Việc sử dụng bài tập thực nghiệm có hình vẽ sẽ giúp học sinh củng cố, vận dụng những kiến thức đã học trên lớp và rèn luyện các kỹ năng thực hành cho học sinh: như các thao tác lấy hóa c
Trang 11
SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO NGHỆ AN
ĐỀ TÀI :XÂY DỰNG BÀI TẬP THỰC
NGHIỆM HÓA VÔ CƠ LỚP 10 CÓ SỬ DỤNG HÌNH VẼ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
Trang 3lí thuyết còn phải rèn luyện kĩ năng thực hành
Vì tính chất độc hại của một số hóa chất như các đơn chất halogen (Cl2,
Br2), khí hidrosunfua ( H2S), khí lưu huỳnh đioxit ( SO2) nên việc làm thí nghiệm khi học tập hay thực hành còn hạn chế Cho nên cùng với việc tổ chức cho học sinh thực hành thì việc cung cấp thêm cho học sinh các bài tập mang tính thực nghiệm cũng rất hữu ích ví dụ như: bài tập nhận biết, bài tập điều chế, bài tập mô tả và giải thích hiện tượng thí nghiệm, bài tập thực nghiệm bằng hình vẽ…
Việc sử dụng bài tập thực nghiệm có hình vẽ sẽ giúp học sinh củng cố, vận dụng những kiến thức đã học trên lớp và rèn luyện các kỹ năng thực hành cho học sinh: như các thao tác lấy hóa chất, lắp dụng cụ thí nghiệm, cẩn thận khi tiếp xúc với hóa chất Thông qua các hình vẽ thí nghiệm đó, học sinh có thể sáng tạo ra các phương án khác nhau khi làm thí nghiệm Điều này đã gây được hứng thú học tập hóa học cho học sinh, giúp phát triển đầy đủ năng lực học sinh cần đạt
Vì vậy, việc xây dựng bài tập thực nghiệm có hình vẽ trong dạy học hóa học phổ thông là rất quan trọng và phù hợp với xu hướng đổi mới của giáo dục Việt Nam hiện nay Tài liệu liên quan đến vấn đề này thì nhiều tuy nhiên việc xây dựng thành bài tập một cách có hệ thống để thuận lợi cho việc sử dụng trong quá trình giảng dạy thì còn rất ít
Do đó, tôi chọn đề tài: “Xây dựng bài tập thực nghiệm hóa vô cơ lớp 10
có sử dụng hình vẽ theo định hướng phát tiển năng lực học sinh ” với mục đích tìm hiểu, sưu tầm và xây dựng hệ thống bài tập thực nghiệm hóa vô cơ các chương trong sách giáo khoa lớp 10 cơ bản nhằm thuận lợi cho việc sử dụng trong giảng dạy , ôn tập, luyện thi cũng như tổ chức các câu lạc bộ hóa học, các cuộc thi vui để học cho học sinh
2 Mục đích nghiên cứu:
Xây dựng và áp dụng bài tập thực nghiệm có hình vẽ trong phạm vi kiến thức hóa vô cơ chương trình lớp 10, góp phần phát triển toàn diện năng lực cho học sinh
3 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Trang 44
Nghiên cứu ý nghĩa bài tập hóa học thực nghiệm có hình vẽ liên quan hóa vô cơ lớp 10 và phương pháp sử dụng để góp phần phát triển năng lực học sinh
Xây dựng hệ thống bài tập hóa học thực nghiệm có hình vẽ dưới dạng trắc tự luận và trắc nghiệm khách quan phần hóa vô cơ 10 nhằm phát triển năng lực học sinh
Thực nghiệm sư phạm
4 Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn
Điều tra thực trạng đổi mới PPDH tại địa phương
Nghiên cứu chương trình sách SGK, SGV, SBT hóa học lớp 10 (cơ bản và nâng cao)
Tổng quan tài liệu: tổng hợp những tài liệu có liên quan đến thực tiễn
và chương trình hóa học vô cơ
Trao đổi tiếp thu ý kiến của các đồng nghiệp
Tham khảo các tài liệu về sáng kiến kinh nghiệm
Mạng Internet
5 Đóng góp của đề tài:
Chứng minh được tính khả thi và hiệu quả của bài tập thực nghiệm hóa học có hình vẽ góp phần đổi mới PPDH tại nhà trường, nâng cao được chất lượng dạy học
Phát triển năng lực người học, giáo dục và rèn luyện kỹ năng sống cho
Trang 55
PHẦN II: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
A CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Dạy học định hướng phát triển năng lực
1.1.1 Khái niệm năng lực: là thuộc tính cá nhân cho phép thực hiện thành công hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể
Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra, ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế 1.1.2 Những loại năng lực cần chú trọng rèn luyện cho HS trong quá trình dạy học
* Nhóm năng lực chung, gồm:
Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân
Nhóm năng lực quan hệ xã hội
Nhóm năng lực sử dụng công cụ hiệu quả
* Nhóm năng lực, kĩ năng chuyên biệt trong môn Hóa học
- Các năng lực chuyên biệt trong môn Hóa học
- Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học
- Năng lực thực hành hóa học
- Năng lực tính toán
- Năng lực giải quyết vấn đề thông qua môn hóa học
- Năng lực vận dụng kiến thức hoá học vào cuộc sống
1.2 Ý nghĩa, tác dụng của bài tập hóa học trong giảng dạy hóa học để phát triển năng lực học sinh
1.2.1 Ý nghĩa, tác dụng của bài tập hóa học trong giảng dạy hóa học
- Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng hóa học Nếu là bài tập thực nghiệm
sẽ rèn luyện các kĩ năng thực hành, góp phần vào việc giáo dục kĩ thuật tổng hợp cho học sinh
b, Ý nghĩa phát triển:
Phát triển ở học sinh các năng lực tư duy logic, biện chứng, khái quát độc lập, thông minh và sáng tạo
C, Ý nghĩa giáo dục:
Trang 61.2.2.Ý nghĩa, tác dụng của bài tập hóa học thực nghiệm bằng hình vẽ
Bài tập hoá học mô tả bằng hình vẽ có những tác dụng tích cực sau :
- Phát triển năng lực nhận thức, rèn luyện tư duy từ lý thuyết đến thực hành và ngược lại từ đó xác nhận những thao tác kĩ năng thực hành hợp lý
- Rèn luyện kỹ năng sử dụng hoá chất, các dụng cụ thí nghiệm và phương pháp thiết kế thí nghiệm
- Rèn luyện các thao tác, kỹ năng thí nghiệm cần thiết trong phòng thí nghiệm(cân, đong, đun nóng, nung, sấy, chưng cất, hoà tan, lọc, kết tinh, chiết )góp phần vào việc giáo dục kĩ thuật cho HS
- Rèn luyện khả năng ứng dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống : Giải thích các hiện tượng hoá học trong tự nhiên ; sự ảnh hưởng của hoá học đến kinh tế, sức khoẻ, môi trường và các hoạt động sản xuất, tạo sự say mê hứng thú học tập hoá học cho HS
- Giáo dục tư tưởng, đạo đức, tác phong lao động : rèn luyện tính kiên nhẫn, trung thực sáng tạo, chính xác, khoa học ; rèn luyện tác phong lao động
có tổ chức, có kế hoạch, có kỉ luật, , có văn hoá
1.2.3 Vai trò của bài tập thực nghiệm có sử dụng hình vẽ
Hoá học là môn học vừa lí thuyết vừa thực nghiệm, ngoài thực nghiệm của PTN còn có thực nghiệm của sản xuất hoá học Hình vẽ là ngôn ngữ diễn
tả rất hiệu quả và ngắn gọn bản chất của thực tiễn hoá học, vì thế sẽ giúp HS
dễ gắn lí thuyết với thực tế, vận dụng lí thuyết vào thực tế Hơn nữa, sử dụng hình vẽ sẽ tạo điều kiện cho HS vận động nhiều giác quan, phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của HS Do đó, ngoài những tác dụng chung của BTHH, các BT về hình vẽ còn có những tác dụng thiết thực khác
Hiện nay, BT bằng hình vẽ còn quá ít do vậy cũng ít được sử dụng Đây
là dạng BT mang tính trực quan, sinh động gắn liền với kiến thức và kỹ năng thực hành Hóa Học
- Giúp HS rèn luyện kỹ năng vẽ hình
- Giúp HS phát triển kỹ năng quan sát, phân tích, tổng hợp, suy đoán
Trang 77
- Rèn luyện năng lực quan sát cho HS, là cơ sở để HS tư duy
- Kiểm tra kiến thức kỹ năng thực hành của HS
- Giúp GV tiết kiệm thời gian do không phải mô tả, giải thích dài dòng
- Gây chú ý cho HS
- Bài giảng hấp dẫn, HS hứng thú học tập, nâng cao kết quả học tập của HS
1.2.4 Nguyên tắc và quy trình xây dựng bài tập thực nghiệm có hình vẽ Bài tập hóa học có sử dụng hình vẽ là bài tập trong đó đòi hỏi HS phải dựa trên các dự kiện có sẳn ở hình vẽ vận dụng những kiến thức và kĩ năng để hoàn thành yêu cầu bài toàn đề ra
Bài tập có hình vẽ trong đề bài bao gồm các dạng bài như sau:
- Bài tập có hình vẽ chứa đầy đủ các thông tin để tổ chức cho HS quan sát, khai thác thông tin, hình thành kiến thức mới
- Bài tập có hình vẽ chưa đầy đủ các thông tin hoặc không chú thích yêu cầu
HS bổ sung cho hoàn chỉnh
- Bài tập có hình vẽ chưa đúng để HS kiểm tra, chỉnh lí
Quy trình xây dựng
Bước 1: Lựa chọn đơn vị kiến thức
Bước 2: Xác định mục tiêu giáo dục của đơn vị kiến thức
Bước 3: Thiết kế hệ thống bài tập theo mục tiêu
- X ây dựng các bài tập tương tự các bài tập đã có
- Xây dựng bài tập hoàn toàn mới
Bước 4: Kiểm tra thử
Bước 5: Chỉnh sửa
Bước 6: Hoàn thiện hệ thống bài tập
1.3 Sử dụng bài tập hóa học thực nghiệm có hình vẽ trong giảng dạy hóa học: 1.3.1 Sử dụng trong giảng dạy bài mới
Trong các giờ giảng bài mới giáo viên có thể linh hoạt nhiều phương pháp khác nhau để kết hợp các kiến thức thực hành thí nghiệm vào bài giảng, khai thác hiệu quả bài tập có hình vẽ hóa học
1.3.2 Sử dụng trong giảng dạy ôn tập, luyện tập
Trong các giờ bài tập, giáo viên có thể đưa vào các bài tập có hình vẽ thí nghiệm mà học sinh có thể vận dụng được những kiến thức trong nội dung luyện tập để giải quyết hoặc thông qua một bài tập có nội dung lý thuyết, sau khi giải quyết xong giáo viên thông tin thêm những kiến thức có liên quan
1.3.2.1 Sử dụng bài tập hình vẽ để khắc sâu kiến thức về tính chất vật lý
Ví dụ 1: Để kiểm tra kiến thức của học sinh về tính chất vật lý của SO2 ta có thể dùng hai cách hỏi sau:
Cách 1: Hỏi dưới dạng tự luận : Nêu tính chất vật lý của SO2?
Trang 88
Hoặc hỏi dưới dạng trắc nghiệm : Tính chất vật lý của khí SO2 là
A chất khí nặng hơn không khí và không tan trong nước
B chất khí nhẹ hơn không khí và không tan trong nước
C chất khí nhẹ hơn không khí và không tan trong nước
D chất khí nặng hơn không khí và tan nhiều trong nước
Với loại câu hỏi này học sinh cần nhớ lại các kiến thức về tính chất vật lý của
SO2 đã học là có thể trả lời được ngay
Cách 2: Khí SO2 được thu bằng cách nào trong các cách ở hình vẽ sau
Để giải được bài tập này cũng đòi hỏi học sinh phải nhớ lại các kiến thức của SO2
đó là:
- SO2 có bị oxi hóa trong không khí ở điều kiện thường không?
- SO2 nặng hay nhẹ hơn không khí?
- SO2 có tan nhiều trong nước không?
Khi đó học sinh sẽ lập luận:
- SO2 không bị oxi hóa trong không khí ở điều kiện thường
có thể thu bằng phương pháp đẩy không khí
Như vậy, học sinh nhận ra ngay chỉ có cách (hình 2) mới phù hợp
Chọn phương án B
Trong hai cách trên thì với cách 2, khi quan sát hình vẽ mang tính trực quan hơn, rèn được tư duy suy luận cho học sinh hơn Từ đó sẽ giúp học sinh khắc sâu và nhớ lâu kiến thức hơn
Trang 91.3.2.2 Sử dụng bài tập hình vẽ để khắc sâu kiến thức về tính chất hóa học
Ví dụ 2: Cho hình sơ đồ điều chế khí SO2 như hình vẽ: Giáo viên (GV) có thể nêu các câu hỏi cho học sinh (HS) thảo luận các vấn đề sau:
- GV: Hãy cho biết vì sao phải dùng
bông tẩm NaOH ở miệng bình thu khí?
- HS: Khí SO2 đầy thì sẽ thoát ra ngoài,
gây độc (SO2 là một khí độc)
dùng bông tẩm NaOH để hấp thu khí
SO2 và không cho khí SO2 thoát ra ngoài
Có thể thay NaOh bằng KOH hoặc Ca(OH)2
2NaOH + SO2 → Na2SO3 + H2O
Nhưng không thể dùng các axit như H2SO4 vì H2SO4 không phản ứng với SO2
nên không giữ được SO2
- GV: Khí SO2 không có màu vậy làm thế nào để biết khi nào thì SO2 đầy?
Đến đây đòi hỏi học sinh phải nhớ lại cách nhận ra khí SO2 một cách đơn giản nhất là dùng giấy quỳ tím ẩm Nếu SO2 lên đến miệng bình thì sẽ làm giấy quỳ chuyển sang màu hồng vì SO2 khi tan trong nước tạo thành axit sunfurơ
(SO2 + H2O H2SO3)
Để kiểm tra các kiến thức đó, GV có thể hỏi dưới dạng trắc nghiệm :
Tính chất nào sau đây không phải là của SO2?
A Là một oxit axit B Tan nhiều trong nước
C Tác dụng với H2SO4 D Tác dụng với dung dịch bazơ Nếu GV đặt câu hỏi dưới dạng trắc nghiệm thì khi đó sẽ chỉ có tác dụng kiểm tra kiến thức thuộc lòng của học sinh mà thôi
Qua ví dụ trên cho thấy việc giải bài tập bằng hình vẽ đã rèn cho học sinh cách suy luận, cách tái hiện lại các kiến thức về tính chất hóa học của SO2, đặc biệt là việc vận dụng tri thức khoa học vào thực tiễn Không những thế bài tập trên còn giáo dục học sinh về ý thức bảo vệ môi trường (qua việc xử lý
Trang 1010
không cho SO2 thoát ra trong phòng thí nghiệm, đảm bảo nguyên tắc an toàn thí nghiệm)
1.3.1 Sử dụng trong giảng dạy bàì thực hành
Sử dụng bài tập hình vẽ để hình thành và phát triển kỹ năng thực hành
Với ví dụ 1 như trên, không chỉ giúp học sinh khắc sâu kiến thức hơn mà còn giúp học sinh nhớ lại các cách thực hành thu chất khí
- Cách 1: Dời chỗ không khí: Thường sử dụng cho các khí có các đặc điểm sau:
+ Không bị oxi hóa trong không khí ở điều kiện thường
+ Nặng hay nhẹ hơn khá nhiều so với không khí
+ Có dấu hiệu để nhận biết khi nào khí đầy bình
Với khí nặng hơn không khí người ta sử dụng ống nghiệm lật ngửa, khí nhẹ hơn không khí người ta sử dụng ống nghiệm úp xuống Ngoài ra, một kỹ năng thực hành được hình thành quan trọng ở đây là khi thu khí phải để đầu vòi gần sát với đáy ống nghiệm để hiệu suất thu khí cao hơn
- Cách 2: Dời chỗ nước: Thường sử dụng cho chất khí có các đặc điểm sau: Không tan (hoặc ít tan) trong nước, không tác dụng với nước
1.3.4 Sử dụng trong giờ kiểm tra đánh giá
Trong các giờ kiểm tra đánh giá việc sử dụng bài tập có hình vẽ là rất cần thiết và cần được áp dụng rộng rãi với tất cả đối tượng học sinh
Trên cở sở phân loại bài tập hóa học thực nghiệm và phân loại theo năng lực học sinh ta có thể xây dựng hệ thống các bài tập hóa học thực nghiệm với các mức độ khác nhau để sử dụng trong các giờ kiểm tra đánh giá
Mức độ 1: mức độ nhận biết là mức độ thấp nhất, ở mức độ này học sinh cần ghi nhớ cách bố trí thí nghiệm, các bước tiến hành thí nghiệm
Mức độ 2: Mức độ thông hiểu là mức độ đòi hỏi học sinh cần có những kiến thức cơ bản về các hiện tượng thí nghiệm, giải thích được tại sao phải tiến hành các bước
Mức độ 3: Mức độ vận dụng là mức độ đòi hỏi học sinh cần nắm thật chặt kiến thức, có sự phân tích, so sánh để có thể giải quyết các vấn đề liên quan Ngoài ra còn có khả năng khái quát hóa các số liệu thu được sử dụng trong các điều kiện phức tạp hơn
Trang 11Hiện nay trên địa bàn huyện Tân Kì nói riêng và địa bàn tỉnh Nghệ An nói chung các đề tài nghiên cứu về xây dựng bài tập thực nghiệm hóa học có
sử dụng hình vẽ chưa thực sự được quan tâm
2.2.Thực trạng sử dụng bài tập hóa học thực nghiệm có hình vẽ tại trường THPT trên địa bàn huyệnTân Kì - Nghệ An
2.2.1 Đối tượng tìm hiểu
- Giáo viên: tôi đã tiến hành tìm hiểu một số giáo viên đã giảng dạy môn Hóa học tại trường THPT Lê Lợi - Tân Kì
- Học sinh: Khảo sát 84 học sinh ở hai lớp 10A2 và 10A3 tại trường THPT Lê Lợi – Tân Kì
2.2.2 Phương pháp và kết quả tìm hiểu
Theo kết quả điều tra của nhiều GV khi đúc rút kinh nghiệm trong đổi mới PPDH trong nhiều năm qua cho thấy:
a Đối với giáo viên
Việc vận dụng các PPDH tích cực là điều rất cần thiết để nâng cao chất lượng giáo dục.Việc áp dụng câu hỏi, bài tập có hình vẽ thí nghiệm hóa học
đã được áp dụng một số nơi nhưng hiệu quả khi thực hiện chưa cao Đối với một số GV, rất ít sử dụng bài tập thực nghiệm có hình vẽ hóa học khi dạy học hóa học
Trong sách giáo khoa và sách bài tập, số lượng bài tập sử dụng hình vẽ
