Lý do chọn đề tài Trong lí luận dạy học nói chung và lí luận dạy học môn Sinh học nói riêng đề cập khá nhiều phương pháp và kĩ thuật dạy học: phương pháp dạy học tích cực, phương pháp dạ
Trang 11.MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Trong lí luận dạy học nói chung và lí luận dạy học môn Sinh học nói riêng
đề cập khá nhiều phương pháp và kĩ thuật dạy học: phương pháp dạy học tích cực, phương pháp dạy học gợi mở - vấn đáp, phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ, phương pháp dạy học bằng tình huống…
Nói về phương pháp dạy học bằng tình huống, trên thực tế tồn tại nhiều cách gọi khác nhau cho phương pháp này, ví dụ như: phương pháp dạy học theo tình huống, phương pháp nghiên cứu tình huống, hay ngắn gọn hơn là phương pháp tình huống Có thể nói, tư tưởng áp dụng các tình huống của cuộc sống vào giảng dạy đã có từ thời Khổng Tử, khi ông sử dụng các hoàn cảnh, câu chuyện
có thực gặp trong cuộc sống hàng ngày để truyền đạt kiến thức, những điều răn dạy cho học trò của mình
Phương pháp dạy học tình huống đã chứng tỏ là một phương pháp rất hiệu quả trong việc đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn Nếu tình huống được xây dựng có chất lượng thì sẽ tạo ra những cơ hội giúp người học có được những kinh nghiệm thực tế, trau dồi và phát triển được các kỹ năng thực hành cho người học Đặc biệt, việc áp dụng lý thuyết vào thực tế, kỹ năng liên kết kiến thức của các môn học khác nhau để giải quyết các vấn đề và ra quyết định Phương pháp này có thể kích thích ở mức cao nhất tính tích cực học tập của học sinh, không chỉ giúp học sinh lĩnh hội kiến thức mà còn rèn luyện được kĩ năng nhận thức, kĩ năng tiếp cận, phát hiện và giải quyết vấn đề ở nhiều góc độ khác nhau, kĩ năng giao tiếp, tăng cường khả năng suy nghĩ độc lập, tính sáng tạo từ
đó giúp cho học sinh chủ động điều chỉnh nhận thức, kĩ năng, hành vi Phương pháp này còn giúp giáo viên phát hiện và bồi dưỡng hạt nhân làm mũi nhọn cho môn học của mình
Thiết kế và sử dụng bài tập tình huống trong dạy học các môn học nói chung và môn Sinh học nói riêng không phải là đề tài mới, nhưng nó sẽ luôn mới nếu chúng ta biết cách khai thác ở nhiều khía cạnh khác nhau, với những phát hiện riêng đưa lại hiệu quả cao hơn cho dạy và học Mặt khác môn Sinh học là môn học gắn liền với nhiều kiến thức liên hệ thực tế, đặc biệt là khi đề cập đến sự trao đổi nước và khoáng ở thực vật Trên quan điểm đó, tôi đã tiến
hành đề tài “ Thiết kế và sử dụng bài tập tình huống khi dạy học về sự trao đổi nước và khoáng trong phần Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở thực vật -Sinh học 11”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Giúp học sinh hứng thú hơn khi học về vai trò của nước và khoáng đối với thực vật Phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Học sinh
có điều kiện rèn luyện kỹ năng độc lập nghiên cứu, kĩ năng hợp tác, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hình thành và giải quyết tình huống trong quá trình học và trong thực tiễn
Trang 2Giúp GV sử dụng trong dạy bài mới, hỏi bài cũ và kiểm tra đánh giá dạy đại trà hay bồi dưỡng học sinh giỏi
Giúp các đồng nghiệp tham khảo để có thể vận dụng tốt hơn phương pháp dạy học này Từ đó thiết kế và sử dụng các bài tập tình huống cho các bài học, các chương hay các phần khác trong chương trình Sinh học THPT
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Bài 1, 3 và 4 trong chương chuyển hóa vật chất và năng lượng ở thực vật (sinh học 11)
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
- Phương pháp thực nghiệm, thống kê xử lý số liệu
Trang 32 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cở sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm.
2.1.1 Tình huống dạy học
Theo Boehrer (1995) thì: “Tình huống là một câu chuyện, có cốt chuyện và nhân vật, liên hệ đến một hoàn cảnh cụ thể, từ góc độ cá nhân hay nhóm, và thường là hành động chưa hoàn chỉnh Đó là một câu chuyện cụ thể và chi tiết, chuyển nét sống động và phức tạp của đời thực vào lớp học”
Những tình huống trong giảng dạy là những tình huống mang tính điển hình, miêu tả những sự kiện, hoàn cảnh có thật hay hư cấu nhằm giúp người học hiểu và vận dụng tri thức Tình huống được sử dụng nhằm kích thích người học phân tích, bình luận, đánh giá, suy xét và trình bày ý tưởng của mình để qua đó từng bước chiếm lĩnh tri thức hay vận dụng những kiến thức đã học vào những trường hợp thực tế
Tiêu chuẩn của một tình huống tốt:
* Về mặt nội dung, tình huống phải:
- Mang tính giáo dục
- Chứa đựng mâu thuẫn và mang tính khiêu khích
- Tạo sự thích thú cho người học
- Nêu ra được những vấn đề quan trọng và phù hợp với người học,
* Về mặt hình thức, tình huống phải:
- Có cách thể hiện sinh động
- Sử dụng thuật ngữ ngắn gọn, súc tích
- Được kết cấu rõ ràng, rành mạch và dễ hiểu
- Có trọng tâm, và tương đối hoàn chỉnh để không cần phải tìm hiểu thêm quá nhiều thông tin,
2.1.2 Bài tập tình huống dạy học
Bài tập tình huống dạy học là những tình huống khác nhau đã, đang và có thể xảy ra trong quá trình dạy học được cấu trúc lại dưới dạng bài tập, khi học sinh giải bài tập ấy, vừa có tác dụng củng cố tri thức, vừa rèn luyện được kỹ năng học tập cần thiết
2.1.3 Phương pháp nghiên cứu tình huống trong dạy học
2.1.3.1.Khái niệm phương pháp nghiên cứu tình huống
PPNCTH là một phương pháp đặc thù của dạy học giải quyết vấn đề theo tình huống Ở đó, các tình huống là đối tượng chính của quá trình dạy học Theo Nguyễn Hữu Lam (2003), “phương pháp tình huống là một kỹ thuật giảng dạy trong đó các thành tố chủ yếu của nghiên cứu tình huống được trình bày với những người học với các mục đích minh hoạ hoặc các kinh nghiệm giải quyết vấn đề”
2.1.3.2.Cấu trúc của tiến trình thực hiện phương pháp nghiên cứu tình huống:
Dưới đây là cấu trúc lý tưởng cho việc tiến trình thực hiện PPNCTH:
Trang 4
Người học tiếp cận với tình huống
Người học nắm thông tin về tình huống, thu thập thông tin giải quyết tình huống
Người học nghiên cứu, phân tích tình huống
Người học đưa ra quyết định về cách giải quyết vấn đề nêu ra trong tình huống
Người học giới thiệu và bảo vệ quan điểm
về giải pháp của mình
Người học so sánh các giải pháp đưa ra để lựa chọn lấy giải pháp tối ưu nhất
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Để có cơ sở thực tiễn của đề tài, tôi đã tiến hành thu thập số liệu cụ thể về thực trạng dạy và học Sinh học ở trường THPT, Trung tâm GDNN- GDTX bằng các phương pháp điều tra thực tế, dùng phiếu thăm dò GV và HS
2.2.1 Thực trạng giảng dạy môn Sinh học ở trường THPT và Trung tâm GDNN- GDTX.
Để có sự đánh giá khách quan, tôi dùng phiếu điều tra để trưng cầu ý kiến của 10 GV dạy môn sinh ở các trường THPT, Trung tâm GDNN- GDTX trên địa bàn huyện Hậu Lộc
Qua kết quả điều tra kết hợp với việc tham khảo giáo án và trao đổi với các
GV, tôi nhận thấy rằng phương pháp giảng dạy theo kiểu thuyết trình ít được
GV chú ý, mà tập trung theo hướng tích cực hóa các hoạt động học tập của HS Trong đó phương pháp hỏi đáp – tái hiện thông báo và dạy học theo nhóm được nhiều GV quan tâm và sử dụng phổ biến Đó là kết quả của sự cố gắng đổi mới phương pháp giảng dạy của GV, theo hướng phát huy tính tích cực của HS Tuy nhiên đối với phương pháp sử dụng tình huống để kích thích tính tích cực hoạt động của HS đang còn sử dụng rất ít Điều đó đã hạn chế tính tự chủ và hứng thú học tập của HS, chưa phát huy hết việc rèn luyện các kỹ năng cho HS trong quá trình học tập
Bảng 1 Kết quả thăm dò việc sử dụng bài tập tình huống để rèn luyện các kỹ năng tư duy trong dạy học của giáo viên
Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ (%)
Mặc dù việc thiết kế bài tập tình huống để kích thích tính tích cực hoạt động của HS đang còn sử dụng rất ít, nhiều GV cũng cho rằng việc thiết kế bài
2 Thu thập thông tin
3 Nghiên cứu tình huống
4 Ra quyết định
5 Bảo vệ quan điểm
6 So sánh giải pháp
1 Tiếp cận tình huống
Trang 5tập tình huống trong dạy học sẽ mất nhiều thời gian Nhưng đa phần GV đều thấy được những ưu điểm trong giảng dạy nếu chúng ta thiết kế được hệ thống các bài tập tình huống theo hướng phát triển năng lực cho HS
Đối với phần chuyển hóa vật chất và năng lượng ở thực vật Sinh học 11 THPT, qua kết quả thăm dò đã cho thấy việc thiết kế bài tập tình huống để rèn luyện các kỹ năng tư duy cho HS là rất cần thiết bởi lẽ nó vừa phát huy được tính tích cực của HS vừa tạo không khí lớp học sôi nổi hơn, nâng cao được hiệu quả tiết dạy đặc biệt là rèn luyện được các kỹ năng tư duy cho HS (bảng 2)
Bảng 2.Kết quả thăm dò ý kiến của GV về hiệu quả của việc thiết kế bài tập tình huống để dạy học Sự trao đổi nước và khoáng ở thực vật trong phần chuyển hóa vật chất và năng lượng ở thực vật- Sinh học 11
(Phiếu thăm dò: phụ lục 1)
Đồng ý Không đồng ý Số
lượng
Tỉ lệ
%
Số lượng
Tỉ lệ
%
1 Phát huy được tính tích cực của HS 10 100 -
3 Ít tốn thời gian chuẩn bị cho tiết dạy 2 20 8 80
4 Chuẩn bị công phu, mất nhiều thờigian, tốn kém 8 80 2 20
7 Đảm bảo kiến thức vững chắc, cơ bản 8 80 2 20
8 Rèn luyện được các kỹ năng tư duycho HS 8 80 2 20
9 Truyền đạt nhiều thông tin, tiết kiệmthời gian tiết dạy 7 70 3 30
10 Có thể nâng cao khả năng tự học choHS 8 80 2 20
2.2.2 Thực trạng việc học tập của học sinh
Song song với việc điều tra về phương pháp giảng dạy của giáo viên, tôi
đã tiến hành điều tra việc học tập của 250 HS ở các trường THPT và Trung tâm GDNN- GDTX trên địa bàn huyện Hậu Lộc
2.2.2.1 Ý kiến của HS về bộ môn và phương pháp học tập môn Sinh học.
Qua kết quả điều tra và trao đổi với HS tôi thấy rằng đa số HS rất yêu thích môn Sinh học, các em cho rằng đây là môn học mang tính bắt buộc nhưng rất lý thú, đặc biệt chương trình Sinh học 11 Một số HS cho rằng đây là môn học khó, một số nội dung các em phải học một cách máy móc do chưa hiểu rõ nguyên nhân, cơ chế của các vấn đề Phương pháp học chủ yếu là các em lắng nghe GV giảng bài, trả lời các câu hỏi mà GV đặt ra để ghi chép nội dung chính của bài theo hướng dẫn của GV một cách thụ động
Trang 6Vì thế tôi thấy rằng để phát huy tối đa tính tích cực của các em nhằm rèn luyện cho các em một số các kỹ năng đòi hỏi GV phải tổ chức cho HS làm việc nhiều hơn nữa với các bài tập tình huống
2.2.2.2 Ý thức, thái độ của học sinh về môn học
Bảng 3 Kết quả điều tra về ý thức học tập của bộ môn và phương pháp học tập môn Sinh học.
(Phiếu điều tra: phụ lục 2)
Các chỉ tiêu điều tra Số lượng Tỉ lệ (%)
Ý thức học
tập môn Sinh
học
Xem môn học là nhiệm vụ bắt
Phương pháp
học tập môn
Sinh học
Nhớ máy móc, học thuộc lòng kiến thức để đối phó khi kiểm tra 156 62,4 Chú ý lắng nghe GV giảng bài, suy
Đọc trước bài mới, ghi lại những thắc mắc để hỏi GV trong giờ học 24 9,6 Nghe giảng, để có thể vận dụng
kiến thức đã học vào việc giải quyết một vấn đề lý thuyết hay thực tiễn
Xử lý thông tin, phân tích, tổng hợp
để hoàn thành bài tập, lĩnh hội kiến thức mới
Từ kết quả điều tra bằng phiếu (trình bày ở bảng 3) và qua trao đổi với HS cho thấy đa số các em đều không thích thầy cô trình bày từ đầu đến cuối tiết dạy cũng không thích một tiết học có nhiều kiến thức phải nhớ một cách máy móc Ngược lại, các em tỏ ra thích thú với những phương tiện trực quan như tranh ảnh, thí nghiệm và những tình huống cụ thể để lĩnh hội tri thức.Tuy nhiên, nhiều
em còn lúng túng trong tiếp cận và giải quyết tình huống giáo viên đưa ra, nhiều
em chưa mạnh dạn phát biểu suy nghĩ của bản thân về những thắc mắc trong quá trình học
Từ những vấn đề trên, tôi thấy việc nghiên cứu, thiết kế và sử dụng bài tập tình huống là một trong những biện pháp góp phần cải thiện thực trạng dạy và học hiện nay để đáp ứng chương trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực
2.3 Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
Trong chương trình Sinh học 11, phần chuyển hóa vật chất và năng lượng được xem là phần học có nhiều nội dung quan trọng gắn liền với thực tiễn Trong đó các bài 1, 3, 4 đề cập đến vấn đề trao đổi nước và khoáng ở thực vật có nhiều kiến thức thực tế mà người học cần lĩnh hội để từ đó giải thích được các
Trang 7hiện tượng thực tế cũng như biết cách chăm sóc và tưới tiêu hợp lí cho cây trồng
Chính vì vậy, việc thiết kế và sử dụng các bài tập tình huống để dạy học kiến thức về sự trao đổi nước và khoáng ở thực vật là hợp lí
2.3.1 Thiết kế bài tập tình huống khi dạy học về sự trao đổi nước và khoáng ở thực vật trong phần chuyển hóa vật chất và năng lượng ở thực vật – Sinh học 11.
2.3.1.1 Quy trình thiết kế bài tập tình huống
Bước 1: Xác định mục tiêu và trọng tâm bài học
Xác định mục tiêu và trọng tâm bài học là định hướng căn bản cho việc tiến hành giảng dạy một bài cụ thể hay dùng để hỏi bài cũ hoặc để bồi dưỡng học sinh giỏi Từ đó giáo viên căn cứ vào mục tiêu bài học để lựa chọn tình huống dạy học sao cho phù hợp
Bước 2: Xác định nội dung kiến thức dạy học gắn với tình huống sẽ sử
dụng Từ nội dung bài học, xác định những nội dung có khả năng thiết kế tình huống Tình huống xây dựng phải đảm bảo sau khi giải quyết tình huống đó thì người học sẽ đạt được điều gì? Tình huống có phù hợp với mục tiêu và đối tượng dạy học không?
Bước 3: Thu thập dữ liệu
Từ những tình huống, hiện tượng bắt gặp ở thực vật trong thực tiễn Để thiết kế nhiều tình huống cần phải thu thập tài liệu, mạng internet, những kinh nghiệm dân gian trong ca dao, tục ngữ
Bước 4: Lựa chọn hình thức mô tả tình huống
GV cần lựa chọn hình thức mô tả tình huống nhằm khai thác tối đa giá trị của tình huống Tùy theo nội dung và điều kiện cụ thể, có thể mô tả tình huống dưới các hình thức sau: Mô tả tình huống bằng câu chuyện kể, thông qua các thí nghiệm, thông qua các hiện tượng thường gặp trong đời sống hằng ngày, có thể
sử dụng các đoạn phim, tranh vẽ,
Bước 5: Thiết kế tình huống
GV cần phân tích thông tin, xác lập logic các sự kiện, tiên lượng trình độ nhận thức, kĩ năng hành động, thái độ của học sinh Tình huống cần được cấu trúc một cách logic để học sinh dễ suy nghĩ tìm ra hướng giải quyết
Bước 6: Tham khảo ý kiến của đồng nghiệp
Tham khảo về các vấn đề: độ chính xác của nguồn thông tin, tính hợp lí, cách dẫn dắt tình huống
Bước 7: Chỉnh sửa và hoàn thiện.
2.3.1.2 Thiết kế bài tập tình huống
Tình huống 1: Khi rửa rau muống cho mẹ, Lan nhận thấy cọng rau phồng
lên khi ngâm vào nước trong một thời gian ngắn Em hãy giúp bạn ấy giải thích hiện tượng trên
Trả lời: Nước luôn có khuynh hướng thẩm thấu vào trong tế bào thực vật làm tế bào trương lên Nguyên nhân là do các chất luôn có khuynh hướng chuyển động từ nơi có thế năng cao đến nơi có thế năng thấp Ở trong tế bào
Trang 8thực vật thường có nồng độ chất tan cao hơn ở môi trường nên có áp suất thẩm thấu lớn Do vậy các phân tử nước sẽ thẩm thấu từ môi trường vào tế bào thực vật làm cho tế bào trương phồng lên
Tình huống 2: Minh thắc mắc tại sao khi bón nhiều phân hóa học thì cây
lại bị héo Em hãy giải thích giúp bạn Minh nhé
Trả lời:Khi bón nhiều phân hóa học thì cây bị héo vì:
- Bón nhiều phân hóa học làm tăng nồng độ chất tan trong đất dẫn tới làm giảm thế nước của đất Khi thế nước của đất thấp hơn thế nước của tế bào rễ thì nước không thẩm thấu vào rễ nên cây không hút được nước.
- Quá trình thoát hơi nước ở lá vẫn diễn ra trong khi quá trình hút nước ở
rễ bị giảm hoặc rễ không hút nước Điều này làm cho cây bị mất nước dẫn tới cây bị héo.
Tình huống 3: Tùng thắc mắc: Tại sao khi mới trồng cây non người ta cần
phải che bớt để tránh ánh nắng gắt?
Trả lời:Do cây non mới trồng có đặc điểm:
+ Hệ rễ chưa phát triển, số lượng tế bào lông hút ít, nên khả năng hút nước kém.
+ Lá non nên thoát hơi nước mạnh cây mất nhiều nước
Vì vậy, khi ánh nắng gắt cần che bớt để giảm thoát hơi nước tránh cây bị héo và chết.
Tình huống 4: Liên thắc mắc: Tại sao khi lúa nước bước vào giai đoạn
đứng cái (giai đoạn vươn lóng), người ta thường rút nước phơi ruộng Em hãy giải thích giúp bạn
Trả lời:Bước vào giai đoạn đứng cái người ta rút nước phơi ruộng vì: + Giai đoạn đứng cái là giai đoạn vươn lóng của lúa, là kết quả của sự giãn tế bào ở các tế bào phía dưới mô phân sinh Điều kiện ngoại cảnh cực kì quan trọng cho sự giãn tế bào là nước.
+ Vì vậy, rút nước phơi ruộng lúc này là hạn chế sự vươn lóng từ đó hạn chế nguy cơ lốp đổ ở những ruộng lúa sinh trưởng mạnh.
Tình huống 5: Hải đố Thanh: Đố bạn, vì sao thực vật thủy sinh không bị
thối rữa trong môi trường nước? Thanh đang lúng túng chưa biết trả lời ra sao
Em hãy giúp Thanh trả lời câu đố
Trả lời:+ Trong lớp vỏ rễ cây thủy sinh đều có những khoang rỗng tương đối lớn giữa các tế bào, thông với nhau thành một hệ thống dẫn khí.
+ Đặc biệt biểu bì rễ cây là 1 lớp màng mỏng mờ đục cho phép lượng oxygen ít ỏi hòa tan trong nước thấm qua vào trong rễ Trong các khoang rỗng giữa các tế bào, oxygen được phân tán đi khắp rễ, cung cấp đầy đủ dưỡng khí cho bộ phận này hô hấp.
+ Lớp biểu bì của thân thực vật thủy sinh cũng có tác dụng như rễ Lớp cutin không phát triển hoặc hoàn toàn không có Tế bào lớp vỏ chứa chất diệp lục có khả năng quang hợp, tự tạo chất hữu cơ
Nhờ có thể hô hấp bình thường, lại có “thức ăn để ăn” nên thực vật thủy sinh có thể sống lâu dài trong nước mà không bị thối rửa.
Trang 9Tình huống 6: Tuyên đố Lan: Đố bạn, tại sao khi làm giá đỗ người ta
thường dùng nước sạch? Lan chưa biết phải trả lời ra sao Em hãy giúp Lan trả lời câu đố của Tuyên
Trả lời:Khi làm giá đỗ người ta thường sử dụng nước sạch ít chất khoáng nhằm mục đích ngăn cản sự phát triển rễ, tập trung vào phát triển trụ mầm làm cho giá dài và mập Nguồn chất dinh dưỡng trong trường hợp này được huy động chủ yếu từ 2 lá mầm vì thế lá mầm teo nhỏ lại giá ăn sẽ ngon hơn Khi nước không sạch có nhiều chất khoáng thì rễ phát triển nhiều, trụ mầm mảnh mai.
Tình huống 7: Linh thắc mắc: Tại sao hiện tượng ứ giọt chỉ xảy ra ở
những cây bụi thấp và những cây thân thảo?
Trả lời:Hiện tượng ứ giọt chỉ xảy ra ở cây thân bụi thấp và ở những cây thân thảo vì những cây này thấp, dễ bị tình trạng bão hòa hơi nước và áp suất
rễ đủ mạnh để đẩy nước từ rễ lên lá gây ra hiện tượng ứ giọt.
Tình huống 8: Nam băn khoăn không biết hạn sinh lý là gì? Nguyên nhân
dẫn đến hạn sinh lý? Em hãy giúp Nam giải quyết băn khoăn trên
Trả lời:- Hạn sinh lý là hiện tượng rễ cây được cung cấp đủ nước nhưng cây vẫn không hút được nước.
- Nguyên nhân:
+ Nồng độ các chất tạo áp suất thẩm thấu ở môi trường đất quá cao so với
áp suất thẩm thấu trong rễ (do bón phân,…)
+ Do cây ngập trong môi trường nước lâu ngày, thiếu oxygen để hô hấp.
Tình huống 9: Vinh thắc mắc: Tại sao không nên tưới nước cho cây vào
buổi trưa? Em hãy giải thích giúp bạn ấy
Trả lời:Không nên tưới nước vào buổi trưa vì:
- Buổi trưa: Nhiệt độ, ánh sáng cao, cây hô hấp mạnh, cần nhiều oxygen, nếu tưới nước đất sẽ bị nén chặt cây không lấy được oxygen hô hấp kị khí
năng lượng giảm và không tạo được các hợp chất trung gian (tiềm năng thẩm thấu) đồng thời sinh ra sản phẩm độc làm cây hút nước không được trong khi lá cây thoát nước mạnh
- Những giọt nước đọng lại trên lá như một thấu kính hấp thụ năng lượng ánh sáng mặt trời đốt nóng cây.
Vì vậy, nếu tưới nước vào buổi trưa thì cây dễ bị héo.
Tình huống 10: Trang thắc mắc: Quá trình hấp thụ nước và các ion khoáng
ở thực vật chủ yếu nhờ có lông hút, nhưng nhiều loài thực vật không có lông hút thì chúng hấp thụ nước và các ion khoáng bằng cách nào? Em hãy giúp bạn giải đáp thắc mắc trên
Trả lời:- Thực vật thủy sinh không có lông hút thì cây hấp thụ nước và ion khoáng bằng toàn bộ bề mặt cơ thể.
- Một số cây trên cạn, hệ rễ không có lông hút (thông, sồi), chúng hấp thụ nước và ion khoáng nhờ rễ các loại cây này có nấm rễ bao bọc Mặt khác sợi nấm còn tạo nên bề mặt hấp thụ lớn.
Trang 10- Ở tế bào còn non, vách tế bào chưa bị suberin hóa cũng tham gia hấp thụ nước và ion khoáng.
Tình huống 11: Bảo đố Nhung: Đố bạn, Tại sao khi cây thiếu nguyên tố
Mg thì lá cây mất màu xanh? Nhung chưa biết phải trả lời bạn như thế nào Em hãy giúp Nhung trả lời câu đố của Bảo
Trả lời:Màu xanh của lá mà chúng ta nhìn được là do trong lá cây có diệp lục Mà Mg là nguyên tố tham gia vào cấu trúc của phân tử diệp lục Vì vậy, khi cây thiếu Mg, diệp lục không được hình thành, lá mất màu xanh lục.
Tình huống 12: Khánh đố Vân: Đố bạn, tại sao các nguyên tố vi lượng chỉ
cần một lượng rất nhỏ nhưng không thể thiếu đối với sự sinh trưởng- phát triển của thực vật? Vân chưa biết phải trả lời ra sao Em hãy giúp Vân trả lời câu đố của Khánh
Trả lời: Vì vai trò của các nguyên tố vi lượng trong cây không phải là vai trò cấu trúc mà chủ yếu là vai trò hoạt hóa enzim trong các quá trình trao đổi chất nên chúng chỉ cần một lượng rất nhỏ.
Đồng thời, do chúng còn liên kết với các chất hữu cơ tạo thành hợp chất hữu cơ trong hoạt hóa enzim, giúp tăng tốc độ các phản ứng sinh hóa, rất quan trọng với sự sinh trưởng và phát triển của cây.
Tình huống 13: Trong một lần về quê, Mai nghe bà nội kể chuyện: Cứ sau
một thời gian mưa nhiều thì lá già ở cây lạc bị biến thành màu vàng Nếu em là Mai em sẽ giải thích với Bà như thế nào?
Trả lời:Sau một thời gian dài mưa nhiều, các lá già ở cây lạc biến thành màu vàng, đây là triệu chứng thiếu nitrogen (sự hóa vàng của lá già) vì:
+ Ở rễ cây lạc có vi khuẩn Rhizobium sống cộng sinh tạo nốt sần, có khả năng cố định N 2 Vi khuẩn này sinh trưởng, phát triển trong điều kiện hiếu khí Mưa nhiều làm cạn kiệt oxygen trong đất làm cho cây không hình thành được nốt sần dẫn đến không chuyển được N 2 thành NH 4 + nên cây thiếu N (nguyên nhân dẫn đến lá vàng).
+ Mặt khác, trời mưa nhiều làm rửa trôi NO 3 + trong đất.
Tình huống 14: Dung thắc mắc: Các cây sống ở vùng ngập mặn ven biển
hấp thụ nước bằng cách nào? Em hãy giải đáp thắc mắc giúp bạn
Trả lời:Các cây ven biển hấp thụ nước bằng tập trung các ion khoáng và các chất tan khác tạo áp suất thẩm thấu cao ở dịch tế bào lông hút Ngoài ra các cây này có thể hấp thu thêm nước ngọt vào ban đêm qua hệ rễ khí sinh.
Tình huống 15: Kiên đố Mạnh: Đố bạn, vì sao Nitơ được xem là nguyên
tố dinh dưỡng quan trọng nhất của cây xanh?
Trả lời:- Nitơ được xem là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng nhất của cây xanh là vì:
+ Nitơ là nguyên tố tham gia cấu tạo nhiều chất hữu cơ quan trọng của cơ thể thực vật như Protein, axit nucleic, enzim, ATP, sắc tố, diệp lục.
+ Nitơ tham gia điều tiết quá trình trao đổi chất ở thực vật thông qua enzim.
+ Cây thiếu nitơ lá kém màu xanh, sinh trưởng bị ức chế.