1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển năng lực tư duy phản biện cho học sinh thông qua vận dụng tiếp cận tranh luận khoa học trong dạy học sinh học ở trường THPT

49 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát triển năng lực tư duy phản biện cho học sinh thông qua vận dụng tiếp cận tranh luận khoa học trong dạy học sinh học ở trường THPT
Trường học Trường Trung Học Phổ Thông
Chuyên ngành Sinh học
Thể loại Đề tài
Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

XÂY DỰNG CÁC TÌNH HUỐNG ĐỂ TỔ CHỨC DẠY HỌC BẰNG TLKH Trong giới hạn của đề tài này, chúng tôi chỉ mới xây dựng được công cụvận dụng tiếp cận TLKH để phát triển năng lực TDPB cho HS là cá

Trang 1

PHẦN I - ĐẶT VẤN ĐỀ

Cuộc sống đang biến động và đổi thay từng ngày, trong thời đại mớicùng với sự phát triển kinh tế xã hội, hội nhập quốc tế sâu rộng đã tạo nhiều cơ hộilớn về mọi mặt đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức trong giáo dục thế hệ trẻ.Điều này đòi hỏi thế hệ trẻ ngoài vốn kiến thức khoa học thuần túy còn phải có khảnăng ứng biến linh hoạt, nhạy bén, có tư duy vận dụng kiến thức đã học vào thựctiễn…Trong đó, tư duy phản biện là một trong những năng lực quan trọng trongmỗi người học cần phát huy trong xu thế hội nhập toàn cầu hiện nay

Nghị quyết số 29 - NQ/TW ngày 04/11/2013 khẳng định “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực…”.

Trong dạy học nói chung, dạy học Sinh học nói riêng theo định hướngphát triển phẩm chất, năng lực cho người học có rất nhiều phương pháp, kĩ thuậtdạy học tích cực được các chuyên gia giáo dục đưa ra và nhiều giáo viên (GV) áp

dụng hiệu quả Tranh luận khoa học là một kĩ thuật dạy học tích cực có ý nghĩa

trong việc khuyến khích học sinh (HS) tham gia vào các hoạt động học, tạo chongười học có thái độ cởi mở, kích thích và khơi dậy trí tò mò đồng thời luyện tập,nâng cao năng lực tư duy phản biện và kỹ năng làm việc nhóm…Trong quá trìnhtranh luận cả GV và HS sẽ có cái nhìn đa chiều về một chủ đề, một đơn vị kiếnthức, dần dần các em sẽ chủ động nắm bắt kiến thức, tìm ra chân lí khoa học tránhlối tiếp thu kiến thức một chiều

Khảo sát thực tiễn dạy học hiện nay cho thấy số GV tổ chức dạy họctheo hình thức tranh luận khoa học (TLKH) ở các trường trung học phổ thông(THPT) hiện nay chưa nhiều Các nghiên cứu bài bản về vấn đề này ở nước ta cònhạn chế

Qua phân tích cấu trúc, nội dung phần Sinh học tế bào (Sinh học 10) vàchương Sinh trưởng và phát triển (Sinh học 11), chúng tôi thấy tổ chức cho HStranh luận về các vấn đề thuộc lĩnh vực này sẽ có nhiều thuận lợi trong việc pháttriển năng lực tư duy phản biện (NLTDPB), đồng thời góp phần phần phát triểnnhững phẩm chất và năng lực khác cho HS

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Phát triển năng lực tư duy phản biện cho học sinh thông qua vận dụng tiếp cận tranh luận khoa học trong dạy học Sinh học ở trường THPT.”

Trang 2

Những điểm mới trong đề tài của chúng tôi là

1 Thiết kế được hệ thống các tình huống chứa đựng nội dung có thể tranh luận

để phát triển năng lực tư duy phản biện cho HS

2 Đề xuất được quy trình tổ chức một cuộc tranh luận khoa học trong dạy học.

3 Xây dựng các tiêu chí và bộ công cụ để đánh giá năng lực tư duy phản biện của

HS trong dạy học chương Sinh trưởng và phát triển (Sinh học 11) và chương Thành phần hóa học của tế bào (Sinh học 10).

PHẦN II - NỘI DUNG

1 CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1 Tranh luận khoa học

Theo “Từ điển tiếng Việt thông dụng” của Như Ý, NXB Giáo dục (2002)

“Tranh luận là bàn cãi có phân tích lí lẽ để tìm ra lẽ phải” [tr808]

Từ điển Tiếng Việt thông dụng của tác giả Như Ý và cộng sự đã địnhnghĩa khoa học là “Hệ thống tri thức về thế giới khách quan” [tr514]

Từ những định nghĩa về TL và khoa học nêu trên, trong đề tài này chúng

tôi hiểu: TLKH là hình thức đối thoại thông qua ngôn ngữ giữa hai hay nhiều người, cùng trao đổi về một chủ đề, theo các quan điểm khác nhau, bằng cách đưa

ra các lập luận và chứng cứ khoa học để xác nhận hay bác bỏ một vấn đề nào đó.

Về cơ bản, TLKH là một cuộc tranh cãi có quy tắc, là cách mà các bên

có quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về một vấn đề, lần lượt đưa ra những lập luận, lí lẽ để thuyết phục người cùng TL theo lập trường của mình, đồng thời cũng dùng những bằng chứng khoa học để phản bác ý kiến của họ một cách có lôgic và khoa học TLKH không có nghĩa là bảo vệ ý kiến của mình, nâng cao bản thân mình bằng mọi giá và hạ thấp, coi thường quan điểm của người cùng

TL mà TLKH chính là một nghệ thuật: nghệ thuật thuyết phục, nghệ thuật hùng biện và trên hết là sự lắng nghe người khác một cách tích cực Đích của TLKH là

để nhận xét, đánh giá về một vấn đề, có cái nhìn đa chiều về vấn đề đó

1.1.1 Tranh luận khoa học trong dạy học

Qua tham khảo 1 số tác giả, chúng tôi cho rằng, TLKH trong dạy học là

GV tổ chức cho HS đối thoại với nhau thông qua ngôn ngữ, cùng trao đổi về mộtchủ đề nhất định, theo các quan điểm khác nhau, bằng cách hướng dẫn HS đưa racác lập luận và chứng cứ khoa học nhằm làm rõ những khía cạnh khác nhau củamột vấn đề và làm giàu vốn hiểu biết của HS theo yêu cầu của mục tiêu, nhiệm vụdạy học

Trang 3

Trong dạy học hiện nay, hầu hết nội dung kiến thức cơ bản thuộc cáclĩnh vực khoa học, đời sống đều được tóm lược khá ngắn gọn trong chương trình

SGK Nếu GV không có cách tổ chức dạy học khéo léo, linh hoạt thì HS rất dễ sa vào cách tiếp cận nội dung bài học.

Không có phương pháp giảng dạy nào là hoàn hảo Khi HS học theonhiều cách khác nhau thì lợi ích từ sự đa dạng các phương pháp giảng dạy được thểhiện trong bất kỳ lớp học nào Việc sử dụng các cuộc TL trong lớp học làm chongười học tham gia tích cực vào các hoạt động học, đồng thời giúp cho họ trở nên

có trách nhiệm hơn trong việc điều tra, trình bày và bảo vệ một vấn đề cụ thể

TL trong lớp học còn khuyến khích sự tham gia của các HS được xem là

ít nói ở lớp Cuộc TL trong lớp học còn có thể tạo ra những cơ hội có một khônghai cho HS phát triển sự thấu cảm Thông qua tiếp cận với quan điểm tương phảnhoặc bảo vệ lập trường mà HS bị phản bác, HS học cách lắng nghe cả hai bêntrong một cuộc TL và để xem xét sự việc theo nhiều chiều hướng, khía cạnh khácnhau

1.1.2 Tổ chức dạy học bằng tiếp cận TLKH

Có nhiều hình thức TL trong dạy học mà GV có thể tổ chức như: TL cánhân giữa HS với HS, TL theo nhóm hay TL giữa GV với HS

1.2 Năng lực tư duy phản biện

1.2.1 Khái niệm năng lực tư duy phản biện

Qua tham khảo một số tác giả, chúng tôi quan niệm rằng: NLTDPB làkhả năng khám phá và phát hiện bản chất của sự vật, hiện tượng, xem xét thấu đáodựa trên các bằng chứng và lập luận rõ ràng để đánh giá sự hợp lý, độ tin cậy khácvới các ý kiến, quan điểm trước đó đã nêu, với thái độ hoài nghi tích cực về mộtđiều gì đó trong một tình huống cho trước, từ đó hình thành, triển khai các ý tưởng

có tính mới lạ và phù hợp với bối cảnh

Trang 4

- Kỹ năng phân tích vấn đề cần phản biện.

- Kỹ năng nhận ra vấn đề cần phản biện

- Kỹ năng xác định luận cứ để xác nhận hay bác bỏ vấn đề

- Kỹ năng diễn đạt lập luận để thuyết phục

- Kỹ năng lắng nghe và tự rút ra kết luận khoa học cùng lôgic khám phá ra kết luận

Mỗi năng lực thành phần này chúng tôi đã thiết kế các tiêu chí để đánhgiá cụ thể và được đề cập ở chương 2 (mục 2.3.2)

1.2.4 Vai trò của tư duy phản biện

TDPB có vai trò quan trọng đối với mọi lứa tuổi Với HS THPT việc rènluyện và phát triển TDPB càng có ý nghĩa quan trọng hơn bởi những lí do sau đây:

- TDPB giúp HS vượt ra khỏi cách suy nghĩ theo khuôn mẫu, kích thích

sự sáng tạo trong tư duy

- TDPB giúp HS suy nghĩ một vấn đề theo nhiều chiều hướng khác nhauvới những cách giải quyết khác nhau Nhờ có cái nhìn đa chiều trước một vấn đềcần giải quyết trong cuộc sống, trong khoa học, trong học tập

- TDPB giúp HS có ý thức rõ ràng hơn trong việc lắng nghe và tôn trọng

ý kiến người khác trong lúc tranh luận, sẵn sàng chấp nhận sai lầm của bản thân

-một trong những kĩ năng sống quan trọng và cần thiết để giao tiếp, tạo dựng mối quan hệ tốt đẹp với mọi người.

- TDPB giúp cho chủ thể tư duy có phương pháp tư duy độc lập, có thểnhìn ra những hạn chế và sai lầm dễ mắc phải trong quá trình tư duy của chínhmình, từ đó đưa ra những nhận định, phán đoán tối ưu nhất có thể

- TDPB giúp HS luôn có suy nghĩ theo hướng tích cực, hạn chế trạngthái tâm lý chán nản, thất vọng, mất lòng tin khi gặp thất bại trong cuộc sống, tronghọc tập và các mối quan hệ

- TDPB giúp HS nâng cao kĩ năng tiếp cận mọi nguồn thông tin HS biếtchọn lọc những thông tin cần thiết, có giá trị, bổ ích cho bản thân

1.2.5 Đánh giá NLTDPB

Đánh giá nhằm mục đích đưa ra các phán định có giá trị giúp GV thayđổi, cải tiến nội dung, phương pháp để đạt được mục tiêu đề ra Đối với người học,đánh giá giúp xác định mức độ đạt được các năng lực của bản thân, làm cơ sở đểđiều chỉnh phương pháp và cách thức học cho phù hợp Việc đánh giá NLTDPBcần căn cứ vào cấu trúc, các tiêu chí mức độ biểu hiện của NLTDPB

Trang 5

1 3 TLKH trong dạy học đối với việc phát triển NLTDPB cho HS THPT

Trong dạy học, có rất nhiều phương pháp có khả năng tích cực hóa hoạtđộng và phát triển NLTDPB của HS Tuy nhiên, TLKH có ưu thế hơn cả trongviệc phát triển NLTDPB của HS Đồng thời, phát triển NLTDPB là lợi ích lớn nhất

mà TLKH mang lại

Thông qua TL, HS sẽ tự rút những bài học trong cuộc sống như tinh thầnđoàn kết khi làm việc nhóm, biết cân bằng cảm xúc, tôn trọng và biết lắng nghe,thấu hiểu người khác

Từ những phân tích trên, chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định vận dụng tiếp cận TLKH trong dạy học là cách nhanh nhất, hiệu quả nhất để phát triển NLTDPB cho HS Những vấn đề TL mà GV đưa ra sẽ kích thích HS sử dụng TDPB

và ngược lại việc sử dụng TDPB giúp cho việc giải quyết vấn đề đó nhanh hơn, hiệu quả hơn.

2 CƠ SỞ THỰC TIỄN

Để tìm hiểu về thực trạng dạy học bằng tiếp cận TLKH trong dạy học Sinhhọc ở các trường THPT hiện nay, chúng tôi đã tiến hành quan sát sư phạm, thamkhảo ý kiến, tìm hiểu qua phiếu khảo sát với các GV Sinh học và HS thuộc một sốtrường THPT trên địa bàn tỉnh Nghệ An, số GV tham gia khảo sát là 31; tổng số

HS tham gia khảo sát là 170

Bảng 1 Kết quả điều tra thực trạng dạy học bằng tiếp cận TLKH ở các trường THPT từ HS

3 Khi được GV tổ chức tranh luận, em

thường được TL vào thời điểm nào?

Học bài mới ở lớp 85 50 Củng cố bài ở lớp 56 32,9

Ôn tập chương/chuyên

đề

Thực hành thí nghiệm 20 11,8

4 Em cảm thấy thế nào khi được tham

gia TL trong giờ học Sinh học?

Trang 6

Kết quả khảo sát cho thấy, việc tiếp cận phương pháp TLKH còn xa lạ đốivới nhiều HS ở các trường THPT Khi gửi khảo sát đến HS, nhiều HS còn ngạcnhiên với phương pháp này, có những HS không biết phương pháp TL là gì vàkhông biết rằng có phương pháp này trong dạy học do chưa bao giờ được tham gia

TL trong học tập nói chung và học tập Sinh học nói riêng

Bảng 2 Kết quả điều tra thực trạng dạy học bằng tiếp cận TLKH ở

Phát triển tư duy 30 96,8

5 Khó khăn gặp phải khi sử dụng

phương pháp tranh luận?

Khó tìm ra vấn đề tranh luận

Kết quả khảo sát trên cho thấy phần lớn GV THPT đã ý thức được tác dụng

to lớn của vận dụng tiếp cận TLKH trong dạy học Sinh học, đặc biệt là đối với việcphát triển NLTDPB cho HS Tuy nhiên, đa số GV đều chưa hiểu rõ bản chất cũng

Trang 7

như cách sử dụng sao cho hiệu quả phương pháp này vì phương pháp này còn khá

xa lạ với môi trường học tập ở trường THPT

Vì vậy, chúng tôi lần nữa khẳng định rằng việc vận dụng tiếp cận TLKH đểphát triển tư duy phản biện cho HS là vấn đề rất quan trọng và cần thiết

3 VẬN DỤNG TIẾP CẬN TRANH LUẬN KHOA HỌC TRONG DẠY HỌC

SINH HỌC Ở TRƯỜNG THPT

3.1 XÂY DỰNG CÁC TÌNH HUỐNG ĐỂ TỔ CHỨC DẠY HỌC BẰNG TLKH

Trong giới hạn của đề tài này, chúng tôi chỉ mới xây dựng được công cụvận dụng tiếp cận TLKH để phát triển năng lực TDPB cho HS là các tình huốngchứa đựng nội dung có thể tranh luận và sử dụng trong dạy học chương Sinhtrưởng và phát triển (Sinh học 11) và chương Thành phần hóa học của tế bào(Sinh học 10)

3.1.1 Nguyên tắc xây dựng tình huống dạy học bằng TLKH

Khi xây dựng tình huống dạy học bằng TLKH cần đảm bảo nhữngnguyên tắc sau:

3.1.1.1 Tình huống phải có mục đích rõ ràng

Mục đích mà GV xây dựng tình huống sử dụng trong dạy học cốt là đểsau quá trình dạy học HS đạt được mục tiêu dạy học Vì vậy, khi xây dựng tìnhhuống cần bám sát mục tiêu dạy học

3.1.1.2 Tình huống phải có tính chất tranh luận

Tình huống muốn sử dụng được trong dạy học bằng TLKH thì bản thântình huống đó phải chứa đựng những xung đột, mâu thuẫn nhất định khiến HS phảisuy nghĩ và quyết định lựa chọn đứng về phe nào, chẳng hạn như HS phải đứngtrước lựa chọn giữa có hay không; đúng hay sai; đồng ý hay không đồng ý; ủng hộhay phản đối,… và vì sao các em lại có lựa chọn như vậy Điều này có nghĩa làtình huống phải xây dựng sao cho khi HS gặp phải thì buộc các em phải lựa chọnhoặc cái này hoặc cái kia mà không trung lập, khi đã lựa chọn rồi thì các em phảihuy động được vốn hiểu biết của cá nhân và đồng đội để trình bày, đưa ra các bằngchứng, lập luận để thuyết phục đội bạn đồng ý với quan điểm của đội mình hoặccũng có thể thay đổi quyết định nếu bị đội bạn thuyết phục Dưới sự hướng dẫn của

GV, cả hai đội sẽ tìm được tiếng nói chung chính là tri thức cần hướng tới

3.1.1.3 Tình huống phải có tính toàn diện

Tình huống phải được xây dựng sao cho khi HS nhìn vấn đề ở các góc

độ khác nhau các em đều có thể vận dụng hiểu biết của mình, bao gồm cả vốn kiếnthức nội môn và liên môn đã có để đưa ra những lí lẽ, hay chứng cứ khi tranh luận

để bảo vệ quan điểm của đội mình và thuyết phục đội bạn Kết quả là, cũng vẫn

Trang 8

tình huống đó nhưng nhìn ở các góc độ khác nhau nó sẽ có điểm mạnh và điểm yếunhất định Bằng cách này, tình huống tranh luận phải đảm bảo rằng khi HS tranhluận các em cùng nhau tìm ra tri thức mới và hiểu sâu sắc nội dung bài học.

3.1.1.4 Tình huống phải có tính thực tiễn

Trong thực tế, người ta có thể tranh luận với nhau về những điều rất viểnvông Tuy nhiên tình huống tranh luận trong dạy học phải chứa đựng nội dung cótính thực tiễn, nghĩa là sau khi tranh luận HS phải rút ra được tri thức khoa học cógiá trị nào đó, đáp ứng mục tiêu dạy học

3.1.1.5 Tình huống phải vừa sức, phù hợp tâm sinh lý HS, có tính chất chất khoa học và không được nhằm đến các vấn đề về chính trị, tôn giáo, phân biệt chủng tộc.

Nguyên tắc này đảm bảo rằng HS có hứng thú khi tiếp nhận tình huống.Các em có thể huy động vốn kiến thức, kinh nghiệm đã có, đồng thời háo hức tìmhiểu tri thức khoa học mới có liên quan đến vấn đề đặt ra trong bài học

3.1.2 Quy trình xây dựng tình huống dạy học bằng TLKH

Qua tham khảo một số tác giả, chúng tôi đề xuất quy trình xây dựng tình huống dạy học bằng TLKH như sau:

Bước 1: Xác định mục tiêu bài học

Bước 2: Phân tích nội dung bài học để xác định các đơn vị kiến thức có thể

xây dựng được các tình huống tranh luận

Bước 3: Diễn đạt tình huống có tính chất tranh luận

Bước 4: Đánh giá tình huống tranh luận đã xây dựng

Hình 1 Quy trình xây dựng tình huống dạy học bằng TLKH

3.2 VẬN DỤNG TIẾP CẬN TLKH ĐỂ TỔ CHỨC DẠY HỌC CHƯƠNG

SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN – SINH HỌC 11

3.2.1 Sự phù hợp của vận dụng tiếp cận TLKH để tổ chức dạy học chương Sinh trưởng và phát triển – Sinh học 11

Cấu trúc nội dung chương III – Sinh trưởng và phát triển - Sinh học 11 đượcchia thành 2 phần là sinh trưởng ở thực vật và sinh trưởng ở động vật Mỗi phần

Trang 9

đều chứa đựng nhiều nội dung kiến thức liên quan đến các vấn đề trong thực tiễnđời sống và sản xuất, rất gần gũi với HS như: các nhân tố bên trong, bên ngoài ảnhhưởng đến sinh trưởng và phát triển ở thực vật, động vật và người; hoocmôn thực

vật; điều khiển sinh trưởng và phát triển… Do đó, GV dễ dàng đưa ra các tình huống có tính chất tranh luận, làm HS hứng thú, tò mò trong việc tìm ra các chứng

cứ để chứng minh cho ý kiến hay luận điểm của mình đưa ra khi tranh luận Thôngqua tranh luận, HS được bày tỏ quan điểm, huy động vốn kiến thức đã có để làmsáng tỏ tính đa chiều của vấn đề, giúp các em biết lắng nghe, chia sẻ để hiểu nộidung bài học, bổ sung kiến thức mới theo cách tự nhiên mà sâu sắc

3.2.2 Phân tích mục tiêu, nội dung chương Sinh trưởng và phát triển

( Sinh học 11) theo công văn 3280 BGDĐT – GDTrH

(Thể hiện trong 2 giáo thực nghiệm về 2 chủ đề: Sinh trưởng, phát triển ở TV và Sinh trưởng, phát triển ở ĐV – Phần phụ lục)

3.2.3 Những nội dung có thể vận dụng tiếp cận TLKH chương Sinh trưởng và phát triển - Sinh học 11 THPT

Chương Sinh trưởng và phát triển bên cạnh các khái niệm, cơ chế thìtrong mỗi bài học đều đề cập đến các ứng dụng của các đơn vị kiến thức vào thựctiễn sản xuất và đời sống Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy những vấn đề có thể tổchức dạy học bằng TLKH để phát triển NL TDPB cho HS như sau:

Bảng 3 Bảng thống kê đơn vị kiến thức chương Sinh trưởng và phát triển có

Có phải sự phối hợp của tất cả các loại hoocmôn giúp tăng chiều cao vượt trội của 1 số loài cây không không?

Dậy thì sớm có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của trẻ không?Nên hay không nên tiêm hoocmôn sinhtrưởng? Tiêm ở giai đoạn nào là phù hợp?

Trang 10

5 Ảnh hưởng của các yếu tố

bên ngoài đến sinh trưởng và

phát triển ở động vật và

người

Bài 39, mục II

Nên hay không nên sử dụng mỹ phẩm

Có phải chiều cao của mỗi người chỉ

do gen quyết định không? Nên hay không nên quan tâm chế độ dinh dưỡng, tăng cường luyện tập để cải thiện chiều cao của con người?

3.2.3.1 Tình huống để tổ chức hoạt động Hình thành kiến thức mới

Trong quá trình tổ chức dạy học chương: Sinh trưởng và phát triển (Sinh học 11), chúng tôi đã thiết kế một số tình huống có thể tranh luận để phát triển NL TDPB Khi tổ chức các hoạt động dạy học chương này, tùy từng lớp, từng đối tượng HS và mục đích dạy học mà GV có sự vận dụng linh hoạt cho phù hợp.

Tình huống 1: Sau khi học xong bài 35 – Sinh học 11 – Hoocmôn thực vật, một

nhóm học sinh cho rằng: “Người ta có thể tạo quả không hạt bằng cách loại bỏ hạt

và xử lí AIA” Em có đồng tình với nhận định của nhóm học sinh trên không? Tại

sao?

Khi tổ chức dạy học chủ đề “Sinh trưởng ở TV”, mục II.1 – Bài 35: “Auxin”,

GV có thể tổ chức cho HS tranh luận về tình huống trên

Sau đây là 1 ví dụ về kết quả tranh luận được chúng tôi ghi lại ở 1 lớp

- Hạt là nguồn cung cấp AIA cho quả

phát triển Sau khi thụ tinh, nếu loại bỏ

hạt và xử lí AIA thì quả vẫn phát triển

bình thường

- Quả sau khi thụ tinh, muốn loại bỏ hạt

để tạo quả không hạt cần xử lí AIA tự

nhiên để không gây độc hại cho con

người

- Hạt là nguồn cung cấp AIA cho quảphát triển Nếu loại bỏ hạt và xử lí AIAngoại sinh thì quả không thể phát triểnđược

- AIA ngoại sinh dùng để xử lí hạt là

AIA nhân tạo (không có enzim phân giải) nên nếu tích lũy trong quả sẽ gây

độc hại cho người

Trang 11

Sau khi HS tranh luận, GV phân tích, đánh giá kết quả TL và chốt lại vấn đề

cơ bản, trọng tâm: Hạt là nguồn cung cấp AIA cho quả phát triển Sau khi thụ tinh, nếu loại bỏ hạt và xử lí AIA thì quả vẫn phát triển bình thường Tuy nhiên, AIA sử dụng để xử lí hạt phải là AIA tự nhiên.

Hình 2 Hạt của quả dâu tây bị loại bỏ sau khi thụ tinh, có thể thay thế nó

bằng cách xử lí AIA ngoại sinh (SGK – Sinh 11 – Tr139)

Tình huống 2: Tháng 11 năm nay là sinh nhật lần thứ 17 của Minh, để chuẩn bị

cho tiệc sinh nhật với khoảng 20 bạn tham dự, Minh đặt mua bơ qua mạng để đãicác bạn món sinh tố bơ Khi nhận hàng Minh thấy có 1/3 số bơ đã chín số còn lạigần chín Chỉ còn 2 ngày nữa là đến sinh nhật, Minh đã để quả xanh ở ngoài cònquả chín thì cho vào tủ lạnh Em có đồng tình với cách xử lí của Minh không? Tạisao?

Khi tổ chức dạy học chủ đề: “Sinh trưởng và phát triển ở TV” mục III.1 – Bài 35 “Êtilen”, GV có thể tổ chức cho HS tranh luận về tình huống trên

Sau đây là 1 ví dụ về kết quả tranh luận được chúng tôi ghi lại ở 1 lớp

Quả được tạo ra do thụ tinh bình thường

Quả bị loại bỏ hạt và xử lí AIA

Quả bị loại bỏ hạt và không xử lí AIA

Trang 12

- Quả chín mau hỏng để trong tủ lạnh ăn

trước, quả xanh để ngoài ăn sau

- Quả chín mau thối hỏng do sự xâm

nhập của virut, để lẫn quả xanh sẽ làm

quả xanh mau hỏng nên có thể thiếu bơ

cho việc dự định mời 20 “vị khách” của

Minh

- Tháng 11, trời lạnh, quả lâu chín đểriêng như vậy chỉ còn 2 ngày nữa quảxanh sẽ không kịp chín

- Trong quả chín có nhiều êtilen, chấtnày có vai trò thúc quả chóng chín Nên

để lẫn quả xanh và quả chín để êtilen từquả chín khuếch tán sang quả xanh làmquả xanh mau chín hơn

Sau khi HS tranh luận, GV phân tích, đánh giá kết quả TL và chốt lại vấn đề

cơ bản, trọng tâm: Êtilen có nhiều trong quả đang chín, quả chín; có vai trò thúc quả chong chín Khi để quả xanh lẫn quả chín thì các phân tử êtilen từ quả chín sẽ khuếch tán sang quả xanh kích thích nhanh quá trình chín của các quả xanh.

Tình huống 3: Nhà chị Lan có bé gái 3 tuổi, do sợ con ốm nên chị rất ít cho con

ra ngoài, mỗi khi ra ngoài chị đều trùm kín vì sợ nắng làm con ốm Mỗi ngàychị đều cho con uống sữa 2-3 lần, ăn các thực phẩm giàu canxi thế nhưng khiđưa con đi khám, xét nghiệm kết quả vẫn thiếu canxi Em đồng tình hay phảnđối cách chăm sóc con gái chị của chị Lan? Tại sao?

Khi tổ chức dạy học chủ đề: “Sinh trưởng và phát triển ở ĐV”, mục II.3 Bài 39 : “Ảnh hưởng của ánh sáng đến sinh trưởng và phát triển ở ĐV”, GV có thể tổ chức cho HS tranh luận về tình huống trên

-Sau đây là 1 ví dụ về kết quả tranh luận được chúng tôi ghi lại ở 1 lớp

- Chị Lan đã chăm sóc con rất chu đáo

nhưng có thể khả năng hấp thu canxi

của con kém nên kết quả xét nghiệm bé

vẫn thiếu canxi

- Để cải thiện tình trạng thiếu canxi của

con gái chị Lan cần cho trẻ uống thêm

thực phẩm chức năng có chứa canxi

- Vitamin D giúp tăng hấp thu canxi Trẻtắm nắng ở ánh sáng yếu (sáng sớmhoặc chiều tối), tia tử ngoại tác động lên

da giúp biến tiền vitamin D thànhvitamin D → tăng chuyển hóa canxi đểhình thành xương

- Mỗi khi ra nắng chị Lan trùm kín đãngăn cản hình thành vitamin D → békhông hấp thu được canxi → thiếucanxi Chị Lan cần thay đổi cách chămsóc con gái, tạo điều kiện cho bé đượctắm nắng

Sau khi HS tranh luận, GV phân tích, đánh giá kết quả TL và chốt lại vấn đề

cơ bản, trọng tâm: Nên cho trẻ tắm vào sáng sớm hoặc chiều tối (khi ánh sáng

Trang 13

yếu) vì tia tử ngoại trong ánh sáng tác động lên da biến tiền vitamin D thành vitamin D Vitamin D có vai trò trong chuyển hóa canxi để hình thành xương qua

đó ảnh hưởng đến sinh trưởng.

Tình huống 4: Bệnh viện Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh mới đây đã

thông tin về một trường hợp sau gần 1 năm rưỡi tiêm hoocmôn sinh trưởng, bổsung các hoocmôn tuyến yên, bé trai N.M.T (14 tuổi, Bình Phước) đã tăng chiềucao hơn 18cm, so với chiều cao trước đó chỉ 135cm

Bé trai này mặc dù đã 14 tuổi nhưng chỉ nặng 33kg, cao 135cm (so vớichuẩn chiều cao trung bình thì bé thiếu đến 28cm) Mỗi năm bé chỉ tăng 1 - 2cm vàthậm chí có năm không tăng Bác sĩ nhận định bé T bị thiếu hụt hoocmôn sinhtrưởng trầm trọng do suy tuyến yên toàn bộ Tháng 2 - 2019, các bác sĩ đã tiêmhoocmôn sinh trưởng, đồng thời bổ sung các hoocmôn tuyến yên cho bé Đến giữatháng 9 - 2020, chiều cao của bé tăng hơn 18cm, đạt hơn 153cm

Sau khi đọc báo, biết được thông tin trên, Mai và Hiền (học sinh lớp 11A3,năm nay đã 17 tuổi) rỉ tai nhau về xin tiền bố mẹ để tiêm hoocmôn sinh trưởng hivọng tăng chiều cao thêm khoảng 10cm (Hiện tại 2 nữ sinh này chỉ cao 1m55) Emủng hộ hay phản đối dự định “cải tạo” chiều cao của Hiền và Mai? Vì sao?

Khi tổ chức dạy học chủ đề: “Sinh trưởng và phát triển ở ĐV”, mục I.1 – bài 38: “Ảnh hưởng của hoocmôn đến sinh trưởng và phát triển của ĐV có xương sống”, GV có thể tổ chức cho HS tranh luận về tình huống trên

Sau đây là 1 ví dụ về kết quả tranh luận được chúng tôi ghi lại ở 1 lớp

- Biết được thông tin này là cơ hội vàng

Hai bạn cần nhanh chóng xúc tiến dự

định để cải thiện chiều cao

- Hoocmôn sinh trưởng (GH) do tuyến

yên tiết ra giúp kích thích phát triển

xương (xương dài ra và to lên) Hai bạn

đã có dự định cần tiêm ngay trong 2

năm lớp 11 và lớp 12

- So với các bạn khối 11, chắc chắn 2

bạn thiếu hoocmôn sinh trưởng nên

- Nhiều nghiên cứu của các nhà khoa

học đề cập chỉ tiêm hoocmôn sinh trưởng cho trẻ em ở độ tuổi đang lớn (có

chiều cao khiêm tốn do thiếu GH vàphải xác định chắc chắn có nồng độ GHtrong máu thấp bằng xét nghiệm)

- Hai bạn đã 17 tuổi, có thể 2 bạn đã kếtthúc giai đoạn dậy thì, các đầu xương đãđóng nên việc tiêm hoocmôn sẽ khôngcòn tác dụng mà có thể gây nhiều tácdụng phụ như to đầu xương chi, nhứcđầu đau xương khớp, sưng tay chân…

- Muốn tiêm hoocmôn sinh trưởng 2 bạncần đi khám, chụp X quang để kiểm tra

sự phát triển của xương và xét nghiệm

Trang 14

không cần thiết phải đi khám và làm các

xét nghiệm mất thời gian, cần tiêm

ngay, càng sớm càng tốt

xem mình có thực sự bị thiếu hoocmônsinh trưởng Nếu 2 bạn không bị thiếuhụt hoocmôn sinh trưởng thì cần quantâm đến chế độ dinh dưỡng, luyện tậpthể dục thể thao để có thể phát triểnthêm về chiều cao

Sau khi HS tranh luận, GV phân tích, đánh giá kết quả TL và chốt lại vấn đề

cơ bản, trọng tâm: Hoocmôn sinh trưởng có vai trò kích thích phân chia tế bào và tăng kích thước của tế bào; kích thích quá trình sinh trưởng và phát triển bình thường của cơ thể Chỉ tiêm hoocmôn sinh trưởng khi thực sự bị thiếu hụt loại hoocmôn (qua kết quả xét nghiệm) và không nên tiêm khi đã kết thúc giai đoạn dậy thì (do các đầu xương đã đóng)

Tình huống 5: Khi nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ lên sự sinh trưởng của

động vật biến nhiệt, bạn Vinh cho rằng: “Không nên nuôi cá rô phi vào mùa đông

vì vào mùa này cá thường lớn chậm, dễ mắc bệnh, thậm chí có thể chết” Em có

đồng ý với quan điểm của bạn Vinh không? Hãy đưa ra lập luận để bảo vệ quanđiểm của mình

Khi tổ chức dạy học chủ đề: “Sinh trưởng và phát triển ở ĐV”, mục II.2 Bài 39 “Ảnh hưởng của nhiệt độ đến sinh trưởng và phát triển ở ĐV”, GV có thể tổ chức cho HS tranh luận về tình huống trên

-Sau đây là 1 ví dụ về kết quả tranh luận được chúng tôi ghi lại ở 1 lớp

- Cá là động vật biến nhiệt Vào mùa

đông, nhiệt độ thường thấp → thân

nhiệt giảm → hoạt tính của các enzim

giảm → các quá trình chuyển hóa

trong cơ thể giảm → cá thường lớn

chậm, dễ mắc bệnh, thậm chí có thể

chết

- Nếu nuôi cá rô phi vào mùa đông, xét

về mặt kinh tế người nuôi thủy sản sẽ

bị lỗ

- Cần tìm hiểu để khắc phục các thay đỏibất lợi của môi trường trong mùa đông;Tham khảo các chuyên gia nuôi trồngthủy sản về cách thả giống, chăm sóc vàquản lý các yếu tố môi trường ao nuôi thìmùa đông vẫn có thể nuôi cá rô phi được

- Nên nuôi cá mùa đông để đảm bảo cágiống, cá thịt qua vụ đông Để giảm thiểurủi ro do thời tiết lạnh, người nuôi cá cầnnắm vững kỹ thuật nuôi cá qua đông

Các bạn có thể tham khảo bài viết ở link sau:

Trang 15

Sau khi HS tranh luận, GV phân tích, đánh giá kết quả TL và chốt lại vấn đề

cơ bản, trọng tâm: Cá rô phi là động vật biến nhiệt Đối với động vật biến nhiệt: Khi nhiệt độ môi trường xuống thấp (trời rét) làm thân nhiệt của ĐV giảm theo Khi đó các quá trình chuyển hóa trong cơ thể giảm, thậm chí bị rối loạn; các hoạt động của ĐV như sinh sản, kiếm ăn cũng bị giảm Vì thế, quá trình sinh trưởng, phát triển chậm lại.

Tình huống 6: Huy là học sinh lớp 12, hàng xóm của Huy là Khôi (HS sinh lớp

9) Em Khôi đã vỡ giọng nhưng chiều cao mới chỉ đạt 1,55 m Với mong muốngiúp em cải thiện chiều cao, cứ mỗi chiều Huy rủ Khôi đi chơi bóng rổ và khuyên

Khôi nên lưu ý khẩu phần ăn hằng ngày Khôi nói: “Khó cải thiện lắm anh ơi, bố

mẹ em đều không cao nên em cũng chẳng hi vọng gì, chơi thể thao và chuẩn bị bữa ăn rườm ra chỉ mất thời gian thôi anh ạ” Em ủng hộ hay phản đối quan điểm

của Nam? Tại sao?

Khi dạy học chủ đề: “Sinh trưởng và phát triển ở động vật”, mục III – bài 39, GV có thể tổ chức cho HS tranh luận về tình huống trên

Sau đây là 1 ví dụ về kết quả tranh luận được chúng tôi ghi lại ở 1 lớp

- Chiều cao chủ yếu do di truyền (kiểu

gen) quyết định Dinh dưỡng và luyện

tập chỉ đóng vai trò nhỏ trong sự phát

triển chiều cao của trẻ

- Bố mẹ Nam đều không cao nên dù

Nam có luyện tập và dinh dưỡng tốt thì

sự cải thiện cũng là không đáng kể

- Theo nhiều nghiên cứu của các nhàkhoa học, chiều cao của trẻ chỉ bị ảnhhưởng khoảng 23% từ yếu tố di truyền,dinh dưỡng lại đóng góp đến 32%; chế

độ vận động, thể dục thể thao quyết định20% Còn lại là những yếu tố của môitrường sống, giấc ngủ…

- Bố mẹ Nam đều không cao nhưng nếuNam đặc biệt quan tâm đến chế độ dinhdưỡng, luyện tập thể dục thể thao… thìNam hoàn toàn có thể cải thiện đáng kểchiều cao của mình

Sau khi HS tranh luận, GV phân tích, đánh giá kết quả TL và chốt lại vấn đề

cơ bản, trọng tâm: Sự tăng trưởng chiều cao của người là sự kết hợp của nhiều yếu tố, trong đó 3 yếu tố đóng vai trò chủ đạo là di truyền, dinh dưỡng và luyện tập thể dục, thể thao Khôi là HS lớp 9, có thể đây là giai đoạn vàng của tăng trưởng chiều cao Vì vậy, Khôi cần đặc biệt lưu ý chế độ dinh dưỡng hằng ngày và

Trang 16

môn thể thao giúp tăng chiều cao (bóng rổ, bơi, xà đơn…) thì có thể sẽ “cải thiện” chiều cao đáng kể so với bố mẹ.

3.2.3.2 Tình huống để tổ chức hoạt động Luyện tập/Vận dụng/Kiểm tra đánh giá

Các tình huống mà chúng tôi xây dựng trong đề tài này, trong quá trìnhdạy học GV có thể vận dụng linh hoạt để tổ chức hoạt động luyện tâp/vậndụng/kiểm tra đánh giá

Tình huống 7: Khi nước lũ tràn về, cây lúa nước sâu có thể luôn ngoi lên trên mặt

nước Tốc độ sinh trưởng của loài cây này đo được đến 25cm/ngày Giải thích về

sự sinh trưởng chiều cao của loài cây này, bạn Nhật cho rằng: “Do người trồng lúa bón nhiều phân và tác động phối hợp của tất cả các loại hoocmôn trong cây giúp tốc độ sinh trưởng của cây lúa nước sâu đạt 25cm/ngày” Em có đồng tình

với giải thích của bạn Nhật không? Tại sao?

Hình 3 Cây lúa nước sâu (http://dwrm.gov.vn/index.php?

language=vi&nv=news&op=Khoa-hoc-Cong-nghe/Su-dung-gen-lua-de-thich-ung-voi-lu-lut-7380) Khi dạy học chủ đề: “Sinh trưởng và phát triển ở thực vật”, phần: Luyện tập/Vận dụng, GV có thể tổ chức cho HS tranh luận về tình huống trên

Sau đây là 1 ví dụ về kết quả tranh luận được chúng tôi ghi lại ở 1 lớp

Trang 17

- Bón nhiều phân giúp cây sinh trưởng

nhanh nên có thể đạt chiều dài tối đa ở

từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển

- Hoocmôn TV có vai trò kích thích sự

sinh trưởng sinh trưởng giãn dài của tế

bào, kích thích sự sinh trưởng chiều cao

của cây nên sự phối hợp của tất cả các

loại hoocmôn trong cây giúp tốc độ sinh

trưởng của cây lúa nước sâu đạt

25cm/ngày”.

- Cây lúa nước sâu đạt 25cm/ngày là do

hoạt động của mô phân sinh lóng và môphân sinh đỉnh, phân bón chỉ có tác dụng

hỗ trợ

- Cây lúa nước sâu đạt 25cm/ngày là do

sự phối hợp của auxin, gibêrelin,xitokinin, trong đó gibêrelin đóng vai tròchủ đạo Axit abxixic, êtylen là cáchoocmôn ức chế nên không có tác dụngđối với sự tăng chiều dài của loài cây này

Sau khi HS tranh luận, GV phân tích, đánh giá kết quả TL và chốt lại vấn đề

cơ bản, trọng tâm: Sự tăng chiều dài của cây lúa nước sâu đạt 25cm/ngày ngoài vai trò của phân bón thì tác động chủ yếu thuộc về hoạt động của mô phân sinh lóng, mô phân sinh đỉnh và tác động phối hợp của các hoocmôn kích thích (auxin, gibêrelin, xitokinin), trong đó gibêrelin đóng vai trò chủ đạo Axit abxixic, êtylen

là các hoocmôn ức chế nên không có tác dụng làm tăng chiều dài của loài cây này.

Tình huống 8: Vài tháng gần đây, cô con gái hơn 7 tuổi nhà chị Hoa phàn nàn với

mẹ về tình trạng bị đau ở hai bên ngực Sắp xếp công việc đưa con đi khám tạiBệnh viện Nhi Trung ương, chị Hoa bàng hoàng khi các bác sĩ cho biết, bé nhà chị

bị dậy thì sớm Khi nghe câu chuyện này, bạn Hải cho rằng: “Dậy thì sớm hay muộn cũng chẳng ảnh hưởng gì đến sự phát triển của trẻ” Em có đồng tình với ý

kiến của bạn Hải không? Vì sao?

Khi dạy học chủ đề: “Sinh trưởng và phát triển ở động vật”, phần: Luyện tập, vận dụng, GV có thể tổ chức cho HS tranh luận về tình huống trên.

Sau đây là 1 ví dụ về kết quả tranh luận được chúng tôi ghi lại ở 1 lớp

Trang 18

- Dậy thì sớm hay muộn cũng chẳng ảnh

hưởng gì đến sự phát triển của trẻ

- Dậy thì sớm trẻ sẽ sớm ổn đinh về tâm

lí, giúp trẻ tự tin hơn trong các hoạt

động

- Ở giai đoạn dậy thì nồng độ nồng độ

ơstrôgen ở buồng trứng/testostêrôn ở

tinh hoàn tăng cao giúp tăng nhanh sự

phát triển xương Trong tổng thời gian

sinh trưởng và phát triển của một con

người, dậy thì sớm trẻ sẽ cao sớm còn

dậy thì muộn trẻ sẽ tăng trưởng chiều

cao muộn nhưng tổng sẽ không đổi

độ ơstrôgen ở buồng trứng/testostêrôn ởtinh hoàn tăng mạnh kích thích sự hìnhthành các đặc điểm sinh dục phụ thứcấp Dậy thì sớm là khi trẻ có các dấuhiệu phát triển về giới tính trước 8 tuổiđối với nữ và trước 9 tuổi đối với nam

- Dậy thì sớm ở trẻ có thể gây ra tâm lýngại ngùng, dễ làm trẻ thiếu tự tin ảnhhưởng tới chất lượng học tập của trẻ

- Dậy thì sớm ở trẻ làm các khớp xương

bị đóng sớm hơn bình thường, rút ngắnthời gian sinh trưởng do đó làm ảnhhưởng tới chiều cao của trẻ khi trưởngthành

- Dậy thì sớm, trẻ có xu hướng quan hệtình dục sớm trước tuổi trưởng thànhgây hậu quả với trẻ gái là có thai ngoài ýmuốn do chưa đủ kiến thức

Sau khi HS tranh luận, GV phân tích, đánh giá kết quả TL và chốt lại vấn đề

cơ bản, trọng tâm: Bình thường trẻ gái bước vào độ tuổi dậy thì trung bình từ 8

-13 tuổi và ở trẻ trai là từ 9 - 14 tuổi Ở độ tuổi này nồng độ ơstrôgen ở buồng trứng/testostêrôn ở tinh hoàn tăng mạnh kích thích sự hình thành các đặc điểm sinh dục phụ thứ cấp Nếu dậy thì (sớm trước 8 tuổi đối với nữ và trước 9 tuổi đối với nam) sẽ ảnh hưởng lớn đến sự phát triển thể chất (ảnh hưởng đến sự phát triển chiều cao do các khớp xương bị đóng sớm) và tâm lí.

