Có nhiều cách để tạo hứng thú học tập cho học sinh trong giờhọc địa lí, riêng đối với bản thân tôi đã áp dụng nhiều cách để tạo hứng thú họctập cho học sinh nhưng trong điều kiện cơ sở
Trang 1PHẦN I – ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài
Quá trình dạy - học là một hoạt động phức tạp, trong đó chất lượng, hiệuquả cơ bản phụ thuộc vào chủ thể nhận thức - người học Điều này lại phụ thuộcvào nhiều yếu tố, như: năng lực nhận thức, động cơ học tập, sự quyết tâm (cácyếu tố chủ quan); nó còn phụ thuộc vào: môi trường học tập, người tổ chức quátrình dạy học, sự hứng thú trong học tập Sự hứng thú học tập của học sinh là
một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng dạy và học Nhìn chung
người học có hứng thú học tập hay không là do mối quan hệ tương tác của ngườidạy đối với người học
Trong trường học hiện nay đa số các em học sinh ít quan tâm đến mônĐịa lí vì các em nghĩ đây là môn học phụ, thuộc lĩnh vực khoa học xã hội nhưnglại là môn khó thăng tiến trong xã hội; nếu như có quan tâm đến thì phần lớnliên quan đến vấn đề thi cử và vì môn học thuộc lòng nên dẫn đến học sinh ngạihọc Điều đó làm cho học sinh không có hứng thú trong học tập, ngại trau dồikiến thức về địa lí Việc học đối phó, miễn cưỡng học sinh chỉ tiếp thu đượclượng kiến thức rất ít, không bản chất, vì thế dễ quên Kết quả là điểm kiểm trathấp, hiệu quả học tập chưa cao
Khi có hứng thú say mê trong học tập thì việc lĩnh hội tri thức trở nên dễdàng hơn; ngược lại khi nắm bắt vấn đề nghĩa là hiểu được bài thì người học lại
có thêm hứng thú Có nhiều cách để tạo hứng thú học tập cho học sinh trong giờhọc địa lí, riêng đối với bản thân tôi đã áp dụng nhiều cách để tạo hứng thú họctập cho học sinh nhưng trong điều kiện cơ sở vật chất phục vụ dạy học còn hạnchế thì một trong những biện pháp để tạo hứng thú học tập cho học sinh đó là:
sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca có liên quan đến nội dung bài học để giảng dạy
Việc sử dụng những câu ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát lồng ghép trongnội dung bài giảng bước đầu đã có những biểu hiện tích cực trong thái độ họctập của học sinh, tạo niềm thích thú, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả dạy và
học địa lí ở trường THPT Chính vì lí do trên tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát trong giảng dạy Địa lí Tự nhiên ở trường trung học phổ thông.” để ghi lại ý tưởng mà bản thân đã thực hiện trong
quá trình giảng dạy Địa lí ở trường THPT từ nhiều năm học nay
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cách sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát trong dạy họcĐịa lí Tự nhiên ở bậc Trung học Phổ thông, ý nghĩa địa lí của thơ ca dao, tục
Trang 2ngữ, thơ ca, câu hát có đề cập trong đề tài nhằm:
- Giúp giáo viên nhận thấy việc sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu háttrong dạy học Địa lí là hợp lí có hiệu quả
- Giúp học sinh có khả năng lĩnh hội kiến thức thông qua ca dao, tục ngữ,thơ ca, câu hát do giáo viên cung cấp và gợi mở
- Tạo hứng thú và tính tích cực học tập nhằm nâng cao hiệu quả học tập
của học sinh đối với môn Địa lí
- Rèn luyện kĩ năng tiếp cận, phát hiện, giải quyết vấn đề thực tiễn, tư duysáng tạo, tự học cho học sinh
- Xây dựng các ví dụ cụ thể có sử dụng thơ ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hátvào từng phần, từng bài trong phần Địa lí Tự nhiên ở bậc Trung học Phổ thông
- Giúp giáo viên và học sinh trau dồi thêm vốn ca dao, tục ngữ, thơ ca,câu hát Việt Nam
- Khắc phục những hạn chế về cơ sở vật chất trong các trường phổ thông
ở vùng sâu, vùng xa trong việc đáp ừng với yêu cầu áp dụng phương pháp dạyhọc hiện đại
3 Đối tượng nghiên cứu
Chương trình Địa lí Tự nhiên ở bậc THPT
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi đề tài chỉ nghiên cứu về việc ứng dụng, sử dụng một số câu cadao, tục ngữ, thơ ca, câu hát trong dạy học những phần nội dung có liên quantrong chương trình Địa lí Tự nhiên ở bậc THPT mà tôi biết Chỉ nghiên cứuphương tiện duy nhất “sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát” Ngoài rakhông đề cập đến các phương tiện học tập khác
5 Thời gian nghiên cứu
Từ năm học 2018-2019 đến năm học 2020 - 2021
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Thu thập, tổng hợp các kiến thức về
cơ sở lí luận của đề tài; sưu tầm và xây dựng cách thức lồng ghép ca dao, tụcngữ, thơ ca, câu hát vào từng tiết học cụ thể
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Ứng dụng sáng kiến vào từng tiếthọc cụ thể trên lớp Từ đó, đánh giá hiệu quả thực hiện qua không khí học tậptrên lớp và kết quả học tập của học sinh
- Phương pháp thu thập, xử lí số liệu: Lấy ý kiến học sinh theo các mẫuphiếu đánh giá, tiến hành kiểm tra đánh giá định kì kết quả học tập của HS Từ
đó, xử lí số liệu đưa ra kết quả đánh giá tổng hợp, khách quan nhất
- Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn học sinh qua phiếu điều tra, trao đổi
Trang 3với đồng nghiệp về việc áp dụng phương pháp này.
-Thông qua kinh nghiệm thực hiện giảng dạy đối với Chương trình đổimới SGK Địa lí ở phần Địa lí Tự nhiên
7 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng các lí luận liên quan đến việc sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ catrong việc tạo hứng thú học tập môn Địa lí ở phần Địa lí Tự nhiên cho học sinh
- Sưu tầm và giới thiệu các câu ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát có thể sửdụng để giảng dạy phần Địa lí Tự nhiên ở trường Phổ thông
- Thiết kế một giáo án mẫu có sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu háttrong quá trình giảng dạy
- Khảo sát tính khả thi của đề tài và từ đó có những kết luận, kiến nghịtrong quá trình áp dụng đề tài
PHẦN II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1 Cơ sở lý luận
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong nghịquyết Trung Ương 4 khóa VII (1-1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII(12-1996), được thể chế hóa trong luật Giáo dục (2005), được cụ thể hóa trongcác chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo đặc biệt chỉ thị số 14 (4-1999)
Luật giáo dục, điều 28.2 đã ghi ‘‘Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS.’’
Yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học nên GV cần vận dụng cácphương pháp soạn giảng cho phù hợp để đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho
HS, từ đó có thể phát huy tính tự giác tích cực của học sinh
Việc dạy học Địa lí nói chung cần đảm bảo các nguyên tắc giáo dục, đây
là các luận điểm có tính chất chỉ đạo, những quy định, yêu cầu cơ bản mà ngườigiáo viên cần phải tuân thủ để mang lại hiệu quả cao nhất trong quá trình dạyhọc Việc sử dụng, áp dụng các câu ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát phù hợp vớitừng phần nội dung kiến thức đã căn cứ vào các nguyên tắc giáo dục (môn Địalí)
Các nhà nghiên cứu tâm lí học cho rằng hứng thú là thái độ đặc biệt của
cá nhân đối với đối tượng nào đó nó có ý nghĩa đối với cuộc sống và có khả
Trang 4năng mang lại khoái cảm cá nhân trong quá trình hoạt động.
Sự hứng thú biểu hiện trước hết ở sự tập trung chú ý cao độ, sự say mêcủa người học sinh Trong bất cứ lúc nào nếu có hứng thú học tập học sinh sẽ cócảm giác dễ chịu với hoạt động học của mình, làm nẩy sinh sự mong muốn hoạtđộng một cách sáng tạo Đối với hoạt động nhận thức sáng tạo, hoạt động họctập khi không có hứng thú thì sẽ không có kết quả, thậm chí xuất hiện cảm xúctiêu cực (chán học, không muốn học, sợ học…)
Việc hình thành hứng thú học tập cho học sinh đặc biệt là hứng thú họctập môn Địa lí là yêu cầu quan trọng của giáo viên Địa lí Khi hỏi các em nhân
tố quan trọng chủ yếu tạo nên hứng thú học tập cho học sinh phụ thuộc vàongười dạy hay người học thì đa số các em cho rằng do nhân tố người dạy Khicác em có nhận thức đúng thì các em có những mong đợi đối với giáo viên thậthợp lí để bài học được phong phú, lôi cuốn
Có nhiều phương tiện để giáo viên sử dụng nhằm gây hứng thú học tậpcho học sinh như: dùng đồ dùng trực quan, tổ chức thăm quan dã ngoại, tổ chứcchương trình ngoại khóa, tổ chức trò chơi địa lí,… tuy nhiên ngoài những cáchtrên ra còn một cách cũng không kém phần hữu hiệu đó là dùng thơ ca, ca dao,tục ngữ sao cho phù hợp với bài học, nội dung học cũng tạo sự mới lạ và thíchthú đối với học sinh
Ca dao là bài hát ngắn lưu hành trong dân gian, có vần điệu, theo thể thơlục bát, lục bát biến thức hay thơ bốn chữ, năm chữ Ca dao là thi ca truyềnmiệng mô tả phong tục tập quán, thời tiết, khí hậu, những kinh nghiệm thiên văncủa người xưa
Tục ngữ là các “câu nói có ý nghĩa, dễ nhớ vì có vần điệu, lưu hành bằngcách truyền miệng từ người này sang người khác, từ nơi này sang nơi khác”.Tục ngữ là những câu nói đúc kết kinh nghiệm của dân gian về mọi mặt trongcuộc sống
Thơ ca, câu hát là một khái niệm chỉ các sáng tác văn học có vần điệu, cóđặc điểm ngắn gọn súc tích, nhiều ý cô đọng Tính nhạc trong thơ là một hìnhthức làm cho bài thơ dễ được cảm nhận bởi người nghe hay người đọc
Những câu ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát sử dụng trong bài học Địa líkhông chỉ giúp HS ôn lại kiến thức văn học mà còn giúp em các giải thích đượcnhững kinh nghiệm mà ông cha ta đã đúc kết qua nhiều thế hệ dựa trên cơ sởkhoa học
Như vậy, bản thân của ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát có đặc điểm là câunói ngắn, có ý nghĩa, có vần điệu nên khi nghe học sinh dễ nhớ Khi dạy phầnnội dung kiến thức mà giáo viên lồng ghép, liên kết với kiến thức địa lí thì trong
Trang 5quá trình tư duy học sinh sẽ có sự gắn kết các kiến thức với ngôn ngữ của cadao, tục ngữ, thơ ca, câu hát như vậy sẽ vừa dễ hiểu và vừa dễ nhớ, tăng thêmtính hấp dẫn cho bài học Tùy từng bài, từng phần nội dung bài học mà tác giả
sử dụng những câu ca dao tục ngữ có liên quan cho phù hợp
Qua thực tiễn giảng dạy tôi thấy rằng, việc sử dụng lồng ghép ca dao, tụcngữ, thơ ca, câu hát để hình thành khái niệm, kiến thức địa lí đều đảm bảo tínhkhoa học, tính vừa sức đối với học sinh và bảo đảm tính tự lực và phát triển tưduy cho học sinh nhưng không kém phần thú vị, hấp dẫn thu hút học sinh với
Chính ý nghĩa phong phú và rộng rãi của ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát
mà nó trở thành một phần trong kho tàng kiến thức của khoa học địa lí Tậndụng điều này giáo viên có thể làm mới bài giảng của mình giúp bài học trở nênsáng tạo, mới lạ, phong phú hơn và giảm bớt tính khô khan như nhiều ngườithường nhận xét
Để rèn luyện kĩ năng học đi đôi với hành thì việc khai thác ý nghĩa địa lícủa những câu ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát này giúp học sinh cảm thấy dễdàng liên hệ kiến thức sách vở với các hiện tượng tự nhiên của cuộc sống bênngoài
Thực tế đã có nhiều đề tài của các giáo viên trường THPT, các trường Đạihọc đã đề cập đến vấn đề tạo hứng thú học tập môn Địa lí qua tranh ảnh, phim tưliệu, bản đồ, mô hình… (hay còn gọi đồ dùng trực quan) tuy nhiên vẫn còn ít đềtài khai thác vấn đề sử dụng câu ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát trong dạy họcĐịa lí nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh Và do đặc thù, điều kiện cở sởvật chất phục vụ cho việc dạy học ở các trường học khác nhau nên cách thứcnghiên cứu và sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát vào dạy học Địa lí sẽ có
sự khác nhau ở các trường cụ thể Chính vì vậy, bản thân tôi mạnh dạn trình bàymột vài ý tưởng mà tôi sau khi áp dụng ở trường THPT Phạm Hồng Thái (HưngNguyên- Nghệ An)- nơi tôi trực tiếp giảng dạy, bước đầu đã có những biểu hiệntích cực trong thái độ học tập của học sinh và hiệu quả của giờ học địa lí được
Trang 6nâng lên rõ rệt
2.2.Phân tích thực trạng sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát trong giảng dạy Địa lí ở trường THPT
* Khảo sát thực tế:
Tôi đã điều tra bằng phiếu kết hợp với phỏng vấn trực tiếp 12 giáo viên dạyĐịa lí ở 5 trường THPT trong huyện với nội dung: thực trạng sử dụng ca dao, tụcngữ, thơ ca, câu hát trong dạy học Địa lí ở trường trung học phổ thông
cố, kiểm tra kiến thức hay hướng dẫn học
Như vậy có thể thấy rằng đa số giáo viên chưa nắm rõ được vai trò, cáclưu ý và cách sử dụng thơ ca, ca dao, tục ngữ trong dạy học Hầu hết giáo viênchưa sử dụng thơ ca, ca dao, tục ngữ vào trong bài dạy
Khi dự giờ các đồng nghiệp cùng bộ môn, tôi ít thấy sử dụng thơ ca, ca dao, tục ngữ trong dạy học
*Nguyên nhân
- Dạy học Địa lí bằng ca dao, tục ngữ, thơ ca đòi hỏi người giáo viên phảiphải đầu tư thời gian và trí tuệ để nghiên cứu, sưu tầm để lựa chọn các câu cadao, tục ngữ, thơ ca, câu hát sát với nội dung từng bài học tránh sa đà làm mấttính đặc thù của bộ môn là một khâu rất khó Điều này đòi hỏi giáo viên khisoạn bài phải cân nhắc thật kĩ những nội dung cần đưa vào, phải khéo léo lồngghép để làm rõ nội dung mà mình muốn học sinh đạt được
- Việc sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát trong dạy học đòi hỏi giáoviên phải có chuyên môn vững vàng, vốn văn hóa sâu rộng và có hiểu biết các vấn
đề thực tế liên quan tới môn học, phải thấu hiểu và yêu thương học sinh của mình
Tuy nhiên, còn một số giáo viên còn chưa thật sự tâm huyết với nghề,chưa ý thức tích cực cải tiến phương pháp dạy học nên dẫn đến chất lượng giờ họcchưa tốt, không kích thích được tính tích cực và hứng thú của học sinh đối với bộmôn Địa lí
2.3 Tình hình nghiên cứu
Cùng hướng nghiên cứu với đề tài này đã có một số đề tài, sách đề cập đến:
Trang 7- Sáng kiến kinh nghiệm “Hướng dẫn học sinh sưu tầm ca dao, tục ngữ
dự báo thời tiết, khí hậu địa phương để phục vụ dạy – học môn Địa lí phần địa
lí địa phương.”
- Sáng kiến kinh nghiệm: “Địa lí trong ca dao, tục ngữ” vv
Đề tài “Sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát trong giảng dạy Địa lí
Tự nhiên ở trường THPT ” mà tôi trình bày ngoài việc đề cập đến vấn đề
nghiên cứu các câu ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát liên quan đến địa lí, ý nghĩacủa nó để giảng dạy phần kiến thức liên quan cụ thể còn đề cập đến việc áp dụngnhững câu ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát này góp phần tạo hứng thú học tậpcho học sinh
Đo lường bằng hai cách: kết quả kiểm tra đánh giá về điểm số và tìmhiểu nhận thức - thái độ - hành vi của học sinh đối với việc giáo viên sử dụng
ca dao, tục ngữ, thơ ca trong dạy học (từ đó đánh giá được mức độ hiểu bài củahọc sinh)
CHƯƠNG II SỬ CA DAO, TỤC NGỮ, THƠ CA, CÂU HÁT
TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN Ở TRƯỜNG THPT
1 Những lưu ý khi sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát vào giảng dạy Địa lí.
Việc lựa chọn các câu ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát vào bài học Địa líyêu cầu Giáo viên phải nắm vững các nguyên tắc sư phạm, nắm vững lí luận dạyhọc,đảm bảo tính vừa sức đối với học sinh
Tùy vào từng bài, từng phần nội dung bài học, Giáo viên chọn những câu
ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát có liên quan để tăng thêm phần thuyết phục chobài học Tránh lạm dụng vì có thể dẫn tới sự lan man, không tập trung vào nộidung trọng tâm của bài
Ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát có thể lồng ghép vào tất cả các khâu trongquá trình dạy học một cách linh hoạt như giới thiệu vào bài, kiểm tra bài cũ, vàonội dung bài, củng cố, hướng dẫn học ở nhà
Trên thực tế có nhiều vấn đề khác nhau được đề cập trong thơ ca dao, tụcngữ, thơ ca, câu hát Vì vậy, việc lựa chọn điển hình phải dựa trên những tiêuchí cụ thể
Ngày nay, một số câu ca dao, tục ngữ không còn chính xác nữa Do đó,khi giảng dạy cần phải đặt trong từng trường hợp mà lí giải và chỉ ra cho họcsinh chỗ đúng và chỗ không phù hợp để học sinh vừa hiểu kiến thức và vừa mởrộng được vấn đề thực tế
Trang 82 Sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát trong giảng dạy Địa lí Tự nhiên ở trường THPT
Do sự phong phú về nội dung của ca dao, tục ngữ, thơ ca, bài hát như: thểhiện các quy luật tự nhiên, mối quan hệ giữa tự nhiên - tự nhiên, giữa tự nhiên -đời sống sản xuất của con người, dự báo về thời tiết khí hậu, mối giao lưu vănhóa giữa các vùng miền… Nên khi dạy học Địa lí Tự nhiên có thể sử dụng đượcnhiều câu ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát Ở phần nội dung này tôi cũng xin liệt
kê và đưa ra các câu ca dao, tục ngữ, những câu thơ, câu hát được ứng dụngtrong nhiều bài thuộc chương trình Địa lí Tự nhiên 10 và 12
Có nhiều cách để đưa ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát lồng ghép vào bàigiảng Địa lí:
2.1.Sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát để phục vụ cho hoạt động khởi động
Ví dụ: Khi dạy bài 2 - Địa lí 12: Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ.
GV có thể khởi động bằng câu thơ của nhà thơ Lê Anh Xuân trong tácphẩm “Trường ca Nguyễn Văn Trỗi”
“ Đầu trời ngất đỉnh Hà Giang
Cà Mau, mũi đất mỡ màng phù sa”
GV: Hà Giang là mảnh đất địa đầu Tổ quốc, Cà Mau là điểm cuối tận cùng
về phía nam của lãnh thổ nước ta Hôm nay, cô và các em sẽ cùng tìm hiểu về
Vị trí địa lí và lãnh thổ nước ta
Ví dụ: Khi dạy bài 11 – Địa lí 12: Thiên nhiên phân hóa đa dạng.
GV có thể khởi động bằng cho HS nghe một số câu trong bài hát “Gửi nắng cho em” Thơ Bùi Văn Dung, nhạc Phạm Tuyên.
GV: Các câu hát trên mô tả về hiện tượng thiên nhiên nào ?
2.2.Sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát trong hoạt động hình thành kiến thức mới
Trong quá trình hình thành kiến thức mới, để khắc sâu kiến thức và tạohứng thú học tập cho HS, GV có thể áp dụng các cách sau:
- Dùng ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát để gợi mở giúp HS tìm ra kiến thức :
Ví dụ : Khi dạy bài 9(tt) - Địa lí 10 : Tác động của ngoại lực đến địa hình
bề mặt Trái Đất.
GV sử dụng thành ngữ “Nước chảy đá mòn” và hỏi: Bằng kiến thức Địa lí
đã học hãy giải thích câu ca dao trên?
GV giải thích ý nghĩa: Nước là nhân tố ngoại lực, chính dòng chảy củanước trên bề mặt lục địa có thể bào mòn làm thay đổi bề mặt địa hình, làm cắt
Trang 9xẻ, bào mòn hoặc hình thành các khe rãnh trên bề mặt địa hình…
Như vậy chúng ta cho học sinh giải thích nguyên nhân tác động làm bềmặt địa hình thay đổi chính là do yếu tố ngoại lực trong đó có nước chảy trênmặt, nước mưa, nước sóng biển…
- Sau khi hình thành kiến thức mới, GV đọc câu ca dao, tục ngữ, câu thơ, câu hát để HS khắc sâu kiến thức:
Ví dụ: Khi dạy Bài 6 – Địa lí 12: “Đất nước nhiều đồi núi”
Sau khi GV giảng xong kiến thức phần cấu trúc địa hình đa dạng thì đọc
câu thành ngữ “Tam sơn, tứ hải, nhất phần điền” để HS khắc sâu kiến thức về
quan hệ tỉ lệ giữa núi và đồng bằng trong diện tích phần đất liền
2.3 Sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát để xây dựng thành các bài tập cụ thể
Bản thân thơ ca, ca dao, tục ngữ đã chứa đựng trong đó những kiến thứcĐịa lí Khai thác điều này GV có thể xây dựng thành bài tập cụ thể,yêu cầu HS
sử dụng kiến thức đã có để giải thích nội dung câu ca dao, tục ngữ, thơ ca, câuhát Điều này không chỉ tạo sự mới lạ trong hình thức ra đề mà còn khiến đề bàigần gũi với cuộc sống hơn giúp HS thấy thích thú, háo hức hơn khi làm bài Hơnnữa, hầu hết các bài Địa lí lớp 10 và 12 nói chung và phần Địa lí Tự nhiên nóiriêng khối lượng kiến thức nhiều, thời gian trên lớp không đủ để GV giải thíchcặn kẽ các câu ca dao, tục ngữ đưa ra Việc xây dựng thành các bài tập cụ thểyêu cầu HS làm là giải pháp khắc phục nhược điểm trên
Các bài tập có thể được GV sử dụng để sử dụng trong phần luyện tập,rabài tập về nhà, kiểm tra bài cũ, kiểm tra định kì,
Có nhiều hình thức ra đề:
- Đưa câu ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát sau đó yêu cầu HS giải thích:
Ví dụ : Khi dạy bài 6-Địa lí 10: Hệ quả chuyển động xung quanh Mặt
Trời của Trái Đất GV đặt câu hỏi: Ca dao Việt Nam có câu:
“Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng
Ngày tháng mười chưa cười đã tối.”
Bằng kiến thức địa lí đã học em hãy giải thích câu tục ngữ Việt Nam trên?
- Đưa câu ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát yêu cầu HS suy luận nội dung liên quan dựa vào kiến thức địa lí đã học:
Ví dụ: Sau khi dạy xong bài 11-Địa lí 12: Thiên nhiên phân hóa đa dạng.
GV đặt câu hỏi: Trên đường qua đèo Hải Vân nhà thơ Tản Đà viết:
“Hải Vân đèo lớn vượt qua
Mưa xuân ai bỗng đổi ra nắng hè”
Trang 10Hãy xác định hướng đi và nơi nhà thơ đang đến?
Bằng kiến thức địa lý hãy phân tích và giải thích hiện tượng thời tiết trên? Hoặc GV hỏi: Bằng kiến thức Địa lí hãy cho biết câu hát sau mô tả vềhiện tượng Địa lí nào? Hiện tượng đó thường xảy ra ở đâu?
“Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây Bên nắng đốt, bên mưa quây”
(Sợi nhớ, sợi thương – Phan Huỳnh Điểu)
- Đưa câu ca dao, tục ngữ, câu thơ, câu hát yêu cầu HS nhận định câu
đó nói lên hiện tượng địa lí nào?
Ví dụ: Bài 13-Địa lí 10: Ngưng đọng hơi nước trong khí quyển.Mưa.
GV hỏi: Câu tục ngữ : “Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm” nói đến hiện tượng địa lí nào? Bắng kiến thức địa lí giải thích
(Nước non ngàn dặm – Tố Hữu)
2.4.Yêu cầu HS sưu tầm các ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát có liên quan đến kiến thức Địa lí: Sử dụng trong hoạt động tìm tòi, mở rộng.
Nhằm nâng cao kĩ năng học đi đôi với hành cho HS, GV có thể yêu cầu
HS sưu tầm các ca dao, tục ngữ, thơ ca hoặc các câu hát, bài hát có liên quan, ýnghĩa tương tự các câu GV cung cấp trong bài giảng hoặc HS chuẩn bị bài mớibằng cách sưu tầm các câu ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát có liên quan đến bàimới
3 Vị trí những phần kiến thức có thể sử dụng cao dao, tục ngữ, thơ
ca, câu hát để giảng dạy trong chương trình Địa lí trung học phổ thông.
Do đặc điểm nội dung kiến thức từng bài và để đảm bảo công tác giảngdạy có sự đổi mới qua từng bài học nên không phải tất cả các bài trong chươngtrình GV đều lồng ghép ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát GV nên lựa chọn nhữngbài tiêu biểu với những câu ca dao, tục ngữ, câu thơ đặc trưng nhất Bên cạnh
đó, do tính thống nhất, liên đới giữa các bài học mà có những câu ca dao, tụcngữ, thơ ca,câu hát có thể lồng ghép được trong nhiều bài khác nhau Trong thực
Trang 11tế giảng dạy tôi đã áp dụng lồng ghép ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát trong cácbài sau:
3.1 Sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát trong dạy học chương trình Địa lí Tự nhiên lớp 10.
Để dạy bài 6: Hệ quả chuyển động xung quanh Mặt Trời của Trái Đất.
Ở phần II Các mùa trong năm Sử dụng câu ca dao:
“Tháng giêng rét đài, tháng hai rét lộc, tháng ba rét nàng Bân.”…
Ở phần III: Ngày- đêm dài ngắn theo mùa và theo vĩ độ Sử dụng câu caodao:
“Đêm tháng năm chưa nằm đã sáng
Ngày tháng mười chưa cười đã tối”…
Để dạy bài 9: Tác dụng của ngoại lực đến địa hình bề mặt Trái Đất
Ở phần II.2 Quá trình phong hóa hóa học Sử dụng câu thành ngữ:
Ở phần II Sự thay đổi khí áp Sử dụng câu ca dao:
“Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm”
Ở phần II Gió mùa Sử dụng các câu ca dao:
“Cơn đàng Đông vừa trông vừa chạy Cơn đàng Nam vừa làm vừa chơi”
“Tháng giêng là tiết gió bay Tháng hai gió mát trăng bay vào đèn Tháng ba gió đưa nước lên Tháng tư gió đánh cho mềm ngon cây
Tháng năm là tiết gió tây Tháng sáu gió mát cấy cày tính sao ”
Ở phần II.4.b.Gió fơn Sử dụng các câu ca dao, thơ ca, câu hát:
"Ruồi vàng, bọ chó, gió Than Uyên"
(Ca dao Việt Nam)
“ Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây Bên nắng đốt, bên mưa quây.”
(Sợi nhớ, sợi thương – Phan Huỳnh Điểu)
Trang 12Để dạy bài 13: Ngưng đọng hơi nước trong khí quyển Mưa
Sử dụng một trong các câu sau:
“Én bay thấp mưa ngập bờ ao
Én bay cao mưa rào lại tạnh.”
“Gió heo may, chuồn chuồn bay thì bão”
“Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa”
“Kiến đen tha trứng lên cao Thế nào cũng có mưa rào rất to”
“Cóc nghiến răng, trời đang nắng thì mưa.”
“Ếch kêu uôm uôm, ao chuôm đầy nước.”
“Qụa tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa”…
Để dạy bài 16: Sóng Thủy triều Dòng biển Một số sông lớn trên Trái
Đất.
Ở phần I: Sóng biển Sử dụng câu thơ trong bài “Sóng” của nhà thơXuân Quỳnh:
“Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu…”
Ở phần II: Thủy triều Sử dụng câu ca dao:
“Trăng khi tròn khi khuyết Nước khi lớn khi ròng”
3.2 Sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ ca, câu hát để dạy phần Địa lí Tự nhiên lớp 12
Để dạy bài 2: Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ.
Ở phần mở bài: có thể sử dụng hai câu thơ trong tác phẩm “Trường ca Nguyễn Văn Trỗi” của nhà thơ Lê Anh Xuân :
“ Đầu trời ngất đỉnh Hà Giang
Cà Mau, mũi đất mỡ màng phù sa”
Hoặc GV đọc một đoạn thơ trong trường ca “Đất nước hình tia chớp”của
nhà thơ Trần Mạnh Hảo:
“Có phải mẹ Âu Cơ đã đi vòng Trái Đất
Để tìm chỗ khai sinh con Lạc cháu Hồng
Mẹ đã tìm ra dải đất hình tia chớp
Chọn vùng tâm bão để sinh con.
Cái dải đất,sông hóa rồng chín khúc
Hai đầu xòe những mũi, đất mũi lao
Núi mang dáng ngựa phi, voi phục
Bảo ngủ rừng sâu đợi giặc vào.
Trang 13Cái dải đất giống như nàng tiên múa
Lại có hình ngọn lửa lúc cuồng phong
Lịch sử thành văn trên mình ngựa
Con trẻ mà mang áo giáp đồng.’’
Ở phần đặc điểm vùng đất nước ta, cũng có thể sử dụng đoạn thơ này
Ở phần đặc điểm đường bờ biển có thể sử dụng câu thơ
“Tổ quốc tôi ba nghìn cây số biển
Chữ S bao đời hình một chiếc mỏ neo”
(Tổ quốc tôi ba nghìn cây số biển - Nguyễn Ngọc Phú)
Ở phần Ý nghĩa tự nhiên của Vị trí địa lí của Việt Nam, dụng có thể sử câu:
“Nước ta xứ nóng, khí hậu tốt
Rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu.”
(Hồ Chí Minh)
“Có phải mẹ Âu Cơ đã đi vòng Trái Đất
Để tìm chỗ khai sinh con Lạc cháu Hồng
Mẹ đã tìm ra dải đất hình tia chớp
Chọn vùng tâm bão để sinh con”
(Đất nước hình tia chớp- Trần Mạnh Hảo)
Để dạy bài 8: Thiên nhiên chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển.
Ở phần I.2 Ảnh hưởng của Biển Đông đến thiên nhiên Việt Nam.
Ở phần ảnh hưởng của Biển Đông đến khí hậu có thể sử dụng các câu:
“Tổ quốc tôi ba nghìn cây số biển
Móng Cái – Cà Mau hình chiếc lưỡi câu Câu những túi vàng đen – mỏ dầu trong lòng đất Nhưng không thể dầu loang – nước biển tái màu”
(Tổ quốc tôi ba nghìn cây số biển - Nguyễn Ngọc Phú)
Ở phần ảnh hưởng của Biển Đông đến thiên tai vùng biển có thể sử dụng
câu: