Cấu trúc SKKN Ngoài phần Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của sáng kiến được triển khai trong 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu Ch
Trang 22
BẢNG QUY ƯỚC VIẾT TẮT
GV Giáo viên
HS Học sinh Nxb Nhà xuất bản THPT Trung học phổ thông GDBVMT Giáo dục bảo vệ môi trường BVMT Bảo vệ môi trường
ĐVTN Đoàn viên thanh niên SKKN Sáng kiến kinh nghiệm THPT Trung học phổ thông
Trang 31.2 Sự tiến bộ về kỹ thuật và công nghệ đã tạo ra nhiều vật liệu mới như polyme nhân tạo rất hữu ích cho con người Nhưng kéo theo đó là hàng loạt các loại chất thải mới khó phân hủy gây ảnh hưởng xấu tới môi trường Túi nilon, đồ dùng tư nhựa là một trong những loại chất thải trên Cùng với các loại rác thải khác, túi nilon ngày càng được con người sử dụng nhiều và thải bỏ ra môi trường gây mất cảnh quan, ảnh hưởng tới sức khỏe và làm ô nhiễm môi trường sống ngày càng nghiêm trọng Và tình trạng ngày càng đáng báo động và được các nhà khoa học định bằng bằng một thuật ngữ mới
– ô nhiễm trắng
1.3 Thói quen lạm dụng túi nilon và các đồ dùng từ nhựa không chỉ thể hiện ở người dân mà cả trong lực lượng học sinh hiện nay, nhất là học sinh trung học phổ thông Điều này thực sự đáng lo ngại Bởi học sinh là chủ nhân thực sự của tương lai Nếu các em không có ý thức giữ gìn môi trường, không hướng tới lối sống xanh bền
vững thì chính các em vừa là nạn nhân, vừa là thủ phạm của sự tàn phá môi trường
sống sau này
1.4 Giáo dục môi tường giáo dục môi trường “là quá trình tạo dựng cho con người những nhận thức về mối quan tâm đến môi trường và các vấn đề về môi trường Giáo dục môi trường gắn liền với việc học kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành thái
độ và lòng nhiệt tình để hoạt động một cách độc lập hoặc phối hợp nhằm tìm ra giải pháp cho những vấn đề hiện tại và ngăn chặn những vấn đề mới có thể xảy ra cho tương lai” Giáo dục môi trường sẽ giúp con người có nhận thức đúng đắn về môi trường, về việc khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên và có ý thức thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường Giáo dục môi trường có thể thực hiện bằng nhiều hình thức và cho nhiều đối tượng Trong đó việc giảng dạy về môi trường ở các trường học, nhất là trường phổ thông chiếm vị trí đặc biệt quan trọng
1.5 Một trong những mục tiêu và định hướng giáo dục hiện nay là hình thành, phát triển các phẩm chất và năng lực cho học sinh Mục tiêu đó được thể hiện trong nội dung chương trình, trong phương pháp kiểm tra đánh giá, trong việc sử dụng các hình thức, kĩ thuật dạy học tích cực, trong đó có việc hướng học sinh vận dụng những điều
Trang 44
đã biết, đã học vào trong thực tế cuộc sống đồng thời phải luôn luôn có sự trải nghiệm
từ thực tiễn Chính quá trình trải nghiệm sẽ giúp học sinh có thêm hứng thú học tập, có
sự soi chiếu giữa lý thuyết và thực tiễn Vì lẽ đó, trải nghiệm cùng các vấn đề nóng hổi của đời sống là một trong những nội dung cần quan tâm
Để hiểu rõ hơn về ý thức sử dụng túi nilon, đồ nhựa của học sinh, đồng thời tiến hành một số tác động nhằm thay đổi những thói quen chưa tốt, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của học sinh THPT
về tình trạng ô nhiễm trắng trong giai đoạn hiện nay” Thực hiện đề tài này chúng tôi
nhằm đánh giá thực trạng nhận thức của học sinh và gia đình về việc sử dụng đồ nhựa
và túi nilon, phân tích, đánh giá nguyên nhân, hậu quả, từ đó đưa ra những biện pháp giúp học sinh thay đổi thói quen để sử dụng túi nilon và đồ nhựa hợp lý, giảm những ảnh hưởng tới môi trường và sức khỏe con người
đề tài nhằm nâng cao nhận thức cho học sinh về tác động của tình trạng ô nhiễm trắng
trong tình hình hiện nay
Ngoài ra còn có các văn bản chỉ đạo như Nghị quyết 29 của BCH TW Đảng cộng sản Việt Nam về công tác giáo dục, các văn bản chỉ đạo Bộ giáo dục đào tạo và
Sở giáo dục đào tạo Nghệ An về việc tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp, tổ chức các chủ đề dạy học tích hợp liên môn, dạy học theo chủ đề … nhằm góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy, nâng cao kĩ năng sống cho học sinh
Tuy vậy, qua quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy rằng: những bộ tài liệu, những văn bản hướng dẫn chỉ là những căn cứ, những công cụ có tính chất nền tảng còn việc việc thực hiện hiệu quả đến đâu là phụ thuộc vào nhân tố con người, vào thực tế của từng cơ sở giáo dục, vào đặc điểm văn hóa, xã hội tại địa phương, vào những điều kiện chủ quan và khách quan khác Chính vì vậy, khi lựa chọn nghiên cứu
đề tài chúng tôi muốn có một cái nhìn mang tính hệ thống, toàn diện đồng thời mong muốn góp một kinh nghiệm nhỏ trong việc giáo dục bảo vệ môi trường Từ đó góp phần nâng cao chất lượng chất lượng giáo dục toàn diện, từ đó tạo ra những công dân hoàn thiện trong tương lai, có đủ Đức – Trí – Thể - Mĩ, có đủ kĩ năng sống, có trách nhiệm với môi trường sống
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tài liệu khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của học sinh THPT về tình trạng ô nhiễm trắng trong giai đoạn hiện nay
Trang 55
3.2 Phạm vi tài liệu khảo sát: Đó là hệ thống các tài liệu liên quan đến thực trạng ô
nhiễm trắng, giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường phổ thông
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong sáng kiến kinh nghiệm này, chúng tôi thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận có liên quan đến đề tài: thực trạng ô nhiễm trắng
trên thế giới và ở Việt Nam, vai trò của giáo dục môi trường tại các trường phổ thông cũng như những nguyên tắc khi triển khai giáo dục môi trường
- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
- Đề xuất một số biện pháp, cách thức nhằm nâng cao nhận thức của học sinh
về tình trạng ô nhiễm trắng và thay đổi thói quen sử dụng đồ dùng làm từ nhựa, túi nilon của học sinh THPT trong giai đoạn hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã phối hợp 2 nhớm phương pháp nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn Bao gồm: phương pháp phân tích
và tổng hợp lý thuyết, phương pháp phân loại và tổng hợp lý thuyết, phương pháp quan sát và điều tra, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp thực nghiệm
6 Đóng góp của SKKN
Về mặt lý luận: làm rõ hơn các nội dung liên quan đến nhiệm vụ giáo dục môi
trường trong trường phổ thông và thực trạng ô nhiễm trắng hiện nay
Về mặt thực tiễn, đề tài đã đánh giá thực trạng, nguyên nhân, hâu quả, từ đó đưa ra những biện pháp giúp học sinh thay đổi nhận thức, thói quen một cách hiệu quả để sử dụng túi nilon và đồ nhựa hợp lý, giảm những ảnh hưỏng tới môi trường và
sức khỏe con người
7 Cấu trúc SKKN
Ngoài phần Mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của sáng kiến được
triển khai trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng của việc giáo dục về tình trạng ô nhiễm trắng cho học
sinh THPT hiện nay
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của học sinh THPT về
tác động của ô nhiễm trắng
Trang 6Năm 1972, trong tuyên bố của Hội nghị Liên Hiệp Quốc về “Môi trường và con
người” họp tại Stockholm đã nêu: “Việc giáo dục môi trường cho thề hệ trẻ cũng như người lớn làm sao để học có được đạo đức, trách nhiệm trong việc bảo vệ và cải thiện môi trường” Ngay sau đó, chương trình môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEF) cùng
với các tổ chức văn hóa – khoa học – giáo dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã thành lập chương trình giáo dục môi trường quốc tế (IEEP) Tháng 10/1975 IEEP đã tổ chức Hội thảo Quốc tế lần thứ nhất về Giáo dục môi trường ở Beograde (Cộng Hòa Liên Bang Nam Tư), kết thúc hội thảo đã đưa ra được một nghị định khung và tuyên bố về những mục tiêu và những nguyên tắc hướng dẫn giáo dục môi trường Trong đó nêu rõ mục tiêu giáo dục môi tiêu giáo dục môi trường là nhằm nâng cao nhận thức về vai trò của môi trường và hiểu biết về môi trường; giúp cho mỗi người xác định thái độ và lối sống cá nhân tích cực đối với môi trường; có những hành động cho một môi trường tốt đẹp
Trong Chỉ thị số 36 CT- TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về “Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại háo đất nước” đã
đưa ra những giải pháp cơ bản để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ môi trường như: “Thường xuyên giáo dục, tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và phong trào quần chúng bảo vệ môi trường” và “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào chương trình giáo dục của tất cả các bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân”
Tại Nghị quyết số 29 - NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng về « Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo » xác định: Giáo
dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả”
Cùng với Luật giáo dục thì Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có quyết định số 3288/QĐ_BGD&ĐT ngày 2/10/1998 phê duyệt và ban hành các văn bản về chính sách
Trang 77
và chiến lược giáo dục môi trường trong nhà trường phổ thông Việt Nam và một số văn bản hướng dẫn kèm theo Các văn bản này là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổ chức triển khai các hoạt động giáo dục môi trường ở các trường phổ thông và trường sư phạm trong hệ thống giáo dục quốc dân
Tại Quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 17/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ v/v phê duyệt đề án “Đưa nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân” Đặc biệt, Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8, đã ban hành Luật bảo vệ môi trường ngày 29/11/2005 và Luật có hiệu lực ngày 1/7/2006
Trong các văn bản chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ các năm học của Bộ Giáo dục đào tạo, Sở Giáo dục đào tạo Nghệ An đều có nội dung cụ thể hóa các văn bản chỉ đạo trên
Như vậy, có thể khẳng định rằng, GDBVMT là một nội dung định hướng cơ bản trong nhiệm vụ giáo dục phổ thông; là một trong những công việc có tính chất chủ đạo trong chương trình nội dung, kế hoạch giảng dạy và giáo dục của các nhà trường
1.1.1.2 Các nội dung trong giáo dục bảo vệ môi trường
* Định nghĩa giáo dục bảo vệ môi trường
Theo dự án VIE/95/041 năm 1996 định nghĩa: “GDBVMT là một quá trình thường xuyên qua đó con người nhận thức được môi trường của họ và thu được kiến thức, giá trị, kỹ năng, kinh nghiệm cùng quyết tâm hành động giúp họ giải quyết các vấn đề môi trường hiện tại và tương lai, để đáp ứng các yêu cầu của thế hệ hiện nay
mà không vi phạm khả năng đáp ứng các nhu cầu của thế hệ tương lai”
Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 định nghĩa: “Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi
và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học”
Như vậy, giáo dục môi trường không chỉ là môn học chứa đựng các hệ thống khái niệm khoa học mà giáo dục môi trường mang đặc trưng của một chương trình hành động Trong khuôn khổ của việc giáo dục môi trường thông qua các môn học, các hoạt động giáo dục ở nhà trường thì có thể hiểu giáo dục môi trường chính là quá trình tạo dựng cho con người những nhận thức về mối quan tâm đến môi trường và các vấn đề
về môi trường Giáo dục môi trường gắn liền với việc học kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành thái độ và lòng nhiệt tình để hoạt động một cách độc lập hoặc phối hợp nhằm tìm ra giải pháp cho những vấn đề hiện tại và ngăn chặn những vấn đề mới có thể xảy
ra cho tương lai
* Mục đích của giáo dục môi trường
Trang 88
Giáo dục môi trường sẽ giúp con người có nhận thức đúng đắn về môi trường,
về việc khai thác, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên và có ý thức thực hiện nhiệm
vụ bảo vệ môi trường Giáo dục môi trường có thể thực hiện bằng nhiều hình thức và cho nhiều đối tượng Trong đó việc giảng dạy về môi trường ở các trường học, nhất là trường phổ thông chiếm vị trí đặc biệt quan trọng
Thông qua giáo dục môi trường giúp học sinh có được:
- Các kiến thức về: Hệ sinh thái, cân bằng sinh thái; môi trường và các thành tố của nó; môi trường và phát triển, bảo vệ và bảo tồn, tăng trưởng và suy thoái, chi phí
và lợi ích thu được; các chủ trương, chính sách về môi trường của quốc gia, luật Bảo
+ Biết đánh giá, quan tâm và lo lắng đến môi trường sống
+ Biết khoan dung và cởi mở
+ Tôn trọng, niềm tin và quan điểm của người khác
+ Biết tôn trọng những luận điểm đúng đắn
+ Có ý thức phê phán và thay đổi những thái độ không đúng về môi trường + Có mong muốn tham gia vào việc giải quyết môi trường, các hoạt động cải thiện môi trường
* Nhiệm vụ và định hướng trong giáo dục bảo vệ môi trường:
Theo tuyên ngôn của Tổ chức UNESCO-UNEP năm 1998: “Giáo dục bảo vệ môi trường (GDBVMT) không phải là ghép thêm vào chương trình giáo dục như là một
bộ phận riêng biệt hay một chủ đề nghiên cứu, mà nó là một đường hướng hội nhập vào chương trình đó Giáo dục bảo vệ môi trường là kết quả của một sự định hướng lại
và sắp xếp lại những bộ môn khác nhau và những kinh nghiệm giáo dục khác nhau (khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, văn học nghệ thuật, …), nó cung cấp một nhận thức toàn diện về môi trường”
GDBVMT là một phương pháp tiếp cận xuyên bộ môn giúp cho mọi người hiểu
về môi trường với mục đích hàng đầu là chăm sóc phát triển và có thái độ cam kết, thái
độ này sẽ nuôi dưỡng niềm mong ước và năng lực hành động có trách nhiệm trong môi trường GDBVMT với không chỉ kiến thức mà còn cả tình cảm, thái độ, kỹ năng và hành động xã hội Như vậy, việc GDBVMT cần phải được tiến hành giáo dục sâu rộng
Trang 99
ngay ở mọi độ tuổi, từ những người làm việc sinh hoạt thường ngày trong cộng đồng tới những người làm công tác chỉ đạo, quản lý, nhà chiến lược kinh tế xã hội
Giáo dục về môi trường nhằm: Cung cấp những hiểu biết về hệ thống tự nhiên
và hoạt động của nó; những hiểu biết về tác động của con người tới môi trường; trên cơ
sở đó xây dựng việc nghiên cứu môi trường và những kỹ năng tư duy để quản lý môi trường
Giáo dục bảo môi trường nhằm: xây dựng một nền giáo dục trong môi trường và
vì môi trường; phát triển trách nhiệm và xây dựng một nền đạo đức vì môi trường; xây dựng động cơ và kỹ năng tham gia trong việc cải thiện môi trường
* Mô hình dạy và học giáo dục môi trường
Việc dạy và học trong giáo dục môi trường diễn ra theo mô hình dưới đây với ba khía cạnh luôn tồn tại song song:
Giáo dục về môi trường: Xem môi trường là một đối tượng khoa học, người dạy
truyền đạt cho người học các kiến thức khoa học về môi trường, cũng như phương pháp nghiên cứu về đối tượng đó Đó là những kiến thức về hệ thống tự nhiên và hoạt động của nó; những kiến thức về tác động của con người đến môi trường
Giáo dục trong môi trường: Xem môi trường thiên nhiên hoặc nhân tạo như một
địa bàn, một phương tiện để giảng dạy, học tập, nghiên cứu Với cách tiếp cận này môi trường sẽ trở thành “phòng thí nghiệm thực tế, đa dạng, sinh động cho người dạy và người học”
Giáo dục vì môi trường: Truyền đạt kiến thức về bản chất, đặc trưng của môi
trường; hình thành thái độ ứng xử, ý thức trách nhiệm, quan niệm giá trị nhân cách, đạo đức đúng đắn về môi trường, cung cấp tri thức kỹ năng, phương pháp cần thiết cho những quyết định; hành động BVMT và phát triển bền vững
Trang 1010
* Một số nguyên tắc thực hiện giáo dục môi trường
Giáo dục môi trường ở Việt Nam được thực hiện trên các nguyên tắc sau:
- Coi giáo dục môi trường là bộ phận hữu cơ của sự nghiệp giáo dục và là sự nghiệp của toàn dân
- Giáo dục môi trường được thực hiện vì môi trường, về môi trường và trong môi trường
- Giáo dục môi trường là một thành phần bắt buộc trong chương trình giáo dục
và đào tạo, và phải được thực hiện trong kế hoạch dạy học và giáo dục hiện hành Những vấn đề về môi trường được dạy thông qua nhiều môn học
- Đưa giáo dục môi trường vào hoạt động nhà trường một cách thích hợp với môi trường của trường học Những vấn đề trọng tâm của giáo dục môi trường phải trực tiếp liên quan đến môi trường của địa phương
- Làm cho giáo viên và học sinh thấy giá trị của môi trường đối với chất lượng cuộc sống, sức khỏe và hạnh phúc con người
- Triển khai giáo dục môi trường thông qua các hoạt động mà học sinh là người thực hiện, trải nghiệm từ thực tiễn Giáo viên là người tổ chức hoạt động bảo vệ môi trường dựa trên chương trình quy định và tìm cách vận dụng phụ hợp với địa phương
* Các hình thức triển khai giáo dục môi trường
- Hình thức 1: thông qua chương trình của môn học trong nhà trường Giáo dục
môi trường dưới hai dạng chủ yếu:
Dạng 1: Nội dung chủ yếu của bài học hay một số phần của môn học có sự trùng hợp với nội dung giáo dục môi trường
Dạng 2: Một số nội dung của bài học hay một số phần nhất định của môn
học có liên quan trực tiếp với nội dung Giáo dục môi trường
- Hình thức 2: giáo dục môi trường được triển khai như một hoạt động độc lập
ở ngoài lớp như:
+ Nghe báo cáo các chuyên đề về môi trường
+ Tổ chức các buổi xemina, tranh luận, hùng biện
+ Thực hiện đề tài nghiên cứu về môi trường
+ Khảo sát thực địa tìm hiểu vấn đề bảo vệ môi trường ở địa phương
+ Tham gia tuyên truyền, vận động bảo vệ môi trường Tham gia chương trình
“Xanh hóa trường học”
+ Xây dựng dự án về môi trường và thực hiện
Trang 1111
+ Tổ chức các Câu lạc bộ môi trường
+ Thi sáng tác (tranh, tượng, ảnh, thơ, nhạc…) Triển lãm
+ Biểu diễn văn nghệ, sân khấu, kịch…
+ Hoạt động dã ngoại, tham quan, cắm trại, trò chơi…
+ Hoạt động phối hợp gia đình, nhà trường và xã hội
1.1.2 Một số khái niệm liên quan đến vấn đề ô nhiễm trắng
1.1.2.1 Khái niệm Ô nhiễm trắng
Ô nhiễm trắng là cụm từ mà các nhà khoa học dùng để gọi về một loại ô nhiễm do túi nilon, chất nhựa gây ra cho môi trường Ô nhiễm trắng xảy ra khi con
người xử lý túi nilon, chất thải nhựa đã qua sử dụng không đúng cách, với hàng loạt hệ lụy khôn lường…
1.2.2.2 Túi nilon
Túi nilon (túi polyme) xuất hiện cách đây khoảng 150 năm, do nhà hóa học Anh Alexander Parkes phát minh Túi nilon là một trong những sản phẩm được sản xuất từ hợp chất polyme hay những hợp chất cao phân tử, là những hợp chất có khối lượng phân tử lớn tạo những đặc tính riêng của loại hợp chất Các polyme nhân tạo được chưng cất từ dầu mỏ
Túi nilon được làm từ sợi nhựa tổng hợp, bền, dẻo với nhiều kích cỡ khác nhau,
có thể tái chế được Có rất nhiều hóa chất được sử dụng trong quá trình sản xuất ra túi nilon Dư lượng của các chất tạo ra chất dẻo như các monome, oligome (những mảnh nhỏ của chất dẻo có ít monome) và chất xúc tác của phảnứng polyme hóa, những chất này phần lớn là các kim loại
Ngày nay, nó được dùng rất nhiều để đóng gói thực phẩm, bột giặt, bảo quản nước đá, đựng các loại đồ ăn, thức uống, các loại chế phẩm hóa học hay đựng các loại phế liệu, rác thải, Túi nilon đã trở nên quen thuộc ương đời sống, nhưng trên thực tế,
ít có người biết đến quá trình tạo ra túi nilon
1.1.2.3 Nhựa
Nhựa, hay còn gọi là chất dẻo (tiếng anh gọi là plastic) hoặc polymer, là các hợp chất cao phân tử, được dùng làm vật liệu để sản xuất nhiều loại vật dụng trong đời sống hằng ngày cho đến những sản phẩm công nghiệp Chất dẻo thường là các chất tổng hợp
có nguồn gốc từ các sản phẩm hóa dầu Chất dẻo đầu tiên được làm ra vào năm 1838
là vinyl clorua
Ngày nay, nhựa đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày Tuy nhiên, sự phổ biến của nhựa và túi nilon đã gây ra những tác động nghiêm trọng tới cuộc sống của con người và môi trường
Trang 1212
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Thực trạng ô nhiễm trắng hiện nay
* Trên thế giới
Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc, mỗi năm trên toàn thế giới sử dụng khoảng
500 tỷ chai nhựa, hơn 500 tỷ túi ni-lông, lượng rác thải nhựa thải ra đủ để bao quanh trái đất 4 lần Mỗi phút có 1.000 túi nhựa được tiêu thụ nhưng chỉ 27% trong số này được xử lý và tái chế Rác thải nhựa nằm rất nhiều dưới đáy đại dương và sẽ trở thành một phần thức ăn đầu độc các sinh vật biển
Ước tính mỗi năm, toàn thế giới sử dụng 500 tỷ đến nghìn tỷ tỷ túi nilon nhưng chỉ có từ 0,6 - 1% túi này được tái sử dụng Mỗi năm có khoảng 100.000 rùa biển, cá heo và các loại sinh vật khác bị chết do tưởng nhầm túi nilon là đồ ăn Việc lạm dụng
sử dụng túi ni-lông khó phân hủy, các sản phẩm nhựa, nhất là đồ nhựa dùng một lần đã
và đang để lại những hậu quả khôn lường với môi trường
* Tại Việt Nam
Theo thống kê của Bộ Tài nguyên và Môi trường, lượng chất thải nhựa và túi nilon cả nước chiếm khoảng 8-12% trong chất thải rắn sinh hoạt Nếu trung bình khoảng 10% lượng chất thải nhựa và túi nilon không được tái sử dụng mà thải bỏ hoàn toàn thì lượng chất thải nhựa và túi nilon thải bỏ xấp xỉ khoảng 2,5 triệu tấn/năm Đây là gánh nặng cho môi trường
Và theo ông bố của chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc thì với 112 cửa biển, mỗi năm Việt Nam xả ra đại dương 0,28 đến 0,73 triệu tấn rác thải nhựa (chiếm 6% toàn thế giới) Đây thực sự là một con số đáng báo động, cho thấy trách nhiệm của Việt Nam với đại dương, với môi trường sống còn rất hạn chế
Ở Việt Nam, Luật Bảo vệ môi trường đã có những quy đinh về quản lý một số chất thải nói chung như quy định về quản lý chất thải rắn, chất thải nguy hại nhưng, việc quản lý rác nilon nói riêng thì chưa thấy đề cập đến
Hiệc nay sử dụng túi nilon khó phân hủy đã đến mức báo động ở Việt Nam, đặc biệt là tại các đô thị lớn Tình trạng sử dụng túi nilon một cách dễ dãi, không kiểm soát, không chỉ gây lãng phí mà còn tạo áp lực lớn cho công tác thu gom, xử lý rác thải và ảnh hưởng nặng nề, lâu dài tới môi trường đô thị Mặc dù gây hại cho cả môi trường và sức khỏe con người nhưng ý thức, thói quen dùng túi nilon, đặc biệt là túi nilon dùng 1 lần của người tiêu dùng chưa có sự cải thiện Một phần là do giá thành rất rẻ, trong khi
đó túi nilon thân thiện với môi trường thì đắt hơn và bất tiện cho sử dụng của người tiêu dùng Chính vì vậy cần có những giải pháp để hạn chế và thay đổi thói quen dùng túi nilon 1 lần của người tiêu dùng
Trang 1313
1.2.2 Ảnh hưởng của ô nhiễm trắng tới môi trường và sức khỏe con người
Nhựa và túi nilon có tác động tiêu cực tới môi trường sống và sức khỏe của con người Nhiều sản phẩm sau khi thải bỏ phân rã thành các mảnh nhựa rất nhỏ, cùng với
vi hạt nhựa (microplatic) lẫn vào thức ăn, nước uống, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người, các hệ sinh thái, đặc biệt là hệ sinh thái biển Rác thải nhựa và nilon khi đốt
sẽ tạo ra khí thải có chứa Đioxin và Furan, là những chất độc hại, tồn tại lâu dài trong môi trường
Túi nilon là một trong những loại chất thải rất khó tự phân hủy trong môi trường Chúng có thể tồn tại trong đất hàng trăm năm Do vậy, năm này qua năm khác, nếu không có giải pháp hữu hiệu sẽ tồn đọng một khối lượng khổng lồ các chất thải nilon trong môi trường gây ô nhiễm rất lớn cho môi trường sinh thái Nếu vấn đề túi nilon không được giải quyết tốt, đến một lúc nào đó, khắp nơi, kể cả đáy đại dương sẽ xuất hiện những bãi rác chứa túi nilon, là hangổ của các loại bệnh tật thì hiểm họa về ô nhiễm môi trường sẽ rất nguy hiểm Mỗi dặm vuông (tương đương 2,6 km2) trên đại dương
có khoảng 36.000 mảnh vụn túi nilon Theo tổ chức Hòa Bình Xanh (Green Peace), trên Thái Bình Dương có một vùng tương đương diện tích bang Texas (gần 700 km2) được gọi là "xoáy rác", nơi mà mỗi đợt sóng cuốn theo 1 kg phù du thì lại cuốn theo đến 6 kg túi nilon
Quá trình sản xuất nhựa tái chế không đảm bảo độ sạch, độ an toàn khiến những chất độc hại, vi khuẩn ở trong túi nilon, đồ nhựa cũ vẫn tồn tại cùng với sản phẩm mới tái chế Chất độc như chì, cadimi, phẩm nhuộm có ở túi tái chế có thể hòa tan và nhiễm vào thực phẩm đựng trong túi Những chất độc này chứa trong các sản phẩm nhựa tái chế đã được cảnh báo về độ nguy hiểm, có thể ảnh hưởng tới cơ quan sinh dục nam gây
vô sinh, bé gái thì dậy thì quá sớm
Trang 1414
Túi nilon làm bằng nhựa polyvinyl clorua, khi cháy ở nhiệt độ thường tạo ra chất dioxin và axit clohydric vô cùng độc hại, có thể gây ngộ độc, ảnh hưỏng đến tuyến nội tiết, rối loạn chức năng, gây bệnh tật bẩm sinh cho trẻ, nôn ra máu, giảm khả năng miễn dịch và là một trong những nguyên nhân gây ung thư cho con người Ngoài ra, việc sử dụng túi nilon để đựng rác thải sinh hoạt làm cho các chất thải này khó phân hủy trong
tự nhiên và trở thành các ổ dịch bệnh gây hại cho con người Trong điều kiện nóng ẩm chúng sẽ là môi trường tốt cho các loại vi sinh vật, côn trùng mang bệnh phát triển
Như vậy có thể thấy, hiện nay con người đang quá phụ thuộc vào vật dụng nhựa dùng một lần và túi nilon, từ đó gây ra những hậu quả nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe Đây đang là một hồi chuông đáng báo động, cần phải có những sự thay đổi trong nhận thức và hành động
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương này chúng tôi đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài bao gồm các vấn đề:
- Cơ sở lý luận về vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường
- Cơ sở lý luận về vấn đề ô nhiễm trắng
- Cơ sở thực tiễn của thực trạng ô nhiễm trắng hiện nay trên thế giới và Việt Nam cũng như những tác động mạnh mẽ của nó tới môi trường và sức khỏe của con người
Trang 1515
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CỦA VIỆC GIÁO DỤC VỀ TÌNH TRẠNG Ô NHIỄM TRẮNG
CHO HỌC SINH THPT HIỆN NAY
Ở trong chương 2 này chúng tôi sẽ đi tìm hiểu thực trạng nhận thức của học
sinh về tình trạng ô nhiễm trắng, thực trạng của công tác giáo dục bảo vệ môi trường nói chung và vấn đề ô nhiễm trắng nói riêng tại đơn vị công tác và các đơn vị trường
bạn, tìm hiểu quan điểm, góc nhìn của phụ huynh về vấn đề này Để trên cơ sở đó có những giải pháp phù hợp để công giáo dục bảo vệ môi trường đạt hiệu quả cao
2.1 Thực trạng của việc nhận thức về tình trạng ô nhiễm trắng của học sinh THPT
2.1.1 Mục đích khảo sát
Mục đích: Sử dụng phương pháp này nhằm thu thập những thông tin về thực trạng nhận
thức của học sinh về tình trạng ô nhiễm trắng, việc tác động trực tiếp vào tình trạng đó
của học sinh và gia đình cũng như nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó
2.1.2 Cách tiến hành
2.1.2.1 Điều tra xã hội học qua phiếu khảo sát
Đây là phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong đề tài nhằm giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn
- Đối tượng điều tra: 922 học sinh
- Cách tiến hành:
* Bước 1: Xây dựng mẫu phiếu điều tra
Dựa trên lý thuyết về xây dựng mẫu phiếu điều tra và cơ sở lý luận của đề tài, chúng tôi xây dựng bảng hỏi theo nguyên tắc sau: câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu; kiểu loại: gồm hai loại câu hỏi đóng và mở; nội dung câu hỏi bao quát được nội dung theo cấu trúc nghiên cứu, chúng tôi thiết kế câu hỏi nhằm điều tra được các vấn đề: Thực trạng
nhận thức về tình trạng ô nhiễm trắng hiện nay; thực trạng của việc học sinh và người thân đang tác động một cách trực tiếp vào tình trạng ô nhiễm trắng từ việc sử dụng các sản phẩm làm từ nhựa và túi nilon; nguyên nhân của việc làm gia tăng tình trạng ô nhiễm trắng hiện nay; sự quan tâm của học sinh và người lớn về tình hình giảm thiểu của tình trạng ô nhiễm trắng
( Mẫu phiếu điều tra được chúng tôi thể hiện trong phụ lục 1)
* Bước 2: Phát phiếu điều tra
Đề tài này chúng tôi tiến hành nghiên cứu từ tháng 8 năm 2019 Vì thế chúng tôi bắt đầu phát phiếu điều tra trong tháng 9 và tháng 10 năm 2019 Thu thập phiếu điều
Trang 1616
tra: Tổng số phiếu phát ra: 922 phiếu ( Ở các trường THPT Quỳnh Lưu 2, trường THPT
Lý Tự Trọng, trường THPT Quỳnh Lưu 3, trường THPT Hoàng Mai, trường THPT Hoàng Mai 2) Khi chúng tôi thu về thì có 922 phiếu đạt yêu cầu
2.1.2.2 Phỏng vấn sâu
- Mục đích: Phương pháp này được sử dụng nhằm thu thập những thông tin sâu hơn, những thông tin mà bảng hỏi không thu thập hết được
- Đối tượng phỏng vấn: Phỏng vấn giáo viên, phụ huynh, học sinh để tìm hiểu
những hiểu biết của họ trước vấn đề nghiên cứu cũng như những thay đổi về nhận thức, hành vi của học sinh sau khi thực hiện các giải pháp tác động
- Cách tiến hành: chúng tôi tiến hành phóng vấn chính thức và bán chính thức Phỏng vấn chính thức là hình thức đối thoại trực tiếp giữa người phỏng vấn và người được phỏng vấn Chúng tôi đã phỏng vấn một số thầy cô và phụ huynh theo mục đích của đề tài Phỏng vấn bán chính thức là trò chuyện thân mật với các em học sinh Cuộc trò chuyện với không khí cởi mở, thân thiện, nội dung không theo một trật tự có sẵn mà tùy thuộc vào diễn biến của câu chuyện
Với Thầy cô: chúng tôi trao đổi trực tiếp với các giáo viên về mục đích của cuộc phỏng vấn, sau đó tiến hành phỏng vấn
Với phụ huynh: người nghiên cứu sẽ tìm hiểu trước những phụ huynh có con em đang theo học tại các trường THPT trên địa bàn Sau đó tìm cơ hội tiếp xúc, gặp gỡ, trao đổi mục đích của cuộc phỏng vấn và tiến hành phỏng vấn
Với học sinh: chúng tôi thực hiện phỏng vấn sau khi các em đã được trải nghiệm các giải pháp để xem hiệu quả của các giải pháp đã thực hiện
em vào căng tin, vào quán trà sữa hay đi chợ… để nắm được ý thức sử dụng túi nilon,
đồ nhựa của các bạn Ngoài ra, chúng tôi còn chụp các hình ảnh có liên quan để sử dụng làm tư liệu nghiên cứu
2.1.3 Kết quả khảo sát
Sau khi thu được kết quả nghiên cứu thực tiễn chúng tôi sử dụng phương pháp
xử lý số liệu bằng thống kê toán học để rút ra kết quả nghiên cứu một cách chính xác
và khách quan, giúp đưa ra những kết luận cuối cùng cho đề tài
Sau khi xử lý số liệu, chúng tôi có các đánh giá như sau:
Trang 1717
2.1.3.1 Thực trạng của việc nhận thức về tác động của túi nilon, chất thải
nhựa và việc tác động trực tiếp vào tình trạng ô nhiễm trắng của học sinh và người
3
Trường THPT Lý
Tự Trọng
Trường THPT Hoàng Mai
Trường THPT Hoàng Mai
a Hiểu về khái niệm Ô nhiễm trắng, thực trạng ô nhiễm trắng tại Việt Nam
Bảng số liệu 2: Khảo sát nhận thức về tình trạng ô nhiễm trắng
Nội dung
khảo sát
Trường THPT Quỳnh Lưu 2
Trường THPT Quỳnh Lưu 3
Trường THPT Lý
Tự Trọng
Trường THPT Hoàng Mai
Trường THPT Hoàng Mai 2
Đã từng nghe:
83/120 Chưa từng nghe:
37/120
Đã từng nghe:38/46 Chưa từng nghe: 8/46
Đã từng nghe:103/189 Chưa từng nghe: 86/189
Đã từng nghe:
98/123 Chưa từng nghe:
Trang 18Theo số liệu ở bảng trên, có một bộ phận các bạn đã biết đến vấn nạn ô nhiễm
môi trường nhưng chưa từng nghe đến khái niệm ô nhiễm trắng, có đến 258/922 bạn
học sinh được khảo sát cho rằng chưa từng nghe đến khái niệm này (27,9%) Đó là một con số không nhỏ, cho thấy sự quan tâm của các bạn trẻ đến mối trường sống, đến các vấn đề của thời đại chưa thực sự sâu sắc
Từ bảng kết quả trên có thể thấy đại đa số các bạn học sinh đều cho rằng ô nhiễm trắng là khái niệm được dùng để chỉ tình trạng ô nhiễm do chất thải nhựa và túi nilon:
790/922 phiếu, chiếm tỉ lệ 85,7% Chỉ có 132/922 (chiếm 14,3%) học sinh cho rằng nó được dùng để chỉ tình trạng ô nhiễm không khí, ô nhiễm khói bụi do cháy rừng hoặc dùng để chỉ hiện tượng sương muối và băng giá
Tuy nhiên, đại đa số học sinh lại không biết rõ về mức độ ô nhiễm trắng tại Việt Nam Khi được hỏi Việt Nam nằm trong top mấy của thế giới về lượng rác thải nhựa thải ra biển năm 2015 thì có tới 243/922 (26,3%) học sinh trả lời là không biết; trong
đó chỉ có 333/922 (36,1%) học sinh trả lời đúng – nằm trong top 5 của thế giới Như
vậy, hiểu biết của các em học sinh về tình trạng ô nhiễm trắng còn chưa thực sự đầy
đủ
b Hiểu về tác hại của nhựa và túi nilon với sức khỏe và môi trường
100% số học sinh được hỏi đều khẳng định nhựa có khả năng ảnh hưởng tới sứ khỏe của người, và có thể gây ra nhiều bệnh như các bệnh về đường tiêu hóa, bệnh về đường hô hấp và các bệnh khác Cũng theo số liệu khảo sát thì có tới 914/922 (99,1%) học sinh cho rằng nhựa có ảnh hưởng đến môi trường
c Việc sử dụng túi nilon và rác thải nhựa
- Việc sử dụng các sản phẩm từ nhựa tại gia đình học sinh:
Bảng số liệu 3: Việc sử dụng sản phẩm làm từ ngay tại gia đình học sinh
Trang 1919
Nội dung khảo sát
Trường THPT Quỳnh Lưu 2
Trường THPT Quỳnh Lưu 3
Trường THPT
Lý Tự Trọng
Trường THPT Hoàng Mai
Trường THPT Hoàng Mai 2
Các lọ nhựa, chai nhựa có
ở gia đình bạn là do dùng:
- Nước ngọt đóng hai
- Nước khoáng đóng hai
- Các loại trà sữa, nước giải
khát
- Mỹ phẩm
157/444 194/444 78/444
15/444
45/120 39/120 40/120
32/120
17/46 12/46 13/46
4/46
46/189 41/189 62/189
40/189
33/123 39/123 29/123
22/123
Gia đình bạn đứng cá loại
gia vị, ngâm các loại
rượu, hoa quả bằng:
- Lọ nhựa, hai nhựa, hộp
98/444 46/444
40/120 15/120
20/120 45/120
21/46 9/46
0/46 16/46
63/189 57/189
32/189 37/189
12/123 17/123
19/123 75/123
Thực tế sử dụng: hộp nhựa, chai nhựa: 318/922 (34,5%); Lọ thủy tinh: 216/922 (23,4%); Lọ sứ, bình sứ: 169/922 (18,3%); Sử dụng tất các các loại trên: 219/922 (23,8 %)
Từ bảng số liệu trên, chúng tôi nhận thấy: hiện tại các gia đình của học sinh sử dụng khá nhiều đồ dùng bằng nhựa Các sản phẩm nhựa có trong gia đình là do dùng nước khoáng đóng chai, các loại nước giải khát và các loại mỹ phẩm
Bên cạnh đó là việc sử dụng các loại chai, lọ, hộp để đựng các loại gia vị hay ngâm rượu, quả tại gia đình các học sinh Trong thực tế sử dụng: hộp nhựa, chai nhựa:328/922 (34,5%), lọ thủy tinh 216/922 (23,4%); lọ sứ, bình sứ:169/922 (23,4%);
sử dụng tất cả các loại trên: 219/922 (23,8 %) Như vậy, sử dụng các sản phẩm từ nhựa
Trang 2020
vẫn chiếm ưu thế ngay tại các gia đình Chính điều này đã tác động trực tiếp vào tình
trạng ô nhiễm trắng ngày càng tầm trọng
- Việc sử dụng túi nilon ngay tại gia đình học sinh:
Với câu hỏi khảo sát về số lượng túi nilon mà mỗi gia đình học sinh thải ra mỗi ngày, kết qủa thu được là: 1-3 túi: 192/922 (20,8%), 3 – 5 túi: 216/922(23,4%), 5 - 7 túi: 398/922 (43,1%), 7 - 9 túi: 142/922 (15,4%)
Như vậy, số lượng túi nilon mà mỗi gia đình học sinh sử dụng mỗi ngày hiếm nhiều nhất là lượng 5-7 túi/ngày – chiếm 43,1% Đây là điều đáng lo ngại
- Thực trạng sử dụng túi nilon sau khi đã sử dụng ngay tại gia đình học sinh: Bảng số liệu 4: Sử dụng túi nilon sau khi đã sử dụng ngay tại gia đình học sinh
Nội dung khảo
sát
(cho phép chọn
nhiều đáp án)
Trường THPT Quỳnh Lưu 2
Trường THPT Quỳnh Lưu
3
Trường THPT Lý
Tự Trọng
Trường THPT Hoàng Mai
Trường THPT Hoàng Mai 2
sông, đường đi
- Gom rồi chôn
Trang 212
Trường THPT Quỳnh Lưu
3
Trường THPT
Lý Tự Trọng
Trường THPT Hoàng Mai
Trường THPT Hoàng Mai 2
91/120 29/120
41/46 5/46
109/189 80/189
89/123 34/123
Có dùng: 735/922 (79,8%); Không dùng: 187/922 (20,2%)
2.1.3.2 Nguyên nhân dẫn đến việc tình trạng ô nhiễm trắng ngày càng gia tăng
trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu và thị xã Hoàng Mai
a Do thói quen
Bảng số liệu 6: Tỉ lệ dùng làn, túi xách… khi đi chợ của học sinh và gia đình
Nội dung khảo
sát
TrườngTH
PT Quỳnh Lưu 2
Trường THPT
Trường THPT Lý
Tự Trọng
Trường THPT Hoàng Mai
Trường THPT
Trang 2220/120
25/120 35/120 40/120
3/46
17/46 6/46 20/46
38/189
48/189 91/189 12/189
24/123
31/123 37/123 31/123
Thường xuyên: 177/922 (19,2%); Không thường xuyên: 229/922 (24,8%); Thỉnh thoảng: 354/922 (38,3%); Không bao giờ: 162/922 (17,7%)
Từ kết quả trên, chúng ta thấy túi nilon ra đời đã tạo ra thói quen "đi tay không"
đi mua hàng cho người tiêu dùng Khi chưa có túi nilon, 100% người đi mua hàng mang các đồ như làn mây, túi vải, thúng rổ đi đựng hàng Nhưng từ khi túi nilon xuất hiện,
cái gì cũng được người dân đựng vào trong túi nilon
b Do giá thành rẻ, do sự tiện lợi mà túi nilon và chất thải nhựa mang lại cho cuộc sống của con người
Khi được hỏi “Bạn và người thân có thể ngừng sử dụng hoàn toàn đồ nhựa, túi nilon” không? Vì sao? Thì có đến 104/922 (11,3%) phiếu trả lời là “không”
Những nguyên nhân chủ yếu mà các bạn học sinh đưa ra đó là: do sự tiện lợi, do giá thành rẻ, do sự gọn nhẹ, do rất cần cho cuộc sống, do chưa có những quy định chặt chẽ, do chưa có vật liệu thay thế phù hợp, …
c Do chưa có những quy định chặt chẽ về phân loại rác thải và xử lí rác thải, do chưa có những tuyên truyền tích, sâu rộng tại nhà trường và khu dân cư
Hiện nay, ở trên địa bàn huyện Quỳnh Lưu và thị xã Hoàng Mai chưa yêu cầu phải phân loại rác thải Ngay tại các trường học cũng chưa có những hướng dẫn cụ thể
về việc phân loại rác Tất cả các loại rác đều gom chung vào thùng rác của trường Đặc biệt, cũng chưa có bất cứ quy định có tính chất bặt buộc nào về giảm rác thải nhựa
Trang 2323
Công tác tuyên truyền cũng chưa thực sự sâu rộng Rất ít các hoạt động ở trường hướng vào thực trạng này Ở tại gia đình, phụ huynh cũng không có ý thức nhiều trong việc giảm thiểu túi nilon hay các sản phẩm từ nhựa Ngay khi chúng tôi đi khảo sát, phỏng vấn phụ huynh, nhiều nphụ huynh mỉm cười cho qua hoặc cho rằng đó là điều không quan trọng
2.1.3.3 Hậu quả
Như đã trình bày ở mục (1.2.1) việc sử dụng quá nhiều túi nilon và chất thải nhựa
đã tạo ra một lượng rác thải lớn Dọc các bãi biển của huyện Quỳnh Lưu và thị xã Hoàng Mai như Quỳnh Phương, Quỳnh Lập, Quỳnh Bảng, Quỳnh Nghĩa… rác thải tràn ngập Các tổ chức thiện nguyện và các tổ chức xã hội phải tổ chức thu gom thường xuyên
Cũng do lượng rác thải khổng lồ nên có những thời điểm các bãi rác lớn nhất ở
xã Tân Sơn (huyện Quỳnh Lưu) bị ùn ứ, người dân gần bãi rác không cho tập kết khiến khắp các ngõ, đường đâu đâu cũng thấy rác, túi nilon bay khắp đường Có những thời điểm, dân gom rác (trong đó có túi nilon và chất thải nhựa) để đốt, thì hành động đó còn ảnh hưởng sức khỏe nhiều hơn nữa
Hiện có nhà máy xử lí rác ở xã Quỳnh Vinh (thị xã Hoàng Mai) nhưng khả năng đáp ứng nhu cầu theo dự báo có thể không đảm bảo do lượng rác thải rất lớn Với một lượng rác thải như thế thì việc sức khỏe của người dân trên địa bàn và môi trường bị ảnh hưởng là điều có thể nhận thấy
2.2 Thực trạng của việc giáo dục bảo vệ môi trường, giáo dục về vấn đề ô nhiễm trắng tại các trường THPT hiện nay
Giáo dục môi trường là một trong các nội dung then chốt trong các Nghị quyết của Đảng, được sự quan tâm của cả hệ thống chính trị, xã hội; là một trong những nội dung quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông Thế nên tại các Trung học phổ thông nói chung trên địa bàn Quỳnh Lưu – Hoàng Mai nói chung, trường THPT Quỳnh Lưu 2 nói riêng cũng đã chú trọng công tác này và được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau
Để thực hiện đề tài này, để có cái nhìn rõ hơn về vấn đề giáo dục bảo vệ môi
trường nói chung và vấn đề ô nhiễm trắng nói riêng chúng tôi đã tiến hành một cuộc
khảo sát bằng phiếu (125 giáo viên) và một số cuộc trao đổi mang tính chất phỏng vấn sâu đối với các giáo viên trong trường và một số trường bạn về các vấn đề cụ thể:
- Tìm hiểu ý kiến, nhận xét của giáo viên quanh vấn đề giáo dục môi trường cho học sinh THPT; tham khảo ý kiến giáo viên về những bài học có khả năng lồng ghép nội dung GDMT vào bài giảng trên lớp
- Tham khảo ý kiến giáo viên về phương pháp và hình thức thực hiện dạy học tiết học có lồng ghép nội dung GDMT
Trang 2424
- Thu thập những kiến nghị của các giáo viên để việc thực hiện GDMT trong các tiết dạy và hoạt động giáo dục được hiệu quả hơn
(Mẫu phiếu khảo sát giáo viên được chúng tôi thể hiện trong phụ lục 2)
Sau các trao đổi, khảo sát chúng tôi thu được các số liệu như sau:
- Về vấn đề “Mức độ tiếp nhận lí luận dạy học về giáo dục bảo vệ môi trường”, có 100% giáo viên được hỏi đã trả lời đúng là “đã từng nghe qua”, chứng tỏ đây là vấn đề
đang được quan tâm thực sự, được chú ý hàng đầu trong hoạt động của xã hội toàn cầu hiện nay Tất cả các giáo viên được hỏi đều trả lời chính xác cho thấy có thể đưa vấn
đề giáo dục môi trường vào nội dung giảng dạy và giáo dục, giáo viên có quan tâm, ắt
sẽ có động lực để cải tiến bài dạy của mình cho phù hợp với xu thế đào tạo của xã hội
- Về vấn đề “Mức độ quan tâm của thầy/ cô về việc đưa giáo dục bảo vệ môi trường vào giảng dạy trong trường THPT”, qua các khảo sát, có thể thấy đa số giáo
viên được hỏi trả lời là “rất quan tâm” 115/125 (92%) với việc đưa GDMT vào giảng dạy ở trường THPT là cần thiết Và các ý kiến trên cũng cho thấy giáo viên hoàn toàn ủng hộ việc thực hiện lồng ghép giáo dục môi trường cho học sinh trên ghế nhà trường
- Về vấn đề “Có khả năng vận dụng kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường vào giảng dạy” thì có tới 85/125 (68%) giáo viên cho rằng “có khả năng cao” vận dụng kiến thức môi trường trong quá trình giảng dạy Chỉ có một số ít giáo viên trả lời ở mức độ bình thường 10/125 (8%)
- Về vấn đề “Đánh giá của thầy/ cô đối với hiểu biết của học sinh về thực trạng ô
nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm trắng nói riêng” có 7 phiếu trả lời cho rằng
học sinh hiểu biết nhiều (chiếm 5,6%), trong khi đó, có 72 phiếu trả lời cho rằng học sinh ít hiểu biết về vấn đề này (chiếm 57,6 %) Như vậy, có thể thấy, dù đã có nhiều kênh thông tin như: báo chí, truyền thanh, truyền hình, mạng Internet… liên tục đưa thông tin về môi trường, cách xử lý và tuyên truyền ý thức bảo vệ môi trường nhưng theo nhận định của giáo viên, hiệu quả thấy được ở học sinh là thấp
- Về vấn đề “Đánh giá như thế nào về phương pháp, cách thức tổ chức giáo dục môi trường tại trường thầy/ cô đang công tác” thì có đến 92/125 (72%) giáo viên
được hỏi cho rằng phương pháp tổ chức giáo dục về môi trường đang ở mức độ
“nghèo nàn, hiệu quả thấp” Những thông tin này là cơ sở để chúng tôi xây dựng các
giải pháp phù hợp
Từ thực tế khảo sát, phỏng vấn và trao đổi trực tiếp, chúng tôi rút ra một số nhận xét như sau:
Trước hết, việc giáo dục ý thức về môi trường cho học sinh đã được thể hiện
rõ trong nhận thức của cán bộ quản lý và đội ngũ cán bộ, giáo viên Tập thể lãnh đạo các nhà trường đều ý thức sâu sắc nội dung này nên quán triệt đầy đủ, sâu sắc tới toàn thể hội đồng sư phạm nhà trường cũng như học sinh Tinh thần đó được thể hiện rõ
Trang 25dung bảo vệ môi trường nói chúng và vấn đề ô nhiễm trắng nói riêng Trong khi đó
chúng ta đều hiểu rằng không thể giao phó nhiệm vụ ấy cho riêng một môn học nào mà cần có sự kết hợp chặt chẽ với nhau, biện chứng với nhau hoặc tích hợp liên môn hướng tới một mục đích chung cuối cùng là giáo dưỡng, giáo dục và phát triển toàn diện nhân cách cho học sinh
Tuy nhiên nói như vậy không có nghĩa giáo dục môi trường trong học đường không tồn tại những khó khăn nhất định Cụ thể, bên cạnh việc đảm bảo nội dung chương trình khung bắt buộc đối với các môn học chính thức thì hiện nay trong chương trình giáo dục phổ thông đã có nhiều nội dung cần lồng ghép, “tích hợp” Do đó, không còn nhiều thời gian cho việc lồng ghép nội dung giáo dục môi trường
Từ những phân tích trên, chúng tôi ghi nhận một số tồn tại cụ thể về giáo dục môi trường:
Về phía giáo viên:
- Giáo viên chưa giới thiệu một cách đầy đủ về các vấn đề môi trường, nhất là
tình hình ô nhiễm nói chung và ô nhiễm trắng nói riêng Một số giáo viên đôi khi còn
không thực sự quan tâm về vấn đề này
- Một số giáo viên còn thiếu sự phối hợp cùng các tổ chức đoàn thể, phụ huynh trong việc giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh
- Hình thức giới thiệu chưa thực sự ấn tượng, vì thế không thực sự kích thích
sự khám phá, tìm hiểu nơi học sinh
- Kĩ năng để trình bày những hiểu biết của mình còn rất hạn chế
- Tỉ lệ HS tích cực, chủ động, thích thú với các hoạt động trải nghiệm về môi trường còn ít, do không được thông tin, giới thiệu một cách đầy đủ, do phụ huynh không ủng hộ việc tham gia
Trang 2626
Tất cả những nguyên nhân trên khiến cho công tác giáo dục bảo vệ môi trường
nói chung, giáo dục về thực trạng ô nhiễm trắng nói riêng gặp nhiều khó khăn, chưa
đi vào chiều sâu
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Giáo dục bảo vệ môi trường cho thế hệ trẻ trong đó có học sinh phổ thông là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài, quan trọng, đòi hỏi phải có sự quan tâm, đầu tư thích đáng Đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, của các cấp, các ngành, đoàn thể, gia đình và toàn xã hội; tạo điều kiện tối đa cho thế hệ trẻ học tập, lao động, cống hiến Để làm sao mỗi một học sinh đều có ý thức góp phần bảo vệ sự sống, bảo vệ môi trường bền vững Mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra thì lớn nhưng hiện tại công tác giáo dục bảo vệ môi trường chưa phát huy hết tại các nhà trường và đang gặp không ít những trở ngại từ chính phụ huynh và ý thức, thái độ của học sinh Vậy làm thế nào để có thể giáo dục môi trường, giáo dục ý thức của học sinh bằng những hành động cụ thể nhất, giúp học sinh thay đổi nhiều thói quen để có thể giảm thiểu việc tác động mạnh mẽ vào
tình trạng ô nhiễm trắng, chúng ta cùng tìm hiểu ở chương 3
Trang 2727
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH
THPT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA Ô NHIỄM TRẮNG
Ở trong chương 3 này chúng tôi sẽ đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao
nhận thức của học sinh THPT về tác động của ô nhiễm trắng Các biện pháp này
chúng tôi đã triển khai trong nhiều năm học liên tiếp, ở nhiều đối tượng học sinh, nhiều khối lớp khác nhau Khi sử dụng chúng tôi tuân thủ các nguyên tắc cơ bản như: đảm bảo sự hài hòa giữa cá nhân và tập thể, xuất phát từ quy luật phát triển tâm lý và nhận thức của học sinh, xuất phát từ yêu cầu về việc hình thành phẩm chất và năng lực của học sinh cũng như các yêu cầu cơ bản của các hoạt động giáo dục môi trường trong trường học
3.1 Thực hiện các biện pháp tuyên truyền
3.1.1 Tuyên truyền trên mạng xã hội faebook, zalo
Cách thực hiện: Nhóm nghiên cứu đã tuyên truyền trên các trang mạng xã hội khác nhau: trên facebook, zalo Với tính năng kết nối và chia sẻ thông tin cao, nhiều người sử dụng Facebook, zalo như một địa chỉ đáng tin cậy để chia sẻ tâm tư, tình cảm với bạn bè, người thân, những kinh nghiệm trong học tập, tuyên truyền các thông tin cần thiết hoặc các chương trình ngoại khoá bổ ích của các câu lạc bộ, đội, nhóm mà họ đang tham gia Đối với một số câu lạc bộ, đội, nhóm, facebook thực sự là kênh truyền thông tích cực, bởi lẽ, hầu hết mọi thông báo, kế hoạch và hoạt động của câu lạc bộ, đội, nhóm đều được đăng tải trên trang facebook của nhóm
Tận dụng lợi thế của các trang mạng xã hội, chúng tôi đã tuyên truyền các thông tin liên quan trên trang facebook cá nhân, trên các group của các hội nhóm, các câu lạc
bộ, các nhóm lớp Ngoài ra còn lập một trang fanage có tên: Ô nhiễm trắng và hành động của chúng ta Ở trang đó cũng như trên các nhóm khác nhau, chúng tôi đã chia sẻ
những hình ảnh, video, bài viết…về thực trạng và những hành động cần phải có để dễ dàng lan tỏa Ngoài ra, chúng tôi cập nhật thường xuyên các hoạt động của nhóm nghiên cứu và của nhà trường liên quan đến đề tài
Mục đích của biện pháp là nhằm nâng cao nhận thức của mọi người (thầy cô, bố
mẹ, học sinh) về vấn đề thực trạng ô nhiễm trắng hiện nay Khi công tác tuyên truyền
tốt, có thể cải thiện được thái độ của mọi người về vấn đề này Thực tế cũng chứng minh rằng, với tốc độ, với sự nhanh nhạy, với tính tiết kiệm nên mọi thông tin cần tuyền trải đã đến được với học sinh một cách nhanh chóng, hiệu quả
Phương pháp giáo dục này dựa trên tâm lý của đại đa số học sinh ưa thích sự nhanh nhạy của mạng xã hội, sự chuyển tải thông tin kịp thời của mạng Internet
Trang 2828
Một số hình ảnh mà chúng tôi đã thực hiện công tác tuyên truyền
Trang 2929
3.1.2 Tuyên truyền trước các tập thể học sinh, trước trường trong các hoạt động ngoài giờ lên lớp và tích hợp trong các giờ học
* Tổ chức tuyên truyền trong các buổi sinh hoạt ngoài giờ lên lớp
Cách thực hiện: chúng tôi đã cùng các cộng tác viên thực hiện đề tài tổ chức trao đổi về chủ đề nghiên cứu với các thầy cô giáo và các bạn học sinh trước trường Tại diễn đàn trao đổi trực tiếp, nhóm nghiên cứu đã có cơ hội chia sẻ thông tin, lắng nghe những điều còn băn khoăn của các bạn học sinh từ đó đưa ra những lời khuyên hữu ích
Chương trình tuyên truyền được chúng tôi lên kịch bản chi tiết, có sự giúp sức của các cộng tác viên và tình nguyện viên Tất cả các tình nguyện viên là học sinh trong trường Sở dĩ chúng tôi muốn các em học sinh thực hiện chương trình tuyên truyền để tạo nên sự gần gũi, dễ dàng chia sẻ với các bạn cùng trang lứa
Nhờ những buổi trao đổi như vậy, các em học sinh đã có cái nhìn đầy đủ hơn cũng như nhận rõ trách nhiệm của mình hơn đối với môi trường sống
(Phụ lục 3: Kịch bản tuyên truyền)
Một số hình ảnh tại các buổi tuyên truyền trước toàn trường
Hình ảnh: cộng tác viên của đề tài nghiên cứu tham gia tuyên truyền trước trường
Trang 3030
Hình ảnh: học sinh lắng nghe những chia sẻ trong buổi tuyên truyền, trả lời câu hỏi
của người dẫn chương trình
* Tuyên truyền tại các lớp học trong giờ sinh hoạt
Nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, nhằm đưa được thông tin nhiều nhất tới các lớp học, chúng tôi cùng các cộng tác viên còn kết nối với các giáo viên chủ nhiệm để chia sẻ thông tin tới các bạn học sinh trong trường tại các buổi sinh hoạt lớp Tại đây, chúng tôi thực hiện các nội dung tuyên truyền về phòng chống rác thải nhựa bằng các trò chơi, bằng việc chia sẻ kinh nghiệm làm các sản phẩm hữu ích từ rác thải loại Từ đó góp phần làm cho giờ sinh hoạt lớp vừa không bị nhàm chán, vừa trau dồi thêm kiến thức, kĩ năng cho học sinh
Hình ảnh: cộng tác viên - học sinh chia sẻ kinh nghiệm làm đồ dùng từ rác thải nhựa
Trang 3131
* Lồng ghép, tích hợp trong các môn học
Dạy học tích hợp là một quan điểm sư phạm ở đó người học cần huy động mọi nguồn lực để giải quyết một tình huống phức hợp – có vấn đề nhằm phát triển năng lực
và các phẩm chất cá nhân của học sinh Như vậy, dạy học tích hợp sẽ phát huy tối đa
sự trưởng thành và phát triển cá nhân mỗi học sinh, giúp các em thành công trong vai trò người chủ gia đình, người công dân, người lao động tương lai Dạy học tích hợp làm cho các quá trình học tập không bị tách biệt với thực tiễn cuộc sống hàng ngày, các kiến thức gắn liền với kinh nghiệm sống của học sinh
Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường được lồng ghép trong nhiều môn học Muốn cho học sinh có sự hiếu biết thấu đáo, kích thích sự khám phá tìm hiểu của học sinh thì giáo viên có thể triển khai các nhiệm vụ học tập một cách vừa sức
Với nhiệm vụ của một giáo viên giảng dạy bộ môn Ngữ văn, bản thân đã có những lợi thế nhất định trong việc lồng ghép các nội dung giáo dục bảo vệ môi trường Chẳng hạn, có thể yêu cầu các nhiệm vụ như: thuyết trình, vẽ tranh, dạy học dự án, làm
mô hình, video về các vấn đề của môi trường sống Thông qua các hoạt động như trên, học sinh có những hiểu biết sâu sắc về tình trạng môi trường hiện tại, đặc biệt là các em
có những thay đổi trong nhận thức, hành động
3.2 Thu gom và phân loại rác thải ngay tại lớp học, trường học
Cách thực hiện: Chúng tôi hướng dẫn các lớp thu gom rồi phân loại rác bằng cách: rác là các loại giấy, các loại hộp nhựa có khả năng tái chế thì giữ lại và cuối mối tuần sẽ đưa về điểm tập kết mà Đoàn trường đã quy định Việc thu gom và phân loại rác theo hướng dẫn sẽ được cộng điểm thi đua cho các lớp Không những vậy, hệ thống rác thải còn có khả năng tái chế này sẽ được gom rồi chuyển cho các công ty thu mua
để tái chế, nguồn kinh phí thu được sẽ bổ sung vào nguồn kinh phí hoạt động của Đoàn thanh niên hoặc bổ sung vào nguồn quỹ lớp Mục đích: Giúp các bạn học sinh ý thức hơn về việc giảm thải dùng đồ nhựa, hạn chế việc chôn lấp các sản phẩm nhựa mà hướng đến việc có thể góp phần vào việc tái chế Đồng thời nâng cao ý thức phân loại rác thải tại nguồn
Hình ảnh: gom rác thải nhựa từ các lớp