Tình huống 9: Cô bé Lee Eun Chae, sinh năm 2011 ở Hàn Quốc nổi tiếng mạng

xã hội với gương mặt xinh xắn, phong cách ăn mặc thời trang sành điệu Cô bé

được mệnh danh là "cô bé 6 tuổi xinh nhất thế giới" này đã được mẹ rất quan tâm

đến khẩu phần ăn và cho dùng mỹ phẩm, chăm sóc da sớm Mới đây thông tin cô

bé không thể phát triển chiều cao dù đang tuổi ăn tuổi lớn đã được cộng đồngmạng rất quan tâm Bố mẹ của mẫu nhí này đã đưa con đi kiểm tra Sau khi thăm

khám, các bác sĩ cho biết tuổi xương của Eun Chae hiện tại đã đạt tới mức 16 tuổi,

phát triển hoàn thiện và khó có thể cao thêm, mặc dù bé chỉ mới 9 tuổi Phỏng

đoán về nguyên nhân của hiện tượng trên, một nhóm HS cho rằng: Có thể do mẫu nhí này sử dụng mỹ phẩm từ quá sớm trong 1 thời gian dài dẫn đến hiện tượng dậy thì sớm Em có đồng tình với ý kiến của nhóm HS trên không? Vì sao?

Trang 19

Hình 4 Mẫu nhí ở Hàn Quốc Lee Eun Chae, sinh năm 2011

cao-vi-lam-dung-my-pham-qua-som 520029.html)

(https://baophapluat.vn/the-gioi-sao/mau-nhi-noi-tieng-han-quoc-dung-Khi dạy học chủ đề: “Sinh trưởng và phát triển ở động vật”, phần: Luyện tập, vận dụng , GV có thể tổ chức cho HS tranh luận về tình huống trên

Sau đây là 1 ví dụ về kết quả tranh luận được chúng tôi ghi lại ở 1 lớp

- Mẹ của bé rất quan tâm đến chế độ ăn

nên nguyên nhân dậy thì sớm có thể do

bé sử dụng mỹ phẩm từ rất sớm

- Theo nghiên cứu của tại Đại học

California-Berkeley (Mỹ) cho thấy

những hóa chất liên quan đến tình trạng

dậy thì sớm gồm phthalate (thường có

trong nước hoa, xà bông, dầu gội và

chất khử mùi); paraben (chất bảo quản

trong mỹ phẩm) và phenol (có trong mọi

thứ từ son môi đến kem dưỡng da hay

- Mỹ phẩm không liên quan đến hiệntượng dậy thì sớm ở trẻ Mẫu nhí nàydậy thì sớm có thể do ăn các loại thức

ăn nhanh

- Mỹ phẩm là an toàn cho mọi lứa tuổi

Sử dụng mỹ phẩm sớm không thể gâydậy thì sớm ở trẻ mà giúp trẻ trông xinhxắn hơn nhờ đó trẻ tự tin hơn

Trang 20

triclosan trong kem đánh răng).

- Bố mẹ không nên cho con làm điệu từ

nhỏ, một hai tuổi đã cho sơn móng tay

móng chân, uốn tóc, dùng mỹ phẩm

make up để tránh hiện tượng dậy thì

sớm gây rối loạn nội tiết tố, nguy hại

sức khỏe về sau

- Các bà mẹ có thể cho con làm điệu từnhỏ như sơn móng tay móng chân, uốntóc, dùng mỹ phẩm make up vì mỹphẩm là vô hại và trông con xinh xắnhơn

Sau khi HS tranh luận GV phân tích, bổ sung và kết luận: Sử dụng mỹ phẩm khi các bé còn nhỏ tuổi có thể gây dậy thì sớm do trong nhiều loại mỹ phẩm (thuốc làm móng tay/chân, son, phấn, thuốc nhuộm tóc… chứa những hóa chất liên quan đến tình trạng dậy thì sớm.

Tình huống 10: Khi nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ lên sự sinh trưởng của

người, bạn Linh cho rằng: “Vào mùa đông trẻ em thường lớn chậm và dễ ốm” Em

có đồng tình với quan điểm của bạn Linh không? Làm thế nào để khắc phục tìnhtrạng trên? Hãy đưa ra lập luận để bảo vệ quan điểm của mình

Khi dạy học chủ đề: “Sinh trưởng và phát triển ở động vật”, phần: Luyện tập, vận dụng, GV có thể tổ chức cho HS tranh luận về tình huống trên

Sau đây là ví dụ kết quả tranh luận được chúng tôi ghi lại ở 1 lớp

- Người được xếp vào nhóm động vật

hằng nhiệt Vào mùa đông, nhiệt độ

thường thấp → cơ thể mất nhiều nhiệt

vào môi trường xung quanh để duy trì

thân nhiệt; các quá trình hô hấp tế bào

tăng lên nên trẻ em dễ bị sút cân và ốm

Không thể khắc phục được tình trạng

trên, mùa đông chấp nhận trẻ chậm lớn

và dễ ốm; sang mùa xuân, thu, hè trẻ sẽ

tăng cân để bù lại

- Khắc phục những bất lợi của thời tiếtmùa đông bằng cách mặc đủ ấm, tăngkhẩu phần ăn, ăn thức ăn đủ ấm, tắmnước ấm và được sưởi ấm sau tắm →đáp ứng quá trình hô hấp tế bào tăng đểduy trì thân nhiệt và đủ năng lượng chocác hoạt động của trẻ thì trẻ em vẫn sinhtrưởng, phát triển bình thường

Sau khi HS tranh luận GV phân tích, bổ sung và kết luận: Vào mùa đông, nhiệt độ thường thấp → cơ thể mất nhiều nhiệt vào môi trường xung quanh để duy trì thân nhiệt; các quá trình hô hấp tế bào tăng lên nên trẻ em dễ bị sút cân và ốm Khắc phục những bất lợi của thời tiết mùa đông bằng cách mặc đủ ấm, tăng khẩu phần ăn, ăn thức ăn đủ ấm, tắm nước ấm và được sưởi ấm sau tắm → đáp ứng quá trình hô hấp tế bào tăng để duy trì thân nhiệt và đủ năng lượng cho các hoạt động của trẻ thì trẻ em vẫn sinh trưởng, phát triển bình thường.

Trang 21

Tình huống 11: Khi nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ lên sự sinh trưởng của

động vật hằng nhiệt, bạn Hiển cho rằng: “Không nên nuôi lợn vào mùa đông vì vào mùa này lợn sẽ bị sút cân và dễ mắc bệnh, thậm chí có thể chết” Em có đồng

tình với quan điểm của bạn Hiển không? Hãy đưa ra lập luận để bảo vệ quan điểmcủa mình

Sử dụng tình huống này để kiểm tra, đánh giá sau khi dạy xong chủ đề:

“Sinh trưởng và phát triển ở ĐV”, chúng tôi tổng hợp được 2 nhóm ý kiến chủ yếu như sau:

- Lợn là động vật hằng nhiệt Vào mùa

đông, nhiệt độ thường thấp → cơ thể

mất nhiều nhiệt vào môi trường xung

quanh để duy trì thân nhiệt; các quá

trình hô hấp tế bào tăng lên nên lợn dễ

bị sút cân, mắc bệnh thậm chí có thể

chết

- Nếu nuôi lợn vào mùa đông, lợn lớn

chậm, người chăn nuôi sẽ bị lỗ

- Khắc phục những bất lợi của thời tiếtmùa đông bằng cách đảm bảo chuồngtrại đủ ấm, tăng khẩu phần ăn, ăn thức ăn

đủ ấm, tắm nước ấm và được sưởi ấmsau tắm → đáp ứng quá trình hô hấp tếbào tăng để duy trì thân nhiệt và đủ nănglượng cho các hoạt động của lợn thì lợnvẫn sinh trưởng, phát triển bình thường

- Hoàn toàn có thể nuôi lợn mùa đông đểđảm bảo nguồn giống và thịt qua vụđông Để giảm thiểu rủi ro do thời tiếtlạnh, người nuôi lợn cần nắm vững kỹthuật nuôi lợn qua đông

Có thể tham khảo bài viết ở link sau:

vao-mua-dong-can-chu-y-nhung-gi

https://www.petmart.vn/nuoi-lon-canh-Sau khi phân tích kết quả bài làm của HS, GV chốt vấn đề: Lợn là ĐV hằng nhiệt Đối với ĐV hằng nhiệt: Khi nhiệt độ môi trường xuống thấp (trời rét) Do thân nhiệt cao hơn so với nhiệt độ môi trường nên ĐV mất nhiều nhiệt vào môi trường xung quanh Để bù lại lượng nhiệt đã mất, cơ chế chống lạnh được tăng cường, quá trình chuyển hóa ở tế bào tăng lên, các chất hữu cơ trong cơ thể bị oxi hóa nhiều hơn Nếu không được ăn đầy đủ để bù lại các chất đã bị oxi hóa (tăng khẩu phần ăn so với ngày bình thường) thì động vật sẽ bị sút cân và dễ mắc bệnh, thậm chí có thể chết Tuy nhiên, vào những ngày trời rét, nếu được ăn uống đầy

đủ, ĐV sẽ tăng cân do cơ thể tăng cường chuyển hóa và tích lũy các chất dự trữ để chống rét.Vì vậy vẫn có thể nuôi lợn vào mùa đông nhưng lưu ý tăng khẩu phần ăn

và đảm bảo chuồng trại đủ ấm.

Trang 22

Tình huống 12: Trúc sào (Phyllostacthys pubescens) là một trong những loài thực

vật sinh trưởng nhanh nhất Thân cây này có thể sinh trưởng hơn 1 m/ngày Giải

thích về sự tăng chiều dài của loài cây này một nhóm HS cho rằng: “Sự phối hợp của tất cả các loại hoocmôn trong cây giúp trúc sào (Phyllostacthys pubescens) tăng chiều dài hơn 1 m/ngày” Em có đồng tình với giải thích của nhóm HS trên

không? Hãy đưa ra lập luận để bảo vệ quan điểm của mình

Hình 5 Trúc sào – cây trồng mũi nhọn tỉnh Cao Bằng

(https://thuongmaibiengioimiennui.gov.vn/san-pham-vung-mien/2020/8/mo-rong-dien-tich-truc-sao-cay-trong-mui-nhon-tinh-cao-bang)

Sử dụng tình huống này để kiểm tra, đánh giá sau khi dạy xong chủ đề:

“ Sinh trưởng và phát triển ở TV ”, chúng tôi tổng hợp được 2 nhóm ý kiến chủ yếu như sau:

Hoocmôn thực vật có vai trò kích

thích sự sinh trưởng sinh trưởng giãn dài

của tế bào, kích thích sự sinh trưởng

chiều cao của cây nên sự phối hợp của

tất cả các loại hoocmôn trong cây giúp

trúc sào (Phyllostacthys pubescens)

tăng chiều dài hơn 1 m/ngày”.

Trúc sào tăng chiều dài hơn 1 m/ngày là do sự phối hợp của auxin,

gibêrelin, xitokinin, trong đó gibêrelinđóng vai trò chủ đạo Axit abxixic,êtylen là các hoocmôn ức chế nên không

có tác dụng đối với sự tăng chiều dàicủa loài cây này

Sau khi phân tích kết quả bài làm của HS, GV chốt vấn đề: Hoocmôn thực

vật gồm 2 nhóm: hoocmôn kích thích (gồm auxin, gibêrelin, xitokinin) và

Trang 23

hoocmôn (gồm Axit abxixic, êtylen) Sự tăng chiều dài hơn 1m/ngày của Trúc sào (Phyllostacthys pubescens) là do sự phối hợp của auxin, gibêrelin, xitokinin, trong

đó gibêrelin đóng vai trò chủ đạo.

3.3 VẬN DỤNG TIẾP CẬN TLKH ĐỂ TỔ CHỨC DẠY HỌC CHƯƠNG: THÀNH PHẦN HÓA HỌC CỦA TẾ BÀO – SINH HỌC 10

3.3.1 Sự phù hợp của vận dụng tiếp cận TLKH để tổ chức dạy học chương: Thành phần hóa học của tế bào - Sinh học 10

Cấu trúc nội dung chương: Thành phần hóa học của tế bào – Sinh học 10chứa đựng nhiều nội dung kiến thức liên quan đến các vấn đề trong thực tiễn đờisống như vai trò của nước, cấu trúc và chức năng của các hợp chất hữu cơ chủ yếucấu tạo nên tế bào Hiểu được chức năng của các chất cấu tạo nên tế bào giúp họcsinh biết vận dụng dinh dưỡng hợp lí trong xây dựng khẩu phần ăn hằng ngày…

Do đó, GV dễ dàng đưa ra các tình huống có tính chất tranh luận, làm HS hứng

thú, tò mò trong việc tìm ra các chứng cứ để chứng minh cho ý kiến hay luận điểmcủa mình đưa ra khi tranh luận

3.3.2 Những nội dung có thể vận dụng tiếp cận TLKH chương: Thành phần hóa học của tế bào – Sinh học 10

Chương Thành phần hóa học của tế bào bên cạnh các khái niệm, cấutrúc, chức năng của các chất cấu tạo nên tế bào thì trong mỗi bài học đều đề cậpđến ứng dụng của các đơn vị kiến thức vào thực tiễn đời sống Qua nghiên cứu,chúng tôi thấy những vấn đề có thể tổ chức dạy học bằng TLKH để phát triển NLTDPB như sau:

Bảng 4 Bảng thống kê đơn vị kiến thức phần sinh học tế bào có thể

Bón phân cho cây trồng thế nào là hợp lí?

2 Vai trò của

nước đối với TB

Bài 3, mục II.2

Uống nước thế nào là hợp lí?

3 Cacbohidrat Bài 4, - Người mắc bệnh tiểu đường có cần phải hạn chế

ăn cơm hay không?

Trang 24

(Đường) mục I - Trẻ em ăn nhiều kẹo có bị suy dinh dưỡng không?

- Có phải tất cả các bệnh nhân tiểu đường đều phải tiêm insulin?

- Trong sữa tươi nguyên chất có/không có đường?

mục II

Dầu thực vật hay mỡ động vật tốt hơn?

5 Prôtêin Bài 5 Liệu có phải ăn chay tốt cho sức khỏe?

3.3.2.1 Tình huống để tổ chức hoạt động Hình thành kiến thức mới

Trong quá trình tổ chức dạy học chương: Thành phần hóa học của tế bào, ), chúng tôi đã thiết kế một số tình huống có thể tranh luận để phát triển NL TDPB Khi tổ chức các hoạt động dạy học chương này, tùy từng lớp, từng đối tượng HS và mục đích dạy học mà GV có sự vận dụng linh hoạt cho phù hợp.

Tình huống 1: Dưới đây là cách ghi nhãn sữa của 2 công ty sản xuất sữa.

Hình 6 Cách ghi nhãn sữa

Theo em công ty nào ghi nhãn sữa đúng, công ty nào ghi chưa đúng? Giải thích

Khi tổ chức dạy học chủ đề: “Thành phần hóa học của tế bào”, mục I – bài 4: “Cacbohđrat”, GV có thể tổ chức cho HS tranh luận về tình huống trên

Sau đây là 1 ví dụ về kết quả tranh luận được chúng tôi ghi lại ở 1 lớp

Nhóm ủng hộ công ty Mộc Châu Nhóm ủng hộ công ty vinamilk

- Trong sữa bò tươi nguyên chất không

chứa bất cứ loại đường nào

- Dựa vào cấu trúc hóa học người ta chiađường thành các loại đường đơn gồm glucôzơ (đường nho), fructôzơ (đườngquả), galactôzơ; đường đôi gồm

Sữa bò tươi nguyên chất

không đường Sữa tươi nguyên chất

Ngày đăng: 21/05/2021, 21:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w