1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vận dụng kiến thức thực tiễn vào hoạt động khởi động tạo hứng thú cho học sinh học tập tốt một số bài ở chương trình hóa học trung học phổ thông

47 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 2,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VẬN DỤNG KIẾN THỨC THỰC TIỄN VÀO HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH HỌC TẬP TỐT MỘT SỐ BÀI Ở CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG PHẦN I.. Như chúng ta đã biết trong chươn

Trang 1

VẬN DỤNG KIẾN THỨC THỰC TIỄN VÀO HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG TẠO HỨNG THÚ CHO HỌC SINH HỌC TẬP TỐT MỘT SỐ BÀI Ở CHƯƠNG TRÌNH HÓA HỌC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ

1 Lý do chọ đề tài

Hóa học là ngành khoa học thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, nghiên cứu về thànhphần cấu trúc, tính chất và sự biến đổi của các đơn chất và hợp chất Hóa học kếthợp chặt chẽ giữa lí thuyết và thực nghiệm, là cầu nối các ngành khoa học tự nhiênkhác như vật lí, sinh học, y dược và địa chất học Những tiến bộ trong lĩnh vực hóahọc gắn liền với sự phát triển của những phát hiện mới trong các lĩnh vực của cácngành sinh học, y học và vật lí Hóa học đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống,sản xuất, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội Những thành tựu của hóa họcđược ứng dụng vào các ngành vật liệu, năng lượng, y dược, công nghệ sinh học,nông - lâm - ngư nghiệp và nhiều lĩnh vực khác

Như chúng ta đã biết trong chương trình GDPT 2018 thì chương trình môn Hoáhọc đề cao tính thực tiễn; tránh khuynh hướng thiên về tính toán; chú trọng trang bịcác khái niệm công cụ và phương pháp sử dụng công cụ, đặc biệt là giúp học sinh

có kĩ năng thực hành thí nghiệm, kĩ năng vận dụng các tri thức hóa học vào việctìm hiểu và giải quyết ở mức độ nhất định một số vấn đề của thực tiễn, đáp ứngđược yêu cầu của cuộc sống

Về kiến thức thực tiễn thì trong quá trình dạy học có thể chúng ta đã đưa vào bàidạy, nhưng để tạo hứng thú học tập cho học sinh từ kiến thức này thì có lẽ chưanhiều Đặc biệt đối với trường THPT miền núi như chúng tôi, xu thế học sinh theohọc chủ yếu là ban KHXH Việc dạy học môn Hóa học rất vất vả vì phần lớn họcsinh không lựa chọn khối thi có môn hóa, do đó các em không chú trọng tìm hiểuhay có hứng thú với môn học Mặt khác, một số giáo viên lên lớp còn mang nặngkiến thức, chưa đổi mới phương pháp dạy học, chưa quan tâm đến hoạt động khởiđộng nên chưa thu hút được học sinh vào hoạt động học.Vậy nên tôi nghĩ để hoạtđộng dạy học có hiệu quả thì phải tạo được sự hứng thú trong học tập cho các emngay từ đầu tiết học Xuất phát từ những lý do đó nên tôi chọn và nghiên cứu đề

tài: "Vận dụng kiến thức thực tiễn vào hoạt động khởi động tạo hứng thú cho học sinh học tập tốt một số bài ở chương trình Hóa học Trung học phổ thông"

2 Mục đích nghiên cứu

- Qua phương pháp này học sinh cảm thấy rất hứng thú và thích học tập môn hóahọc

- Biết vận dụng kiến thức hóa học để giải thích hiện tượng thực tiễn trong đời sống

- Hình thành cho học sinh phát huy tích cực chủ động, sáng tạo

- Hình thành giáo án theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, phải

Trang 2

tính hợp lý và hài hòa, nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, vẫn đảm nhiệm được mục đíchhọc

môn Hóa học

3 Đối tượng nghiên cứu

Trước hết đề tài sẽ áp dụng học sinh trường THPT Con Cuông - Nghệ An, nhữnghọc sinh theo học ban KHTN mà chưa say mê; những học sinh theo học banKHXH mà còn chán nản

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp hoạt động nhóm, thảo luận cặp

5 Tính mới của đề tài

- SKKN "Vận dụng kiến thức thực tiễn vào Hoạt động khởi động tạo hứng thú cho học sinh học tập tốt một số bài ở chương trình Hóa Học THPT" góp phần

đổi mới PPDH, đổi mới kiểm tra đánh giá, tiếp cận chương trình GDPT mới

- Học sinh được học tập theo hướng “trải nghiệm sáng tạo”, “ học đi đôi với hành”,vận dụng kiến thức hóa học để giải thích các hiện tượng thực tiễn

PHẦN II NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1 Cơ sở lí luận

Chương trình giáo dục phổ thông 2018 thì chương trình môn Hóa học đề caotính thực tiễn; tránh khuynh hướng thiên về tính toán; chú trọng trang bị các kháiniệm công cụ và phương pháp sử dụng công cụ, đặc biệt là giúp học sinh có kĩnăng thực hành thí nghiệm, kĩ năng vận dụng các tri thức hóa học vào việc tìm hiểu

và giải quyết ở mức độ nhất định một số vấn đề của thực tiễn, đáp ứng được yêucầu của cuộc sống Vậy để vận dụng kiến thức thực tiễn vào hoạt động khởi độngthì phải hiểu được:

1.2 Vai trò của hoạt động khởi động?

Trang 3

Hoạt động khởi động đóng vai trò quan trọng trong giờ học Nó là hoạt động khởiđầu nên có tác động đến cảm xúc, trí tuệ của người học trong toàn tiết học Nếu tổchức tốt hoạt động này sẽ tạo ra một tâm lý hưng phấn, tự nhiên để lôi kéo học sinhvào giờ học Vì thế người học sẽ không còn cảm giác mệt mỏi, nhàm chán, nặng

nề, lo lắng như khi giáo viên kiểm tra bài cũ Các em sẽ được thoải mái tham giavào hoạt động học tập mà không hề hay biết Giờ học cũng bớt sự căng thẳng khôkhan

Một tiết học được coi là một hoạt động tổng thể diễn ra trong thời gian 45 phút đốivới bậc THPT Trong đó bao gồm các hoạt động của Thầy và hoạt động của Tròmột cách nhịp nhàng để hình thành được kiến thức – kỹ năng và các năng lực cầnthiết Trước thực trạng đổi mới căn bản, toàn diện của ngành giáo dục, người giáoviên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giảng dạy cần có sự đổi mới trong phươngpháp tổ chức hoạt động để kích thích sự sáng tạo, khơi dậy nhu cầu khám phá, tìmhiểu kiến thức của các em học sinh Sự đổi mới đó không phải chỉ thể hiện trongđổi mới phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác kiến thức bài học mà còn thểhiện qua hoạt động khởi động để các em có được điểm xuất phát tốt nhất trước khitìm hiểu kiến thức mới

2 Cơ sở thực tiễn

Việc dạy học ở một trường THPT thuộc một huyện nghèo miền núi như chúngtôi rất vất vả, đặc biệt là bộ môn Hóa học, các em rất không hứng thú để học, cònchán nản và chưa xác định được học để làm gì

Vì vậy trong SKKN này, tôi đề xuất tiến trình dạy học về hoạt động đầu tiêntrong 5 hoạt động của giáo án theo định hướng phát triển năng lực của học sinh

Cụ thể là vận dụng kiến thức thực tiễn vào hoạt động khởi động bằng các hình thứcnhư hình ảnh thực tế, trò chơi, thuyết trình, các câu tục ngữ ca dao… vào một sốbài có liên quan đến kiến thức thực tiễn như: Este - chất béo; Amin - Aminoaxit-Peptit; Ăn mòn kim loại; Nước cứng; Phân bón hóa học; để tạo hứng thú chohọc sinh học tập tốt hơn

3 Thực trạng của vấn đề

3.1 Thực trạng dạy học môn hóa học tại trường THPT Con Cuông.

Về phía giáo viên: Trước những định hướng đổi mới về dạy học phát huy tính tíchcực và sáng tạo của học sinh; cơ bản giáo viên trường THPT Con Cuông nói chung

và giáo viên bộ môn Hóa học nói riêng đã có tinh thần đổi mới phương pháp dạyhọc theo hướng lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích cực của các em Tuynhiên sự quan tâm đổi mới chưa nhiều, chưa thực sự đi vào chiều sâu; đôi khi cònqua loa, hình thức Việc thực hiện tiết dạy của giáo viên vẫn còn theo hình thức cũ:nặng về lý thuyết, thiếu đi tính hấp dẫn, lôi cuốn học sinh ngay từ hoạt động vàobài; giáo viên còn xem nhẹ việc dẫn dắt vào bài mà chủ yếu dành thời gian cho

Trang 4

việc tìm hiểu kiến thức mới dẫn đến tiết học khô khan, học sinh thụ động trongviệc tiếp thu kiến thức Hoạt động dạy học thực sự thu hút được sự chú ý, kíchthích được sự tò mò tìm hiểu của học sinh phải xuất phát ngay từ đầu tiết học đểtạo nên hứng thú học tập cho học sinh trong suốt quá trình diễn ra tiết học Tuynhiên trên thực tế, cá nhân tôi (ở các năm học trước) và hầu hết giáo viên khi thiết

kế kế hoạch dạy học thường chỉ làm theo hình thức giới thiệu qua một chút để vàobài, như vậy sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian dành cho hoạt động khai thác kiếnthức mới, không lo lắng nhiều về vấn đề thiếu thời gian, cháy giáo án… do đó tiếthọc tương đối khô khan, thiên về lý thuyết và giảng giải mà thiếu đi sự hợp tác tíchcực của học sinh; ngay từ bước vào bài học sinh đã có tâm lý thụ động chờ giáoviên dẫn dắt nội dung và truyền thụ một chiều, từ đó sẽ khó tạo tâm lý để các emsẵn sàng thực hiện nhiệm vụ một cách tích cực ở các hoạt động tiếp theo của bàihọc

Về phía học sinh: Trong những năm gần đây, hầu hết các em học sinh miền núichúng tôi thường chọn xét tuyển tổ hợp các môn KHXH để học và thi THPT QuốcGia; chính vì vậy lượng học sinh quan tâm học tổ hợp các môn KHTN (trong đó cómôn Hóa học) không nhiều Cụ thể học sinh chọn theo học ban KHTN năm học

2020 - 2021: Khối 12 - 51/401; Khối 11 - 42/419; Khối 10 – 49/444 Tâm lý các

em coi đây là môn phụ, ít dành sự quan tâm đến việc học Hóa học cả trên lớp cũngnhư ở nhà Mặt khác, ở chương trình THCS các em không được học nhiều về Hóahọc nên hổng kiến thức, lên bậc THPT các em chán và bỏ bê luôn

3.2 Thực trạng tổ chức hoạt động Khởi động trong giờ học môn Hóa học ở trường THPT Con Cuông

3.2.1 Khảo sát GVBM

+ Mục đích của khảo sát:

- Khảo sát việc tổ chức hoạt động khởi động của giáo viên trong quá trình dạy học

- Đánh giá mức độ, khả năng tổ chức hoạt động khởi động của giáo viên thông quacác tình huống gắn với thực tiễn trong dạy học hóa học ở THPT

+ Đối tượng khảo sát:

Tiến hành thăm dò ý kiến của 06 giáo viên Hóa Học trường THPT Con Cuông (04GV) và Trường THPT Mường Quạ (02 GV), tỉnh Nghệ An trong năm học

Trang 5

Có 05 83,33

2 Nguồn gốc tiến hành hoạt động khởi động 06 100

Từ nội dung liên quan đến tên bài học 1 16,7

6 Mức độ thu hút HS vào hoạt động khởi

Trang 6

Hiệu quả cao 0 0

Nhận xét: Qua kết quả khảo sát giáo viên bộ môn Hóa học Trường THPT Con

Cuông và Trường THPT Mường Quạ cho thấy hầu hết GV đều có tổ chức hoạtđộng khởi động trước khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu bài mới; hình thức thường

là giáo viên dẫn dắt trực tiếp vào bài; kiểm tra bài cũ; học sinh lắng nghe, khôngtham gia trực tiếp vào hoạt động khởi động Như vậy với hình thức dẫn nhập vàobài mà học sinh thụ động hoàn toàn chờ giáo viên định hướng thì chưa thể hiện rõ

sự đổi mới; thông qua đánh giá của giáo viên thì với hình thức khởi động hiện nay,lượng học sinh tích cực lắng nghe giáo viên định hướng cũng không nhiều Haynói cách khác, với hình thức khởi động như trên thì người thầy đang là trung tâm,thầy khởi động còn trò là người nghe và quan sát, chưa thực sự được khởi độngtrước khi tiến hành công việc là khai thác kiến thức mới Nên ngay khi vào bài đãchưa có được sự lôi cuốn, hấp dẫn thu hút học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức,dẫn đến khả năng học sinh học thụ động, không tích cực trong việc tìm hiểu vànắm kiến thức mới

Nguyên nhân: Một số giáo viên chưa chủ động trong việc học hỏi, tiếp thu phươngpháp và kỹ năng dạy học tích cực để vận dụng trong quá trình dạy học Tâm lýgiáo viên còn nặng về truyền thụ kiến thức bài học mới, còn sợ dành nhiều thờigian cho hoạt động khởi động có thể bị “cháy giáo án” hoặc không đủ thời giandành cho việc khai thác kiến thức mới Việc ứng dụng công nghệ thông tin củagiáo viên trong một số tình huống chưa tốt nên còn ngại trong việc đổi mới phươngpháp dạy học và thiết kế giáo án theo hướng phát huy tính tích cực của học sinhtrong hoạt động khởi động

Trang 7

2 Em có học bài và chuẩn bị bài trước khi

4 Hoạt động khởi động có giúp em định

hướng được kiến thức mới cần tìm hiểu

5 Khi hoạt động khởi động đặt ra, em có

chủ động tìm hiểu kiến thức để giải quyết

6 Nếu hoạt động khởi động tạo cho em sự

hứng thú, em có muốn tìm hiểu bài học để

giải quyết vấn đề không?

Trang 8

Có 513 62,56

Nhận xét: Qua khảo sát cho thấy nhiều học sinh có nhu cầu có được tiết học sinh

động, hấp dẫn để kích thích tư duy của các em chủ động khám phá kiến thức mới.Tuy nhiên số lượng học sinh yêu thích bộ môn Hóa học còn ít, các em lại ít có sựchuẩn bị bài trước ở nhà Một mặt do các em theo học ban KHTN còn ít, mặt khácgiáo viên thực hiện truyền thụ một chiều như vậy dễ gây nhàm chán và chưa đápứng được nhu cầu tìm tòi, khám phá của học sinh Từ đó chưa phát huy hết tínhtích cực, chủ động cũng như sự sáng tạo của các em trong học tập bộ môn Chính

vì vậy giáo viên cần quan tâm đến hoạt động khởi động, đa dạng hóa hoạt độngkhởi động nhiều hơn trong quá trình dạy học

Nguyên nhân: Nhiều học sinh có tâm lý học lệch, thiên về môn KHXH nên ở cácmôn KHTN còn lại chưa có sự đầu tư, chưa quan tâm, chuẩn bị bài chưa chu đáo,dẫn đến tiết học còn thụ động Áp lực học tập từ nhiều bộ môn khác nhau trongcùng một buổi học nên khả năng tập trung tư duy, tích cực và sáng tạo dành chomôn Hóa học còn ít Tâm lý sợ không có nội dung để về nhà học nên nhiều họcsinh trong giờ học chưa thực sự tích cực và chủ động dành thời gian tìm hiểu, khaithác kiến thức mà còn nặng về việc ghi chép nội dung bài học

4 Giải pháp

4.1 Xây dựng nội dung thực tiễn có liên quan đến các bài học.

+ Giáo viên bám sát vào mục tiêu bài học để sưu tầm, chọn lọc nội dung thực tiễn sát với bài học áp dụng Nội dung càng gần với thực tiễn thì sẽ càng tạo được hứngthú học tập của học sinh

+ Thiết lập hệ thống hình ảnh thực tế; trò chơi; câu hỏi; các câu tục ngữ ca dao cần nghiên cứu

+ Hướng dẫn học sinh quan sát; suy nghĩ trả lời câu hỏi

+ Giáo viên phân tích từ kiến thức thực tiễn đó tạo tình huống để vào bài mới

4.2 Thiết kế nội dung câu hỏi, hình ảnh thực tế từ nội dung thực tiễn phù hợp với mỗi bài học trong chương trình hoá học THPT và đưa vào Hoạt động khởi động.

4.2.1 Áp dụng đề tài vào một số bài cụ thể

* Bài “Phân bón hóa học” lớp 11

Liên hệ thực tế qua bài dạy “Phân bón hóa học” của lớp 11

Bài “Phân bón hoá học” được trình bày trong chương trình sách giáo khoa Hoá họclớp 11(chương trình cơ bản) còn ít đề cập phần kiến thức thực tiễn Căn cứ vàomục đích của đổi mới cách dạy và học môn Hoá học trong chương trình phổ thông

Trang 9

cũng như liên hệ với thực tế địa phương và muốn truyền tải đến học sinh nhữngkiến thức thực tiễn để học sinh vận dụng vào đời sống, bảo vệ sức khoẻ bản thân,gia đình và bảo vệ môi trường sống khi các em trưởng thành Muốn vậy học sinhphải thích học, ham học, nắm được kiến thức thì mới biết cách vận dụng.

Thực tế cuộc sống thì việc sử dụng phân bón hóa học không đúng hàm lượng, mụcđích đã gây ra những búc xúc, lo ngại của cộng đồng với sức khỏe con người và môi trường sống

Vậy để đạt được mục đích đó, ở bài này tôi xin thiết kế hoạt động khởi động bằngcác hình ảnh thực tế và một số câu hỏi tạo tình huống đề vào bài

Tiết 19 BÀI 12 PHÂN BÓN HÓA HỌC

A MỤC TIÊU:

1 Kiến thức

Trình bày được:

- Khái niệm phân bón hóa học và phân loại

- Tính chất, ứng dụng, điều chế phân đạm, lân, kali, NPK và vi lượng

Trọng tâm

- Biết thành phần hóa học của các loại phân đạm, phân lân, phân kali, phân phứchợp, tác dụng với cây trồng và cách điều chế các loại phân này

2 Kĩ năng

- Quan sát mẫu vật, hình ảnh nhận biết một số phân bón hóa học

- Sử dụng an toàn, hiệu quả một số phân bón hoá học

- Tính khối lượng phân bón cần thiết để cung cấp một lượng nguyên tố dinhdưỡng

3 Thái độ

Rèn luyện tính cẩn thận, lòng yêu thích môn Hóa học và phương pháp học tập cóhiệu quả

4 Định hướng năng lực cần hình thành

- Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua môn hóa học

- Năng lực vận dụng kiến thức vào cuộc sống

- Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học

- Năng lực tính toán hóa học

5 Tích hợp bảo vệ môi trường

Trang 10

+ Giúp học sinh biết được phân bón hóa học và vấn đề ô nhiễm môi trường nước,bạc màu đất và vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm.

+ Có ý thức sử dụng hợp lý, an toàn phân bón hóa học, giảm ô nhiễm môi trườngnước và đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm

- Các hình ảnh, câu hỏi liên quan đến kiến thức thực tiễn

Hoạt động 1 ( 10 phút) : Hoạt động khởi động

Mục tiêu: Tạo hứng thú và kích thích sự tò mò của học sinh vào hoạt động học.

Khơi dậy nguồn đam mê học môn hóa học của học sinh

Học sinh tiếp nhận kiến thức chủ động, tích cực, hiệu quả

Tổ chức hoạt động:

GV chiếu 1 số hình ảnh cây trồng được bón phân đầy đủ và thiếu phân bón

HS nhìn vào hình ảnh so sánh từng cặp một, nhận xét: Tại sao có sự khác nhau giữa hai ruộng lúa, luống rau khoai lang, ruộng ngô?

Vậy nhìn vào những hình ảnh đó ta thấy: phân bón nó ảnh hưởng rất lớn

đến sự phát triển và năng suất cây trồng Ngoài ra trong đời sống các em

thấy người ta có thể bón tro, tưới nước giải cho cây trồng, cây xanh tốt; Có

thể trộn phân đạm và vôi để bón cho cây không? Tại sao trời rét đậm không

nên bón phân đạm? Để giải quyết được những vấn đề đó, chúng ta cùng

nhau nghiêu cứu bài “Phân bón hóa học”

Trang 11

Sản phẩm học sinh cần đạt: Nhận xét so sánh được các hình ảnh để thấy: cây

trồng được bón phân đầy đủ thì sẽ xanh, tốt, cho năng suất cao Ngược lại, nếu

Trang 12

thiếu dinh dưỡng cây phát triển kém, cằn và năng suất rất thấp.

Hình thức đánh giá: học sinh chủ động lắng nghe quan sát và hứng thú với kiến

thức mới

Hoạt động 2: (15 phút): Hoạt động hình thành kiến thức

Mục tiêu: Trình bày được:

- Khái niệm phân bón hóa học và phân loại

- Tính chất, ứng dụng, điều chế phân đạm, lân, kali, phân hỗn hợp và phức hợp,

Đạm ure

* Báo cáo kết quả học tập

- Nhóm 1: Nghiên cứu về phân đạm

Đạm amoni

Đạm nitrat

Đạm ure

Thànhphần

Điều chế

NH3 + H+ Muối

cacbonat+ HNO3

CO2 + NH3

Sử dụng

Trang 13

Ca(H 2 PO 4 ) 2

và CaSO 4

Ca(H 2 PO 4 ) 2 12-14% P 2 O 5

PP sản xuất

2H 2 SO 4 +

Ca 3 (PO 4 ) 2  Ca(H 2 PO 4 ) 2

+ CaSO 4

4H 3 PO 4 +

Ca 3 (PO 4 ) 2  3Ca(H 2 PO 4 ) 2

4H 3 PO 4 +

Ca 3 (PO 4 ) 2  3Ca(H 2 PO 4 ) 2

Hàm lượng P2O5

- Nhóm 3: Nghiên cứu tìm hiểu phân kali

Phân KaliThành

phần

Cung cấp kali dưới dạng ion K+

Tác dụng - Tăng cường tạo ra đường, bột,

xơ, dầu  tăng khả năng chốngrét, chống bệnh và chịu hạn chocây

- Đánh giá theo tỉ lệ % khối lượng K2O

- Nhóm 4: Phân hỗn hợp và phân phức hợp

Phân hỗn hợp

Phân phức hợp

Thành phần

- Phân hỗnhợp: N,K,P

Amophot:

NH4H2PO4 và (NH4)2HPO4Điều chế

Trang 14

- quan sát, phát hiện kịp thời

những khó khăn của học sinh

và hỗ trợ cho học sinh, không

có học sinh bị bỏ quên

- Gọi đại diện nhóm lên trình

bày kết quả

- Nhóm 5: Nghiên cứu phân vi lượngThành phần - Cung cấp các nguyên tố: Bo,

Mg, Zn, Cu, Mo… ở dạng hợpchất

Sử dụng - Cây trồng chỉ cần 1 lượng

nhỏ nên các nguyên tố trên đóng vai trò là vitamin cho thực vật

Sản phẩm học sinh cần đạt: Tính chất, ứng dụng, điều chế phân đạm, lân, kali,

phân hỗn hợp và phức hợp, vi lượng

Hình thức đánh giá: Nhận xét về quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập của học

sinh; phân tích, nhận xét, đánh giá kết quả; chốt kiến thức

Hoạt động 3: (7 phút) Hoạt động luyện tập

Mục tiêu:

+ Rèn luyện kĩ năng trả lời câu hỏi trắc nghiệm.

+ Phát triển năng lực tính toán hóa học

Tổ chức hoạt động:

Yêu cầu hs quan sát, trả lời câu hỏi

Câu 1: Thành phần của supephotphat

Trang 15

A phân đạm B phân lân.

C phân kali D phân vi lượng.

Câu 4: Trong các loại phân bón sau:

Câu 5: Các nhận xét sau:

a Phân đạm amoni không nên bón cho

loại đất chua

b Độ dinh dưỡng của phân lân được

đánh giá bằng phần trăm khối lượng

photpho

c.Thành phần chính của supephotphat

kép là Ca(H2PO4)2.CaSO4

d Người ta dùng loại phân bón chứa

nguyên tố kali để tăng cường sức chống

bệnh, chống rét và chịu hạn cho cây

e Tro thực vật cũng là một loại phân

kali vì có chứa K2CO3

g Amophot là một loại phân bón phức

Sản phẩm học sinh cần đạt:

Vận dụng kiến thức mới để giải quyết bài tập.

Hình thức đánh giá: Nhận xét về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập của HS

Trang 16

thông qua mức độ hoàn thành yêu cầu nhiệm vụ học tập; phân tích, nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện và những ý kiến thảo luận của HS rồi chốt kiến thức.

Hoạt động 4: (10 phút) Hoạt động vận dụng

Mục tiêu:

+ Rèn luyện kĩ năng áp dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn.

+ Phát triển năng lực giải quyết vấn đề

Tổ chức hoạt động:

Yêu cầu HS quan sát, trả lời câu hỏi

1 Tại sao không bón phân đạm cho đất

4 Tại sao một số ngư dân dùng phân

đạm ure để bảo quản hải sản đánh bắt

được trên biển? Hải sản bảo quản như

vậy có ảnh hưởng gì đến sức khoẻ của

người tiêu dùng?

5 Tại sao phân lân nung chảy phù hợp

với đất chua?

6 Tại sao dùng tro bón cho cây trồng?

7 Tại sao trời rét đậm không nên bón

* Báo cáo kết quả và thảo luận

HS báo cáo sản phẩm, kết quả thực hiện nhiệm vụ, HS khác cùng tham gia thảo luận

1 Giải thích: Đất chua là đất có độ

pH<7 (do dư thừa ion H+), đất chua gây

ra nhiều bất lợi cho việc giữ gìn vàcung cấp thức ăn cho cây, đồng thờilàm cho đất ngày càng suy kiệt cả về lýtính, hóa tính và sinh học Khi bónphân đạm có chứa ion NH4+ ion này sẽsinh thêm ion H+ theo phương trìnhNH4+ → NH3 + H+, làm tăng độ chuacủa đất

2 Giải thích: Khi bón phân đạm

amoni NH4 + với vôi (OH-), có phảnứng giải phóng NH3 NH4+ + OH- →NH3 + H2O

Nguyên tố N có chức năng là đạm bịgiải phóng ra dưới dạng NH3 nên phân

Trang 17

bón kém hiệu quả.

3 Giải thích: Tưới nước giải chính là

bón đạm cho cây vì trong nước giải cóchứa hàm lượng ure

4 Giải thích: Khi urê hòa tan trong

nước thì thu một lượng nhiệt khá lớn,giúp hải sản giữ được lạnh và ức chế vikhuẩn gây thối do vậy hải sản không bịươn, hỏng, làm cho hải sản tươi lâu.Urê là chất rất tốt cho cây trồng nhưngkhông tốt cho con người, vì thế việcướp hải sản bằng urê rất độc hại Theocác tài liệu nghiên cứu thì khi ăn phảicác loại hải sản có chứa dư lượng phânurê cao thì người ăn có thể bị ngộ độccấp tính với các triệu chứng đau bụng,buồn nôn, tiêu chảy và tử vong Nếu ănhải sản có hàm lượng urê ít nhưngtrong một thời gian dài sẽ bị ngộ độcmãn tính, thường xuyên đau đầu không

rõ nguyên nhân, giảm trí nhớ và mấtngủ

5 Giải thích: Phân lân nung chảy là

muối trung hoà của cation một bazơmạnh và anion gốc axit một axit trungbình nên có tính kiềm (pH=8), do vậy

có tác dụng khử chua Ca3(PO4)2 + H+(có trong đất chua) → CaHPO4 hay Ca(H2PO4)2

6 Giải thích: Trong tro có chứa

K2CO3 nên bón tro cho cây trồng là bónphân kali cho cây

7 Giải thích: Trời rét đậm không nên

bón phân đạm cho cây vì phân đạm khitan trong nước thu nhiệt làm nhiệt độ

hạ, cây không hấp thụ được, có trườnghợp cây còn bị ngộ độc và chết

Sản phẩm học sinh cần đạt:

Trang 18

Dựa vào tính chất hóa học để giải thích các hiện tượng trong cuộc sống và ứng dụng vào cuộc sống.

Hình thức đánh giá:

Nhận xét về kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập của HS thông qua mức mức độ hoàn thành yêu cầu nhiệm vụ học tập; phân tích, nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện và những ý kiến thảo luận của HS rồi chốt kiến thức

Hoạt động 5: (2 phút) Tìm tòi, mở rộng

HS về nhà tìm hiểu các kiến thức thực tiễn trong đời sống về ảnh hưởng của việc

sử dụng phân bón hóa học đến môi trường, sức khỏe như:

Hiện nay phân đạm là loại phân bón hoá học được dùng phổ biến để bón cho rau xanh, cần có lưu ý gì khi sử dụng loại phân bón này ?

* Trả lời: Cần bón đủ liều lượng cho từng loại rau theo quy trình kĩ thuật Tránh

bón phân đạm quá mức sẽ gây tồn dư nitơ trong rau Hàm lượng đạm (NO3-) ở mứcbình thường khi hấp thu vào cơ thể con người không gây ngộ độc Nó chỉ gây hạikhi hàm lượng đó vượt quá ngưỡng cho phép Bởi trong hệ tiêu hóa của con ngườikhi hấp thụ NO3-, từ NO3- nó chuyển thành NO2 Mà NO2 là một trong những chấtchuyển biến Hemoglobin (chất vận chuyển Oxi cho máu) chở thànhMethahemoglobin (là chất không hoạt động); nếu ở mức độ cao nó dẫn đến triệuchứng suy giảm hô hấp của tế bào và làm tăng phát triển của các khối u Đặc biệttrong cơ thể con người, nếu hàm lượng NO3- cao nó sẽ kết hợp với amin bậc 2, 3 đểtrở thành Nitroamin là tiền đề gây ra bệnh ung thư Vì vậy tổ chức Y tế thế giớikhuyến cáo hàm lượng NO3- trong sản phẩm rau tươi sống không vượt quá300mg/kg rau tươi Tuy nhiên từng loại rau khác nhau thì hàm lượng NO3- đượcphép cũng khác nhau

Kể tên các nhà máy sản xuất phân bón mà em biết?

Trang 19

Có thể sát trùng bằng phân bón không?

Các vi khuẩn, nấm, giun tròn sống trong đất, gây tác hại rất lớn cho cây trồngtrong nông nghiệp Để tiêu diệt các loại có hại này, người ta xông khói đất bằngcác chất độc hóa học Khả năng mắc bệnh của các cây thực vật giảm xuống, nhưngkhông sát trùng được hoàn toàn

Gần đây, người ta đã khám phá ra một phương pháp tốt hơn nhiều, bằng cách sửdụng phân đạm thông thường Ví dụ: nếu ở trung tâm gây bệnh của khoai tây trướcmột số tuần, người ta đưa vào trong đất một lượng urê (1,5kg/m2), thì trung tâmgây bệnh bị tiêu diệt hoàn toàn

Viện Bảo vệ thực vật của Nga đã áp dụng thử phương pháp này để bảo vệ câybông khỏi các bệnh nguy hiểm nhất - như bệnh héo lá do verticillium

Những thí nghiệm tưới urê vào đất (3 - 5g/1kg đất) chứng tỏ có thể hoàn toànhoặc gần như hoàn toàn ngăn ngừa được bệnh cho cây bông Kết quả sát trùng đótỏ ra có hiệu quả cho cả những năm sau

Trang 20

Nêu được :

- Khái niệm và phân loại lipit

- Khái niệm chất béo, tính chất vật lí, tính chất hóa học (tính chất chung của este vàphản ứng hiđro hóa chất béo lỏng), ứng dụng của chất béo

- Cách chuyển hoá chất béo lỏng thành chất béo rắn, phản ứng oxi hóa chất béo bởi oxi không khí

Trọng tâm

- Khái niệm và cấu tạo chất béo

- Tính chất hóa học cơ bản của chất béo là phản ứng thủy phân (tương tự este)

2 Kĩ năng

- Viết được các phương trình hóa học minh hoạ tính chất hóa học của chất béo

- Phân biệt được dầu ăn và mỡ bôi trơn về thành phần hóa học

- Biết cách sử dụng, bảo quản được một số chất béo an toàn, hiệu quả

- Tính khối lượng chất béo trong phản ứng

HS xác định được mục tiêu học tập của chủ đề:

+ Xác định được thành phần, cấu trúc của lipit, chất béo

+ Phân biệt được chất béo lỏng, chất béo rắn

+ Biết được nguyên nhân gây nên bệnh béo phì, xơ vữa động mạch và một số bệnhliên quan đến cách sử dụng lipit, chất béo và một số loại vitamin của con người + Tìm hiểu về bệnh béo phì và các bệnh lí khác có nguồn gốc từ việc sử dụngkhông hợp lí lipit, chất béo;

- NL vận dụng kiến thức hóa học vào thực tiễn:

+ Tác dụng của lipit, chất béo và những ảnh hưởng không mong muốn nếu sử dụng

dư thừa chất béo đến sức khỏe của con người

+ HS giải thích, xử lí được các tình huống trong thực tế: Do thành phần, cấu tạokhác nhau của các dạng lipit nên chúng có các chức năng khác nhau đối với sứckhỏe con người

Trang 21

+ Hiểu và sử dụng các chất béo và các chế phẩm từ chất béo, lipit như mỡ, bơ, sữa,

… đúng liều lượng để đảm bảo sức khỏe con người

- NL giải quyết vấn đề: HS ý thức được tình huống học tập và giải quyết được cáctình huống trong học tập cũng như trong thực tiễn

b) Một số các NL khác: NL tư duy sáng tạo, NL tự quản lí, NL sử dụng công nghệthông tin và truyền thông, NL hợp tác, NL giao tiếp, NL sử dụng ngôn ngữ hóahọc, NL tính toán (tính khối lượng chất béo, lượng glixerol thu được từ phản ứng

thủy phân chất béo)

- Các hình ảnh, câu hỏi liên quan đến kiến thức thực tiễn

Hoạt động 1( 10 phút): Hoạt động khởi động

Mục tiêu: Tạo hứng thú và kích thích sự tò mò của học sinh vào hoạt động học

tập

Khơi dậy nguồn đam mê học môn hóa học của học sinh

Học sinh tiếp nhận kiến thức chủ động, tích cực, hiệu quả

Tổ chức hoạt động:

GV chiếu các hình ảnh và câu hỏi liên quan đến thực tiễn

Hình ảnh 1: Người đàn ông này đang nghĩ gì?

HS tò mò, dự đoán: Ước gì mình được như anh ấy…

Tại sao ông ta lại ước như vậy?

Có thể do thừa cân…

Ngày đăng: 21/05/2021, 21:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w