1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển năng lực khoa học cho học sinh thông qua tổ chức thực hiện một số chủ đề giáo dục STEM trong bài ancol hóa học cơ bản 11

61 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Năng Lực Khoa Học Cho Học Sinh Thông Qua Tổ Chức Thực Hiện Một Số Chủ Đề Giáo Dục Stem Trong Bài “Ancol” Hóa Học Cơ Bản 11
Tác giả Đinh Sơn Hoài, Trần Thị Thanh Hà
Trường học Trường THPT Diễn Châu 3
Chuyên ngành Giáo Dục
Thể loại Sáng Kiến Kinh Nghiệm
Năm xuất bản 2021
Thành phố Diễn Châu
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 2,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ (2)
    • 1. Lý do chọn đề tài (2)
    • 2. Mục tiêu, ý nghĩa, tính mới của đề tài (3)
    • 3. Phương pháp nghiên cứu (4)
    • 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài (4)
    • 5. Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài (5)
  • Phần II. NỘI DUNG Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI (5)
    • 2.1. Tổng quan về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài (5)
    • 2.2. Định hướng chung (5)
    • 2.3. Cơ sở lí luận (6)
      • 2.3.1 Khái niệm STEM (6)
      • 2.3.2. Giáo dục STEM (7)
      • 2.3.3 Xu thế tất yếu của dạy học STEM trong thời gian tới (8)
      • 2.3.4. Một số vấn đề chung về dạy học định hướng STEM (9)
    • 2.4 Cơ sở thực tiễn (11)
      • 2.4.1 Thực trạng dạy học môn hóa học trong trường phổ thông Diễn Châu 3 hiện nay (12)
      • 2.4.2 Những thuận lợi và khó khăn khi đưa STEM vào trường phổ thông hiện nay (15)
      • 2.4.3 Các biện pháp đưa STEM vào môn hóa trường trung học phổ thông hiện nay (16)
    • 2.5. Một số vấn đề liên quan khác (17)
      • 2.5.1. Ancol (17)
      • 2.5.2. Một số ứng dụng khác của ancol (19)
    • 2.6 Biện pháp tổ chức (21)
    • 3. Mục tiêu (23)
      • 3.1. Kiến thức (23)
      • 3.2. Kĩ năng (23)
      • 3.3. Thái độ (23)
      • 3.4. Về định hướng phát triển năng lực (23)
      • 3.5. Thiết bị (24)
      • 3.6. Tiến trình dạy học (24)
      • 2.7. Kết quả triển khai ở trường THPT (47)
  • PHẦN III: KẾT LUẬN 1. Kết luận (54)
    • 2. Kiến nghị (54)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (55)

Nội dung

NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

Tổng quan về các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Văn kiện Đại hội Đảng XII nhấn mạnh giáo dục là quốc sách hàng đầu, với mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí và bồi dưỡng nhân tài Đổi mới phương pháp dạy học cần chuyển từ việc chỉ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, với sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn Định hướng quan trọng trong cải cách phương pháp dạy học là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, đồng thời phát triển năng lực hành động và khả năng hợp tác của học sinh, đây là xu hướng tất yếu trong cải cách giáo dục tại các trường phổ thông.

Qua việc nghiên cứu các đề tài SKKN của giáo viên, chúng tôi nhận thấy nhiều công trình đã đề cập đến việc đổi mới phương pháp dạy học cho học sinh, như dạy học chủ đề, dự án, STEM và trải nghiệm Mặc dù có một số đề tài nghiên cứu về ancol và ứng dụng của nó, nhưng chưa có công trình nào đi sâu vào việc hướng dẫn học sinh áp dụng kiến thức ancol vào thực tiễn Đây là một "khoảng trống" lý luận và thực tiễn cần được làm rõ Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ đóng góp giá trị cho lý luận và thực tiễn dạy học hóa học tại các trường THPT hiện nay.

Định hướng chung

Chương trình giáo dục phổ thông hiện tại tập trung chủ yếu vào việc truyền thụ kiến thức mà chưa chú trọng đến việc giúp học sinh áp dụng kiến thức vào thực tiễn Các văn kiện của Đảng và Nhà nước, như Nghị quyết 29, đã đề ra yêu cầu đổi mới chương trình và sách giáo khoa để nâng cao chất lượng giáo dục.

Nghị quyết 88 và Quyết định 404 đặt ra mục tiêu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, chuyển từ việc truyền thụ kiến thức sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của học sinh Ngày 4/5/2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg nhằm tăng cường khả năng tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong đó nhấn mạnh việc thay đổi chính sách và phương pháp giáo dục để tạo ra nguồn nhân lực đáp ứng xu thế công nghệ mới Chỉ thị yêu cầu tập trung vào đào tạo STEM, ngoại ngữ và tin học trong chương trình giáo dục phổ thông, đồng thời giao Bộ GDĐT triển khai giáo dục STEM tại một số trường ngay từ năm học 2017 - 2018 Qua đó, Việt Nam chính thức thúc đẩy giáo dục STEM trong hệ thống giáo dục phổ thông.

Cơ sở lí luận

STEM, viết tắt của Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán học, đề cập đến việc giáo dục nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức và kỹ năng thiết yếu trong các lĩnh vực này Giáo dục STEM không chỉ tập trung vào lý thuyết mà còn khuyến khích sự sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề, giúp người học chuẩn bị tốt hơn cho tương lai.

Các kiến thức và kỹ năng cần được kết hợp chặt chẽ để giúp học sinh không chỉ nắm vững nguyên lý mà còn có khả năng áp dụng vào thực tiễn, từ đó tạo ra những sản phẩm hữu ích trong cuộc sống hàng ngày.

Học sinh được trang bị kiến thức về các khái niệm, nguyên lý, định luật và cơ sở lý thuyết của giáo dục khoa học Mục tiêu chính của giáo dục khoa học là giúp học sinh liên kết kiến thức để thực hành và phát triển tư duy, từ đó áp dụng kiến thức vào thực tiễn nhằm giải quyết các vấn đề trong cuộc sống.

Học sinh cần phát triển kỹ năng công nghệ để có thể sử dụng, quản lý và hiểu biết về các thiết bị từ đơn giản như bút và quạt đến những hệ thống phức tạp như Internet và máy móc.

Học sinh được trang bị kỹ năng sản xuất và hiểu quy trình tạo ra sản phẩm, yêu cầu khả năng tổng hợp và kết hợp các yếu tố như khoa học, nghệ thuật, công nghệ và kỹ thuật Điều này giúp họ tìm ra giải pháp tối ưu trong thiết kế và xây dựng quy trình Bên cạnh đó, học sinh cũng có khả năng nhận diện nhu cầu và phản ứng của xã hội đối với các vấn đề kỹ thuật.

Kỹ năng toán học giúp học sinh nhận thức rõ vai trò của toán học trong mọi khía cạnh của cuộc sống Những học sinh có kỹ năng này có khả năng diễn đạt ý tưởng một cách chính xác và áp dụng các khái niệm toán học vào thực tiễn hàng ngày.

Việc theo học các môn học STEM có ảnh hưởng tích cực đến khả năng lựa chọn nghề nghiệp tương lai của học sinh phổ thông Học sinh sẽ chủ động và thích thú hơn với việc học khi được tiếp cận kiến thức một cách tích hợp, từ đó khuyến khích định hướng chuyên ngành rõ ràng hơn cho các bậc học cao hơn Những học sinh theo phương pháp giáo dục STEM sẽ sở hữu kiến thức vững chắc về khoa học, kỹ thuật, công nghệ và toán học, cùng với khả năng sáng tạo, tư duy logic và hiệu suất học tập vượt trội Hơn nữa, các em còn có cơ hội phát triển kỹ năng mềm toàn diện mà không cảm thấy áp lực hay quá tải trong quá trình học.

Giáo dục STEM tập trung vào việc áp dụng phương pháp học tập thực hành và trải nghiệm sáng tạo, sử dụng các phương pháp giáo dục hiện đại như học qua dự án, học qua trò chơi, và đặc biệt là phương pháp học qua hành, nhằm tối ưu hóa hiệu quả cho các môn học tích hợp STEM.

Giáo dục STEM, theo Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018, là mô hình giáo dục liên môn, giúp học sinh áp dụng kiến thức khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học để giải quyết các vấn đề thực tiễn trong bối cảnh cụ thể.

Giáo dục STEM là phương pháp giảng dạy tích hợp, kết hợp giữa các môn học STEM hoặc giữa chủ đề STEM với các môn học khác, nhằm nâng cao trải nghiệm học tập và khám phá cho học sinh.

Giáo dục STEM, dựa trên chu trình STEM, khuyến khích học sinh giải quyết các vấn đề thực tiễn liên quan đến công nghệ hiện tại Mỗi bài học STEM yêu cầu học sinh huy động kiến thức đã có và tìm hiểu kiến thức mới để thiết kế và thực hiện giải pháp cho vấn đề Quá trình này bao gồm việc thực hiện theo "Quy trình khoa học" để tiếp thu kiến thức mới và "Quy trình kỹ thuật" để áp dụng kiến thức vào việc phát triển giải pháp công nghệ mới.

2.3.3 Xu thế tất yếu của dạy học STEM trong thời gian tới

Chương trình giáo dục phổ thông 2018 tập trung vào việc phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh, với mục tiêu chính là giúp học sinh có thể áp dụng kiến thức vào thực tiễn Để đạt được điều này, cần đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá, gắn liền nội dung bài học với các vấn đề thực tiễn Giáo viên cần tổ chức các hoạt động học tập để học sinh chủ động tìm hiểu và giải quyết vấn đề Giáo dục STEM được xây dựng từ các vấn đề thực tiễn, thông qua các chủ đề bài học, giúp học sinh tìm ra giải pháp cho các vấn đề nêu ra trong bài học.

Trong những năm gần đây, Đảng, Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành nhiều văn bản quan trọng nhằm đổi mới giáo dục, đặc biệt là trong lĩnh vực giáo dục STEM Các văn bản này bao gồm Đề án “Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018 – 2025”, Công văn số 3535/BGDĐT–GDTrH về đổi mới phương pháp dạy học, và Công văn số 5555/BGDĐT–GDTrH về quản lí sinh hoạt chuyên môn Ngoài ra, còn có Công văn số 791/BGDĐT–GDTrH về giao quyền tự chủ cho các trường, cùng với các công văn hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học đối với giáo dục trung học Thông tư 32/2018/TT–BGDĐT đã ban hành Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018, và Công văn số 4612/BGDĐT–GDTrH hướng dẫn phát triển năng lực và phẩm chất học sinh từ năm học 2017–2018 Cuối cùng, Kế hoạch số 10/KH–BGDĐT về ứng dụng ICT trong quản lí giáo dục đã thí điểm triển khai giáo dục STEM tại một số trường trung học trong năm học 2016–2017.

Sở Giáo dục Đào tạo Nghệ An trong văn bản số 1602/SGD&ĐT-GDTrH nhấn mạnh sự cần thiết phải đa dạng hóa hình thức dạy học Ngoài việc tổ chức các nhiệm vụ học tập trên lớp, cần chú trọng giao nhiệm vụ và hướng dẫn học sinh học tập tại nhà và ngoài trường Đồng thời, cần tăng cường các hoạt động trải nghiệm, kết hợp dạy học với di sản văn hóa và các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ địa phương Việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học cũng được khuyến khích Ngoài ra, cần xây dựng và tổ chức thực hiện các chủ đề tích hợp liên môn, đặc biệt là các chủ đề giáo dục tích hợp khoa học - công nghệ - kỹ thuật - toán (STEM) trong chương trình giáo dục phổ thông, khuyến khích các nhóm chuyên môn xây dựng chủ đề giáo dục STEM, tập trung vào phương pháp dạy học các môn khoa học theo cách tiếp cận STEM.

Sở Giáo dục Nghệ An vừa ban hành Công văn số 1841/SGD&ĐT-GDTrH ngày 7/10/2019 hướng dẫn thực hiện giáo dục STEM trong trường trung học từ năm học 2019-2020 Giáo dục STEM nhằm trang bị cho học sinh kiến thức khoa học gắn liền với ứng dụng thực tiễn, phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội Mỗi bài học STEM trong chương trình giáo dục phổ thông tập trung vào một vấn đề cụ thể, yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức từ nhiều môn học để giải quyết Phương pháp giáo dục này không chỉ đảm bảo sự phát triển toàn diện mà còn nâng cao hứng thú học tập, hình thành năng lực và phẩm chất cho học sinh, đồng thời kết nối trường học với cộng đồng và hỗ trợ hướng nghiệp.

2.3.4 Một số vấn đề chung về dạy học định hướng STEM

2.3.4.1 Vì sao nên vận dụng phương pháp dạy học STEM vào môn hóa học trường phổ thông

Cơ sở thực tiễn

2.4.1 Thực trạng dạy học môn hóa học trong trường phổ thông A hiện nay

Môn hóa học là một trong những môn khoa học cơ bản, và lý do chính mà học sinh chọn học môn này chủ yếu là để chuẩn bị cho kỳ thi đại học và cao đẳng.

Chương trình thi cử nặng nề về lý thuyết và bài tập tính toán khiến học sinh thường học theo kiểu nhồi nhét kiến thức để chuẩn bị cho các kỳ thi Điều này dẫn đến việc các em ít nhận thức được vai trò ứng dụng của hóa học trong đời sống hàng ngày.

- Học sinh không được trải nghiệm thực tế, nên việc đưa kiến thức khoa học trở nên nặng nề

Tổ chức dạy học theo hướng giáo dục STEM tại các trường THPT hiện còn hạn chế, khi mà các trường chủ yếu giao nhiệm vụ cho nhóm học sinh tạo ra sản phẩm STEM mà chưa khuyến khích tính tự giác Hệ quả là học sinh thường học chủ yếu để đối phó với các kỳ thi, trong khi yếu tố đam mê và yêu thích môn học vẫn rất ít.

Vào đầu năm học 2019-2020, chúng tôi đã tiến hành khảo sát 240 học sinh lớp 11 từ 6 lớp (11A1, 11A2, 11A3, 11A4, 11A5, 11A7) về sự hứng thú, phương pháp học tập và nội dung môn Hóa học.

Em hãy tích vào nội dung câu hỏi sau:

Câu Nội dung Ý kiến học sinh

1 Sự hứng thú học môn Hóa ở các em thuộc mức nào ?

2 Em thích học môn Hóavì:

Môn hóa là một trong những môn thi vào các trường ĐH, CĐ

Bài học sinh động, thầy cô dạy vui vẻ, dễ hiểu

Kiến thức dễ nắm bắt

Kiến thức gắn thực tế nhiều

3 Trong giờ học môn hóa em thích được học như thế nào

Tập trung nghe giảng, phát biểu ý kiến, thảo luận và làm việc

Nghe giảng và ghi chép một cách thụ động Được làm các thí nghiệm thực hành để hiểu sâu sắc vấn đề về hóa học

Làm các bài tập nhiều để ôn thi đại học

Không cần thí nghiệm thực hành nhiều

Tăng cường học lí thuyết và giải bài tập tính toán gắn với kì thi đại học cao đẳng

Giảm tải lí thuyết, vận dụng kiến thức đã học để đưa kiến thức vào thực tiễn, tăng cường thí nghiệm thực hành

Kết quả Lớp thực nghiệm Lớp đối chứng

Số lượng Tỉ lệ % Số lượng Tỉ lệ %

1 Sự hứng thú học môn hóa ở các em thuộc mức nào ?

2 Em thích học môn hóa vì:

Môn hóa là một trong những môn thi vào các trường ĐH, CĐ

Bài học sinh động, thầy cô dạy vui vẻ, dễ hiểu 55 43,3 53 44,91

Kiến thức dễ nắm bắtKiến thức dễ nắm bắt 30 23,62 22 18,64

Kiến thức gắn thực tế nhiều 11 8,66 13 11,02

3 Trong giờ học môn hóa em thích được học như thế nào

Tập trung nghe giảng, phát biểu ý kiến, thảo luận và làm việc 47 37 40 33,89

Nghe giảng và ghi chép một cách thụ động 28 22,04 30 25,42 Được làm các thí nghiệm thực hành để hiểu sâu sắc vấn đề về hóa học

Làm các bài tập nhiều để ôn thi đại học 18 14,17

Không cần thí nghiệm thực hành nhiều 32 25,19 37 31,36

Tăng cường học lí thuyết và giải bài tập tính toán gắn với kì thi đại học cao đẳng

Giảm tải lí thuyết, vận dụng kiến thức đã học để đưa kiến thức vào thực tiễn, tăng cường phần thực hành

Kết quả khảo sát cho thấy chỉ có 15,75% học sinh yêu thích môn hóa, với 12,71% thích học vì giáo viên và tính ứng dụng thực tiễn của môn học Học sinh chú trọng vào nội dung thi cử, với 33,85% và 30,52% học theo cách truyền thống, dẫn đến việc thiếu đam mê và kỹ năng thực hành hạn chế Điều này ảnh hưởng đến năng lực làm việc sau khi ra trường, đặc biệt trong kỷ nguyên 4.0 Do đó, tôi muốn áp dụng phương pháp dạy học STEM kết hợp với phương pháp truyền thống để cải thiện tình hình.

2.4.2 Những thuận lợi và khó khăn khi đưa STEM vào trường phổ thông hiện nay

Học sinh và giáo viên có thể dễ dàng tiếp cận các mô hình dạy học STEM từ nhiều trường học trong và ngoài nước thông qua hệ thống kết nối toàn cầu.

Các trường học khuyến khích giáo viên áp dụng phương pháp dạy học dựa trên năng lực của người học, đồng thời phát triển và đầu tư vào các hoạt động giảng dạy Đặc biệt, những trường hướng tới việc đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng cao càng chú trọng đến chiến lược này.

Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các sở giáo dục, phòng đào tạo và trường học tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Nam Định đã thực hiện thí điểm một phương pháp học tập mới, mang lại nhiều kết quả tích cực Học sinh thể hiện sự chủ động, sáng tạo và tích cực trong quá trình học tập, cho thấy hiệu quả của phương pháp này.

Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ GD&ĐT nhiệm vụ thúc đẩy giáo dục STEM trong chương trình giáo dục phổ thông, bắt đầu triển khai thí điểm tại một số trường từ năm học 2017-2018.

Học sinh cần có năng lực khoa học tự nhiên để tiếp cận phương pháp dạy học STEM hiệu quả Phương pháp này nên được áp dụng cho các lớp thuộc khối khoa học tự nhiên, nơi học sinh cần có niềm đam mê và sự chăm chỉ làm việc với chương trình hiện tại để đạt được kết quả cao.

Học sinh hiện nay chưa có nhiều đam mê nghiên cứu do e ngại trong công việc, nguyên nhân chính là phương pháp giáo dục hiện tại chỉ tập trung vào kiến thức quen thuộc, khiến các em trở nên thụ động.

- Việc thực hiện ngoài không gian trường học cũng gặp một số khó khăn, vì các em ở trong một đội nhóm ở nhiều địa bàn khác nhau

Nhiều giáo viên và học sinh vẫn giữ tư duy "thi gì học nấy", dẫn đến việc môn hóa học trở nên nặng nề về năng lực tính toán Chương trình thi cử hiện tại chưa chú trọng đến yếu tố thực hành và khả năng vận dụng kiến thức vào cuộc sống, tạo ra rào cản cho sự tích cực trong việc áp dụng phương pháp dạy học mới.

Hiện nay, tại các trường phổ thông, học sinh thường phải tham gia các lớp học thêm để chuẩn bị cho kỳ thi, dẫn đến việc khó khăn trong việc triển khai các hoạt động ngoài giờ Với lịch học dày đặc, khi các em học từ 3 đến 4 ca mỗi ngày, việc sắp xếp thời gian cho các hoạt động khác trở nên rất hạn chế.

- Đa số giáo viên chưa hiểu về phương pháp dạy học tiếp cận STEM còn ngại tìm hiểu và tham gia

- Cơ sở vật chất để ở các trường vẫn còn hạn chế

Hình thức dạy học truyền thống đã ăn sâu vào tâm trí giáo viên, khiến việc thay đổi nhận thức trở nên khó khăn Tư tưởng an phận và sự không sẵn sàng tiếp thu cái mới là những rào cản lớn trong việc tích hợp STEM vào giáo dục phổ thông.

2.4.3 Các biện pháp đưa STEM vào môn hóa trường trung học phổ thông hiện nay

Để giúp học sinh và giáo viên nắm vững ý nghĩa của hình thức học tập STEM, cần tổ chức các buổi tập huấn hiệu quả, cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác về phương pháp dạy học này.

- Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, các tổ nhóm chuyên môn mở các câu lạc bộ STEM

Một số vấn đề liên quan khác

Ancol là những hợp chất hữu cơ mà phân tử có nhóm hiđroxyl (OH) liên kết trực tiếp với nguyên tử cacbon no

Ancol quen thuộc với chúng ta là C2H5OH, được gọi là ancol etylic hoặc etanol

Trong đời sống thông thường, từ ancol được hiểu như là những đồ uống có chứa cồn, (cồn (etanol) hay ancol etylic) (C2H5OH)

2.5.1.2 Lợi ích và tác hại của đồ uống có cồn( rượu/bia) đối với sức khỏe

Uống rượu là một thói quen lâu đời của con người, bắt nguồn từ hơn 2000 năm trước, và trở thành một phần văn hóa đáng tự hào của nhiều địa phương như Rượu Sâm Banh của Pháp, rượu Vodka của Nga, và rượu Đế, rượu Cần của Việt Nam Rượu được phân loại thành ba loại chính: rượu chưng cất, bia và rượu vang, tùy thuộc vào nồng độ cồn Mặc dù rượu và bia đóng vai trò quan trọng trong các tương tác xã hội, chúng cũng có thể gây ra những tác động tiêu cực Tuy nhiên, nếu được sử dụng ở mức độ hợp lý, rượu và bia có thể mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe.

Trong hơn 20 năm qua, nhiều khảo sát trên hàng triệu người từ trung niên đến cao tuổi cho thấy việc tiêu thụ rượu, bia ở mức vừa phải có thể giảm 20-40% nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch so với những người không uống Cụ thể, lượng rượu, bia nên tiêu thụ là khoảng 12-14g ethanol mỗi ngày, tương đương với 113,4ml rượu vang, 341ml bia hoặc 43ml rượu mạnh Đối với nam giới, không nên uống quá 2 ly chuẩn (tương đương 2 lon bia hoặc 2 ly rượu vang), trong khi phụ nữ không nên vượt quá 1 ly chuẩn mỗi ngày nếu có sức khỏe tốt.

Uống rượu, bia trong giới hạn cho phép có thể mang lại một số lợi ích cho sức khỏe như giảm nguy cơ hình thành cục máu đông, tăng cường lưu thông máu, và hỗ trợ tiêu hóa Ngoài ra, rượu, bia còn chứa vitamin B2, B6, B9 giúp làm chậm quá trình xơ vữa động mạch Tuy nhiên, việc tiêu thụ quá mức có thể dẫn đến các tác hại nghiêm trọng, bao gồm kích thích dẫn đến hành vi bạo lực, ức chế chức năng não, giảm nhịp thở và nhịp tim, cùng với khả năng tập trung và phản xạ kém.

Uống rượu trong thời gian mang thai có thể gây ra nhiều tác động tiêu cực cho bào thai, bao gồm nhiễm độc, chậm phát triển tâm thần, vấn đề về hành vi, và nghiêm trọng hơn là dị tật bẩm sinh.

Mỗi năm, hơn 16.000 người gặp tai nạn giao thông liên quan đến rượu và bia, gây ra hậu quả nghiêm trọng Bên cạnh đó, việc lạm dụng rượu và bia tiêu tốn hơn 180 tỷ đô la hàng năm cho nền kinh tế.

Uống rượu quá mức có thể gây ra nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, bao gồm gan nhiễm mỡ, viêm gan do rượu, xơ gan, và thậm chí tử vong Ngoài ra, rượu còn làm tăng huyết áp, gây tổn thương cơ tim, loét dạ dày tá tràng, và liên quan đến nhiều loại ung thư như ung thư miệng, họng, thực quản, ruột già và vú Sử dụng rượu, bia cùng với thuốc có thể rất nguy hiểm, vì rượu có thể tương tác với nhiều loại thuốc như paracetamol, thuốc giảm đau, an thần và chống co giật.

Việc sử dụng rượu bia có lợi hay hại phụ thuộc vào cách người dùng tiêu thụ Bản thân rượu bia không hoàn toàn gây hại, nhưng để giảm thiểu tác hại, người tiêu dùng nên sử dụng ở mức độ vừa phải Đồng thời, việc bổ sung kẽm và vitamin nhóm B cũng rất cần thiết để tăng cường sức khỏe.

2.5.2 Một số ứng dụng khác của ancol

2.5.2.1 Dung dịch rửa tay sát khuẩn

Nước rửa tay khô ngày càng trở nên phổ biến nhờ vào sự tiện lợi và khả năng sát khuẩn hiệu quả mà không cần rửa lại bằng nước, đặc biệt trong bối cảnh dịch SARS-CoV-2 đang diễn biến phức tạp.

Nước rửa tay khô là gì?

Nước rửa tay khô là dung dịch sát khuẩn y tế dạng xịt hoặc gel, không cần rửa lại bằng nước sau khi sử dụng Thành phần chính của nước rửa tay khô bao gồm ethanol, nước tinh khiết, sodium lactate, hương liệu và benzalkonium chloride, giúp diệt khuẩn hiệu quả và mang lại hương thơm dễ chịu.

Nước rửa tay khô là sản phẩm tiện lợi, được sử dụng trước và sau khi ăn, khi hoạt động ngoài trời, và sau khi tiếp xúc với tiền Cách sử dụng rất đơn giản: chỉ cần cho một lượng vừa đủ vào tay và thoa đều trong vòng 30 giây Sản phẩm dễ dàng mang theo bên mình, giúp bạn vệ sinh tay mọi lúc mọi nơi Hương thơm nhẹ nhàng của dung dịch không gây khó chịu và nhanh chóng bay hơi.

Tại sao cần sử dụng nước rửa tay khô

Giữa mùa dịch bệnh, rửa tay thường xuyên là một biện pháp quan trọng để ngăn ngừa virus xâm nhập vào cơ thể Bạn có hai lựa chọn: rửa tay bằng xà phòng hoặc sử dụng nước rửa tay khô Trong đó, nước rửa tay khô không chỉ tiện lợi hơn mà còn hiệu quả trong việc diệt khuẩn.

Khi sử dụng nước rửa tay khô, bạn không cần phải rửa tay lại với nước, điều này rất tiện lợi trong những tình huống gấp gáp hoặc khi không có điều kiện vệ sinh tay.

Ethanol, thành phần chính trong nước rửa tay khô và các loại đồ uống có cồn như rượu, bia, có khả năng tiêu diệt vi sinh vật bằng cách làm thay đổi cấu trúc lớp vỏ protein bảo vệ virus, khiến chúng không còn khả năng phát triển.

Công dụng và lợi ích khi dùng rửa tay khô

Nước rửa tay khô mang lại sự tiện lợi tối đa, cho phép bạn vệ sinh tay mà không cần rửa lại với nước Chỉ cần xịt dung dịch vào tay và thoa đều, nhưng hãy nhớ không chạm vào đồ ăn hay bất kỳ vật gì cho đến khi tay hoàn toàn khô.

Bạn có thể sử dụng sản phẩm bất cứ lúc nào cần thiết, chẳng hạn như trước và sau khi ăn, sau khi sử dụng nhà vệ sinh, khi cầm tiền, nắm giữ các vật dụng nhỏ, khi di chuyển bằng phương tiện công cộng, hoặc khi ra vào bệnh viện.

Biện pháp tổ chức

2.6.1 Tên chủ đề Điều chế ancol bằng phương pháp sinh hóa( từ gạo, khoai lang và trái cây), điều chế nước rửa tay khô và son môi handmade

2.6.2 Mô tả chủ đề Đây là một ý tưởng dạy học theo định hướng giáo dục STEM cho đối tượng

Học sinh lớp 11 sẽ khám phá quy trình sản xuất thông qua việc điều chế rượu truyền thống từ gạo và khoai, lên men rượu từ trái cây, làm son handmade và chế tạo dung dịch sát khuẩn Qua đó, các em sẽ tìm hiểu từ ý tưởng ban đầu đến nghiên cứu kiến thức, quy trình kỹ thuật và phương pháp thực hiện.

Học sinh cần tự nghiên cứu kiến thức về điều chế sản phẩm, bao gồm nguyên liệu, dụng cụ, quy trình thực hiện và những lưu ý quan trọng để hoàn thành nhiệm vụ theo tiêu chí đã đề ra Ý tưởng chủ đề được tóm tắt qua sơ đồ dưới đây.

Xây dựng một số chủ đề giáo dục STEM trong bài Ancol – hóa 11

Nhóm 1 Điều chế Ancol từ gạo theo phương pháp truyền thống

Nhóm 2 Điều chế Ancol từ khoai lang theo PP truyền thống

Nhóm 3 Lên men rượu từ trái cây

Nhóm 4 Điều chế nước rửa tay khô

Nhóm 5 Điều chế son môi handmade

Tìm hiểu quy trình thực hiện

Tìm hiểu nguyên vật liệu dùng tạo ra sản phẩm

Tự làm với nguyên vật liệu đơn giản

Giải pháp khắc phục những hạn chế

Môn học phụ trách chính: Môn Hóa học

Bài 40: Ancol( chương trình cơ bản) Đồng thời, HS phải như huy động kiến thức của các môn học liên quan như:

- Toán học: Áp dụng các phép toán tính tỉ lệ các chất

- Vật lí: Đo lường các chất

- Kĩ thuật: Điều chế các chất đúng kĩ thuật theo quy trình

- Công dân: Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường

- Môn công nghệ: Chế biến và bảo quản lương thực, thực phẩm.

Mục tiêu

- Học sinh vận dụng được kiến thức về cách điều chế ancol bằng phương pháp sinh hóa để tạo ra sản phẩm

- Vận dụng các tính chất vật lí, hóa học của ancol để điều chế son môi handmade, dung dịch sát khuẩn

- Vận dụng điều chế ancol theo phương pháp sinh hóa

- Vận dụng tính chất vật lí của glixerol

- Rèn luyện các kĩ năng thực hành hóa học

- Rèn luyện khả năng quan sát, mô tả, giải thích hiện tượng thí nghiệm và rút ra kết luận

- Nhiệt tình, hăng hái tham gia cáchoạt động

- Cẩn thận, tỉ mỉ, kiên trì khi thực hiện các quy trình điều chế sản phẩm

- Hòa nhã, hợp tác, có tinh thần trách nhiệm với nhiệm vụ chung của nhóm

- Có ý thức bảo vệ môi trường

- Nâng cao sự yêu thích, say mê môn hóa học

- Ý thức về vấn đề sử dụng ancol, son môi, dung dịch sát khuẩn an toàn, hiệu quả

- Ý thức giữ gìn sức khỏe bản thân và mọi người trong đại dịch covid

3.4 Về định hướng phát triển năng lực

– Năng lực thực nghiệm, nghiên cứu khoa học;

– Năng lực giải quyết vấn đề;

– Năng lực giao tiếp và hợp tác

- Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn

- Năng lực tự chủ và tự học

+ Điều chế ancol từ gạo theo phương pháp sinh hóa

+ Lên men rượu từ trái cây

+ Làm nước rửa tay khô

Hoạt động 1 XÂY DỰNG QUY TRÌNH ĐIỀU CHẾ ANCOL THEO PHƯƠNG PHÁP SINH HÓA, DUNG DỊCH SÁT KHUẨN, SON MÔI HANDMADE( Tiết 1- 45 phút)

Học sinh được trang bị kiến thức cơ bản về quy trình điều chế ancol qua phương pháp sinh hóa, cùng với việc sản xuất nước rửa tay khô và son môi handmade từ các nguyên liệu dễ tìm tại gia đình và địa phương Điều này kích thích các em đặt ra câu hỏi về cách tạo ra sản phẩm chất lượng cao với giá thành hợp lý.

- Học sinh bước đầu có sự tự tin trước khi bắt tay vào triển khai dự án

- Học sinh tiếp nhận nhiệm vụ: nghiên cứu quy trình điều chế ancol theo phương pháp sinh hóa, điều chế dung dịch sát khuẩn và son môi handmade

Giáo viên hướng dẫn học sinh xem video về phương pháp điều chế ancol từ các nguyên liệu phổ biến tại địa phương, cũng như video làm son môi handmade và điều chế dung dịch sát khuẩn Học sinh ghi chép lại các kết quả quan sát và từ đó hình thành ý tưởng để thực hiện sản phẩm nhóm mình.

Giáo viên hướng dẫn học sinh tự học kiến thức nền về ancol và quy trình điều chế ancol theo phương pháp sinh hóa Học sinh còn vận dụng tính chất vật lý của glixerol để chế tạo dung dịch sát khuẩn và son môi handmade Thêm vào đó, các em tìm hiểu nguồn nguyên liệu và lập kế hoạch nghiên cứu nhằm đề xuất quy trình sản xuất các sản phẩm của nhóm mình.

– HS thảo luận nhóm thống nhất kế hoạch thực hiện

Các bản tiêu chí bao gồm: (1) đánh giá bản thiết kế, (2) đánh giá sản phẩm, và (3) đánh giá kế hoạch triển khai dự án do giáo viên tự thiết kế khi xây dựng chủ đề dạy học Trước khi thực hiện trong giờ dạy, giáo viên cần giải thích và thống nhất với học sinh để đảm bảo các em hiểu rõ yêu cầu và nội dung của các nhiệm vụ liên quan đến các bản tiêu chí đã đề ra.

C Dự kiến sản phẩm hoạt động của học sinh

Quy trình điều chế ancol truyền thống từ gạo, khoai và lên men trái cây đã mang lại kết quả tích cực, đồng thời cũng được ứng dụng để sản xuất dung dịch sát khuẩn và son môi handmade Việc sử dụng nguyên liệu tự nhiên không chỉ đảm bảo an toàn mà còn tạo ra sản phẩm chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hiện nay.

– Các câu hỏi về quá trình làm sản phẩm

Nhóm sẽ thực hiện kế hoạch nhiệm vụ bao gồm nghiên cứu kiến thức nền, thảo luận về phương án nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố và phân tích, cũng như đề xuất quy trình làm sản phẩm Các nhiệm vụ cá nhân sẽ được phân chia rõ ràng, cùng với thời gian và nội dung thảo luận nhóm để hoàn thành việc tự học kiến thức nền và xây dựng quy trình hiệu quả.

– Một bản phân công nhiệm vụ của các thành viên trong nhóm ( theo mẫu trong hồ sơ học sinh)

– Bảng tiêu chí đánh giá bản thiết kế mô hình và bảng tiêu chí đánh giá sản phẩm của nhóm

– Kế hoạch thực hiện dự án với các mốc thời gian và nhiệm vụ rõ ràng

- Mỗi nhóm có sản phẩm tối thiểu đã được phân công dựa trên nguyên liệu cụ thể

D Cách thức tổ chức hoạt động

Bước 1: Giáo viên trình chiếu :

- Video 1: Sản xuất ancol từ gạo theo phương pháp sinh hóa

- Video 2: Lên men rượu từ trái cây

- Video 3: Làm son môi handmade

- Video 4: Điều chế dung dịch sát khuẩn

Trong mỗi lớp thực nghiệm, giáo viên chia học sinh thành các nhóm để nghiên cứu nội dung kiến thức và thực hiện nhiệm vụ độc lập Sau đó, chúng tôi tổ chức báo cáo sản phẩm của các nhóm, giúp đánh giá sự tương đồng giữa các sản phẩm ở các lớp khác nhau.

+ Nhóm 1: Điều chế ancol từ gạo

+ Nhóm 2: Điều chế ancol từ khoai lang

+ Nhóm 3: Lên men rượu từ trái cây

+ Nhóm 4: Điều chế dung dịch sát khuẩn

+ Nhóm 5: Điều chế son môi handmade

HS theo từng nhóm thống nhất vai trò, nhiệm vụ của các thành viên trong nhóm;

– GV yêu cầu HS tiến hành hoàn thành phiếu học tập số 1 để khảo sát như sau:

PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1( dành cho nhóm 1,2,3)

Tình hình sản xuất rượu theo phương pháp sinh hóa tại địa phương em?

Để sản xuất rượu theo phương pháp sinh hóa, cần chuẩn bị một số nguyên liệu quan trọng như nước, đường, men rượu và các loại trái cây hoặc ngũ cốc Nước là thành phần chính, trong khi đường cung cấp năng lượng cho quá trình lên men Men rượu đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa đường thành rượu, và các loại trái cây hoặc ngũ cốc sẽ tạo ra hương vị đặc trưng cho sản phẩm cuối cùng.

Các bước để tiến hành sản xuất rượu theo phương pháp sinh hóa?

Lợi ích của phương pháp này?

PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2( dành cho nhóm 4)

Lợi ích của dug dịch sát khuẩn?

Những nguyên vật liệu nào để tiến hành điều chế dung dịch sát khuẩn? Để tiến hành điều chế dung dịch sát khuẩn cần thêm những nguyên liệu nào?

Các bước để tiến hành điều chế dung dịch sát khuẩn?

Em đánh giá như thế nào về tính ứng dụng của mô hình vào thực tiễn?

PHIẾU HỌC TẬP SỐ 3( dành cho nhóm 5)

Tình trạng sử dụng son môi trong giới trẻ hiện nay?

Lợi ích của son môi handmade?

Những nguyên vật liệu nào để tiến hành son môi handmade? Để tiến hành điều chế son môi handmade cần thêm những nguyên liệu nào?

Các bước để tiến hành điều chế son môi handmade?

Em đánh giá như thế nào về tính ứng dụng của mô hình vào thực tiễn?

- GV tổ chức cho HS thảo luận liên quan đến việc khảo sát

- GV tổ chức cho HS nghiên cứu sách giáo khoa và tài liệu tham khảo để trả lời các câu hỏi sau:

1 Ancol là gì? Tính chất của ancol?

4 Nêu một số ứng dụng của ancol?

5 Nêu các bước điều chế ancol theo phương pháp sinh hóa?

6 Người ta lợi dụng tính chất nào của glixerol trong sản xuất dung dịch sát khuẩn và son môi handmade?

- Giao nhiệm vụ cho HS và xác lập tiêu chí đánh giá sản phẩm

Bước 4: GV nêu vấn đề

Với những vấn đề được học thì chúng ta có thể ứng dụng để điều chế ra ancol, dung dịch sát khuẩn và son môi handmade như thế nào?

Dựa trên kiến thức đã học, giáo viên yêu cầu các lớp thực hiện dự án nhóm với sản phẩm cụ thể.

Chào hàng cạnh tranh cho giáo viên, với vai trò là nhà đầu tư, chúng tôi cung cấp sản phẩm ancol được chế biến từ gạo, khoai và lên men trái cây, cùng với dung dịch sát khuẩn và son môi handmade Nhóm nào có sản phẩm chất lượng tốt và giá thành hợp lý sẽ được ưu tiên.

“ Nhà đầu tư” mua lại Theo đó, sản phẩm của các nhóm cần thoả mãn một số tiêu chí cơ bản sau:

– Thiết kế quy trình sản xuất hợp lí, thực hiện đúng và đủ các bước làm sản phẩm

– Đảm bảo vệ sinh, không có nấm mốc

– Đạt được các tiêu chí về màu sắc, mùi vị

– Chi phí làm hợp lí

Các nhóm chào hàng sẽ được đánh giá bởi "nhà đầu tư" dựa trên Phiếu đánh giá số 1, dựa trên các tiêu chí liên quan đến quy trình tạo ra sản phẩm.

Phiếu đánh giá sản phẩm

Tiêu chí Điểm tối đa

Nêu được đủ các bước thực hiện quy trình sản xuất

Mô tả rõ hành động/thao tác thực hiện ở các bước

Mô tả rõ các nguyên liệu, có tỉ lệ các nguyên vật liệu để tạo ra sản phẩm

Sản phẩm đáp ứng các yêu cầu đề ra 25

Chi phí thực hiện mô hình ít và đảm bảo vệ sinh

GV thống nhất kế hoạch triển khai tiếp theo

Hoạt động chính Thời lượng

Hoạt động 1: Giao nhiệm vụ dự án Tiết 1

Hoạt động 2 bao gồm việc nghiên cứu kiến thức cần thiết liên quan đến việc phát triển mô hình (kiến thức nền) và chuẩn bị bản thiết kế sản phẩm để báo cáo.

1 tuần (HS tự học ở nhà theo nhóm)

Hoạt động 3: Báo cáo phương án thiết kế

Hoạt động 4: Chế tạo, thử nghiệm sản phẩm

1 tuần (HS tự làm ở nhà theo nhóm)

Hoạt động 5: Trình bày sản phẩm và thảo luận

– GV nhấn mạnh là các nhóm có 1 tuần tiếp theo để nghiên cứu kiến thức nền liên quan (Xem Hồ sơ học tập của nhóm)

– Các nhóm triển khai xây dựng bản thiết kế sản phẩm để báo cáo với “nhà đầu tư” trong tuần tiếp theo

– Bài trình bày bản thiết kế sẽ được đánh giá theo các tiêu chí trong Phiếu đánh giá số 2

TT Tiêu chí Điểm tối đa Điểm đạt được

Quy trình điều chế ancol từ gạo và khoai bắt đầu bằng việc lên men, trong đó tinh bột từ nguyên liệu được chuyển hóa thành đường và sau đó thành ancol Đối với rượu từ trái cây, quá trình này cũng tương tự, sử dụng enzym và vi khuẩn để lên men đường tự nhiên có trong trái cây Để điều chế dung dịch sát khuẩn, ancol sau khi được tinh chế sẽ được pha loãng với nước và các thành phần khác để đạt hiệu quả kháng khuẩn Ngoài ra, son môi handmade có thể được sản xuất từ các loại dầu tự nhiên và sáp, kết hợp với phẩm màu an toàn để tạo ra sản phẩm dưỡng môi chất lượng Tất cả các quy trình này đều dựa trên cơ sở khoa học vững chắc, đảm bảo tính hiệu quả và an toàn cho người sử dụng.

2 Nêu và giải thích rõ các yêu cầu kĩ thuật làm ra sản phẩm 3

3 Trình bày báo cáo sinh động, hấp dẫn 2

4 Hiệu quả làm việc nhóm 2

Các nhóm thảo luận trao đổi nội dung cần thưc hiện

Hoạt động 2 tập trung vào việc tìm hiểu kiến thức nền về điều chế ancol thông qua phương pháp sinh hóa, cũng như nghiên cứu các điều kiện cần thiết để sản xuất dung dịch sát khuẩn và son môi handmade Mục đích của hoạt động này là khuyến khích học sinh tự học và nghiên cứu tại nhà, nhằm nâng cao hiểu biết và kỹ năng thực tiễn trong lĩnh vực hóa học.

Học sinh có thể tự học và trang bị kiến thức nền cần thiết thông qua việc nghiên cứu sách giáo khoa, tài liệu từ Internet và tìm hiểu thực tế địa phương.

Ngày đăng: 21/05/2021, 21:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w