là quá ít, trong các sách tham khảo, các đề thi càng hiếm hơn nữa, nhất là bài tập về hình vẽ và đồ thị Nhiều giáo viên và HS rất hứng thú với mảng bài tập này, nhưng lại ngại dạy, ngại sưu tầm, ngại làm bài tập do không có thời gian
và cũng hiếm khi cho HS kiểm tra đánh giá
b Đối với học sinh
Thực trạng nhiều HS không hứng thú với môn hóa học vì đây là môn khó và không thấy được ứng dụng thực tế của môn học Tại trường THPT LÊ LỢI hơn 80 % (9/11 lớp trên mỗi khối học) không chọn môn hóa học để học
tự chọn hay để ôn và thi THPT quốc gia
Tuy nhiên khi điều tra vấn đề bài tập có hình vẽ thí nghiệm thì HS có hứng thú cao với PPDH mới và hầu hết các em đều cho rằng PPDH này phù hợp để ứng dụng vào môn Hóa học ở trường THPT
2.2.3 Nguyên nhân
Trang 12em thường mắc lỗi Ngoài ra cũng do trong các câu hỏi và bài tập ở các kì thi tốt nghiệp, cao đẳng và đại học còn chư nhiều chưa đa dạng về bài tập bằng hình vẽ nên các em thường ít quan tâm đến loại bài tập này
B BÀI TẬP THỰC NGHIỆM HÓA VÔ CƠ LỚP 10 CÓ SỬ DỤNG HÌNH
VẼ
1 Xây dựng bài tập hóa học thực nghiệm có hình vẽ chương 5: Nhóm
halogen
1.1 Mục tiêu và phương pháp dạy học của chương
Cấu trúc chương trình chương halogen chủ yếu nghiên cứu các đơn chất
và hợp chất holegen Mặt khác, số tiết luyện tập, ôn tập và thực hành cũng chiếm một lượng đáng kể nên có nhiều điều kiện để cung cấp cho HS các bài tập thực nghiệm thông qua hình vẽ nhằm củng cố kiến thức và rèn kĩ năng thực hành, đồng thời tăng tính sinh động của các dạng bài tập (thông thường bài tập cung cấp dưới dạng con số và chữ) từ đó làm tăng hứng thú học tập cho HS
Các kiến thức trong các chương này thuộc kiến thức về chất và các nguyên tố hóa học, được học sau khi nghiên cứu lí thuyết chủ đạo về nguyên
tử, cấu tạo nguyên tử và liên kết hóa học Như vậy việc HS được làm các thí nghiệm thực hành là rất quan trọng, song song với thực hành là làm các bài tập dưới dạng hình vẽ mô phỏng thí nghiệm
Để nghiên cứu các chất cần sử dụng phương pháp trực quan sinh động như làm thí nghiệm nghiên cứu hoặc thí nghiệm kiểm chứng, nhưng vì các đơn chất halogen rất độc nên khi làm thí nghiệm phải rất cẩn thận để không
bị ngộ độc khí clo Vì tính an toàn có thể thay thí nghiệm bằng video hoặc hình vẽ thí nghiệm để thay thế một số thí nghiệm thực tế
1.2 Hệ thống bài tập thực nghiệm có hình vẽ
1.2.1 Bài tập tự luận
Câu 1: Trong các hình vẽ mô tả cách thu khí clo sau, hình vẽ nào đúng?
Trang 1313
Hướng dẫn
Bài tập này học sinh dựa vào tính chất vật lí và hoá học của khí clo là:
- Nặng hơn không khí và không tác dụng với không khí
- Khả năng hòa tan, tác dụng với H2O
- Khí clo là một khí độc, phải dùng bông tẩm NaOH để tránh sự phân tán của Cl2
- Nặng hơn không khí, không tác dụng với không khí
- Tan nhiều trong nước
Trang 1414
Từ đó, học sinh thấy rằng phương pháp thu khí HCl trong phòng thí nghiệm
là phương pháp đẩy không khí, được mô tả bằng hình 2 và trong thí nghiệm này phải dùng bông tẩm dung dịch NaOH để xử lý khí HCl khi đầy ống nghiệm sẽ bay ra phòng thí nghiệm
- Với học sinh khá hơn còn phân tích được dựa vào hình vẽ (1) và (2) là: Hai khí này phải điều chế được bằng cách cho một chất lỏng (hoặc dung dịch) tác dụng với một chất rắn mà không cần đun nóng Điều này chỉ có Cl2 thoả mãn với phản ứng:
2KMnO4 + 16HClđặc → 2KCl + 2MnCl2 + 5Cl2↑ + 8H2O
Với bài tập này, giáo viên có thể khai thác thêm ở học sinh một số kiến thức khác như sau:
- Tại sao phải ghi chú là (1) và (2) là chất phản ứng:
Với học sinh nắm chắc kiến thức sẽ biết ngay nếu không có dữ kiện này thì O2 vẫn thoả mãn với dung dịch (1) là dung dịch H2O2 và chất rắn (2) là MnO2 làm chất xúc tác
- Tại sao lại có bình số (3)?
Bình số (3) là bình rửa khí, có tác dụng làm khô khí Cl2 Đến đây tùy điều kiện tiết dạy giáo viên có thể cung cấp thêm cho học sinh về cách làm khô các khí
Trang 1515
Như vậy, bài tập này không những dùng củng cố cho học sinh về một số
tính chất của O2, H2S, H2, Cl2 mà còn củng cố cho học sinh về cách thu khí,
cách rửa khí, cách nhận biết khí đầy,
Thông qua những ví dụ trên cho ta thấy việc giải bài tập hình vẽ sẽ rèn cho
học sinh cách suy luận, cách tái hiện các kiến thức về tính chất vật lí, tính chất
hóa học, của các chất Hơn thế nữa một bài tập hình vẽ có thể khai thác được
nhiều khía cạnh của các vấn đề hóa học và thông qua đó giúp học sinh khắc sâu
và nhớ lâu kiến thức hơn
Câu 4: Trong phòng thí nghiệm người ta thường tiến hành điều chế khí clo
tinh khiết theo hình vẽ sau: hãy giải thích tại sao lại phải mắc sơ đồ thí
nghiệm như thế?
Hướng dẫn
Qua sơ đồ thí nghiệm trên học sinh phải hiểu và ghi nhớ được khí clo
điều chế được có lẫn: khí HCl, hơi nước nên phải dẫn qua dung dịch NaCl để
hấp thụ HCl và H2SO4 đặc để hấp thụ hơi nước Khí clo nặng hơn không khí
và không tác dụng được với không khí nên có thể thu bằng cách đẩy không
khí, bông tẩm dung dịch NaOH đặc để hấp thụ khí clo dư nhằm hạn chế clo
thoát ra ngoài không khí vì clo là một khí độc
Ngoài cách hỏi như trên thì chúng ta còn có thể đưa bài tập này trở thành
dạng bài tập trắc nghiệm nhiều lựa chọn với việc sắp xếp thứ tự của các hóa
chất sao cho phù hợp với việc điều chế ra khí clo Tùy vào từng mức độ của
học sinh mà có thể đưa ra nhiều dạng câu hỏi có độ khó dễ khác nhau
Câu 5:Một học sinh lắp dụng cụ điều chế khí clo như hình vẽ
a.Cho biết tác dụng của các bình A, B, C, D, E?
b.Hãy phân tích những chổ chưa hợp lý trong sơ đồ trên ?Giải thích và vẽ hình lắp lại dụng cụ thí nghiệm
Trang 16-Bình E để loại clo dư
b.Từ tính năng của các bình trên , cho thấy học sinh trên lắp dụng cụ chưa hợp lý : Ống dẫn khí từ bình A phải cắm sâu vào bình B để HCl dể dàng phản ứng với
thuốc tím
HCl
Trang 1717
Ống thứ hai trong bình B phải lắp ngắn hơn và không được chạm vào dung dịch KMnO4 để khí clo dễ đi sang bình C
Tương tự bình C ống dẫn khí bên trái phải chạm sâu vào H2SO4 để loại hơi nước
và ống bên phải phải lắp ngắn hơn (không chạm vào H2SO4) để khí clo sang được bình D
Ống dẫn khí bên trái của bình D cần phải thiết kế dài hơn ống bên phải vì ống bên phải chỉ có nhiệm vụ xử lý khí clo dư khi bình C đã thu đầy khí
-Dụng cụ cần được lắp lại như sau:
NaCl H2SO4(đ) Khí Cl2 NaOH(l)
B C D E
Câu 6: Phân tích chỗ sai trong sơ đồ hình vẽ
điều chế khí clo trong phòng thí nghiệm
Hướng dẫn
Bài tập này yêu cầu học sinh nắm được : Hình
vẽ bên mô tả cách điều chế và thu trực tiếp khí
clo bằng phương pháp đẩy không khí, nên bình
thu khí không đậy nút kín để không khí trong
bình bị đẩy ra ngoài Sai ở nút B
Câu 7: Cho các thao tác thí nghiệm khi tiến hành thí nghiệm điều chế clo và
thử tính tẩy màu của clo ẩm
(1) Lấy kẹp gỗ (hoặc giá gỗ) kẹp ống nghiệm
(2) Đậy miệng ống nghiệm bằng nút cao su có kèm ống hút nhỏ giọt dung
dịch HCl đặc vào ống nghiệm đựng KMnO4
Trang 1818
(3) Lấy 1 lượng nhỏ KMnO4 cho vào ống nghiệm
(4) Kẹp 1 mảnh giấy màu ẩm, 1 mảnh giấy màu ở miệng ống nghiệm
(5) Bóp nhẹ đầu cao su của ống hút cho 3 - 4 giọt dung dịch HCl đặc vào KMnO4 Thứ tự sắp xếp các thao tác hợp lý là
+ Trong thí nghiệm chúng ta có thể để bước (4) là bước cuối cùng nhưng chúng
ta sẽ không nên làm như thế bởi khí clo là một khí độc gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe của người làm thí nghiệm
+ Ngoài ra, trong thí nghiệm này chúng ta có thể đảo thứ tự của bước (3) và (4) cho nhau Nhưng chú ý khi làm cần tránh để tinh thể KMnO4 bám vào giấy màu ẩm
Qua các bài tập trên chúng ta thấy, các bài tập về hình vẽ có tác dụng rất lớn trong việc hình thành và củng cố các kiến thức và kỹ năng thực hành hóa học, nó giúp học sinh hiểu rõ bản chất của các thao tác thí nghiệm Việc sử dụng bài tập hình vẽ sẽ cho học sinh một cách nhìn các tri thức khoa học trực quan hơn, kích thích được tính tò mò và sự hứng thú của học sinh trong việc giải các bài tập hóa học và từ đó giúp học sinh khắc sâu, nhớ lâu kiến thức,
Trang 1919
rèn được kỹ năng thực hành, kỹ năng tư duy suy luận, kỹ năng vận dụng tri thức vào thực tế đời sống sản xuất
Câu 8: Thí nghiệm so sánh hoạt động hoá học giữa clo, brom, iot
Bóp mạnh quả bóp cao su của ống nghiệm chứa dung dịch HCl đặc vào dung dịch KMnO Hơ nhẹ ngọn lửa đèn cồn chỗ có miếng bông tẩm dung dịch KI 4
Nêu hiện tượng xảy ra trong ống hình trụ và trong ống nghiệm chứa dung dịch hồ tinh bột Nhận xét và rút ra kết luận và cho biết vai trò của dung dịch NaOH đặc
Hướng dẫn
Sau một thời gian ngắn, ở đoạn thứ nhất của ống hình trụ xuất hiện màu vàng lục của khí clo, đoạn thứ hai có màu nâu của brom, đoạn thứ ba có màu tím của iot Dung dịch trong ống nghiệm 2 xuất hiện màu xanh do iot đã làm xanh hồ tinh bột
- Dùng dung dịch hồ tinh bột loãng
- Dung dịch NaOH đặc chứa trong cốc thủy tinh dùng hoà tan lượng halogen còn dư để tránh độc hại cho giáo viên và học sinh
1.2.2 Bài tập trắc nghiệm
Trang 20A dung dịch NaOH và dung dịch H2SO4 đặc
B dung dịch H2SO4 đặc và dung dịch NaCl
C dung dịch H2SO4 đặc và dung dịch AgNO3
D dung dịch NaCl và dung dịch H2SO4 đặc
Câu 3: Hình bên mô tả thí nghiệm điều chế Cl2 trong phòng thí nghiệm
Trang 2121
Câu 4: Cho hình vẽ mô tả thí nghiệm điều chế clo trong phòng thí nghiệm như sau:
Hóa chất được dung trong bình cầu (1) là:
A MnO2 B KMnO4 C KClO3 D.Cả 3 hóa chất trên đều được Câu 5: Cho Hình vẽ mô tả sự điều chế Clo trong phòng Thí nghiệm như sau
Vai trò của dung dịch NaCl là:
A.Hòa tan khí Clo B.Giữ lại khí hidroClorua
C.Giữ lại hơi nước D.Cả 3 đáp án trên đều đúng
Câu 6:Cho Hình vẽ mô tả sự điều chế Clo trong phòng Thí nghiệm như hình (ở câu 5) Vai trò của dung dịch H2SO4 đặc là:
A.Giữ lại khí Clo B.Giữ lại khí HCl
C.Giữ lại hơi nước D.Không có vai trò gì
Câu 7: Cho Hình vẽ mô tả sự điều chế Clo trong phòng Thí nghiệm như hình (ở câu 5) Phát biểu nào sau đây không đúng: Phát biểu nào sau đây không đúng:
Dd HCl đặc
Eclen sạch để thu khí Clo
Trang 2222
A.Dung dịch H2SO4 đặc có vai trò hút nước, có thể thay H2SO4 bằng CaO
B.Khí Clo thu được trong bình eclen là khí Clo khô
C.Có thể thay MnO2 bằng KMnO4 hoặc KClO3
D.Không thể thay dung dịch HCl bằng dung dịch NaCl
Câu 8: Cho Hình vẽ mô tả sự điều chế Clo trong phòng Thí nghiệm như hình (ở câu 5): Khí Clo thu được trong bình eclen là:
A.Khí clo khô B Khí clo có lẫn H2O
C.Khí clo có lẫn khí HCl D.Cả B và C đều đúng
Câu 9 : Cho thí nghiệm về tính tan của khi HCl như hình vẽ Trong bình ban đầu chứa khí HCl, trong nước có nhỏ thêm vài giọt quỳ tím Hiện tượng xảy
ra trong bình khi cắm ống thủy tinh vào nước:
A Nước phun vào bình và chuyển sang màu đỏ
B Nước phun vào bình và chuyển sang màu xanh
C Nước phun vào bình và vẫn có màu tím
D Nước phun vào bình và chuyển thành không màu
