Nhà Xuất bản Giáo dục, các trường đại học sư phạm cũngphát hành nhiều tài liệu đề cập một cách có hệ thống các vấn đề về biện pháp,phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng môn lịch sử: V
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong nhà trường phổ thông, Lịch sử là môn học có vai trò và ý nghĩa rấtquan trọng đối với việc giáo dục thế hệ trẻ Môn Lịch sử giúp học sinh hiểu biết vềquá khứ, về cội nguồn dân tộc, giáo dục cho các em ý thức bảo tồn và phát huy cácgiá trị truyền thống, ý thức trách nhiệm của bản thân với quê hương, đất nước
Có thể nói học môn lịch sử sẽ cung cấp cho học sinh nhiều kĩ năng quantrọng khác như: phân tích, đánh giá, nhận xét, tổng hợp đánh giá quá khứ hiện tại,tương lai một cách đúng đắn phù hợp với thời cuộc Môn lịch sử cũng góp phầnkhông nhỏ vào kết quả tham gia xét vào các trường Đại học, tạo điều kiện để các
em tham gia học tập, công tác trở thành những công dân tốt, có ích cho xã hội.Nhưng thực tế hiện nay cho thấy chất lượng học môn lịch sử của học sinh cáctrường THPT những năm gần đây kết quả thi THPT Quốc gia và tốt nghiệp THPTmôn lịch sử quá thấp so với kỳ vọng của giáo viên
Cụ thể tại trường THPT Nguyễn Đức Mậu, với địa bàn tuyển sinh thuộc các
xã bãi dọc ven biển Quỳnh Lưu và các xã lân cận, với đầu vào tuyển sinh thấp nhấthuyện, mức sàn từ 17 đến 19 điểm, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, hàng năm
tỷ lệ mũi nhọn HSG tỉnh rất thấp Phần nhiều các em không thích học môn lịch sử
vì qua nhận thức chủ quan của mình, các em cho rằng lịch sử là môn phụ, khôngquan trọng, lại có quá nhiều mốc thời gian và sự kiện khô khan, khó nhớ Đồngthời, do cách giảng dạy của một số giáo viên chưa cuốn hút được học sinh Vì vậycác em không hứng thú trong học tập môn này, hoặc chỉ học qua loa đối phó, cómột số em chỉ học để thi miễn sao qua điểm liệt lấy bằng tốt nghiệp THPT để đixuất khẩu lao động, vào làm ở các công ty hoặc về nhà tham gia lao động sản xuất
Vì vậy, kết quả thi đều rất thấp, rất đáng buồn
Hiện tại cũng đã có nhiều đề tài nghiên cứu đổi mới phương pháp nhằmnâng cao chất lượng môn lịch sử, tuy nhiên họ chú trọng vào lực lượng học sinhkhá, giỏi Với một đề tài không mới nhưng đã đưa ra một số phương pháp giảngdạy mới lấy học sinh làm trung tâm, phát huy được năng lực của học sinh để thu
Trang 2hút, lôi cuốn nâng cao nhận thức về môn lịch sử của học sinh đại trà, từ đó đã nângcao điểm thi THPT cuối năm học
Xuất phát từ những lý do trên, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài “Phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng đại trà trong dạy học ôn thi lớp 12 ở trường THPT Nguyễn Đức Mậu”
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phải từ sau năm 1975 thì việc nghiên cứu các phương pháp, biện pháp dạy
học lịch sử mới phát triển khá mạnh mẽ Trên các tạp chí của ngành giáo dục: Tạpchí nghiên cứu giáo dục, Tập san phổ thông cấp II, cấp III, Thông báo khoa họccủa các trường Đại học Sư phạm đã công bố nhiều luận văn, bài viết có giá trị cả
về lý luận lẫn thực tiễn Nhà Xuất bản Giáo dục, các trường đại học sư phạm cũngphát hành nhiều tài liệu đề cập một cách có hệ thống các vấn đề về biện pháp,phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng môn lịch sử: Vị trí của dạy học lịch sử
ở trường phổ thông, Gây hứng thú học tập lịch sử, Phương pháp học tập lịch sử, Sửdụng tài liệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong dạy học lịch sử, Công tác ngoạikhóa, thực hành môn lịch sử ở trường phổ thông, Phát triển tư duy học sinh trongdạy học lịch sử
Tháng 2 năm 1997, Vụ Trung học phổ thông ban hành tài liệu Tập huấngiảng dạy môn lịch sử dành cho cán bộ chỉ đạo và giáo viên chuẩn bị cho học sinhtham gia kỳ thi quốc gia Giáo sư Phan Ngọc Liên đã có bài viết dài tới 23 trang:
“Một số vấn đề phương pháp bồi dưỡng học sinh học giỏi môn lịch sử ở trườngTHPT” đầy bổ ích Trong bài viết này, Giáo sư đã đề cập đến hai điểm: Cần nhậnthức đúng về học tập lịch sử và xác định phương pháp học tập giỏi môn lịch sử,với các biện pháp, con đường, phương tiện có hiệu quả cao
Năm 1999, Hội giáo dục lịch sử (thuộc Hội khoa học lịch sử Việt Khoa Lịch sử trường Đại học sư phạm Hà Nội) đã cho ra mắt bạn đọc tác phẩmcủa tập thể tác giả: Nguyễn Thị Côi, Trần Bá Đệ, Nguyễn Tiến Hỷ, Đặng ThanhToán, Trịnh Tùng: “Hướng dẫn ôn tập và làm bài thi môn lịch sử” dày 428 trang.Cuốn sách giúp học sinh học tập, ôn thi môn lịch sử đạt kết quả tốt nhất nhờ tínhchủ động, sáng tạo và những phương pháp học tập thích hợp
Trang 3Đến năm 2003, Hội giáo dục Lịch sử, Khoa Lịch sử trường Đại học sưphạm Hà Nội tiếp tục cho tái bản lần thứ 3 quyển sách: “Hướng dẫn thi đại học-cao đẳng môn lịch sử” dày 474 trang của tập thể tác giả do PGS TS Trần Bá Đệ(chủ biên) Trong lời nói đầu, các tác giả đã khẳng định: “xuất phát từ nhận thứcđúng về bộ môn, từ yêu cầu xác định những kiến thức cơ bản của các giáo trìnhlịch sử Việt Nam và Lịch sử thế giới, lựa chọn phương pháp học tập,ôn và làm bài
có hiệu quả, phù hợp với yêu cầu học tập và ôn thi
Từ thực tế trên, tôi không đặt cho mình nhiệm vụ hướng dẫn học sinh nắmchắc các đề thi cụ thể, mà trang bị cho các em những kiến thức và phương pháp cơbản để có thể ứng phó vi mọi “tình huống có vấn đề” trong các kỳ thi
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1 Mục đích nghiên cứu.
Góp phần nâng cao chất lượng đại trà học sinh khối lớp 12 trường THPT Từ
đó giúp Ban giám hiệu, giáo viên, học sinh trường THPT Nguyễn Đức Mậu nhậnthức đúng đắn vai trò của môn Lịch sử trong hệ thống giáo dục Trên cơ sở đó cócách thức quản lý và công tác dạy - học sao cho hiệu quả nhất
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.
Trình bày một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử.Nêu, phân tích khả năng ứng dụng của từng biện pháp cho từng kiểu bài, nội dunglên lớp, cũng như một số biện pháp nhằm nâng chất lượng giáo viên trực tiếp giảngdạy
4 Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của Sáng kiến kinh nghiệm là việc tìm ra, vận dụngmột số biện pháp nâng cao chất lượng dạy học lịch sử trong khối lớp 12 trườngTHPT Nguyễn Đức Mậu Những biện pháp này sẽ được ứng dụng cho từng bàihọc, kiểu bài lên lớp, ôn tập cho học sinh thi THPT Quốc gia và kỳ thi TN THPT
5 Phạm vi nghiên cứu
Sáng kiến kinh nghiệm nghiên cứu, đưa ra một số biện pháp nhằm nâng caochất lượng đại trà học sinh lớp 12 THPT Cơ sở để đưa ra giải pháp giải quyết thực
Trang 4trạng dạy-học, thi cử môn lịch sử hiện nay, chương trình sách giáo khoa lịch sử cơbản, sách giáo viên khối 11, 12 và một số tài liệu tham khảo khác
6 Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
7 Đóng góp của đề tài:
Qua việc vận dụng một số phương pháp dạy học trên cơ sở phát triển nănglực học sinh tại trường THPT Nguyễn Đức Mậu, đề tài đã tạo được hứng thú chohọc sinh trong học tập môn lịch sử, đã cuốn hút được đa số học sinh học tập mônlịch sử khi thi tổ hợp KHXH Kết quả điểm thi THPT môn lịch sử có nhiều tiến bộ,
tỷ lệ điểm yếu giảm, tỷ lệ điểm trung bình tăng cao, điểm khá và giỏi môn lịch sửvượt trội hơn so với những năm học trước
Trang 51 Cơ sở lí luận.
1.1 Mục tiêu giáo dục.
Trong Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta đã nêu rõ cần “tiếp tụcđổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục, phát huy tính tích cực, sáng tạo củangười học, khắc phục lối truyền thụ một chiều Hoàn thiện hệ thống đánh giá vàkiểm định chất lượng giáo dục Cải tiến nội dung và phương pháp thi cử nhằmđánh giá đúng trình độ tiếp thu tri thức, khả năng học tập Khắc phục những mặtyếu kém và tiêu cực của giáo dục”
Từ mục tiêu chung của giáo dục phổ thông, mục tiêu của giáo dục trung họcphổ thông được cụ thể hóa như sau: “Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp họcsinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiệnhọc vấn phổ thông và những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp,
có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục họcđại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” (Điều 27,mục 2, chương 2, luật giáo dục 2005)
1.2 Mục tiêu bộ môn.
Cùng với các môn học khác, bộ môn Lịch sử có vị trí, vai trò quan trọngtrong việc phát triển toàn diện học sinh Mục tiêu của bộ môn Lịch sử ở trườngtrung học phổ thông được xây dựng trên cơ sở mục tiêu giáo dục của cấp học, quanđiểm đường lối của Đảng về Sử học và giáo dục Nó cũng được căn cứ vào nộidung, đặc trưng của hiện thực lịch sử và nhận thức lịch sử; yêu cầu của tình hình
và nhiệm vụ cách mạng hiện nay
1.2.1 Kiến thức.
Cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản của khoa học lịch sử, baogồm: sự kiện lịch sử cơ bản, các khái niệm thuật ngữ, nhân vật, niên đại, nhữnghiểu biết về quan điểm lý luận đơn giản, những vấn đề về phương pháp nghiên cứuhọc tập phù hợp với yêu cầu và trình độ của học sinh
Ví dụ: Ở bậc trung học phổ thông
Trang 6- Học sinh được tìm hiểu những kiến thức chủ yếu về quá trình phát triểncủa lịch sử Việt Nam với những sự kiện nổi bật Trên cơ sở đó giúp học sinh nắmđược những quy luật chung và đặc thù của xã hội Việt Nam.
- Về lịch sử thế giới, học sinh được tìm hiểu những sự kiện chính của lịch sử
xã hội loài người từ nguyên thủy cho đến nay mà trọng tâm là thời kỳ cận hiện đại.Qua đó học sinh hiểu rõ hơn quy luật phát triển của xã hội loài người, những tácđộng của lịch sử thế giới tới lịch sử dân tộc, mối quan hệ giữa lịch sử Việt Namvới lịch sử các nước láng giềng
- Hơn nữa, học sinh còn được nâng cao và hoàn chỉnh hơn những nhận thứcMácxít- Lê-ninnít về lịch sử Đồng thời được cung cấp những kiến thức sơ giản vềphương pháp tìm hiểu nghiên cứu lịch sử, cải tiến phương pháp học tập, phát huytính tích cực trong học tập lịch sử
1.2.2 Về kĩ năng.
Môn lịch sử ở trường phổ thông giúp cho người học phát triển và rèn luyệncác kỹ năng như phân tích, so sánh, tổng hợp, kỹ năng học tập và kỹ năng thựchành gồm cả kỹ năng thực hành bộ môn và kỹ năng thực hành trong cuộc sống Cụthể là bồi dưỡng:
- Tư duy trong nhận thức và hành động, biết phân tích đánh giá liên hệ
- Kỹ năng học tập và thực hành bộ môn: sử dụng SGK, các tài liệu thamkhảo khác, khả năng trình bày nói và viết, làm và sử dụng một số đồ dùng trựcquan, những hoạt động ngoại khóa của môn học
- Vận dụng các kiến thức đã học vào cuộc sống hiện nay
1.2.3 Về thái độ.
Lịch sử có sở trường và ưu thế trong việc giáo dục thế hệ trẻ, từ thời cổ đại
người ta đã thấy rằng “lịch sử là cô giáo của cuộc sống”, “là bó đuốc soi đường đi
tới tương lai” Do đó, giáo dục cho học sinh quan điểm tư tưởng, lập trường, phẩmchất đạo đức, nhân cách, tình cảm là một yêu cầu quan trọng cần chú ý thực hiệntrong dạy học lịch sử Tri thức lịch sử không chỉ có tác dụng giáo dục trí tuệ màcòn giáo dục cả tình cảm tư tưởng, góp phần đào tạo con người toàn diện
Trang 7Thông qua việc học tập lịch sử ở trường trung học phổ thông, những phẩmchất, đạo đức, tư tưởng, tình cảm được bồi dưỡng một cách hệ thống ở nhữngđiểm chủ yếu sau:
- Trước hết học sinh được bồi dưỡng lòng yêu nước xã hội chủ nghĩa, lòngyêu quê hương- một biểu hiện của lòng yêu nước, trong lao động sản xuất cũngnhư trong đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc
- Thứ hai, cần bồi dưỡng cho học sinh tinh thần đoàn kết quốc tế, tình hữunghị với các dân tộc đấu tranh cho độc lập, tự do, văn minh, tiến bộ xã hội, hòabình, dân chủ
- Đồng thời học sinh cũng cần có niềm tin vào sự phát triển hợp quy luật của
xã hội loài người và dân tộc, dù trong tiến trình lịch sử có những bước quanh co,khúc khuỷu, tạm thời tụt lùi hay dừng lại
- Thứ tư, học sinh có ý thức làm nghĩa vụ công dân, sẵn sàng thực hiệnnghĩa vụ quốc tế
- Và đặc biệt người học cần có những phẩm chất cần thiết trong cuộc sốngcộng đồng
1.2.4 Năng lực hướng tới.
- Môn lịch sử ở trường phổ thông giúp cho người học phát triển và rèn luyệnnăng lực tư duy như tái hiện sự kiện, hiện tượng, nhân vật
- Thực hành với đồ dùng trực quan
- Xác định mối liên hệ, tác động giữa các sự kiện, hiện tượng
- So sánh, phân tích, khái quát hóa
- Nhận xét, đánh giá, rút ra bài học lịch sử
- Vận dụng kiến thức lịch sử để giải quyết vấn đề thực tiễn đặt ra
- Thông qua sử dụng ngôn ngữ thể hiện chính kiến của mình
Tóm lại, mục tiêu bộ môn lịch sử ở trường trung học phổ thông là cung cấpkiến thức cơ bản có hệ thống về lịch sử phát triển hợp quy luật của dân tộc và xãhội loài người Trên cơ sở đó giáo dục lòng yêu nước tự hào dân tộc, lý tưởng độc
Trang 8lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, rèn luyện năng lực tư duy và thực hành Như vậy,
để có thể thực hiện được tốt chức năng và nhiệm vụ của bộ môn trong nhà trườngngười giáo viên phải sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học và không ngừngđổi mới cho phù hợp với sự phát triển của xã hội
2 Cơ sở thực tiễn.
2.1 Tình hình công tác giảng dạy môn lịch sử ở trường
2.1.1 Tình hình đội ngũ giáo viên môn lịch sử ở trường
Hiện nay nhóm Lịch sử của trường gồm 5 giáo viên Đội ngũ giáo viên nhìnchung đều tâm huyết với nghề, có sự học hỏi và kế thừa qua các thế hệ, khá nhạybén và năng động trong việc tiếp cận với cácphương pháp dạy học mới Hàng năm,nhà trường đều rất quan tâm đến công tác bồi dưỡng đội ngũ đặc biệt quan tâm đếnviệc bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên thông qua các hình thức:
- Động viên giáo viên tự học, tự nghiên cứu: Hàng năm, mỗi giáo viên đăng
kí các chuyên đề tự bồi dưỡng và trình bày trước nhóm trong các buổi họp nhóm Sau khi được nhận xét, bổ sung hoàn thiện thì chuyên đề có có thể dùng để giảngdạy ở các lớp hoặc phục vụ công tác bồi dưỡng HSG
- Cử giáo viên tham gia các lớp tập huấn chuyên môn do Sở GD&ĐT tổchức, sau khi học xong sẽ tổ chức trao đổi trong nhóm
2.1.2 Tình hình về năng lực của đội ngũ giáo viên giảng dạy môn lịch sử ở trường.
- Trường có 05 giáo viên dạy môn Lịch sử, trong đó:
+ 02 đồng chí là Phó hiệu trưởng
Trang 9+ 04 đồng chí là Thạc sĩ.
+ 02 đồng chí là giáo viên giỏi cấp Tỉnh
- Trước hết phải khẳng định, đội ngũ giáo viên lịch sử ở trường được đàotạo chính quy, bài bản trong hệ thống các trường đại học sư phạm trên cả nước:Đại học Sư phạm I Hà Nội và Đại học Vinh nên có trình độ chuyên môn vữngvàng, đáp ứng cơ bản yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học bộ môn Trong nhiềunăm qua đội ngũ giáo viên lịch sử đã có những đóng góp to lớn vào việc trang bịnhững tri thức lịch sử cho nhiều thế hệ học sinh, giúp họ bước vào đời với nhữnghiểu biết về lịch sử, truyền thống của dân tộc và thế giới Nhiều thầy, cô giáo dạygiỏi môn lịch sử đã làm cho học sinh không những nắm vững kiến thức một cáchvững chắc mà còn yêu mến môn lịch sử
- Bên cạnh những ưu điểm nói trên, giáo viên nhóm lịch sử hiện nay cũngcòn những hạn chế:
+ Về trình độ chuyên môn: Đội ngũ giáo viên lịch sử ở trường chủ yếu lànhững giáo viên ra trường nhiều năm nên không cập nhật kịp thời kiến thức mới vàphương pháp mới để đáp ứng yêu cầu của chương trình, sách giáo khoa Công tácbồi dưỡng thường xuyên hiện nay còn hình thức và kém hiệu quả, do đó việc nângcao trình độ chuyên môn của giáo viên trong trường còn hạn chế
+ Về năng lực sư phạm: Phương pháp giảng dạy phần lớn của giáo viêntrong nhóm vẫn là trình bày miệng, thầy giảng trò ghi Phần lớn giáo viên ít sửdụng đồ dùng trực quan trong dạy học, thậm chí có giáo viên hoàn toàn không sửdụng nếu không bị nhắc nhở trong cuộc họp Khả năng sử dụng tin học để soạn vàgiảng bài lịch sử bằng giáo án điện tử còn hạn chế hơn Thực tế giáo viên chỉ chămchút cho bài giảng khi có dự giờ hoặc thanh tra, còn giờ bình thường thì vẫn giảngtheo phương pháp cũ
Trong điều kiện chương trình và sách giáo khoa lịch sử phổ thông trung họcvẫn còn nặng nề thì giáo viên chưa thực sự và thường xuyên đóng vai trò tổ chức,hướng dẫn hoạt động học của học sinh, chưa làm tốt vai là cầu nối, là một “bộ lọc”quyết định để chuyển tải những nội dung trong chương trình, sách giáo khoa đếnhọc sinh một cách tốt nhất
Trang 10+ Khả năng tổ chức kiểm tra đánh giá còn hạn chế: Đánh giá chất lượng dạyhọc bộ môn là một công việc quan trọng và cần thiết Tuy nhiên, năng lực ra đề, tổchức kiểm tra đánh giá của giáo viên cũng còn những hạn chế Cách ra đề thi theokiểu hỏi những vấn đề vụn vặt, chỉ yêu cầu học thuộc, kiểm tra đối phó, chạy theothành tích… là những nguyên nhân dẫn đến làm giảm sút chất lượng dạy học bộmôn ở trường.
2.2 Kết quả học tập môn lịch sử của học sinh
Nhiều học sinh chưa thực sự hứng thú đối với môn học, thái độ học tậpmang tính đối phó, nặng về ghi nhớ máy móc, không hiểu bản chất của sự kiện, kếtquả môn lịch sử trong kỳ thi THPT rất thấp Tỷ lệ vào các trường Đại học, caođẳng thấp
II Thực trạng vấn đề.
Vấn đề thực tế còn tồn đọng nhiều năm ở trường THPT Nguyễn Đức Mậu
là một số giáo viên chú trọng và dành nhiều thời gian cho việc đầu tư giảng dạy mà
ít tìm tòi sáng tạo trong đổi mới phương pháp dạy học Trong công tác này giáoviên phần lớn lại chú trọng đến việc truyền đạt kiến thức hơn là tập cho học sinh tựhọc, tự rèn luyện, tự lĩnh hội kiến thức và tự làm bài tập theo bài, theo chủ đề mộtcách có hệ thống để có khả năng nghiên cứu chuyên sâu để hiểu và vận dụng mộtvấn đề lịch sử vào bài thi có hiệu quả tốt nhất, kích thích sự say mê nghiên cứu tìmtòi của các em
III Giải pháp giải quyết vấn đề.
1 Điều tra tình hình học tập môn Lịch sử.
1.1 Điều tra theo lớp học.
Đầu năm học, tôi được phân công giảng dạy bộ môn lịch sử cho lớp 12 theo
tổ hợp KHXH Ngay khi nhận lớp tôi đã tiến hành các bước nhằm nắm bắt tâm lýcủa học sinh đối với môn lịch sử, phương pháp học tập của từng em thông quaphiếu khảo sát:
1 Mức độ yêu thích môn lịch sử của em?
(Khoanh tròn vào số mà bạn cho là mức độ yêu thích, lấy 1 là Không thích)
Trang 111 2 3 4
Không thích Hơi thích Thích Rất thích
2 Theo ý kiến của em, vì sao học sinh THPT thích học Lịch sử?
A Môn Lịch sử giúp hiểu biết vê Lịch sử hào hùng của nước nhà
B Môn lịch sử rất thú vị và hấp dẫn
C Phương pháp dạy của giáo viên thu hút, hấp dẫn
D Khác :………
3 Theo ý kiến của em,vì sao học sinh THPT không thích học Lịch sử?
A.Môn Lịch sử có nhiều sự kiện và ngày, tháng, năm rất khó nhớ
B Cách trình bày kiến thức Lịch sử trong sách giáo khoa chưa phù hợp
C Phương pháp dạy của giáo viên không thu hút, hấp dẫn
7 Mức độ hiểu bài tại lớp của em đối với môn Lịch sử như thế nào?
(Khoanh tròn vào số mà bạn cho là mức độ hiểu, lấy 1 là Không hiểu)
Trang 12B Kết hợp học theo bài giảng của giáo viên trên lớp với học nhóm.
C Kết học theo bài giảng của giáo viên trên lớp với đọc sách
Không hài lòng Hài lòng Rất hài lòng
10 Em có đọc sách Lịch sử trước khi đến lớp hay không?
1.2 Điều tra theo nhóm học sinh qua chất lượng học tập.
Đối với một nhóm học sinh học tập có chất lượng, ở mức khá trở lên thì việctìm hiểu được tiến hành bằng Phương pháp phỏng vấn, trò chuyện
Thông qua những cuộc trò chuyện với các câu hỏi xoay quanh vấn đề vềnhận thức việc học tập môn lịch sử của học sinh THPT Qua cách trò chuyện cởi
mở, tôi sẽ có thêm những kiến thức liên qua đến đề tài , giúp cho việc nghiên cứutrở nên dễ dàng và thuận lợi hơn:
- Em có thể cho biết về tình hình học tập môn Lịch sử của em trong năm họcnày như thế nào được không ?
Trang 13- Việc nhận thức về học tập môn Lịch sử của em như thế nào?
- Theo em, phương pháp dạy và chương trình sách giáo khoa có tác độngnhư thế nào đến việc học môn Lịch sử ?
- Mục đích học tốt môn lịch sử của em là gì ?
Từ những câu hỏi trên, tôi sẽ thu được những lời chia sẻ, trả lời từ nhóm họcsinh khá-giỏi, đây là những thông tin đáng tin cậy, giúp tôi có được kế hoạch giáodục bộ môn một cách hiệu quả, đáp ứng nhu cầu học sinh
2 Lập kế hoạch cho việc nâng cao chất lượng học tập môn Lịch sử.
- Đề ra giải pháp cụ thể
- Giáo viên có kế hoạch cụ thể việc dạy lớp
2.2 Lập kế hoạch nhóm học sinh theo chất lượng học tập.
- Đối với nhóm học sinh khá -giỏi, trước hết cũng tìm hiểu qua thẩm vấn,trao đổi
- Qua trao đổi, giáo viên sẽ có kế hoạch và định hướng vào trường Đại họccho học sinh
- Tìm rõ nguyên nhân điểm thi chưa cao của các năm trước, phân tích biểuđiểm và lượng kiến thức đề minh họa các năm cho học sinh hiểu
- Giáo viên có kế hoach, giải pháp cụ thể để năng cao
- Giáo viên lên kế hoạch dạy học
3 Các biện pháp được tiến hành
3.1.Tìm ra nguyên nhân chất lượng học sinh chưa cao.
Trang 143.1.1 Phía giáo viên.
+ Còn nặng về cung cấp kiến thức cơ bản
+ Chưa đi sâu phân tích, đánh giá, tổng hợp các kiến thức lịch sử cho họcsinh nghe, biết, hiểu và biết vận dụng vào làm bài thi
+ Có rèn luyện kĩ năng nhưng còn hạn chế vì không có quỹ thời gian
+ Đã có đổi mới về phương pháp song còn nặng cung cấp kiến thức
3.1.2 Phía học sinh.
+ Chưa làm việc một cách độc lập, chưa chú trọng sưu tầm và sử dụng cácloại tư liệu lịch sử, làm bài, thực hành, do áp lực các môn học khác để đáp ứng choyêu cầu của các kì thi…
+ Khả năng phân tích, đánh giá, so sánh, tổng hợp còn hạn chế…
+ Học sinh ít đặt vấn đề và giải quyết vấn đề trong quá trình học tập
+ Chưa có mục tiêu, mục đích cụ thể cho học tập môn lịch sử
3.2 Đề ra kế hoạch nâng cao chất lượng đại trà.
3.2.1 Đối với giáo viên.
+ Cung cấp kiến thức cơ bản, kết hợp dạy đi sâu vào phân tích, đánh giá,tổng hợp các kiến thức lịch sử cho học sinh nghe, biết, hiểu và biết vận dụng vàolàm bài thi
+ Rèn luyện kĩ năng tự học, tự nghiên cứu cho học sinh
+ Nghiên cứu chương trình chuyên sâu và đề ra phương pháp thích hợp đểkích thích và tạo sự hứng thú nghiên cứu, học tập của học sinh, phát triển năng lực
tự học và tự giải quyết các vấn đề cho học sinh
3.2.2 Đối với học sinh.
+ Tập làm việc một cách độc lập, chú trọng sưu tầm và sử dụng các loại tưliệu lịch sử, làm bài thực hành, …
+ Rèn luyện khả năng phân tích, đánh giá, so sánh, tổng hợp
+ Học sinh tự đặt vấn đề và giải quyết vấn đề trong quá trình học tập
Trang 154 Các phương pháp được tiến hành.
4.1 Hệ thống kiến thức cơ bản môn lịch sử.
4.1.1 Hệ thống kiến thức cơ bản môn lịch sử 11.
* Phần lịch sử thế giới
- Các nước châu Á, châu Phi và khu vực Mĩ La-tinh (Từ XIX đến đầu thế kỷXX)
- Các cuộc chiến tranh thế giới thế kỷ XX
- Những thành tựu văn hoá thời cận đại
- Các nước tư bản chủ nghĩa và các nước châu á giữa hai cuộc chiến tranhthế giới (1918 - 1939)
- Cách mạng tháng mười Nga năm 1917 và công cuộc xây dựng CNXH ởLiên Xô (1921 - 1941)
* Phần lịch sử Việt Nam
- Việt Nam từ năm 1858 đến cuối thế kỷ XIX
- Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất (1918)
* Qua việc phân tích mục tiêu cũng như nội dung kiến thức cơ bản của phầnLịch sử lớp 11 ta có thể thấy vai trò và vị trí quan trọng của phần kiến thức nàytrong chương trình học Lượng kiến thức của phần này khá nhiều với những sựkiện, mốc thời gian liên tiếp nhau, đặc biệt là có nhiều bài trình bày về diễn biếncách mạng hoặc chiến tranh với rất nhiều mốc thời gian và sự kiện, do vậy họcsinh sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình ôn tập Hơn nữa, chương trình lịch
sử lớp 11 chỉ có thời lượng 1 tiết/1 tuần nên giáo viên ít có điều kiện để hướng dẫnhọc sinh ôn tập trên lớp, mà chủ yếu là giáo viên cần có các biện pháp hướng dẫnhọc sinh tự ôn tập kiến thức ngoài giờ lên lớp
Cụ thể, học sinh phải tự học, tự ôn tập Trên cơ sở nội dung đã được giáoviên hệ thống hóa, giáo viên định hướng cho học sinh ôn tập những kiến thức cơbản bằng việc tìm ra những từ khóa, những câu chốt trong sách giáo khoa để từ đónắm được những nội dung quan trọng nhất của cả bài Bên cạnh đó, sách giáo khoa
Trang 16còn cung cấp những câu hỏi, bài tập giúp học sinh có thể tự củng cố được kiếnthức đã học trên lớp Trả lời câu hỏi, làm bài tập trong sách giáo khoa là một biểuhiện tích cực trong học tập của học sinh, nó giúp học sinh khai thác tốt nguồn trithức, bổ sung và làm rõ những kiến thức còn mờ nhạt, chưa có thời gian đi sâukhai thác trên lớp.
Sau khi hướng dẫn học sinh hệ thống hóa chương trình, sử dụng sách giáokhoa để tự ôn tập kiến thức, giáo viên có thể kiểm tra hoạt động tự ôn tập kiến thứccủa các em bằng các cách như kiểm tra bài cũ trên lớp bằng phiếu học tập có câuhỏi/bài tập khái quát nội dung bài học, hoặc yêu cầu học sinh tóm tắt nội dung bàihọc trong khoảng từ 2 – 3 câu Qua đó, giáo viên có thể đánh giá được chất lượnghoạt động tự ôn tập của học sinh
4.1.2 Hệ thống kiến thức cơ bản môn lịch sử 12.
* Lịch sử thế giới
- Quan hệ quốc tế (1945-2000)
- Liên Xô, Đông Âu (1945-1991) Liên Bang Nga (1991-2000
- Các nước Á, Phi, Mĩ La tinh (1945-2000
Trang 17+ Sự hình thành hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới và công cuộc xây dựngchủ nghĩa xã hội;
+ Phong trào giải phóng dân tộc và công cuộc xây dựng đất nước của cácquốc gia giành độc lập;
+ Các nước tư bản, đế quốc lớn từ sau 1945 đến nay;
+ Quan hệ quốc tế qua các giai đoạn;
+ Sự phát triển của khoa học-kĩ thuật, văn học nghệ thuật
- Lịch sử Việt Nam từ 1919-2000, học sinh cần lưu ý, đặc điểm của lịch sử
là diễn ra liên tục, kết quả của sự kiện trước có liên hệ đến sự kiện sau Do đó, nếuhọc sinh học cả một chuỗi sự kiện có liên hệ với nhau trong cùng một giai đoạnlịch sử, thì sẽ thấy hấp dẫn, thú vị và nhớ có hệ thống hơn, cụ thể như:
+ Thứ nhất, diễn biến của cách mạng Việt Nam từ 1939 đến 1945 xoayquanh 4 sự kiện lớn là: Hội nghị Trung ương 6 (11/1939), Hội nghị Trung ương 8(5/1941), Hội nghị Ban Thường vụ TW Đảng 12/3/1945 (ra chỉ thị Nhật – Phápbắn nhau và hành động của chúng ta) và cuối cùng là Hội nghị toàn quốc của Đảng(13-15/8/1945) Nếu nhóm cả 4 sự kiện này lại (từ bối cảnh đến nhận định tìnhhình, xác định kẻ thù, đề ra chủ trương của Đảng và quá trình triển khai các chủtrương đó), thì các em sẽ thấy được quá trình phát triển liên tục của Cách mạngViệt Nam từ 1939 đến 1945: từ chỗ bảo toàn được lực lượng vừa mới phục hồi(chủ trương của Hội nghị Trung ương 6) đến chuẩn bị lực lượng (chủ trương củaHội nghị Trung ương 8), rồi khởi nghĩa từng phần, chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa(quyết định của Hội nghị Ban Thường vụ TW Đảng 12/3/1945) và cuối cùng làtiến lên tổng khởi nghĩa thắng lợi (quyết định của Hội nghị toàn quốc của Đảng)
+ Thứ hai, trong giai đoạn từ 1946 đến 1954, học sinh cần chú ý đến 4 kếhoạch của thực dân Pháp: Bôlae (1947), Rơ-ve (1949), Đờ-lát-đơ Tát-xi-nhi (1950)
và Nava (1953) Nếu nhóm 4 kế hoạch trên và quá trình ta đánh bại từng kế hoạchcủa địch bằng những sự kiện lịch sử cụ thể, các em sẽ thấy được một thực trạng thú
vị là các kế hoạch của Pháp đề ra theo kiểu “thua keo này, bày keo khác”, sau mộtlần thất bại của kế hoạch trước, thực dân Pháp thay tướng và đưa ra một kế hoạch
Trang 18mới, nhưng cuối cùng đều bị quân và dân ta đánh bại, buộc phải ký hiệp định ne-vơ rút quân về nước.
Giơ-+ Thứ ba, trong giai đoạn 1954 – 1973, ở miền Nam Việt Nam, các bạn cầnchú ý đến giai đoạn 1954 – 1960 (trước đây gọi là chiến tranh đơn phương) và 3chiến lược: chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ và Việt Nam hóa chiến tranh.Nếu lập bảng tổng hợp tất cả các chiến lược trên với các nội dung: “Âm mưu, thủđoạn”, “quá trình triển khai” và “quá trình nhân dân ta đánh bại các chiến lược củaMỹ”, các bạn sẽ thấy được một đặc điểm thú vị là sau mỗi lần thất bại, Mỹ lại can
dự sâu hơn vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam: từ chỗ chỉ viện trợ kinh tế, quân sựcho chính quyền Sài Gòn (1954 - 1960), tiến đến đưa cố vấn quân sự vào chỉ huy,phong tỏa miềm Bắc,… (1961 - 1965), đưa quân đội trực tiếp tham chiến, némbom hậu phương miền Bắc (1965 - 1968) và cuối cùng Mỹ đành phải chấp nhậnrút quân đội ra khỏi Việt Nam bằng cách tăng cường sức mạnh cho quân đội SàiGòn song song với việc mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương, thương lượngvới Liên Xô và Trung Quốc giảm viện trợ, làm cho cách mạng miền Nam suy yếudần (1969 - 1973) Và đừng quên những thắng của ta trong từng chiến lược quanhững sự kiện lịch sử và số liệu cụ thể
+ Thứ tư, đối với các chiến dịch: Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng, Hồ ChíMinh, các em bắt đầu từ chủ trương và kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam.Lúc đầu, Đảng ta đề ra kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam trong 2 năm,nhưng sau khi chiến dịch Tây Nguyên diễn ra, Đảng ta đã liên tục điều chỉnh rútngắn kế hoạch giải phóng miền Nam Cuối cùng, trong chưa đầy 3 tháng, ta đã giảiphóng hoàn toàn miền Nam Vấn đề còn lại chỉ là nhớ những sự kiện cơ bản của 3chiến dịch này
+ Thứ năm, đối với giai đoạn 1930 – 1931 và giai đoạn 1936 – 1939, các em
chú ý đến cấu trúc: bối cảnh, chủ trương của Đảng, diễn biến, ý nghĩa và kết quả
+ Thứ sáu, đối với bài Việt Nam trong năm đầu tiên sau khi giành được độclập (1946), các em cần lập một sơ đồ có cấu trúc gồm 2 vế: thứ nhất là tình thế
“ngàn cân treo sợi tóc” của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa trong năm 1946 (bốicảnh, những khó khăn về đối nội, đối ngoại), thứ hai là quá trình giải quyết nhữngkhó khăn về đối nội và đối ngoại tương ứng
Trang 19+ Thứ bảy, trong những năm gần đây, nhiều đề thi thường hỏi về mối quan
hệ giữa lịch sử thế giới và lịch sử Việt Nam (chủ yếu rơi vào giai đoạn từ 1919 đến1945) Chính vì vậy, các em cần chú ý đến mối liên hệ giữa lịch sử Việt Nam vớicác kiến thức lịch sử thế giới có liên quan trong sách giáo khoa
Như vậy, qua hệ thống hóa kiến thức và sự hướng dẫn của giáo viên, họcsinh sẽ dễ dàng hơn trong quá trình tự học, tự ôn tập theo các chủ đề, các nội dungtrong sách giáo khoa Do đó kết quả đem lại cho học sinh là rất khả quan, học sinh
dễ làm chủ kiến thức, dễ nhớ và dễ vận dụng vào quá trình làm bài thi
4.1.3 Phân tích đề tham khảo, đề thi của những năm học trước.
- Kỳ thi THPT Quốc Gia 2017 là việc có bài thi tổ hợp KHTN và KHXH,trong đó lần đầu tiên trong kỳ thi THPT Quốc gia các môn Lịch sử, địa lý vàGDCD chuyển sang hình thức thi trắc nghiệm với số câu ở mỗi phần thi là 40 câu
cơ bản và bám sát chương trình lịch sử lớp 12
Phần lịch sử thế giới gồm 11 câu chiếm 27,5% số điểm Hầu hết các chươngtrong lịch sử thế giới đều có 2 câu Phần kiến thức trong lịch sử thế giới hầu hết làkiến thức cơ bản và là mức độ nhận biết, thông hiểu Với cấu trúc như trên, chỉcần nắm vững kiến thức trong sách giáo khoa thì có thể làm gần trọn vẹn phần này
Phần lịch sử Việt Nam gồm 29 câu chiếm 72,5% số điểm Kiến thức trong
đề minh họa phân bố không đều tập trung chủ yếu vào chương II, chương III mànhiều nhất là chương III với 12 Trong 39 câu đó có khoảng 5 câu là phần vậndụng và 8 câu là phần thông hiểu Học sinh cần nắm thật chắc kiến thức và hiểusâu sắc các vấn đề của bài học
Mức độNhận
biết
Thônghiểu
VậndụngLịch
sử
thế
giới
Chương I: Sự hình thành trật tự thế giới
mới sau chiến tranh TG hai (1945-1949) 2 2 0 0
Chương II Liên Xô và các nước Đông Âu
(1945-1991) Liên bang Nga (1991-2000) 1 1 0 0Chương III Các nước Á, Phi và Mĩ la- tinh
Chương IV Mĩ, Tây Âu, Nhật Bản
(1945-2000)
Trang 20Chương V Quan hệ quốc tế (1945- 2000) 2 1 1 0Chương VI Cách mạng khoa học - công
- Đề minh họa 2018 Bộ giáo dục đưa ra đầy đủ các mức độ Mức độ khótăng lên và kiến thức phủ cả kiến thức lớp 11 + 12
+ Câu hỏi thuộc chương trình lớp 11 chiếm 20% ở 3 mức độ là nhận biết,thông hiểu và vận dụng ở mức độ thấp và trải đều cả Lịch sử thế giới và Lịch sửViệt Nam
+ Câu hỏi thuộc chương trình lớp 12 có đủ cả 4 mức độ: nhận biết, thônghiểu, vận dụng và vận dụng cao
- Về tỉ lệ câu hỏi: 20% lịch sử thế giới và 80% lịch sử Việt Nam
- Đề có mức độ phân hóa khá cao và được sắp xếp theo mức độ từ dễ đếnkhó
Mức độ nhận biết: có 8 câu (chiếm 20% trong đối khối 11 chiếm 5%), họcsinh chỉ cần học thuộc kiến thức cơ bản là có thể hoàn thành
Mức độ thông hiểu: có 12 câu (chiếm 30% trong đó khối 11 chiếm 5%), học
sinh cần đọc hiểu các kiến thức cơ bản và có sự liên hệ giữa một vài kiến thức nhỏ,đồng thời ở đây cũng không có điểm gài bẫy cho học sinh
Mức độ vận dụng thấp: có 12 câu (chiếm 30% trong đó khối 11 chiếm 10%),
ở mức độ này yêu cầu cao hơn, cần các em có nền kiến thức vững chắc, vận dụngkiến thức ở nhiều vấn đề, nhiều bài để trả lời câu hỏi một cách đúng nhất
Mức độ vận dụng cao: có 8 câu ( chiếm 20%, toàn bộ thuộc chương trình lớp12), với những câu hỏi này cần các em đọc thật kĩ đề bài, vận dụng các kiến thứcnền tảng một cách linh hoạt để từ đó tư duy, suy luận để tìm được đáp án đúngnhất Ở phần này, các câu hỏi thường có nhiều đáp án nhiễu, lừa học sinh nên các
em cần tư duy và suy luận thật cẩn thận
Mức độ
Trang 21Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975
C38 C39 C40Việt Nam từ năm 1975 đến năm 2000 C9 C26
- Phân tích đề ninh họa 2019: Theo đó, Lịch sử thế giới gồm 6 chuyên đề:Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917; Công cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội ởLiên Xô (1921 -1941); Sự hình thành trật tự thế giới mới sau Chiến tranh thế giớithứ hai; Liên bang Nga (1991 -2000); Mĩ, Tây Âu, Nhật Bản; Các nước Á, Phi, MĩLatinh; Quan hệ quốc tế trong và sau thời kì Chiến tranh lạnh
Lịch sử Việt Nam: bao gồm 6 chuyên đề: Việt Nam từ 1858 – 1918; ViệtNam từ năm 1919 đến 1930 Việt Nam từ năm 1930 đến 1945; Việt Nam từ năm
1945 đến 1954; Việt Nam từ năm 1954 đến 1975; Việt Nam từ năm 1975 đến2000
Số lượng câu hỏi dàn đều ở các chuyên đề và tập trung vào các chuyên đềtrọng tâm: Các nước Á – Phi – Mĩ La-tinh 1945 - 2000 ( 4 câu); Việt Nam từ năm
1930 – 1945 (7 câu); Việt Nam từ năm 1954 đến 1975 (8 câu)
Về cấp độ nhận thức của các câu hỏi: Câu hỏi nhận biết –thông hiểu: 25câu; Câu hỏi vận dụng: 7 câu; Câu hỏi vận dụng cao: 8 câu
Đề thi vẫn bám sát nội dung sách giáo khoa Lịch sử 11 và 12 Tuy nhiên, đểđạt được điểm cao, ngoài việc nắm chắc kiến thức sách giáo khoa, học sinh còncần phải có năng lực phân tích, đánh gia và khái quát kiến thức cao
Chủ đề
Mức độ
Tổn g
Nhậ n biết
Thôn
g hiểu
Vận dụng
Vận dụng cao
CM tháng Mười Nga năm 1917 và cuộc
đấu tranh bảo vệ cách mạng (1917-
1921)
Sự hình thành trật tự thế giới mới sau
chiến tranh TG hai (1945-1949)
Trang 22Liên Xô và các nước Đông Âu
(1945-1991) Liên bang Nga (1991-2000)
Như vậy, qua việc phân tích các cấu trúc của đề minh họa hàng năm của BộGD&ĐT ,học sinh có thể nhìn vào đề tham khảo để thấy được cấu trúc đề thi nhưthế nào, nội dung kiến thức cụ thể ra sao Từ đó, bản thân tôi đã nhanh chóngnghiên cứu để hình dung, định hướng cụ thể cho việc dạy học và ôn tập, chuẩn bịcho kỳ thi đạt kết quả tốt nhất Và trên thực tế, học sinh đã chủ động nắm bắt cáckiến thức lịch sử qua các buổi ôn tập hiệu quả
4.2 Các kỹ năng ôn luyện để làm bài thi.
4.2.1 Luôn nắm chắc kiến thức.
4.2.1.1 Sự kiện đó diễn ra khi nào, ở đâu, gắn với ai, như thế nào, vì sao?
- Lịch sử luôn có 2 phần: Phần sử và phần luận Trong phần sử các em cầntrả lời được các câu hỏi:
+ Địa điểm diễn ra sự kiện lịch sử là ở đâu?
+ Thời gian sự kiện lịch sử diễn ra là khi nào?
+ Nhân vật lịch sử gắn với sự kiện là ai?
+ Diễn ra sự kiện lịch sử gì
Trang 23Trong phần luận các em trả lời câu hỏi: Lý giải tại sao, vì sao lại xảy ra sựkiện Lịch sử đó
Đây là một vấn đề rất cần được lưu ý trong quá trình học môn lịch sử, nộidung này được áp dụng một cách linh hoạt trong các bước khác nhau và ở nhữngdạng nội dung bài học khác nhau Giáo viên có thể sử dụng để kiểm tra bài cũ, dạybài mới, củng cố kiến thức và giao bài tập về nhà, cũng có thể sử dụng ở nhữngdạng nội dung bài học khác nhau Tuy nhiên việc sử dụng nội dung này có thểđược tiến hành qua các bước chung như sau:
+ Bước 1: Học sinh lập sơ đồ theo gợi ý của giáo viên
+ Bước 2: Học sinh hoặc đại diện của nhóm học sinh lên báo cáo, thuyếttrình về sơ đồ mà nhóm mình đã thiết lập
+ Bước 3: Học sinh thảo luận, bổ sung để hoàn thành sơ đồ về kiến thức củabài học đó Giáo viên sẽ là cố vấn, trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh sơ đồ, từ đódẫn dắt đến kiến thức của bài
+ Bước 4: Củng cố kiến thức bằng 1 sơ đồ mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn vàcho học sinh lên bảng trình bày, thuyết minh về kiến thức đó
VD1: Ngày 19 – 12 -1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chinh phủ đọcbản “ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến
Diễn ra Sự kiện
gì? Vì sao lại có sự kiện này?
Trang 244.2.1.2 Trả lời các dạng câu hỏi như thế nào?
- Giáo viên xác định được trong bài thi Lịch sử sẽ thường gặp các dạng câuhỏi như thế nào, trong các bài kiểm tra trắc nghiệm thường gặp dạng câu hỏi này ởmức vận dụng, do đó học sinh phải hiểu rõ để có thể trả lời chính xác, đúng yêucầu
- Như vậy, để giải quyết một vấn đề lịch sử nào đó, giáo viên thường kết hợp
5 yếu tố: "Ai?, Ở đâu? Cái gì? Khi nào? Vì sao có?" với yếu tố "Như thế nào?".Trả lời được các câu hỏi này là các em đã nắm chắc về sự kiện Lịch sử
VD2: Khi dạy học bài 4: Các nước Đông Nam Á và Ấn Độ
+ Bước 1: Giáo viên yêu cầu Học sinh lập sơ đồ theo gợi ý của giáo viên:Ai?, Ở đâu?, Cái gì?, Khi nào?, Vì sao?, Như thế nào?"
+ Bước 2: Học sinh hoặc đại diện của nhóm học sinh lên báo cáo, thuyếttrình về sơ đồ mà nhóm mình đã thiết lập
+ Bước 3: Học sinh thảo luận, bổ sung để hoàn thành sơ đồ về kiến thức củabài học đó Giáo viên sẽ là cố vấn, trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh sơ đồ, từ đódẫn dắt đến kiến thức của bài
+ Bước 4: Củng cố kiến thức bằng 1 sơ đồ mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn vàcho học sinh lên bảng trình bày, thuyết minh về kiến thức đó
24
ASEAN
và Đảng Quốc Đại
ASEAN
và Đảng Quốc Đại
Được thành lập như thế nào?
Được thành lập như thế nào?
Đặc điểm nổi bật của tổ chức này là
Đặc điểm nổi bật của tổ chức này là
Vì sao lại thành lập ?
Vì sao lại thành lập ?
Do ai thành lập?
Do ai thành lập?
Thành lập ở đâu?
Thành lập ở đâu?
Sự kiện diễn ra như thế nào ?
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến
Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến
Trang 25VD3: Khi dạy bài Các nước Châu Phi và Khu vực Mĩ La-tinh
+ Bước 1: Giáo viên yêu cầu Học sinh lập sơ đồ theo gợi ý của giáo viên:Ai?, Ở đâu?, Cái gì?, Khi nào?, Vì sao?, Như thế nào?"
+ Bước 2: Học sinh hoặc đại diện của nhóm học sinh lên báo cáo, thuyếttrình về sơ đồ mà nhóm mình đã thiết lập
+ Bước 3: Học sinh thảo luận, bổ sung để hoàn thành sơ đồ về kiến thức củabài học đó Giáo viên sẽ là cố vấn, trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh sơ đồ, từ đódẫn dắt đến kiến thức của bài
+ Bước 4: Củng cố kiến thức bằng 1 sơ đồ mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn vàcho học sinh lên bảng trình bày, thuyết minh về kiến thức đó:
Như vậy, với thực hiện phương pháp này, bản thân tôi đã giúp cho học sinh
tự tổng hợp kiến thức lịch sử dưới dạng tổng quát nhất như một công thức Từ thóiquen này học sinh sẽ xây dựng nhiều sơ đồ hơn, tự trả lời các câu hỏi và qua đóhình thành tư duy độc lập của học sinh Hiệu quả học tập của học sinh rất cao
Phong trào bắt đầu
Quá trình đấu tranh diễn ra như thế nào?
Tại sao đấu tranh
Trang 264.2.2 Lập sơ đồ tư duy để tổng hợp kiến thức và tìm ra các từ khóa để có đáp án.
- Bản đồ tư duy (BĐTD) còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy, là hìnhthức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ
đề hay một mạch kiến thức bằng cách kết hợp sử dụng đồng thời hình ảnh, đườngnét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực để mở rộng và đào sâu các ý tưởng.Đặc biệt SĐTD là một sơ đồ mở, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết chặt chẽ như bản đồđịa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùngmàu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một chủ đề nhưng mỗingười có thể “thể hiện” nó dưới dạng SĐTD theo một cách riêng, do đó việc lậpSĐTD phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người
Cơ chế hoạt động của SĐTD là chú trọng tới hình ảnh, màu sắc, với cácmạng lưới liên tưởng (các nhánh) SĐTD là công cụ đồ họa nối các hình ảnh cóliên hệ với nhau vì vậy có thể vận dụng SĐTD vào hỗ trợ dạy học kiến thức mới,củng cố kiến thức sau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương
và giúp học sinh hiểu bài, nhớ lâu, nhớ sâu
- Đối với học sinh
+ SĐTD giúp học sinh học được phương pháp học: Việc rèn luyện phươngpháp học cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn làmục tiêu dạy học Thực tế cho thấy một số học sinh học rất chăm chỉ nhưng vẫnhọc kém, nhất là môn học thuộc như Lịch sử, các em này thường học bài nào biếtbài đấy, học phần sau đã quên phần trước và không biết liên kết các kiến thức vớinhau, không biết vận dụng kiến thức đã học trước đó vào những phần sau Phầnlớn số học sinh này khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghichép để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình Sử dụng thànhthạo SĐTD trong dạy học học sinh sẽ học được phương pháp học, tăng tính độclập, chủ động, sáng tạo và phát triển được tư duy
+ Giúp học sinh học tập một cách tích cực: Một số kết quả nghiên cứu chothấy bộ não của con người sẽ hiểu sâu, nhớ lâu và in đậm cái mà do chính mình tựsuy nghĩ, tự viết, vẽ ra theo ngôn ngữ của mình, vì vậy việc sử dụng SĐTD giúp
Trang 27học sinh học tập một cách tích cực, huy động tối đa sự tư duy và sáng tạo củamình, từ đó nhớ bài lâu và hiểu bài sâu
+ Học sinh tự vẽ SĐTD có ưu điểm: Phát huy tối đa tính sáng tạo, phát triểnnăng khiếu hội họa, sở thích của mình, các em tự do chọn màu sắc (xanh, đỏ, vàng,tím,…), đường nét (đậm, nhạt, thẳng, cong…), các em tự “sáng tác” nên trên mỗiSĐTD thể hiện rõ cách hiểu, cách trình bày kiến thức của từng học sinh và SĐTD
do các em tự thiết kế vì vậy các em yêu quí, trân trọng “tác phẩm” của mình
- Đối với giáo viên
+ Bản đồ tư duy - phương pháp dạy học bằng cách sử dụng đồng thời hìnhảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết, với sự tư duy tích cực không chỉ tạo hứng thútrong học tập của học sinh mà còn góp phần đổi mới và làm phong phú các phươngpháp giáo dục tích cực
+ Dạy học bằng SĐTD dành nhiều thời gian cho học sinh làm việc, chia sẻvới bạn bè, công việc của giáo viên đỡ vất vả nhiều so với cách dạy truyền thống.Dạy học bằng SĐTD giúp học sinh thuộc bài ngay tại lớp, nhớ nhanh, nhớ sâu, nhớlâu và nhớ chính xác những nội dung bài học Dạy học bằng phương pháp SĐTDgiúp các em không thấy nhàm chán vì bài học dài dòng mà luôn sôi nổi, hào hứng
từ đầu đến cuối tiết học
+ Dạy học bằng SĐTD sẽ nâng cao hiệu quả trong việc củng cố kiến thức,rèn các kỹ năng và phát triển tư duy lôgíc cho HS Với chủ trương giảm tải thựchiện từ năm học này, dạy bằng SĐTD sẽ làm cho cô và trò không bị mất thời gianvào các chi tiết vụn vặn, trùng lặp mà tập trung thảo luận sâu và phát triển vấn đềcốt lõi của bài
+ Dạy học bằng SĐTD còn có tác dụng phân loại đối tượng học sinh: họcsinh khá, giỏi phát huy được khả năng sáng tạo, lập SĐTD theo sự hiểu biết củamình hiểu bài, nhớ bài sâu và lâu Do đó dạy học theo SĐTD giáo viên cần dànhthời gian hướng dẫn cho những đối tượng học sinh này nhiều hơn
Đổi mới phương pháp dạy học xưa và nay thường gắn liền với đổi mới khoahọc công nghệ, đòi hỏi hạ tầng cơ sở vật chất tốt Những điều kiện này lại thườngkhó thực hiện ở các trường vùng sâu vùng xa, nơi kinh tế còn nhiều khó khăn
Trang 28Song dạy học bằng SĐTD có thể dạy được ở tất cả các trường học nơi cơ sở hạtầng chưa được đầu tư hoặc đầu tư chưa đầy đủ vẫn có thể áp dụng tốt bằng cáchlàm bảng phụ
VD1: Đảng lãnh đạo nhân dân xây dựng chính quyền, bảo vệ chế độ mới sauCách mạng tháng 8 năm 1945
+ Bước 1: Giáo viên yêu cầu Học sinh lập sơ đồ theo gợi ý của giáo viên:Tình hình nước ta sau CM Tháng 8 như thế nào, thuận lợi và khó khăn gì? Quátrình xây dựng , củng cố và bảo vệ chính quyền của Đảng sau CM tháng Tám 1945diễn ra như thế nào, những việc làm cụ thể?
+ Bước 2: Học sinh hoặc đại diện của nhóm học sinh lên báo cáo, thuyếttrình về sơ đồ mà nhóm mình đã thiết lập
+ Bước 3: Học sinh thảo luận, bổ sung để hoàn thành sơ đồ về kiến thức củabài học đó Giáo viên sẽ là cố vấn, trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh sơ đồ, từ đódẫn dắt đến kiến thức của bài
+ Bước 4: Giáo viên đối chiếu bằng 1 sơ đồ mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn
Xây dựng , củng cố và bảo vệ chính quyền của Đảng sau CM tháng Tám 1945
Xây dựng , củng cố và bảo vệ chính quyền của Đảng sau CM tháng Tám 1945
Tình hình nước ta sau CM Tháng 8
Tình hình nước ta sau CM Tháng 8
Thuận lợi
Khó khăn
Biện pháp
Biện pháp nghĩaÝ
Ý nghĩa
Xây dựng chính quyền
Xây dựng chính quyền
Bảo vệ chính quyền
Giảiquyết khó khăn tài chính
Giảiquyết khó khăn tài chính
Giảiquyết nạn dốt
Giảiquyết nạn dốt
Củng cố chính quyền
Trang 29VD2: Kháng chiến toàn quốc chống Pháp 1946 -1954
+ Bước 1: Giáo viên yêu cầu Học sinh lập sơ đồ theo gợi ý của giáo viên+ Bước 2: Học sinh hoặc đại diện của nhóm học sinh lên báo cáo, thuyếttrình về sơ đồ mà nhóm mình đã thiết lập
+ Bước 3: Học sinh thảo luận, bổ sung để hoàn thành sơ đồ về kiến thức củabài học đó Giáo viên sẽ là cố vấn, trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh sơ đồ, từ đódẫn dắt đến kiến thức của bài
+ Bước 4: Củng cố kiến thức bằng 1 sơ đồ mà giáo viên đã chuẩn bị sẵn vàcho học sinh lên bảng trình bày, thuyết minh về kiến thức đó:
Như vậy, với phương pháp này đã giúp các em học sinh hệ thống hóa kiếnthức theo sơ đồ nhánh, tránh nhầm lẫn giữa các sự kiện, biến bài viết dài thànhnhững từ khóa đơn giản dễ nhớ, phục vụ tốt cho học tập và ôn thi THPT
4.2.3 Xác định dạng công thức thường gặp khi ôn luyện.
Trong các nội dung Lịch sử chúng ta đều có thể đưa về dạng công thức đơngiản nhưng lại dễ nhơa Ví dụ như về nguyên nhân thắng lợi chúng ta luôn cónguyên nhân khách quan và chủ quan, vai trò của cá nhân hay tổ chức Về ý nghĩa
Kháng chiến toàn quốc chống Pháp 1946-1954
Kháng chiến toàn quốc chống Pháp 1946-1954
Đông - Xuân
1953-1954
Đông - Xuân 1954
1953-CD Điện Biên Phủ 1954
CD Điện Biên Phủ 1954
Thắng lợi quân sự tiêu biểu
Thắng lợi quân sự tiêu biểu
Thắng lợi trên mặt trận ngoại giao
Thắng lợi trên mặt trận ngoại giao
Hiệp định Giơnevơ
Hiệp định Giơnevơ
Đường lối Kháng chiến Chiến đấu ở các đô
CD Việt Bắc TĐ 1947
Trang 30lịch sử: kết thúc cái gì? mở ra cái gì? và tác động, ảnh hưởng Khi nhắc đến cácHội nghị quốc tế hay trong nước lại có thời gian, địa điểm, quyết định quan trong,
ý nghĩa…Qua giảng dạy lịch sử nhiều năm, với nhiều đối tượng thì việc xác địnhdạng công thức sẽ giúp học sinh tự khái quát hóa, dễ nhớ, nhớ lâu các kiến thứclịch sử, từ đó học sinh tự có cách giải quyết vấn đề khi làm bài thi
VD1: Về nguyên nhân thắng lợi
Chủ quan Sự lãnh đạo của Đảng
Tinh thần của nhân dân
Nguyên nhân
Khách quan Tinh thần đoàn kết của 3 nước ĐD
Sự giúp đỡ của các nước XHCNVD2: Về các hội nghị của Đảng
Hội nghị
Tiêu chí
Hội nghị BCH
TƯ ĐCS ĐD (7/1936)
Hội nghị BCH
TƯ ĐCS ĐD (11/1939)
Hội nghị BCH
TƯ ĐCS ĐD (5/1941) Xác định kẻ thù
4.2.4 Phân biệt các thuật ngữ lịch sử trong quá trình giảng dạy.
Trong quá trình học và ôn tập lịch sử, các em cần phân biệt các cụm từ, kháiniệm tránh nhầm lẫn dễ mất điểm và điều này rất đáng tiếc Trên thực tế, do quátrình học các em không đào sâu suy nghĩ, không trao đổi, thảo luận khi còn mơ hồ
về một vấn đề nào đó thì rất dễ dẫn đến nhầm lẫn, đây là điều đáng tiếc vẫn xảy rathường xuyên Đặc biệt, trong bài thi trắc nghiệm, sự nhầm lẫn này sẽ dẫn đến xácđịnh sai ý muốn hỏi của câu dẫn, dẫn đến trả lời sai
Trang 31Cách mạng dân tộc dân chủ
C/mạng dân tộc dân chủ nhân dân
+ Sau khi thắng lợi sẽchuyển lên CMXHCN
+ Cách mạng ở các nước thuộc địa và phụ thuộc+ Thực hiện hai nhiệm vụ
cơ bản:
chống Đế quốc xâm lược và Phong kiến tay sai
+ Gianh ĐLDT và dân chủ chonhân dân
+ Mang tính chất nhân dân sâu sắc nhằm đánh
đổ thực dân, phong kiến
+ Xây dựngchế độ cộnghòa dân chủrồi chuyển sang CMXHCN
Vd: cuộc
CM ở VN tiến hành từnăm 1930 –1975là CM DTDCND sau khi giành thắnglợi cả nước tiến lên CNXH
+ Do giaicấp Vô sảnlãnh đạo+ Dùng bạolực cáchmạng lật đổchính
quyền củaGCTS thiếtlập chínhquyền nhànước vôsản, lập nênchế độXHCNVd: CM18-3- 1871
Trang 32sử, dựa trênhoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Vd: Nhiệm
vụ cách mạng Việt Nam giai đoạn từ năm 1930
là giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp Xác định kẻ thù
là Đế quốc Năm 1954,Đảng xác định nhiệm
vụ chiến lược 2 miền: MiềnBắc tiến lênxây dựng XHCN;
miền Nam tiếp tục cuộc kháng chiến chống Đế quốc Mĩ
+ Nhiệm vụ đặt ra cần phải giải quyết ngay
và cấp báchVd: giai đoạn 1936- 1939 nhiệm vụ trước mắt là: đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, Phát xít, đòi quyền tự do, dân sinh,dân chủ…
+ Sức mạnh củaquần chúng cáchmạng để đánh đổchính quyềnthống trị giành