khai thác tư liệu từ lược đồ, hình ảnh 3D, video trận đánh 12
2.2.3 Sử dụng CNTT để khai thác tranh biếm họa, ảnh nhân vật lịch sử trong quá trình dạy học 15
2.2.4 Sử dụng CNTT để khai thác thông tin từ phim tư liệu lịch sử 20
2.3 CNTT với đổi mới phương pháp dạy học trong môn Lịch sử 24
2.3.1 Sử dụng CNTT để phát huy vai trò của các trò chơi trong dạy học lịch sử 24
2.3.2 Sử dụng trò chơi “Đóng vai” để giải quyết các tình huống lịch sử 28
2.3.3 Trò chơi “đóng vai” phóng viên chiến trường 31
2.3.4 Dùng sơ đồ tư duy để cụ thể hóa nội dung bài học qua tranh vẽ 32
2.3.5 Tổ chức “triển lãm” tranh để thực hiện nội dung bài học 34
2.3.6 Kết hợp dạy học với tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo 37
Trang 32.4 Sử dụng công nghệ thông tin để kiểm tra, đánh giá khả năng nhận thức lịch
sử 40
2.4.1 Bài tập yêu cầu học sinh xử lý thông tin từ một đoạn tư liệu lịch sử 40
2.4.2 Bài tập nhận thức sửa lỗi sai trên lược đồ: 40
Chương 3: THỰC NGHIỆM 44
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm 44
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 44
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 44
3.2 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 44
3.2.1 Chọn đối tượng thực nghiệm 44
3.2.2 Chọn nội dung thực nghiệm 44
3.2.3 Tiến hành thực nghiệm 44
3.2.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm 45
Phần 3: KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 52
Trang 5PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Lý do chọn đề tài
“Trong thời đại công nghệ 4.0 hiện nay, sứ mệnh người thầy nặng nề hơn rất nhiều Đặc biệt bị cạnh tranh bởi các công cụ khác Do đó, khi người thầy không xác định được rõ sứ mệnh của mình thì dễ dàng bị lẫn đi, bị nhạt nhòa, bởi
rõ ràng các công cụ còn làm nhiệm vụ truyền đạt kiến thức tốt hơn cả người thầy
vì thế thầy cô mà không thay đổi thì thầy cô sẽ bị từ chối.” Tiến Sĩ Trần Khánh Ngọc - giảng viên đại học sư phạm Hà Nội đã từng nhấn mạnh như thế về quá trình dạy học ở thời đại 4.0 Trong thời đại này kiến thức có ở khắp mọi nơi nhưng cái quan trọng của người thầy mà máy móc không thể thay thế được đó là cảm xúc, là sự thấu hiểu về học sinh, người có thể tác động đến người học, thậm chí
có thể đóng vai trò làm thay đổi cuộc đời người học chứ không phải là truyền cho người học một “vốn” kiến thức nhất định thì đó chỉ có thể là những người giáo viên luôn tâm huyết với nghề Mặc cho sự đổi thay của thời đại, sự tiến bộ của khoa học công nghệ có hiện đại đến đâu đi chăng nữa thì người thầy còn là người yêu thương tưới tắm cho những hạt giống tương lai với tình yêu thương chân thành, không điều kiện giúp các em lấy lại sự tự tin, yêu đời và tiến bước trên con đường tương lai, nên thay vì vẫn thực hiện cách dạy và học cũ thì giáo viên nên mạnh dạn thay đổi nhiều phương pháp dạy học mới, góp phần nâng cao những
phẩm chất và năng lực cho người học, và việc ““Sử dụng công nghệ thông tin để
đa dạng hóa các hình thức dạy và học trong môn Lịch sử ở trường THPT” cũng
là một trong những biện pháp để giáo viên nâng cao hiệu quả trong quá trình dạy
và học
Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng đã khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học Đổi mới chương trình, nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề Đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người” Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng đã cho thấy quan điểm
của Đảng trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo đang từng bước đáp ứng yêu cầu của thời đại công nghệ 4.0 Tuy vậy, việc chuyển đổi nền giáo dục sao cho phù hợp với thời đại công nghiệp 4.0 là một điều không dễ dàng
Trước tình hình đó, mới đây Chính phủ đã phê duyệt đề án "Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy - học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn
2016 - 2020, định hướng đến năm 2025" theo Quyết định số 117/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, nhằm đón đầu cuộc cách mạng 4.0 trong giáo dục Thực hiện đề án, ngành giáo dục và đào tạo đã tích cực đẩy mạnh ứng dụng CNTT, không ngừng tìm kiếm các giải pháp thiết thực và hiệu quả, nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy và học hiện nay, nhằm đáp ứng yêu cầu chung của xã hội
Trang 6Giáo viên “Sử dụng công nghệ thông tin để đa dạng hóa các hình thức dạy
và học trong môn Lịch sử ở trường THPT” đóng một vai trò hết sức quan trọng,
thông qua các bài học lịch sử bằng các biện pháp dạy học tích cực, giáo viên có thể tạo điều kiện để các em được học tập, thực hành những bài tập lịch sử dưới những hình thức và phương pháp khác nhau dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của giáo viên, thậm chí dựa vào sự tiến bộ của công nghệ thông tin giáo viên có thể cho học sinh được tiếp cận các bài học lịch sử bằng cách đóng vai để diễn lại một tác phẩm, một nhân vật hoặc một sự kiện lịch sử, hoặc có thể dùng Smarphone để quay một đoạn video, clip ngắn thể hiện nội dung bài học hoặc liên quan đến bài học…, qua các lần được thực hành bài học lịch sử không chỉ góp phần giúp các
em nhớ lâu hơn các bài học mà còn làm cho các em yêu thích hơn về môn học này, các em có cái nhìn khách quan và đúng nhất về các sự kiện lịch sử bằng sự trải nghiệm của chính mình, thậm chí qua năng lực thực hành môn lịch sử cũng góp phần hình thành những năng lực của cá nhâ như năng lực thu thập và xử lý thông tin, năng lực thuyết trình, năng lực diễn xuất, năng lực thực hành công nghệ… và đó là mục tiêu hướng tới mà qua đề tài này tác giả muốn thực hiện
1.2 Tính mới của đề tài
Sử dụng CNTT để phục vụ cho dạy và học đã được áp dụng từ lâu trong quá trình dạy học, giáo viên cũng đã tích cực ứng dụng dưới những hình thức dạy học khác nhau, nhưng có thể áp dụng các sản phẩm của công nghệ vào dạy học như video, phim tư liệu, hay giao cho học sinh thực hành bài học bằng các sản phẩm công nghệ thông tin thì chưa phổ biến lắm hiện nay đặc biệt là trong môn
Lịch sử, vì vậy tôi chọn đề tài “Sử dụng công nghệ thông tin để đa dạng hóa các hình thức dạy và học trong môn Lịch sử ở trường THPT” để nghiên cứu Trong
khi đó môn lịch sử là môn học nhận thức về quá khứ thông qua các sự kiện và nhân vật lịch sử nhưng trong thời đại bùng nổ thông tin và đa phương tiện như hiện nay thì các sự kiện lịch sử có thể được công nghệ hiện đại mô phỏng qua các video, clip hay các phần mềm công nghệ mới hỗ trợ dạy học một cách sinh động đầy sắc màu thu hút sự chú ý của người học Với đề tài này tôi hy vọng sẽ thay đổi lối mòn suy nghĩ “Học lịch sử chỉ có học thuộc” nhàm chán, buồn ngủ và và chỉ lên lớp là nghe giáo viên nói từ đầu giờ đến cuối giờ mà thay vào đó học sinh học lịch sử là được nghe, được xem và thậm chí là được trải nghiệm chính môn học đó bằng hoạt động cảu mình
Vì vậy tôi chọn đề tài “Sử dụng công nghệ thông tin để đa dạng hóa các hình thức dạy và học trong môn Lịch sử ở trường THPT” này để thực hiện tại
trường tôi đang công tác, nhằm thay đổi quan điểm, cách học và tiếp cận môn lịch
sử, nhằm đáp ứng cho xã hội những công dân tích cực, năng động thích nghi với hoàn cảnh và điều kiện xã hội mới, phù hợp với thời đại yêu cầu
1.3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đề tài được tiến hành thực nghiệm và khảo sát trên các đối tượng là học
Trang 7sinh các khối 10,11,12 tại trường THPT nơi tôi đang công tác
Đề tài tiến hành các biện pháp dạy học mới nhằm phát huy các năng lực tư duy cho học sinh trong chương trình Lịch sử lớp 10, 11, 12 ban cơ bản
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận:Nghiên cứu đề tài phát huy vai trò thầy giáo trong thời đại công nghệ 4.0 trước tiên dựa vào những chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước về đổi mới căn bản, toàn diện về giáo dục nhất là trong thời đại công nghệ 4.0, kết hợp với những nguồn tư liệu về các phương pháp dạy học tích cực, phương pháp phát triển các năng lực tư duy, năng lực thực hành…
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm, điều tra, khảo sát qua các phiếu điều tra, bài kiểm tra, bài tập nhận thức, bài tập thực hành bằng các sản phẩm công nghệ
1.3.3 Cấu trúc đề tài
Đề tài được cấu trúc gồm 4 phần với các nội dung cụ thể như sau:
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
Phần II: NỘI DUNG
Phần III: KẾT LUẬN & KIẾN NGHỊ
Phần IV: PHỤ LỤC
Phần 2 NỘI DUNG
Trang 8PHẦN II: NỘI DUNG Chương 1: Nâng cao hiệu quả sử dụng CNTT trong dạy và học thời đại
công nghệ mới
1.1 Cơ sở lý luận:
Việc sử dụng CNTT trong dạy học ngày nay gần như là phổ biến, đặc biệt trong thời đại công nghệ 4.0 như hiện nay, bởi lẽ trong thời đại số 4.0 thì kiến thức có ở khắp mọi nơi và người học cũng cần phải được học về những kỹ năng
cơ bản của CNTT mới bắt kịp với sự tiến bộ của thời đại công nghệ số Khái niệm
“công nghiệp 4.0” được đưa ra lần đầu tiên vào năm 2011 tại Hội chợ Hannover giới thiệu các dự án về chương trình công nghiệp 4.0 của nước Đức, nhằm nâng cao nền công nghiệp cơ khí truyền thống của Đức Điều khác biệt giữa công nghệ 4.0 với 3 cuộc cách mạng trước đó là công nghệ 4.0 không gắn với sự ra đời của một công nghệ nào cụ thể mà là kết quả hội tụ của nhiều công nghệ khác nhau, trong đó trọng tâm là công nghệ Nano, công nghệ sinh học và công nghệ thông tin - truyền thông Công nghệ 4.0 bắt nguồn từ cuộc cách mạng lần thứ 3, nó kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học
Cũng như mọi cuộc cách mạng công nghệ trước đây, cuộc cách mạng công nghệ 4.0 có thể đưa đến tình trạng bất bình đẳng lớn hơn trong xã hội, đặc biệt là nguy cơ phá vỡ thị trường lao động truyền thống, tiến tới thiết lập một thị trường lao động mới mà ở đó là sự cạnh tranh của tri thức sáng tạo, của nền giáo dục chất
lượng cao là rất lớn Không chỉ ở Việt Nam mà nhiều nước đang phát triển trong
khu vực và trên thế giới đều phải đối mặt với những thách thức lớn về sự thiếu hụt lao động có trình độ cao và kỹ năng chuyên nghiệp Vì thế cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đặt ra thách thức ngành giáo dục phải thay đổi cách dạy học cho phù hợp, người thầy không còn là người cung cấp, truyền đạt thông tin tri thức cho người học mà còn có nhiệm vụ giúp học sinh phát triển phẩm chất, năng lực thực hành có thể áp dụng trong cuộc sống
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (1.2016) của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã khẳng định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, học lý thuyết đi đôi với thực hành, lý luận gắn với thực tiễn Phát triển giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, với tiến bộ khoa học công nghệ, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và thị trường lao động”
Từ yêu cầu chung của toàn hệ thống chính trị đó mà hiện nay Bộ giáo dục
và đào tạo yêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục ở tất
cả các cấp học, bậc học, ngành học, xem công nghệ thông tin như là một công cụ
Trang 9hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp dạy học ở các môn học Nhưng làm thế nào để việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các tiết dạy đạt hiệu quả cao nhất? Đó là một vấn đề mà không phải người giáo viên nào cũng giải quyết một cách hoàn hảo được
Trong khi đó theo quy định của Sở Giáo dục và đào tạo các địa phương thì tất cả giáo viên đều phải biết sử dụng máy vi tính và ít nhất phải có chứng chỉ A tin học Tuy vậy có chứng chỉ A tin học, sử dụng thành thạo máy vi tính nhưng khi áp dụng soạn giáo án điện tử và áp dụng nó vào dạy học lại là một điều không thường xuyên vì nó không đơn giản Khi mà phần lớn các giáo viên ngại sử dụng giáo án điện tử trong giảng dạy vì cho rằng sẽ tốn thời gian để chuẩn bị bài giảng
và khi dạy giáo án điện tử sẽ không thực hiện được các phương pháp dạy học mới vào bài giảng của mình do phụ thuộc quá nhiều vào máy chiếu và hình ảnh trên máy chiếu Hơn nữa khi sử dụng giáo án điện tử giáo viên phải vất vả gấp nhiều lần so với cách dạy truyền thống đó là phấn trắng bảng đen, vì giáo viên phải mất thời gian tìm hình ảnh minh họa, âm thanh, tư liệu dẫn chứng phù hợp với nội dung bài giảng, chưa kể là thiết kế các mô hình, bảng biểu để dạy học để có một giờ học sinh động và hiệu quả, khi sử dụng giáo án điện tử ngoài những kiến thức
cơ bản về vi tính, sử dụng thành thạo phần mềm PowerPoint giáo viên cần phải
có tính sáng tạo, tính thẩm mỹ và sự nhạy bén để tìm kiếm tư liệu phục vụ cho bài dạy và nhất là phải có niềm đam mê, vì khi có lòng đam mê thì chúng ta mới thực hiện được những việc được coi là vất vả như nêu ở trên
Vì vậy “Sử dụng công nghệ thông tin để đa dạng hóa các hình thức dạy và học trong môn Lịch sử ở trường THPT” là sự cần thiết và phù hợp trong chương
trình giáo dục hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu chung của xã hội và bắt kịp với sự tiến bộ của khoa học – công nghệ để xây dựng và phát triển cho người học những năng lực, phẩm chất cần thiết, người học có thể thực hành được các kỹ năng đó trong cuộc sống
1.2 Cơ sở thực tiễn
Sự thay đổi của phương pháp dạy học và cách thức thực hiện đã đặt ra yêu cầu cho giáo viên phải thay đổi, chỉ có nâng cao vai trò của giáo viên thì học sinh mới có thể thay đổi để đáp ứng yêu cầu chung của xã hội, học sinh không chỉ là người có khả năng lĩnh hội kiến thức mà có khả năng thực hành, khả năng sáng tạo, thích ứng với thách thức và những yêu cầu mới mà các phương pháp giáo dục truyền thống không thể đáp ứng được Hiện nay ở các trường trung học phổ thông đang thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực cho học sinh, nhiều phương pháp dạy học tích cực đã được giáo viên áp dụng vào dạy học, kể cả trong môn lịch sử, tuy nhiên việc áp dụng sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học còn nhiều hạn chế, nhất là môn Lịch sử khi học sinh vẫn xem môn Lịch sử là một môn học thuộc, chỉ cần ghi nhớ sự kiện và không cần phải thực hành bài tập hay nội dung khác ngoài sách giáo khoa Vì lối mòn suy nghĩ đó mà làm cho môn sử có nhiều hạn chế trong học hành và thi cử Nên việc tối đa hóa
Trang 10sử dụng CNTT để nâng cao hiệu quả dạy học là cần thiết, phù hợp với yêu cầu chung của đổi mới phương pháp dạy học ngày nay
Trong quá trình dạy học ở trường THPT nơi tôi đang công tác, tôi đã tiến hành điều tra khảo sát học sinh về thực trạng dạy và học theo hướng phát triển năng lực và phẩm chất cho người học thông qua việc sử dụng CNTT như sau + Mục đích điều tra
Tìm hiểu về quá trình sử dụng CNTT trong dạy học của giáo viên nhằm đa dạng các hình thức dạy học cho học sinh, qua các hình thức đó giáo viên hướng người học đạt đến những năng lực và phẩm chất cần thiết
+ Đối tượng điều tra:
Học sinh lớp 11A4, 10A1, 12A1 tại trường tôi đang công tác
+ Nội dung điều tra: Điều tra các hình thức dạy học được tiến hành trên lớp theo mức độ khác nhau
Mức độ thực hiện Thường
xuyên
Không thường xuyên
Không thực hiện
1 Giáo viên tổ chức dạy học
theo phương pháp mới
2 Giáo viên sử dụng công
nghệ thông tin trong dạy
Trang 11TT Tiêu chí
Mức độ thực hiện Thường
xuyên
Không thường xuyên
Không thực hiện
1 Giáo viên tổ chức dạy học
2
Giáo viên sử dụng công
nghệ thông tin trong dạy
Trang 12dạng các hình thức dạy học cho học sinh là rất cần thiết, không chỉ mang lại lợi ích cho người học mà cả người dạy
1.3 Lợi ích của việc áp dụng công nghệ thông tin trong dạy học ngày nay
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học nói chung và đối với bộ môn lịch sử nói riêng mang lại rất nhiều lợi ích trong đó không chỉ cho người học
mà cả cho người dạy
* Lợi ích đối với giáo viên:
- Giúp giáo viên tương tác tốt với công nghệ thông tin và truyền thông khi giảng bài trên lớp
- Khuyến khích sáng tạo và linh hoạt, giáo viên có thể vẽ và giải thích rõ ràng những thông tin đưa ra
- Giáo viên có thể lưu và in ra những gì đã trình bày, bao gồm cả những lưu
ký đã được đưa thêm trong quá trình giảng bài, hạn chế phải nhắc lại, ôn lại nhiều lần
- Giáo viên có thể chia sẻ và sử dụng những tài liệu đã dạy giúp giảm thiểu đáng kể khối lượng công việc
- Nâng cao năng lực thực hành các phương pháp dạy học mới kết hợp sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học
- Thậm chí nâng cao trình độ ngoại ngữ cho giáo viên dạy các môn khác ngoài ngoại ngữ
- Tạo hứng thú cho giáo viên thay đổi phương pháp sư phạm và sử dụng công nghệ thông tin nhiều hơn, khuyến khích nâng cao chuyên môn và năng lực thực hành sư phạm
* Lợi ích đối với học sinh:
- Nâng cao hứng thú và động lực học tập khi tham gia vào các hoạt động học
- Tạo cơ hội tốt hơn để học sinh tham gia và hợp tác cùng nhau, phát triển
kỹ năng xã hội và con người
- Không phải mất thời gian chép bài nhờ chức năng lưu và in ra tất cả những
gì đã hiển thị trước đó
- Học sinh cũng có thể xử lý và nắm bắt được nhiều thông tin thông qua bài giảng rõ ràng, hiệu quả và linh hoạt
- Giúp học sinh trở nên sáng tạo và tự tin hơn khi thuyết trình trước lớp
- Trải nghiệm thực tế bằng các mô hình công nghệ thông tin khi thực hành nội dung bài học
- Nâng cao khả năng thực hành và áp dụng công nghệ trong cuộc sống
Trang 13- Tiện ích về mặt không gian và thời gian
- Dễ dàng khai thác và cập nhật thông tin từ nhiều kênh thông tin khác nhau
Với những lợi ích đưa lại từ việc ứng dụng CNTT trong dạy học, không chỉ nhằm đổi mới nội dung, phương pháp dạy học mà đó là một công việc lâu dài, khó khăn đòi hỏi rất nhiều điều kiện về cơ sở vật chất, tài chính, năng lực của đội ngũ giáo viên để thực hiện Nhưng thiết nghĩ rằng, với khả năng sư phạm vốn có cộng thêm một ít bồi dưỡng về kiến thức tin học, các GV hoàn toàn có thể thiết
kế được bài giảng điện tử để thể hiện tốt hơn phương pháp sư phạm, góp phần đổi mới phương pháp giảng dạy và vai trò của giáo viên cũng vì thế được nâng lên trong quá trình dạy học
Trang 14Chương 2:
ĐA DẠNG CÁC HÌNH THỨC DẠY VÀ HỌC BẰNG CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN TRONG MÔN LỊCH SỬ 2.1 Công nghệ thông tin và vai trò trong dạy học Lịch sử ở trường THPT
Công nghệ thông tin và đặc biệt là sự phát triển của Internet đã mở ra một kho kiến thức vô cùng đa dạng và phong phú cho người học và người dạy, giúp cho việc tìm hiểu kiến thức đơn giản hơn rất nhiều, cải thiện chất lượng học và dạy Công nghệ thông tin thúc đẩy giáo dục mở giúp con người tiếp cận thông tin
đa chiều, rút ngắn khoảng cách, thu hẹp mọi không gian, tiết kiệm tối ưu về thời gian Từ đó con người phát triển nhanh hơn về kiến thức, nhận thức và tư duy Chương trình giáo dục mở giúp con người trao đổi và tìm kiếm kiến thức một cách hiệu quả Đi kèm với giáo dục mở là tài nguyên học liệu mở, giúp người học, người dạy kết nối với kiến thức hiệu quả dù họ ở đâu và trong khoảng thời gian nào Tài nguyên học liệu mở là một xu hướng phát triển tất yếu của nền giáo dục hiện đại Bởi công nghệ thông tin đã mở ra hướng tiếp cận kiến thức mới cho cả giáo viên và học sinh khi kiến thức đa dạng và được cập nhật thường xuyên
CNTT còn khắc phục những hạn chế của giáo dục truyền thống, với phương pháp học tập truyền thống, một lớp học, một giáo viên thực hiện giảng dạy cho 30-50 học sinh sau nhiều năm được áp dụng phổ biến, hiện đang dần bộc lộ những vấn đề ảnh hưởng tới chất lượng giáo dục như:
- Lớp học quá đông, số học sinh càng lớn thì chất lượng học tập càng giảm
- Giáo viên không thể giải quyết tất cả vấn đề mà mỗi học sinh cần, những vấn đề nhỏ của từng học sinh bị bỏ qua để đảm bảo tiến độ chung và thời lượng của lớp học
- Mỗi cá nhân học sinh cảm thấy hứng thú, phù hợp và thoải mái với một phương pháp truyền tải khác nhau, có học sinh thích học qua video, có học sinh thích được giáo viên kèm cặp riêng, có học sinh lại muốn tìm hiểu nội dung qua các trò chơi Một giáo viên mỗi lớp không thể sử dụng tất cả mọi phương pháp trong một thời lượng học (45 phút)
- Mỗi học sinh có sức học và mức độ tiếp thu kiến thức khác nhau
- Học sinh khó tiếp cận các nguồn học liệu đa dạng, nếu không có sự hỗ trợ của công nghệ như Internet, việc tiếp cận truyền thống mất rất nhiều thời gian, đôi khi là khó khăn
Ưu điểm của công nghệ trong dạy học là có thể tạo dựng các sự kiện lịch
sử theo mô hình, hoặc vẽ lại lược đồ các trận chiến theo mô tả một cách sinh động
và chân thực nhất có thể, qua đó giúp giáo viên dễ dàng mô tả cho học sinh các
sự kiện đó một cách chân thực nhất có thể
Trang 15Nếu như trước đây, việc tiếp thu kiến thức được cung cấp từ sách vở và giáo viên là người truyền tải nó, thì hiện nay, nguồn kiến thức đa dạng này được cung cấp trực tuyến qua kết nối Internet, qua nhiều kênh thông tin khác nhau mà
ở đâu người học cũng dễ dàng tiếp thu được
Đổi mới giáo dục phải chuyển nền giáo dục từ chủ yếu là truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực người học, bằng cách giúp người học phương pháp tiếp cận và cách tự học, cách giải quyết vấn đề Việc truyền thụ, cung cấp kiến thức, dần dần sẽ do công nghệ thông tin đảm nhận, giải phóng người thầy khỏi sự thiếu hụt thời gian, để người thầy có thể tập trung giúp học sinh phương pháp tiếp cận và giải quyết vấn đề, tổ chức các hoạt động học tập gắn với thực tiễn nhằm phát triển năng lực của học sinh
Công nghệ thông tin tạo không gian và thời gian học linh động Công nghệ thông tin tạo điều kiện cho người học có thể học tập và tiếp thu kiến thức một cách linh động và thuận tiện Mọi người có thể tự học ở mọi lúc, mọi nơi, có thể tham gia thảo luận một vấn đề mà mỗi người đang ở cách xa nhau, góp phần tạo ra xã hội học tập mà ở đó, người học có thể học tập suốt đời
Bên cạnh đó, với sự thuận tiện cho việc học ở mọi lúc mọi nơi, công nghệ thông tin sẽ tạo cơ hội cho người học có thể lựa chọn những vấn đề mà mình ưa thích, phù hợp với năng khiếu của mỗi người, từ đó mà phát triển theo thế mạnh của từng người do cấu tạo khác nhau của các tiểu vùng vỏ não Chính điều đó sẽ thúc đẩy sự phát triển của các tài năng
2.2 Dùng CNTT để khai thác tư liệu từ kênh hình phục vụ trong dạy và học lịch sử
2.2.1 Kênh hình trong dạy học lịch sử:
Kênh hình trong dạy học môn Lịch sử là loại phương tiện chứa đựng, chuyển tải lượng thông tin, kiến thức mà giáo viên khai thác để phục vụ trong quá trình dạy học và là nguồn tri thức phong phú đa dạng, góp phần tạo biểu tượng, phát triển trí tuệ, nâng cao năng lực nhận thức cho học sinh trong quá trình học tập
Kênh hình là hệ thống bao gồm: tranh ảnh, hình vẽ , biểu bảng, sơ đồ, video clip, đoạn phim mang nội dung của kiến thức cần truyền tải đến HS thông qua thị giác, thính giác
Có nhiều loại kênh hình để phục vụ trong quá trình dạy và học như:
- Lược đồ các trận đánh lịch sử
- Video các trận đánh
- Tranh ảnh phản ánh công trình văn hóa, kiến trúc lịch sử
- Tranh ảnh là các chân dung nhân vật lịch sử
- Tranh ảnh là các biến cố lịch sử
- Các đoạn phim tài liệu về lịch sử
Trang 16- Tranh biếm họa, châm biếm
Kênh hình có vai trò quan trọng, giúp biểu diễn trực quan nội dung kênh chữ Giáo viên khai thác tư liệu trong kênh hình để dạy học sẽ tạo sự hứng thú với học sinh trong quá trình học tập, giúp học sinh ghi nhớ kiến thức dễ dàng và bền vững, giáo viên cũng dễ đạt được mục tiêu của bài học nhờ nguồn tư liệu kênh hình mang lại
2.2.2 Khai thác tư liệu từ lược đồ, hình ảnh 3D, video trận đánh
Lược đồ, hình ảnh 3D, video trận đánh chứa đựng nhiều tư liệu ngoài sách giáo khoa
Hình ảnh sinh động, bắt mắt, thu hút sự chú ý của học sinh
Truyền tải một cách hiệu quả, sáng tỏ thông điệp trong quá trình dạy học Khi dạy các bài lịch sử thời cổ và trung đại thế giới cũng như lịch sử Việt Nam, trước đây giáo viên chỉ có thể khai thác qua các lược đồ, tài liệu cũ và sự
mô tả đó chưa sinh động, kênh hình chủ yếu ảnh chụp đen trắng nên không gây hứng thú học tập cho học sinh
Nhưng giờ đây nhờ công nghệ thông tin và vai trò của giáo viên được phát huy trong dạy học nên những nguồn tư liệu được cập nhật và khai thác để sử dụng
sẽ làm phong phú hơn tư liệu học tập, các sản phẩm như lược đồ, sơ đồ có màu
và sắc nét đẹp hơn, một số kênh hình mới được tạo ra để minh họa rõ nét, thậm chí người ta có thể tạo ra những video với hình ảnh 3D sắc nét mà chân thực, góp phần miêu tả rõ hơn về các nhân vật, sự kiện lịch sử
Ví dụ minh họa 1: khi dạy bài 19 – Những cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm ở các thế kỷ X – XV ( Lịch sử 10 – ban cơ bản)
- Ví dụ minh họa: Khi dạy về các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm ở các thế kỷ X –XV (Kháng chiến chống Tống thời Tiền Lê, Thời Lý, kháng chiến chống quân Mông – Nguyên, khởi nghĩa Lam Sơn) Nếu là trước đây giáo viên chỉ có thể khai thác được các lược đồ về các trận đánh đó một cách mờ nhạt qua lược đồ không màu và chỉ có hình 37- Lược đồ các địa danh diễn ra những trận đánh lớn từ thế kỷ X – XV thì không gây hứng thú học tập cho học sinh mà làm cho học sinh nhàm chán hơn
Ví dụ lược đồ các cuộc kháng chiến trong các thế kỷ X – XV không có màu
Trang 17Dù có lược đổ để minh họa cho bài học nhưng cũng không hiệu quả bằng việc sử dụng các vi deo minh họa các trận đánh lớn vì các lược đồ đó không có màu sắc, không bắt mắt, nên hiệu quả không cao, mặc dù các video hoặc hình ảnh 3D chỉ được phỏng lại theo mô hình
VD GV sử dụng vi deo trong trong khi dạy bài 19 - Những cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm ở các thế kỷ X – XV ( Lịch sử 10 – ban cơ bản) Giáo viên sẽ khai thác tư liệu lịch sử qua các đoạn video mô phỏng các trận đánh lớn ở các thế kỷ X – XV để học sinh hiểu rõ hơn về nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch
sử của và nghệ thuật quân sự cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, như video cuộc kháng chiến chống Tống thời Lý của Lý Thường Kiệt, video các cuộc kháng chiến
Trang 18chống quân Mông – Nguyên, hay video trận Chi Lăng – Xương Giang của Lê Lợi
(phụ lục 6)
Giáo viên kết nối với theo đường link để vào khai thác các video cho dạy học
https://drive.google.com/drive/folders/1jcC-ujzJB5bSxko_Lurgo4qxYmIzEv-a?usp=sharing
- Ý nghĩa của hoạt động dạy học
Với những video mô tả về các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược trong các thế kỷ từ X – XV, học sinh dễ tiếp thu, dễ ghi nhớ các sự kiện và ý nghĩa của các sự kiện, nhân vật lịch sử một cách rõ nét, đặc biệt là những nhân vật lịch sử
có vị trí hết sức quan trọng trong lịch sử dân tộc như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo hay Lê Lợi
Trang 19Học sinh rút ra được nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược ở các thế kỷ X - XV
Học sinh hiểu được nghệ thuật quân sự mà ông cha ta đã sử dụng trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm trong các thế kỷ X – XV, từ đó rút ra bài học lịch sử cho truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm
Ví dụ minh họa 2: Khi dạy bài 21 – Những biến đổi của nhà nước phong kiến trong các thế kỷ XVI – XVIII (Lịch sử 10 – ban cơ bản) hoặc khi dạy đến bài 23 – Phong trào Tây Sơn và sự nghiệp thống nhất đất nước, bảo vệ tổ quốc cuối thế kỷ XVIII
- Khi GV sử dụng phương pháp dạy học truyền thống: Giáo viên chỉ cỏ thể mô tả việc chia cắt đất nước trong những thế kỷ XVI – XVIII bằng miệng qua lời kể của giáo viên kết hợp chỉ lược đồ trống Việt Nam trong các thế kỷ XVI - XVIII Nhưng với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin mà giáo viên đã khai thác được bằng video mô tả về Đại Việt ở thế kỷ XVI - XVIII khi giữa hai chính quyền Đàng Trong và Đàng ngoài chiến tranh dẫn đến sự chia cắt đất nước, giáo viên cho học sinh khai thác tư liệu qua video rồi tiến hành tổ chức cho học sinh hoạt động “đóng vai” Học sinh hóa thân vào nhân vật Quang Trung – Nguyễn Huệ giương cao khẩu hiệu “lấy của nhà giàu, chia cho nhà nghèo” để đánh bại vương triều chúa Nguyễn ở Đàng Trong và vượt sông Gianh (Quảng Bình) để ra lật đổ chúa Trịnh
ở Đàng Ngoài và bước đầu thống nhất đất nước (Link về Quang trung đại phá quân Thanh https://youtu.be/-32etUCMZyg)
-2.2.3 Sử dụng CNTT để khai thác tranh biếm họa, ảnh nhân vật lịch sử trong quá trình dạy học
Tranh biếm họa là một loại kênh hình có tính trực quan cao, đặc biệt sử dụng tranh biếm họa trong dạy học lịch sử thu được nhiều kết quả hơn, bởi tranh biếm họa lịch sử phản ánh nội dung cụ thể về nhân vật, sự kiện, hiện tượng lịch
sử một cách tương đối rõ Tranh biếm họa còn gắn liền với các sự kiện tính thời
sự, chính trị, xã hội nóng hổi, quan trọng để phản ánh giai đoạn lịch sử đó
Tranh biếm họa thường có tính cường điệu, hài hước, lạ lẫm thu hút học sinh, kích thích tư duy sáng tạo của học sinh Học sinh không chỉ khai thác nội dung lịch sử trong tranh mà còn khai thác cả tính “cường điệu” trong tranh biếm họa, qua đó mới phát huy được năng lực tư duy của học sinh trong quá trình học tập
Việc sử dụng tranh biếm họa để dạy và học đã trở nên phổ biến trong phương pháp dạy học mới những năm gần đây, tuy nhiên việc trực tiếp hướng dẫn học sinh khai thác tranh biếm họa ngay tại giờ học là biện pháp mới, hướng học sinh đến những tư duy độc lập, để cho ra kết quả cụ thể.Với việc học sinh được
sử dụng điện thoại trong giờ học, giáo viên cho phép học sinh sử dụng Smartphone
để khai thác thông tin phục vụ cho bài học tốt hơn
Trang 20Ví dụ minh họa: Khi dạy bài 17 “Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945)” (Lịch sử 11 – Cơ bản), GV vào bài sau phần khởi động “Ở bài học trước các em
đã được học về chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918) … mà nguyên nhân của nó chính là mâu thuẫn về vấn đề thuộc địa giữa các nước đế quốc, tuy nhiên mâu thuẫn đó chưa được giải quyết trong cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất thì mâu thuẫn mới lại nảy sinh sau hội nghị Vec xai – Oasinhtơn giữa những nước bại trận với những nước thắng trận, giữa những đế quốc thõa mãn (Anh, Pháp, Mĩ) và những đế quốc bất mãn (Nhật, Italia ) và những mâu thuẫn khác xuất hiện thì cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới bùng nổ (1929 – 1933) làm những mâu thuẫn giữa các nước đế quốc thêm gay gắt làm quan hệ quốc tế đứng bên
bờ vực của cuộc chiến tranh thế giới Và đó là những nguyên nhân dẫn đến chiến tranh thế giới thứ hai”
Sau đó giáo viên sử dụng tranh biếm họa “Người khổng lồ Hit Le” để thực hành các hoạt động dạy học
Mục I – Con đường dẫn đến chiến tranh, sau khi khái quát lại quan hệ quốc
tế sau chiến tranh thế giới thứ nhất quan hệ quốc tế đã córất nhiều vấn đề tồn tại nhưng vì sao với sự xuất hiện của Hít Le thì đẩy quan hệ quốc tế đó đến trước một cuộc chiến tranh, giáo viên chiếu hình ảnh “Người khổng lồ Hít Le” lên máy chiếu
và yêu cầu học sinh khai thác Giáo viên đặt câu hỏi: “Nếu không có nhân vật lịch
sử này chiến tranh thế giới thứ hai có bùng nổ không?”
- Phương thức thực hiện:
Bước 1: Giáo viên chiếu hình ảnh tranh biếm họa “Người khổng lồ” không
có thông tin gì lên máy chiếu
Bước 2.Giáo viên tổ chức cho học sinh khai thác hình ảnh tranh biếm họa: Trước tiên giáo viên hướng dẫn khai thác thông tin hình ảnh Hít Le, và khai thác những thông tin về nhân vật lịch sử này qua mạng Internet
Trang 21+ Hình ảnh Hít Le nằm vắt ngang lục địa châu Âu, với tư thế ung dung tự tại
+ Khai thác về trang phục của HítLe như quần áo, đai nịt, đế giày…
+ Hình ảnh những chính khách châu Âu đang vây quanh HítLe
- Sau khi học sinh quan sát và trả lời giáo viên chiếu tiếp hình ảnh có phụ
đề về tranh biếm họa “Người khổng lồ - Hít le”
Bước 3: Học sinh kết hợp với tư liệu trong Mục I (sgk) và lý giải được con đường dẫn đến chiến tranh thế giới thứ hai, yêu cầu học sinh trả lời một số câu hỏi?
+ Em hãy quan sát thật kĩ bức tranh biếm họa về Hit-le và cho biết nội dung
bức tranh muốn nói lên điều gì?
Giáo viên tổng kết: Sau khi học sinh thu thập thông tin qua tranh biếm họa
và tìm kiếm thêm nguồn tư liệu qua Internet để tìm hiểu về bức tranh “Người khổng lồ” giáo viên nhận xét và tổng hợp Đây là nhân vật Hitle Hít-le được ví như “người khổng lồ” sau khi đã có những hành động quân sự ở châu Âu, với vẻ mặt rạng ngời trước những hành động quân sự mình đạt được ở châu Âu lúc bấy giờ, dưới đế giày ghi dòng chữ “Sieg Heili” nghĩa là “Chào quyết thắng hoặc Chào lãnh tụ của tôi” cùng với chữ Vạn, một biểu tượng của Đức quốc xã về tham vọng
bá chủ thế giới
Hình ảnh các chính khách châu Âu được ví là đang “ve vản” trùm phát xít Hít Le trước sức mạnh của Đức quốc xã, nhưng đó là thái độ thỏa hiệp, dung dưỡng cho chủ nghĩa phát xít tự do hành động
Sau cùng là giáo viên cung cấp thêm một số thông tin về nhân vật Hít Le
và đặt một số câu hỏi để học sinh có thể tranh luận cho bài học
Adolf Hitle sinh ngày 20-4-1889, tự sát ngày 30-4-1945 Là chủ tịch đảng Đức Quốc xã từ năm 1921, làm thủ tướng Đức từ năm 1933, là "Lãnh tụ và Thủ tướng đế quốc" kiêm nguyên thủ quốc gia nắm quyền Đế quốc Đức kể từ năm
Trang 22Thái” Điều đặc biệt là cả Hít-le và vua hài Sác-lô đều sinh cùng thời điểm là tháng 4 năm 1889 ( vua hài Sác-lô sinh ngày 15/4/1889) nhưng một người thì mang lại tiếng cười cho cả thế giới, còn người kia thì làm cho cả thế giới phải khóc ( vì Hít-le đã châm ngòi cho cuộc chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ - một cuộc chiến tranh tàn khốc nhất trong lịch sử nhân loại, làm hơn 60 triệu người chết )
Nhân vật này chỉ trong vòng vài năm đã bước lên ngôi Thủ tướng Đức và cuối cùng, đã trở thành người cầm quyền độc tài, cai trị phần lớn châu Âu Hit-le
là một trong số ít các nhân vật trong lịch sử nhân loại đã phát huy một năng lực hủy hoại hiếm thấy
Kết hợp với hình ảnh và tư liệu học sinh khai thác được qua mạng Internet
có thể trả lời được câu hỏi “Nếu không có Hít Le thì chiến tranh thế giới thứ hai
có bùng nổ không?”
Học sinh trả lời được: Nếu không xuất hiện nhân vật HitLe chiến tranh thế giới thứ hai vẫn bùng nổ, bởi không có Hít Le cũng sẽ có một nhân vật hiếu chiến cực đoan khác xuất hiện nhằm lợi dụng mâu thuẫn giữa các nước đế quốc tới một cuộc chiến để giải quyết nó, vì thế khi Hít Le xuất hiện đã có những thế lực hậu thuẫn để lên cầm quyền, để rồi thái độ nhượng bộ, thỏa hiệp của các nước lớn đã góp phần cho chủ nghĩa phát xít tự do hành động
Khi dạy học Bài 21: “Phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XIX” (Tiết 1 – Lịch sử 11)
Trong phần khởi động bài học giáo viên dùng hình ảnh những nhân vật lịch
sử trong phong trào Cần Vương và khởi nghĩa nông dân Yên thế (Vua Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết, Phan Đình Phùng, và Hoàng Hoa Thám) để khởi động bài học
Trang 23Bước 1 GV cho HS quan sát các bức ảnh trên màn hình trình chiếu:
Giáo viên yêu cầu học sinh sử dụng smartphone để khai thác và xử lý đúng thông tin về các nhân vật lịch sử trong phong trào cần Vương và khởi nghĩa nông dân Yên Thế
Biết được vai trò của họ trong sự nghiệp đấu tranh chống giặc ngoại xâm, nên họ được chọn để đặt tên cho đường phố, trường học… ở Việt Nam
- Ý nghĩa của hình ảnh mà giáo viên cung cấp:
Giữa các nhóm khai thác được những nguồn tư liệu khác nhau, nên sẽ bổ trợ thông tin lẫn nhau khi các nhóm trình bày
Thông tin học sinh khai thác được cũng nhiều hơn và học sinh sẽ dễ ghi nhớ hơn
Qua hình ảnh và vai trò về các nhân vật lịch sử học sinh có thể hiểu được những đóng góp to lớn của họ với sự nghiệp đấu tranh chống giặc ngoại xâm Từ
đó, bồi đắp thêm lòng yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc và lòng biết ơn với những người đã hy sinh vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, để từ đó học
Trang 24sinh có thái độ biết ơn, trân trọng với những gì mà cha ông ta đã làm và có ý thức học tập, rèn luyện, xây dựng quê hương đất nước sau này
2.2.4 Sử dụng CNTT để khai thác thông tin từ phim tư liệu lịch sử
- Vai trò của phim tư liệu với dạy học lịch sử
Phim tư liệu cũng là một đồ dùng trực quan có thể sử dụng trong quá trình dạy học, nghiên cứu cho thấy rằng càng nhiều giác quan tham gia vào quá trình học tập thì thông tin thu được càng nhiều, đa giác quan của HS được kích thích
Vì thế phim tư liệu có vai trò nhất định phục vụ cho việc dạy và học nhất là môn lịch sử
Phim tư liệu góp phần kích thích đa giác quan của học sinh khi được sử dụng để dạy học, là phương tiện tác động đến thị giác, thính giác giúp cho quá trình thu nhận thông tin của “bộ máy học” dễ dàng hơn, giờ học trở nên sinh động hơn, tạo hứng thú học tập cho HS
Phim tư liệu có khả năng làm cho các sự kiện lịch sử được cụ thể hóa một cách dễ dàng hơn, độ tin cậy đối với người học cũng cao hơn
Phim tư liệu có thể dùng minh họa nội dung bài học, hoặc có thể cung cấp thêm kiến thức bài học, cũng có thể dùng để ôn tập, củng cố nội dung bài học, nhưng thường giáo viên sử dụng đoạn phim tư liệu để minh họa nội dung bài học
vì nó là minh chứng sinh động để học sinh hiểu rõ hơn các sự kiện lịch sử mình vừa được nghe
- Các yêu cầu để sử dụng phim tư liệu trong dạy học Để khai thác hiệu quả phim
tư liệu trong quá trình dạy học thì giáo viên cần phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản như sau:
Nội dung của phim tư liệu phải bám sát nội dung bài học, thông tin do đoạn phim cung cấp phải đảm bảo độ chính xác, chân thực và thực sự lôi cuốn
Thời lượng mỗi đoạn phim tuỳ theo dung lượng của bài học, phải hợp lí không được quá dài cũng không thể quá ngắn, phù hợp nhất là từ hai đến năm phút
Số lần sử dụng phim cho một tiết học không nên quá ba lần vì GV còn phải kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học khác Hơn nữa nếu số lần xem phim quá nhiều dễ làm cho HS không tập trung và quan trọng hơn là không có thời gian
để hướng dẫn học sinh khai thác nguồn tư liệu từ trong phim
Cần phải có các phương tiện kĩ thuật cần thiết để hỗ trợ cho việc thực hiện giờ dạy khi sử dụng phim tư liệu lịch sử như: máy vi tính, máy chiếu, màn hình chiếu
Trang 25Giáo viên phải sắp xếp hợp ký chỗ ngồi của học sinh để mọi gọc sinh có thể quan sát được nội dung của phim tư liệu, vì đó cũng là một phần của nội dung bài học
Với những yêu cầu đảm bảo trên thì giáo viên có thể sử dụng phim tư liệu
để khai thác thông tin phục vụ cho quá trình dạy và học, góp phần nâng cao khả năng nhận thức về lịch sử, khả năng thu nhận và xử lý thông tin
Ví dụ minh họa: Khi dạy bài 22 – Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược Nhân dân miền Bắc vừa chiến đấu vừa sản xuất (1965 – 1973) (Lịch sử 12 – cơ bản), dạy về nội dung vai trò của hậu phương miền Bắc chi viện cho miền Nam trong kháng chiến chống Mĩ giai đoạn 1965 –
1968, Giáo viên minh họa đoạn phim tư liệu về tuyến đường mòn Hồ Chí Minh (Đường 559) qua phim tư liệu được khai thác trên mạng để làm rõ hơn về vai trò hậu phương của miền Bắc đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam
Mục tiêu khai thác PTLLS Giúp học sinh hiểu rõ hơn về vai trò của tuyến đường mòn Hồ Chí Minh trong thời gian kháng chiến chống Mĩ
Học sinh thấy được sức mạnh của bộ đội Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh, thấy được sự hy sinh to lớn, sự mưu trí của một dân tộc nhỏ và yếu nhưng không bao giờ khuất phục trước giặc ngoại xâm
Biện pháp thực hiện:
Khi giáo viên dạy về vai trò hậu phương của miền Bắc trong những năm
1965 – 1968 qua phần tư liệu lịch sử được cung cấp trong sách giáo khoa, nhưng khá ít ỏi “Tuyến đường vận chuyển chiến lược Bắc – Nam mang tên Hồ Chí Minh trên bộ (dọc theo dãy núi trường Sơn) và trên biển (dọc theo bờ biển) bắt đầu khai thông năm 1959, dài hàng nghìn cây số đã nối liền hậu phương với tiền tuyến.”(Sgk lịch sử 12 – trang 179), giáo viên có thể sử dụng đoạn phim tư liệu
về tuyến đường mòn Hồ Chí Minh để miêu tả thêm về con đường huyền thoại của Việt Nam và qua đó cũng làm rõ được vai trò hậu phương của miền Bắc trong kháng chiến chống Mĩ
- Bước 1: Giáo viên chiếu cho học sinh xem đoạn phim tư liệu và hướng dẫn học sinh khai thác từ phim tư liệu (hình ảnh được cắt từ phim tư liệu) (Phụ lục 3)
(Người Mỹ coi những sự đau khổ của họ bắt nguồn chủ yếu từ con đường mòn
bất khả xâm phạm này)
- Bước 2: Giáo viên nêu ra một số vấn đề liên quan đến đoạn phim tư liệu học sinh vừa được xem và yêu cầu học sinh khai thác thông tin từ PTLLS với các yêu cầu sau
Trang 26+ Đường mòn Hồ Chí Minh còn được gọi với những cái tên nào?
+ Từ phim tư liệu vừa xem em có thể liệt kê khối lượng vật chất và nhân lực mà nhân dân miền Bắc đã vận chuyển vào chiến trường miền Nam trong kháng chiến chống Mĩ?
+ Cảm nhận của em về tuyến đường mòn Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Mĩ?
+ Em có suy nghĩ gì về khái niệm “chiến tranh nhân dân” ở Việt Nam được thể hiện qua tuyến đường mòn Hồ Chí Minh?
Các nhóm thu thập thông tin từ phim tư liệu và nhận xét, đánh giá về số liệu thu thập được
Giáo viên tổng hợp và đánh giá nhận xét: Tuyến đường mòn Bắc – Nam được đặt tên đường mòn Hồ Chí Minh trên bộ bắt đầu có tên là đường 559 (thành lập ngày 5-5-1959) và tuyến đường mòn Hồ Chí Minh trên biển còn có tên là tuyến đường 759 (thành lập tháng 7/1959) do Quân ủy trung ương ra quyết định thành lập, tuyến đường mòn 559 còn có tên là tuyến đường mòn Trường Sơn (vì
xẻ dọc dãy núi Trường Sơn để mở đường), các lực lượng trên tuyến đường Hồ Chí Minh đã xây dựng được một mạng đường chiến lược có tổng chiều dài gần 20.000 km, bao gồm 5 hệ thống đường trục dọc, 21 đường trục ngang
+ Trong khoảng thời gian từ 1965 – 1968 tuyến đường mòn Hồ Chí Minh trên bộ và trên biển đã cung cấp cho chiến trường miền Nam một khối lượng lớn
về vũ khí, đạn dược, vật tư y tế , và nhân lực cụ thể: Ðoàn 559 đã chuyển tới chiến trường miền nam và Lào gần 100 nghìn tấn vật chất, bảo đảm cho hơn 200 nghìn lượt người qua lại trên đường Trường Sơn, đưa khoảng 30 vạn cán bộ chiến
sĩ vào chiến trường miền Nam góp phần đánh bại "chiến tranh cục bộ" ở miền nam và hỗ trợ quân dân nước Lào anh em, đánh thắng "chiến tranh đặc biệt",tạo điều kiện cho việc hoàn thành nhiệm vụ trong các giai đoạn tiếp theo
- Sau đó học sinh thuyết trình về cảm nhận của em qua đoạn phim tư liệu cung cấp, để làm rõ vai trò hậu phương miền Bắc với thắng lợi của nhân dân miền Nam trong giai đoạn 1965 -1968
Trang 27- Học sinh biết được tuyến đường mòn Hồ chí Minh có một vai trò hết sức quan trọng với ta, nó là sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, và đó cũng là nỗi sợ của người Mĩ, với người Mỹ đường mòn Hồ Chí Minh đã trở thành “trận đồ bát quái xuyên rừng rậm” Ðó không chỉ là con đường tiếp tế, mà còn là biểu tượng của cuộc chiến bảo vệ tổ quốc của dân tộc Việt Nam Người Mỹ coi những sự đau khổ của họ “bắt nguồn chủ yếu từ con đường mòn bất khả xâm phạm này”
- Học sinh cũng hiểu được những giá trị mà tuyến đường này mang lại, bởi với người Việt Nam, tuyến chi viện chiến lược mang tên Hồ Chí Minh là con đường của ý chí quyết thắng, của lòng dũng cảm, của khí phách anh hùng được đúc kết từ truyền thống cha ông và nó vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay
Ðó là con đường nối liền Nam - Bắc, là biểu tượng của thống nhất nước nhà, là sức mạnh của dân tộc không thể bị kẻ thù chia cắt và là con đường đoàn kết các dân tộc của ba nước Ðông Dương, mặc dù sự hy sinh to lớn của lực lượng bộ đội, thanh nên xung phong…để tuyến đường đó luôn không bị gián đoạn
- Học sinh suy nghĩ trả lời và lấy được ví dụ minh họa từ hoàn cảnh thực tế ngày nay Dù là đang trong thời kỳ hòa bình nhưng để được bình yên như ngày hôm nay thì những người lính bộ đội cụ Hồ vẫn phát huy sức mạnh của truyền thống để hoàn thành những nhiệm vụ khó khăn, ví dụ trong hoàn cảnh đất nước
có dịch bệnh như hiện nay thì bộ đội Việt Nam vẫn ngày đêm canh giữ biên cương
để ngăn chặn việc vượt biên trái phép tránh sự lây lan của dịch bệnh
* Ý nghĩa sau khi xem phim tư liệu học sinh rút ra được:
- Học sinh biết khai thác PTLLS
- Học sinh được tường minh về khái niệm “đường mòn Hồ Chí Minh” và ý nghĩa của tuyến đường đó
Trang 28- Học sinh cảm nhận được sư hy sinh gian khổ của bộ đội Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ và cũng thấy được sức mạnh dân tộc của nhân dân Việt Nam bằng ý chí, niềm tin, lý tưởng về một nền độc lập thống nhất vẹn toàn
- Qua bài thuyết trình học sinh cảm nhận được những giá trị lịch sử mà tuyến đường mòn Hồ Chí Minh mang lại, và hiểu được thế nào là chiến tranh nhân dân? Sức mạnh toàn dân tộc trong mọi hoàn cảnh khó khăn được phát huy như thế nào?
- Qua nội dung của đoạn phim tư liệu giáo viên cũng giáo dục được lòng yêu nước, chí căm thù giặc, lòng biết ơn với các chiến sĩ bộ đội Việt Nam trong mọi thời kỳ lịch sử mang lại, hiểu được khái niệm “chiến tranh nhân dân” được
cụ thể hóa trong hành động, nhất là trong thời kỳ những năm kháng chiến chống
Mĩ gian khổ
2.3 CNTT với đổi mới phương pháp dạy học trong môn Lịch sử
Với việc kết hợp các tài liệu nghe nhìn để bổ sung cho các tài liệu trong sách giáo khoa cùng với các phương pháp dạy học tích cực đã thực sự khuyến khích việc dạy và học môn lịch sử tốt hơn Các nguồn tư liệu đa dạng hơn như phim, phim tài liệu, hình ảnh, tranh biếm họa hoặc các công cụ bản đồ, lược đồ màu, hay sơ đồ tư duy, những công cụ như vậy sẽ giúp học sinh có tư duy đa chiều trong quá trình tiếp nhận tri thức, có cái nhìn khách quan và chân thực hơn nhiều
so với một kênh thông tin và sử dụng phương pháp truyền thống
Việc áp dụng công nghệ thông tin không chỉ đơn thuần là giúp học sinh khai thác được nhiều tư liệu học hơn mà nó còn giúp người dạy và người học có thể đa dạng nhiều hình thức tổ chức dạy học kết hợp việc sử dụng công nghệ thông tin Dựa vào công nghệ thông tin được áp dụng trong quá trình dạy học giáo viên
có thể đa dạng hóa các hình thức dạy học nhằm phát triển các năng lực và tư duy của học sinh
2.3.1 Sử dụng CNTT để phát huy vai trò của các trò chơi trong dạy học lịch sử
- Trò chơi: Trò chơi trong sử học có thể được sử dụng dưới nhiều hình thức khác nhau như “ Đi tìm ô chữ bí mật”, “lật mở miếng ghép”, “đuổi hình bắt chữ”,
“vòng quay kì diệu”, “nối danh nhân và danh ngôn”…, các trò chơi nếu được sử dụng trong quá trình dạy học sẽ giảm bớt sự nhàm chán đối với học sinh đặc biệt
là đối tượng học sinh học khối tự nhiên không dùng môn lịch sử để thi tốt xét tốt nghiệp, nhưng phù hợp nhất vẫn là sử dụng trò chơi ở phần kết thúc bài học
- Ví dụ minh họa trò chơi “Đi tìm ô chữ bí mật” - Khi dạy bài 21 – Phong trào yêu nước chống thực dân Pháp của nhân dân Việt Nam trong những năm cuối thế kỷ XIX, giáo viên có thể tổ chức trò chơi “ Ô chữ bí mật” để kết thúc bài học
Trang 29Sau khi hoàn thành nội dung bài học, giáo viên muốn hệ thống lại kiến thức cho học sinh nên sử dụng một số trò chơi
Nhằm củng cố lại nội dung kiến thức đã học, giúp các em ghi nhớ sự kiện nhanh hơn
Giải tỏa sự căng thẳng sau 1 tiết học, giúp các em được tham gia trực tiếp hoạt động học mà không cần phả ghi chép lại
* Phương thức thực hiện:
+ Bước 1: Giáo viên nêu yêu cầu và nhiệm vụ, mục đích của trò chơi: Yêu cầu của trò chơi là bằng các câu hỏi đã được thiết kế sẵn trên máy chiếu học sinh vận dụng kiến thức mình vừa mới được học để trả lời các câu hỏi
Có tất cả 8 câu hỏi liên quan đến nội dung bài vừa học, các em lần lượt lật
mở các ô chữ, sau khi lật mở được 7 ô hàng ngang thì nhiệm vụ chính của các em
là tìm ra ô chữ hàng dọc và ô chữ này không được sắp sếp theo đúng trật tự các
Trang 30- Vai trò và ý nghĩa của trò chơi
Thực hiện trò chơi trong giờ học có thể làm thay đổi trạng thái học tập của các em, làm cho giờ học trở nên vui nhộn, bớt căng thẳng không còn nặng nề về việc ghi chép và đọc thuộc, tạo cảm giác thoải mái, dễ chịu học sinh lĩnh hội kiến thức một cách nhẹ nhàng
Tạo cho học sinh cơ hội được tìm tòi, sáng tạo và tự rèn luyện bản thân, cũng qua đó giúp học sinh hình thành những năng lực riêng như phản ứng nhanh, năng lực thuyết trình, năng lực ngôn ngữ…, phát triển khả năng phán đoán và suy luận từ đó phát triển tư duy độc lập, học cách xử lý thông minh và các tình huống phức tạp trong cuộc sống
+ Mục đích của các trò chơi là tạo ra không khí thoải mái vui vẻ và kích thích sự sáng tạo của học sinh, để tổ chức và thực hiện trò chơi đòi hỏi giáo viên phải có những kỹ năng như tìm kiếm và lựa chọn thông tin phù hợp để đưa vào nội dung trò chơi, trò chơi nào phù hợp với dạng bài nào, nhưng thông qua trò chơi cũng rèn cho những học sinh những kỹ năng cần thiết, trong đó có cả năng lực diễn xuất, năng lực sáng tạo…
* Ví dụ minh họa trò chơi “Mảnh ghép lịch sử” để tìm “Nhân vật lịch sử”: Sau khi học bài 20 – Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc (1953 – 1954), giáo viên có thể sử dụng trò chơi lật mở “Mảnh ghép lịch sử” tìm ra “Nhân vật lịch sử” để kết thúc nội dung bài học
- Mục đích trò chơi
Trang 31Thông qua các mảnh ghép giáo viên hệ thống lại kiến thức nội dung của bài học bằng một số câu hỏi, mỗi câu hỏi đều liên quan đến nội dung bài học, qua các câu hỏi đó giúp các e củng cố kiến thức của bài, và liên hệ vận dụng kiến thức đã học để tìm ra nhân vật bí ẩn sau những mảnh ghép
- Phương thức thực hiện:
+ Bước 1: Giáo viên nêu yêu cầu và nhiệm vụ của trò chơi:
Tìm ra một nhân vật lịch sử được che khuất bởi những ảnh ghép: Có 1 nhân vật lịch sử ẩn trong 9 mảng ghép lịch sử Theo thứ tự các đội chọn các mảng ghép Mỗi mảng ghép chứa 1 câu hỏi Trả lời đúng mảng ghép sẽ mở ra.Câu trả lời đúng được 10 điểm.Tìm được đúng chân dung nhân vật ẩn trong mảng ghép ghi được
50 điểm.Tìm chân dung lịch sử trong bất cứ thời gian nào?
+ Bước 2: Tiến hành tổ chức trò chơi: Giáo viên là người điều hành trò chơi và
cử thêm một nhóm trọng tại để tính điểm cho những nhóm thành viên trả lời được câu hỏi
+ Câu hỏi trong các mảnh ghép:
Câu 1: Đây là kế hoạch quân sự mà thực dân Pháp muốn kết thúc chiến tranh trong
“danh dự” ở Đông Dương?
Trang 32Đáp án: Đồi A1
Câu 9: Điện Biên Phủ được thực dân Pháp ví như là?
Đáp án: “Pháo đài bất khả xâm phạm”
- Sản phẩm đạt được:
- Giáo viên nhận xét và cho điểm, đồng thời giới thiệu thêm về Đại tướng Võ Nguyên Giáp để học sinh biết đôi nét về vị tướng tà này.(Phụ lục – giáo án pp) và đặt câu hỏi? Bằng hiểu biết của em về Đại tướng Võ Nguyên Giáp em hãy nêu đôi nét về Người và nêu cảm nhận của em về Đại tướng?
Võ Nguyên Giáp sinh năm 1911 mất năm 2013, tại xã Lộc Thủy, huyện Lệ thủy, tỉnh Quảng Bình, từ lúc mới 15, 16 tuổi đã tham gia vào phong trào học sinh chống Pháp ở Huế, năm 1927 tham gia vào Tân Việt cách mạng đảng (Một tổ chức tiền thân của Đảng cộng sản Việt Nam sau này), tháng 10/1946 được giao
cử làm Bộ trưởng bộ quốc phòng và được chủ tích Hồ Chí Minh ủy quyền làm tổng chỉ huy Quân đội nhân dân và Dân quân tự vệ Việt Nam, 1/1948 được phong quân hàm Đại tướng và Tổng chỉ huy Quân đội nhân dân Việt Nam Võ Nguyên Giáp có vai trò to lớn trong các chiến dịch quân sự cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, nhưng điển hình nhất là trận Điện Biên Phủ năm 1954 làm “ Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”
2.3.2 Sử dụng trò chơi “Đóng vai” để giải quyết các tình huống lịch sử
Trang 33Trong dạy học bằng phương pháp mới, thì hoạt động đóng vai được xem là một hoạt động dạy học gây hứng thú học tập cho học sinh, bởi hoạt động đóng vai
là lúc mà học sinh có điều kiện để thể hiện tính tích cực học tập, chủ động tìm kiếm kiến thức, nên mục tiêu giáo dục ở phương pháp mới cũng thay đổi : Thái
độ hứng thú kĩ năng tri thức, làm thay đổi quan điểm, tư duy dạy học cũ
đi từ Tri thức kỹ năng thái độ tri thức Hứng thú học tập mới là vai trò quan trọng nâng cao tính tích cực của con người, mới làm tăng tính hiệu quả nhận thức và hoạt động đóng vai là biện pháp mang lại tính hiệu quả học tập cho học sinh
Khi tham gia vào hoạt động đóng vai học sinh được được trao đổi, giao lưu với bạn bè, thầy cô để thể hiện năng khiếu, thể hiện bản thân trước đám đông (khán giả), và hòa mình vào không khí học tập vui vẻ, sôi nổi, thân thiện, không nặng nề không nhàm chán như dạy học truyển thống
Dạy học thông qua nhập vai là một cách tuyệt vời để khiến người học bước
ra khỏi vùng an toàn, thoải mái và phát triển kỹ năng giao tiếp Phương pháp này rất có hiệu quả, đặc biệt là trong bộ môn xã hội nhất là môn lịch sử hoặc giảng dạy về các sự kiện hiện tại Phương pháp đóng vai sẽ giúp học sinh đồng cảm với nhân vật và hiểu sâu sắc hơn bối cảnh lịch sử đã qua Hoạt động đóng vai có hiệu quả đối với học sinh ở hầu hết mọi lứa tuổi và phù hợp với nhiều hoàn cảnh, nên giáo viên có thể thông qua hoạt động đóng vai để phát triển các năng lực của học sinh, một trong những năng lực đó là được thể hiện bản thân, được nói lên quan điểm suy nghĩ của mình
Ví dụ minh họa Khi dạy bài 17 – Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945), tôi sử dụng trò chơi đóng vai các “nước lớn” trước những hoạt động chiến tranh của chủ nghĩa phát xít
Khi dạy mục I Con đường dẫn đến chiến tranh, giáo viên cho học sinh xem một đoạn phim tư liệu về sự xuất hiện của chủ nghĩa phát xít và nguy cơ chiến tranh
Giáo viên chia lớp thành bốn nhóm và mỗi nhóm lựa chọn những nước đế quốc: Anh, Pháp, Liên Xô, Mĩ để đóng vai các “nước lớn” tỏ thái độ quan điểm trước sự xuất hiện của chủ nghĩa phát xít
Hoạt động 1: Sau khi giáo viên khởi động bài học, thì tiến hành cho học sinh đóng vai về các nước lớn trước những hành động quân sự của các nước phát xít (Đức – Italia – Nhật Bản)
Trang 34Trước hành động ngang ngược của chủ nghĩa phát xít và đặt thế giới trước nguy cơ một cuộc chiến tranh, những “nước lớn” có thái độ như thế nào trước hành động đó?
Hoạt động 2 Giáo viên chia nhóm
Nhóm 1: Thái độ của Liên Xô
Nhóm 2: Thái độ của Anh
Nhóm 2: Anh muốn duy trì trật tự Vecxai – Oasinhtơn có lợi cho mình mặc
dù lo sợ chủ nghĩa phát xít, nhưng thù ghét chủ nghĩa cộng sản nên tỏ thái độ nhượng bộ chủ nghĩa phát xít để đẩy chiến tranh về với Liên Xô
Từ chối hợp tác với Liên Xô chống chủ nghĩa phát xít
Nhóm 3: Pháp cũng có thái độ như Anh, cùng với Anh đẩy chiến tranh đến với Liên Xô
Trang 35Nhóm 4 Mĩ: Thù ghét chủ nghĩa cộng sản, cũng muốn duy trì trật tự Vecxai –Oasinhtơn, và tuyên bố “không can thiệp các sự kiện xảy ra ngoài châu Mĩ”
Sau khi các nhóm lần lượt trình bày nội dung của nhóm mình, giáo viên đóng vai trò trung gian để phân tích thái độ của các nhóm đưa ra, kết hợp đặt một
số câu hỏi
Liệu chiến tranh có thể ngăn chặn được không? Vì sao?
Học sinh dựa vào những hoạt động của mình và các nhóm khác vừa trải nghiệm sẽ trả lời được câu hỏi của giáo viên đưa ra
Giáo viên nhận xét và khái quát: Chiến tranh thế giới thứ hai có thể ngăn chặn được nếu các nước lớn có thái độ kiên quyết và liên kết lại với nhau để chống chủ nghĩa phát xít, bởi đây là những nước có sức mạnh và tiềm lực to lớn về kinh
tế, chính trị và quân sự Nhưng do thái độ của các nước lớn đặc biệt là Mĩ, Anh
và Pháp đã dung dưỡng cho chủ nghĩa phát xít hành động và đẩy thế giới đến một cuộc chiến tàn khốc
Qua hoạt động đóng vai này giáo viên có thể sử dụng câu hỏi “Ngày nay trước sự xuất hiện của các nhóm vũ trang khủng bố có đặt thế giới trước cuộc chiến tranh thế giới không?” để kết thúc bài học, học sinh dễ dàng trả lời được yêu cầu đặt ra
2.3.3 Trò chơi “đóng vai” phóng viên chiến trường
Khi dạy bài 17 – Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945), giáo viên cho học sinh thực hiên sản phẩm (sản phẩm được cho học sinh về nhà chuẩn bị) là các bài báo mà mình đã “đưa tin” từ “chiến trường” chiến tranh về cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, hoặc “phóng viên” chiến trường hoặc video khai thác nội dung chiến tranh
Học sinh sẽ tự đặt tên cho các tờ báo của mình, hoặc phỏng theo tên các tờ báo nổi tiếng thế giới, như tờ Sài Gòn Time, tờ Nhật báo,… để đăng tin, hoặc đặt tên cho tờ tin tức mà mình thuyết trình
Hình thức thể hiện: Tác phẩm báo chí được in ấn theo mẫu của tờ báo, và thể hiện như mẫu các tờ báo khác, hoặc được thể hiện dưới dạng là Tạp chí, hoặc các poster cổ động, mẫu mã đẹp mắt, nội dung và hình thức trong tờ báo được thể hiện rõ
Học sinh sẽ nhập vai vào các “phóng viên” chiến trường để đưa tin để tường thuật lại những gì diễn ra tại chiến trường chiến tranh (“chiến trường” là học sinh đọc được qua tài liệu, xem các video, phóng sự về chiến tranh thế giới thứ hai)
Sản phẩm đạt được sau khi cho học sinh một số lớp 11 thực hiện
Trang 36- Ý nghĩa của hoạt động
Qua nội dung các tờ báo học sinh đã thể hiện tư duy đa chiều về chiến tranh thế giới thứ hai, có bài đã nói được “Nguyên nhân dẫn đến chiến tranh thế giới thứ hai”, có tờ báo nói về “Hậu quả chiến tranh thế giới thứ hai gây ra và sự tác động của chiến tranh đến đất nước Việt Nam”, Ấn tượng là tác phẩm “Cuộc chiến
đã chấm dứt Vậy ai Ai là người chiến thắng”
Thông qua các bài báo giáo viên đánh giá được những năng lực của học sinh, như năng lực thu thập và xử lý thông tin, năng lực hoạt động nhóm, năng lực thuyết trình…
Các tờ bào được học sinh thể hiện không chỉ nội dung bài học mà học sinh
đã thực sự hiểu về bản chất của cuộc chiến tranh, hiểu được giá trị nền hòa bình,
để từ đó có thái độ ngăn chặn những hành động xung đột và thái độ că ghét chiến tranh
2.3.4 Dùng sơ đồ tư duy để cụ thể hóa nội dung bài học qua tranh vẽ
Thay vì những kiến thức kênh chữ khô khan, nhàm chán và khó ghi nhớ, học sinh có thể được cụ thể hóa nội dung bài học vào trong tranh vẽ của mình dưới sự hướng dẫn của giáo viên mà qua đó vẫn mô tả đầy đủ nội dung được bài học, bằng khả năng tư duy và sự sáng tạo học sinh có thể trình bày dưới những dạng khác nhau nhờ việc sử dụng mạng Internet giáo viên cho học sinh sử dụng
để khai thác thông tin ngay tại giờ học để hoàn thành nội dung
Học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên về chủ đề các em tiếp cận nên
có cơ hội để thể hiện năng lực của mình, nhất là năng lực sáng tại trong hội họa, các em có thể dùng những ý tưởng của riêng mình để thể hiện nội dung bài học, không chỉ thế sau khi hoàn thành nội dung đại diện nhóm lên trình bày cũng tạo điều kiện để các em phát huy năng lực thuyết trình
Trang 37Ví dụ minh họa: Khi dạy bài 10 – Cách mạng khoa học - công nghệ và xu thế toàn cầu hóa nửa sau thế kỷ XX (Lịch sử 12 – Cơ ) Giáo viên giới thiệu qua những nội dung cơ bản của cuộc cách mạng khoa học – công nghệ và xu thế toàn cầu hóa qua phần giáo án điện tử sau đó phân công nhiệm vụ cho học sinh
Giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh: Dùng kiến thức trong sách giáo khoa kết hợp khai thác thông tin qua mạng Internet để sơ đồ hóa nội dung cuộc cách mạng khoa học – công nghệ và xu thế toàn cầu hóa
Biện pháp thực hiện: Giáo viên chia lớp thành hai nhóm hoàn thành hai nội dung bài học bằng tranh vẽ
Nhóm 1: Sơ đồ hóa cuộc cách mạng khoa học – công nghệ
Nhóm 2: Sơ đồ hóa nội dung xu thế toàn cầu hóa
Mỗi nhóm có thể phân công ra các tiểu nhóm: Nhóm khai thác thông tin từ sách giáo khoa, nhóm khai thác thông tin từ mạng Internet, nhóm đề xuất ý tưởng trình bày và nhóm thực hiện ý tưởng (vẽ sơ đồ tư duy)
- Thời gian dự kiến trong vòng 30 phút thực hành tại lớp (hoặc sau khi học xong bài 10 trên lớp giáo viên có thể giao cho học sinh về nhà thực hành lại nội dung đó vào tờ giấy A0 bằng hình ảnh minh họa)
- Sản phẩm đạt được.(sản phẩm lớp 12A1)
Trang 38- Từ nội dung thực hành của học sinh giáo viên còn khuyến khích liên hệ
và vận dụng vào thực tiễn bằng các kiến thức liên môn mà các em đã được học để thấy được sự tác động của cách mạng khoa học công nghệ và xu thế toàn cầu hóa ngày nay Và giáo viên có thể đặt câu hỏi? Trước sự phát triển của cách mạng khoa học – công nghệ, Việt Nam có những thời cơ và thách thức gì?
+ Học sinh vận dụng những nội dung mình vừa thực hành để trả lời câu hỏi
về thời cơ và thách thức của Việt Nam khi chịu sự tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghê, đồng thời lấy những ví dụ thực tiễn về tác động của thành tựu khoa học – công nghệ trong cuộc sống (Ví dụ như Smartphone – điện thoại thông minh, hay việc học sinh THPT sau khi tốt nghiệp có thể lựa chọn một thị trường xuất khẩu lao động ở nước ngoài để tìm kiếm việc làm…)
- Ý nghĩa của tổ chức hoạt động
Như vậy với phương pháp học tập này, giáo viên sẽ huy động được mọi học sinh tham gia thực hành để có sản phẩm đẹp nhất, học sinh sẽ phải trao đổi hình ảnh để vẽ, nội dung cần thể hiện lên sản phẩm, và cuối cùng là sự thống nhất của nhóm khi thực hiện sản phẩm Và quan trọng hơn cả là giáo viên đã rèn cho học sinh những năng lực mới trong học tập, đặc biệt là năng lực tư duy
2.3.5 Tổ chức “triển lãm” tranh để thực hiện nội dung bài học
“Triễn lãm” tranh là một hình thức dạy học mới, thông qua việc thực hành bằng các sản phẩm tranh vẽ về nội dung bài học, học sinh có điều kiện sáng tạo sản phẩm của mình dưới những hình thức khác nhau qua các tác phẩm tranh, việc được sáng tạo nội dung bài học thông qua tranh vẽ học sinh sẽ cảm thấy thích thú, kích thích sự hứng khởi trong học tập và tư duy trong thực hành, sau khi hoàn thành sản phẩm học sinh đưa sản phẩm của mình lên để trưng bày và giới thiệu cho cả lớp xem
Trang 39Giáo viên có thể sử dụng hình thức thi vẽ tranh để trưng bày trong buổi
“triễn lãm” tại lớp, để thực hiện buổi “triển lãm” tranh giáo viên giao bài tập về nhà cho học sinh thực hiện, học sinh sử dụng CNTT để khai thác tư liệu và hoàn thành bài tập dưới những hình thức khác nhau
Biện pháp: Giáo viên chia lớp thành các nhóm để lựa chọn chủ đề mình thực hiện
Mỗi nhóm trình bày một sản phẩm theo yêu cầu của giáo viên
Ví dụ minh họa Khi dạy bài chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918), sau khi học học xong bài học, giáo viên có thể giao bài tập về nhà cho học sinh bằng việc hãy thể hiện về cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất bằng hình ảnh qua tranh vẽ và từ những sự tàn khốc của chiến tranh gây ra em hãy thể hiện ước mơ của mình cho một thế giới tương lai?
- Kết quả đạt được: Sản phẩm là các hình ảnh tranh vẽ của các nhóm về chiến tranh thế giới thứ nhất
+ Sản phẩm của lớp 11D2
+ Sản phẩm của lớp 11A4
Trang 40Kết hợp với trình bày một số sự kiện chính của chiến tranh thế giới thứ nhất dưới sự thể hiện của từng nhóm lớp qua tranh vẽ, đại diện các nhóm sẽ lên thuyết trình nội dung nhóm mình thể hiện, qua đó các nhóm khác sẽ tương tác với sản phẩm của từng nhóm khi các tình huống nảy sinh
- Ý nghĩa phương pháp
+ Việc thực hành các sản phẩm tranh vẽ từ nội dung bài học, học sinh có điều kiện để thể hiện phương pháp của mình
+ Kích thích sự sáng tạo trong quá trình thực hành sản phẩm
+ Tạo điều kiện để học sinh trình bày quan điểm, giải pháp mà giáo viên yêu cầu giải quyết