Câu 10: Khí hidro clorua là chất khí tan rất nhiều trong nước tạo thành dung dịch axit clohdric.Trong thí nghiệm thử tính tan của khí hidroclorua trong
nước, có hiện tượng nước phun mạnh vào bình chứa khí như hình vẽ mô tả
dưới đây Nguyên nhân gây nên hiện tượng đó là:
A.Do khí HCl tác dụng với nước kéo nước vào bình
B.Do HCl tan mạnh làm giảm áp suất trong bình
C.Do trong bình chứa khí HCl ban đầu không có nước
D.Tất cả các nguyên nhân trên đều đúng
Câu 11: Cho hình vẽ mô tả quá trình điều chế dung dịch HCl trong phòng thí nghiệm Phát biểu nào sau đây là không đúng:
A.NaCl dùng ở trạng thái rắn
B.H2SO4 phải đặc
Trang 2323
C.Phản ứng xảy ra ở nhiệt độ phòng
D.Khí HCl thoát ra hòa tan vào nước cất tạo thành dung dịch axit Clohidric
Câu 12: Cho hình vẽ mô tả quá trình điều chế dung dịch HCl trong phòng thí
nghiệm như hình ở (câu 11):
Phải dùng NaCl rắn, H2SO4 đặc và phải đun nóng vì:
A.Khí HCl tạo ra có khả năng tan trong nước rất mạnh
B.Đun nóng để khí HCl thoát ra khỏi dung dịch
C.Để phản ứng xảy ra dễ dàng hơn
D.Cả 3 đáp án trên
Câu 13:Hình vẽ dưới đây mô tả thí nghiệm điều chế khí hiđro halogenua:
Hai hiđro halogenua (HX) có thể điều chế theo sơ đồ trên là
A HBr và HI B HCl và HBr C HF và HCl D HF và HI
Câu 14: Cho thí nghiệm sau:
Hiện tượng xảy ra trong thí nghiệm bên là:
A.Có khí màu vàng sinh ra, đồng thời có kết tủa
NaCl + H 2 SO 4
dd HCl đặc
Trang 24H2O khí
Trong điều kiện thích hợp, dung dịch X có thể phản ứng được với mấy chất trong số các chất sau : Na2CO3, Fe3O4, NaHCO3, K2O, Cu, Al, Al(OH)3, dung dịch AgNO3, dung dịch Pb(NO3)2 ?
Trang 252 Cho môt ít H2O vào bình chứa khí clo
3 đưa dòng khí H2 đang cháy vào bình khí clo
4 Thu khí clo vào bình kín và điều chế khí H2 bằng bình kíp
5 Lắc đều bình khí sau phản ứng, cho một mẫu quỳ tím vào để xác định sản phẩm tạo thành
A 1, 2, 3, 4, ,5 B 2, 3, 4, 5, 1 C 4, 2, 1, 3, 5 D 4, 2 ,1 ,5 ,3 Câu 19: Cho biết bộ thí nghiệm điều chế Clo trong phòng thí nghiệm:
Hãy cho biết hóa chất đựng trong mỗi bình tương ứng lần lượt là:
Trang 2626
2 Xây dựng bài tập hóa học thực nghiệm có hình vẽ chương 6: Oxi-lưu huỳnh
2.1 Mục tiêu và phương pháp dạy học của chương
Chương oxi –lưu huỳnh có tổng số tiết học là 15 tiết trong đó có 3 tiết luyện tập ôn tập
và 2 tiết thực hành ( gồm cả tự chọn) Chương này chủ yếu nguyên cứu về đơn chất oxi, lưu huỳnh và hợp chất của lưu huỳnh
Mục tiêu của các chương này là HS vận dụng lý thuyết chủ đạo đã được học ở kì I để
dự đoán tính chất sau đó dùng thí nghiệm, phương trình hóa học để kiểm nghiệm lại lý thuyết
Cần áp dụng lý thuyết và thực nghiệm, vì nhiều hóa chất ở trạng thái khí có tính chất độc hại ( như H2S SO2 ) nên khi làm thí nghiệm cần cẩn thận , khi học tập cần áp dụng bài tập có hình vẽ thí nghiệm để thay thế một số thí nghiệm thực tế
2.2 Hệ thống bài tập thực nghiệm có hình vẽ
2.2.1 Bài tập tự luận
nghiệm , các ống được lắp như 3 hình vẽ sau:
Hình 1 hình 2 hình 3
a.Viết phương trình phản ứng nhiệt phân thuốc tím
b.Hãy cho biết cách lắp ống nghiệm như hình vẽ nào là đúng nhất? Giải thích ?
Phân tích:
- Bài tập này nhằm tăng cường khả năng quan sát để phát hiện ra điểm sai Bên cạnh đó
để trả lời đúng và đầy đủ học sinh phải dựa vào kiến thức mấu chốt là oxi là một khí nặng hơn không khí , cách lắp đã phù hợp chưa có tai nạn gì xảy ra không ? Có gì bất lợi cho dụng cụ thí nghiệm
Trước khi giải các bài toán này, giáo viên cần kiểm tra học sinh một số kỹ năng như: