1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sử dụng phiếu học tập để nâng cao kết quả học tập môn địa lí lớp 10 ở trường trung cấp nghề nga sơn tỉnh thanh hoá

27 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 288,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luật giáo dụcđiều 28.2 đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tựgiác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, mônhọc, bồi dư

Trang 3

MỤC LỤC

Trang A PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2

4 PHẠM VỊ VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU 2

B NỘI DUNG 3

LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU ……… 3

1.1 Vài nét về phiếu học tập ……… 3

1.1.1 Khái niệm ……… …….… 3

1.1.2 Vai trò ….………3

1.1.3 Phân loại ……… … … 3

1.1.4 Những chú ý khi xây dựng phiếu học tập.……… …… ……… 3

1.2 Tự học 3

1.2.1 Khái niệm tự học ……… ……… ……….3

1.2.2 Các hình thức tự học 4

1.2.3 Ý nghĩa của tự học 4

2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHT TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 10 Ở TRƯỜNG TRƯỜNG TCN NGA SƠN , TỈNH THANH HÓA ………5

2.1 Đặc điểm tình hình trường TCN Nga Sơn ……….5

2.2 Thực trạng sử dụng PHT trong dạy học Địa lí ở trường TCN nga Sơn………… 6

2.2.1 Đặc điểm tình hình của bộ môn Địa lí:……….……… ……… 6

2.2.2 Thực trạng sử dụng PHT ở trường TCN nga Sơn ……… 6

3 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG PHT ĐỂ NÂNG CAO KẾT QUẢ VÀ KHẢ NĂNG TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 10 Ở TRƯỜNG TCN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA……… … …7

3.1 Phương pháp sử dụng phiếu học tập …… ……….……… 7

3.1.1 Sử dụng PHT để hình thành kiến thức mới 7

3.1.2 Sử dụng PHT để chuẩn bị kiến thức ở nhà 7

3.1.3 Sử dụng PHT để củng cố bài học trên lớp 7

3.1.4 Sử dụng PHT để kiểm tra bài cũ trên lớp 7

3.2 Nội dung và phương pháp sử dụng một số loại PHT ……… …….…… …7

3.3 Thực nghiệm sư phạm ……….…….… 11

3.4 Đánh giá khái quát chung và kết quả đề tài ……….….… 12

3.4.1 Ưu điểm 12

3.4.2 Nhược điểm 13

3.5 Bài học kinh nghiệm 13

C KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ…… ……….……… 14

TÀI LIỆU THAM KHẢO.……… …….…….……… ………15

PHỤ LỤC 16

Trang 4

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Trong những năm gần đây, khoa học kỹ thuật phát triển nhanh như vũ bão với sựxuất hiện của nhiều ngành khoa học mới; đặc biệt là sự bùng nổ của công nghệ thôngtin làm cho khối lượng tri thức tăng lên một cách nhanh chóng Điều đó đã đặt ra chodạy học một yêu cầu mới không chỉ dạy học kiến thức mà quan trọng hơn là dạy chohọc sinh cách học và tự học Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, Đảng và Nhà nước đã vàđang tiến hành đổi mới toàn diện về giáo dục ở các cấp học trong đó có THPT- hệGDTX nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo Sự đổi mới này liên quan đến rấtnhiều lĩnh vực như: đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạyhọc Trong đó đổi mới phương pháp dạy học được đặt lên hàng đầu Luật giáo dụcđiều 28.2 đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tựgiác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, mônhọc, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thựctiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” có thểnói cốt lõi của đổi mới dạy và học là “ hướng tới hoạt động học tập chủ động, chốnglại thói quen học tập thụ động” Vì vậy, phương pháp dạy học tích cực ngày càngđược chú trọng và trở nên phổ biến Tuy nhiên, trong thực tiễn để tổ chức được hoạtđộng học tập cho học sinh theo hướng tích cực người dạy cần phải có công cụ,phương tiện tham gia tổ chức như: câu hỏi, bài tập, bài toán nhận thức, tình huống cóvấn đề, phiếu học tập… Trong đó, phiếu học tập có những ưu điểm rất lớn như dễ sửdụng, hiệu quả cao, sử dụng được trong nhiều khâu của quá trình dạy học: hìnhthành kiến thức mới, củng cố vận dụng, kiểm tra đánh giá… vừa phát huy được hoạtđộng độc lập của học sinh, vừa phát huy được hoạt động tập thể Phiếu học tập khôngchỉ là phương tiện truyền tải kiến thức mà còn hướng dẫn cách tự học cho học sinhđồng thời qua đó rèn luyện năng lực tư duy sáng tạo và xử lý linh hoạt cho người học.Phiếu học tập không chỉ tổ chức hoạt động theo cá nhân mà có thể tổ chức hoạt độngtheo nhóm một cách có hiệu quả Vậy sử dụng phiếu học tập như thế nào cho có hiệuquả? Đặc biệt sử dụng phiếu học tập trong hướng dẫn tự học là vấn đề rất được quantâm

Thực tế, vấn đề sử dụng phiếu học tập trong dạy học ở trường trung học phổ thông

và hệ giáo dục thường xuyên đã được nhiều giáo viên lựa chọn khi dạy học Tuynhiên, sử dụng như thế nào cho có hiệu quả, nhuần nhuyễn là vấn đề đòi hỏi giáo viêndạy Địa lí nói riêng và giáo viên nói chung cần phải đầu tư Tại các lớp được phâncông giảng dạy có nhiều đối tượng rất khác nhau, trong đó bản thân rất quan tâm đếnđối tượng học sinh yếu Vì đối tượng này vấn đề tự học rất kém, khả năng và phươngpháp tự học chưa nhiều Ngoài ra, trong giờ học tỏ ra rất mệt mỏi, không quan tâmđến môn học nếu không được làm việc

Vì vậy, trong quá trình giảng dạy, bản thân đã sử dụng phiếu học tập để nâng caotinh thần học tập của đối tượng này trong nhiều năm và thấy có hiệu quả rõ rệt

Trang 5

Với những lý do trên, đề tài: “Sử dụng phiếu học tập để nâng cao kết quả học

tập và tự học môn Địa lí lớp 10 trường TCN Nga Sơn ” có thể sẽ là kinh nghiệm

quý giá cho học sinh và các giáo viên tham khảo

2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

- Phiếu học tập và quy trình hướng dẫn tự học chương trình Địa lí lớp 10

- Giáo viên và học sinh trong quá trình giảng dạy và học tập môn Địa lí

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

Thu thập, lựa chọn và xử lý tài liệu nhằm giải quyết nhiệm vụ đề ra của đề tài

3.2 Phương pháp điều tra:

Các phương pháp điều tra được sử dụng để nghiên cứu đề tài này bao gồm:

- Điều tra trực tiếp: Trao đổi trực tiếp với giáo viên dạy học Địa lí và với học sinh về các phương pháp dạy và học tập dựa vào phiếu học tập

- Điều tra gián tiếp: sử dụng phiếu điều tra

3.3 Phương pháp thực nghiệm Sư phạm:

4 PHẠM VI VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU

4.1 Phạm vi nghiên cứu:

- Áp dụng cho chương trình Địa lí lớp 10

- Giới hạn trong việc tạo kỹ năng xây dựng phiếu học tập kết hợp với phươngpháp hướng dẫn tự học cho học sinh

4.2 Kế hoạch nghiên cứu:

2

Xây dựng công cụ điều

tra, nghiên cứu cơ sở lý

luận

Tháng 9/2020 10/2020

-Hoàn thành công cụ điềutra, nghiên cứu cơ sở lýluận

Trang 6

trên lớp, khảo sát điều tra 12/2020 khảo sát

Trang 7

B NỘI DUNG

1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Vài nét về phiếu học tập

1.1.1 Khái niệm

Theo từ điển của tiếng Việt, phiếu có 3 nghĩa:

- Tờ giấy rời có cỡ nhất định, ghi chép những nội dung nhất định nhằm phân loại,sắp xếp theo một hệ thống nào đó như: Phiếu điều tra, phiếu tra cứu

- Tờ ghi nhận quyền lợi nào đó cho người sử dụng

- Tờ giấy biểu thị ý kiến trong cuộc bầu cử hoặc biểu quyết

Như vậy theo nghĩa thứ nhất, phiếu học tập được hiểu là tờ giấy rời cỡ nhỏ, ghichép những nội dung kiến thức nhất định, phục vụ cho việc dạy và học của thầy và trò

ở mọi cấp học

1.1.2 Vai trò

- Cung cấp thông tin và sự kiện: Phiếu học tập chứa đựng thông tin, dữ liệu hoặc

sự kiện hoặc dùng làm cơ sở cho một hoạt động nhận thức nào đó

- Công cụ hoạt động và giao tiếp: Phiếu học tập chứa đựng các câu hỏi, bài tập,yêu cầu hoạt động, những vấn đề để yêu cầu HS giải quyết, hoặc thực hiện kèm theonhững hướng dẫn, gợi ý cách làm

1.1.3 Phân loại

Có thể phân loại theo các dấu hiệu như sau:

- Dựa vào mục đích: Phiếu học bài, phiếu ôn tập, phiếu kiểm tra

- Dựa vào nội dung:

+ Phiếu thông tin: Nội dung gồm các thông tin bổ sung, mở rộng, minh họa chocác kiến thức cơ bản

+ Phiếu bài tập: Nội dung là các bài tập nhận thức hoặc bài tập củng cố

+ Phiếu yêu cầu: Nội dung là các vấn đề và tình huống cần phải giải quyết

+ Phiếu thực hành: Nội dung liên quan đến những nhiệm vụ thực hành, rèn luyện

kĩ năng

1.1.4 Những chú ý khi xây dựng phiếu học tập

- Khi học sinh chưa quen (lớp10) nên chọn những bài, mục có nội dung rõ ràng,

dễ hiểu, dễ chọn lọc để học sinh hoàn thành đúng thời gian Sau đó nâng dần mức độkhó về kiến thức, phức tạp về nội dung

- Nên cho học sinh làm quen với những loại phiếu học tập khác nhau

- Cần xác định cơ hội sử dụng phiếu học tập và loại hình phiếu thích hợp ở từngbài, từng mục, từng chương

Trang 8

với các mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốntri thức, kinh nghiệm, kỹ năng , kỹ xảo của chủ thể.

- Trong cuốn “Học tập hợp lí” R.Retke chủ biên, coi “Tự học là việc hoàn thànhcác nhiệm vụ khác không nằm trong các lần tổ chức giảng dạy”

- Theo tác giả Lê Khánh Bằng: thì tự học (self learning) là tự mình suy nghĩ, sửdụng các năng lực trí tuệ, các phẩm chất tâm lý để chiếm lĩnh một lĩnh vực khoa họcnhất định

- Theo tác giả Nguyễn Văn Đạo: “Tự học phải là công việc tự giác của mỗi người

do nhận thức được đúng vai trò quyết định của nó đến sự tích lũy kiến thức cho bảnthân, cho chất lượng công việc mình đảm nhiệm, cho sự tiến bộ của xã hội”

- Theo Giáo sư – Tiến sỹ Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học – là tự mình động não, suynghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp ) và có khi

cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ,tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chítiến thủ, không ngại khó, ngại khổ, kiên trì, nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốnthi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi vv ) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào

đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình”

Từ những quan điểm về tự học nêu trên, chúng tôi đi đến định nghĩa về tự học như

sau: Tự học là quá trình cá nhân người học tự giác, tích cực, độc lập tự chiếm lĩnh tri

thức ở một lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động của chính mình nhằm đạt được mục đích nhất định.

1.2.2 Các hình thức tự học

Hoạt động tự học diễn ra dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau:

* Hình thức 1: Cá nhân tự mày mò theo sở thích và hứng thú độc lập không có sách

và sự hướng dẫn của giáo viên

Hình thức này gọi là tự nghiên cứu của các nhà khoa học Kết quả của quá trìnhnghiên cứu đi đến sự sáng tạo và phát minh ra các tri thức khoa học mới, đây thể hiệnđỉnh cao của hoạt động tự học Dạng tự học này phải được dựa trên nền tảng mộtniềm khao khát, say mê khám phá tri thức mới và đồng thời phải có một vốn tri thứcvừa rộng, vừa sâu Tới trình độ tự học này người học không thầy, không sách mà chỉ

cọ sát với thực tiễn vẫn có thể tổ chức có hiệu quả hoạt động của mình

* Hình thức 2: Tự học có sách nhưng không có giáo viên bên cạnh.

Ở hình thức tự học này có thể diễn ra ở hai mức:

Thứ nhất, tự học theo sách mà không có sự hướng dẫn của thầy:

Trường hợp này người học tự học để hiểu, để thấm các kiến thức trong sách qua

đó sẽ phát triển về tư duy, tự học hoàn toàn với sách là cái đích mà mọi người phải đạtđến để xây dựng một xã hội học tập suốt đời

Thứ hai, tự học có thầy ở xa hướng dẫn:

Mặc dù thầy ở xa nhưng vẫn có các mối quan hệ trao đổi thông tin giữa thầy và tròbằng các phương tiện trao đổi thông tin thô sơ hay hiện đại dưới dạng phản ánh vàgiải đáp các thắc mắc, kiểm tra, đánh giá,

* Hình thức 3: Tự học có sách, có thầy giáp mặt, sau đó học sinh về nhà tự học dưới

sự hướng dẫn gián tiếp của giáo viên

Trang 9

Trong quá trình học tập trên lớp, người thầy có vai trò là nhân tố hỗ trợ, chất xúc

tác thúc đẩy và tạo điều kiện để trò tự chiếm lĩnh tri thức Trò với vai trò là chủ thểcủa quá trình nhận thức: tự giác, tích cực, say mê, sáng tạo tham gia vào quá trình họctập Mối quan hệ giữa thầy và trò chính là mối quan hệ giữa Nội lực và Ngoại lực,Ngoại lực dù quan trọng đến mấy cũng chỉ là chất xúc tác thúc đẩy Nội lực phát triển

1.2.3 Ý nghĩa của tự học

Ở bất kỳ bậc học hay cấp học nào hoạt động tự học cũng có ý nghĩa rất quan trọngđối với kết quả học tập, tuy nhiên đối với học sinh cấp THPT – hệ GDTX nó lại càngthiết thực hơn Do đó có thể nói hoạt động tự học là một khâu của quá trình giáo dục,

là một quá trình gia công, chế biến và tự điều khiển theo đúng mục tiêu giáo dục quiđịnh

Nhờ có tự học và chỉ bằng con đường tự học, người học mới có thể nắm vững trithức, thông hiểu tri thức, bổ sung và hoàn thiện tri thức cũng như hình thành những

kỹ năng, kỹ xảo tương ứng Điều này đã được K.Đ.Usinxki nói: chỉ có công tác tự họccủa học sinh mới tạo điều kiện cho việc thông hiểu tri thức Và như vậy hoạt động tựhọc sẽ quyết định chất lượng giáo dục - đào tạo của nhà trường

Hoạt động tự học của học sinh không chỉ nâng cao năng lực nhận thức, rèn luyệnthói quen, kỹ năng, kỹ xảo vận dụng tri thức của bản thân vào cuộc sống mà còn giáodục tình cảm và những phẩm chất đạo đức của bản thân Vì trên cơ sở những tri thức

cá nhân tiếp thu được thì sẽ có ý nghĩa sâu sắc đến việc giáo dục tư tưởng đạo đức, lốisống, niềm tin, rèn luyện phong cách làm việc cá nhân cũng như những phẩm chất ýchí cần thiết cho việc tổ chức lao động học tập của mỗi học sinh; Bên cạnh đó còn rènluyện cho cá nhân người học cách suy nghĩ, tính tự giác, độc lập… trong học tập cũngnhư rèn luyện thói quen trong hoạt động khác Nói cách khác hoạt động tự học hướngvào việc rèn luyện phát triển toàn diện nhân cách học sinh Mặt khác hoạt động tự họckhông những là yêu cầu cấp bách, thiết yếu của học sinh, sinh viên đang ngồi trên ghếnhà trường để tiếp nhận tri thức, nâng cao trình độ hiểu biết của bản thân mà còn có ýnghĩa lâu dài trong suốt cuộc đời mỗi con người, đó là thói quen học tập suốt đời, bởisau khi ra trường vẫn phải tiếp tục: Học, học nữa, học mãi

Tự học không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân người học mà còn góp phần to lớnnâng cao chất lượng dạy học và đào tạo Nói như vậy không có nghĩa là hạ thấp vaitrò trách nhiệm của người giáo viên mà dưới sự tổ chức, hướng dẫn, chỉ đạo củangười giáo viên, học sinh đã biết cách tự học, chủ động, sáng tạo chiếm lĩnh kho tàngtri thức của nhân loại

2 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHIẾU HỌC TẬP TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 10 Ở TRƯỜNG TCN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

2.1 Đặc điểm tình hình trường TCN Nga Sơn

Hiện nay trường có 15 lớp học nghề với tổng số 895 học sinh - sinh viên, 18 lớphọc văn hóa với tổng số 760 học sinh

* Tổng số cán bộ, giáo viên, CNV hiện có: 54; trong đó: 27 người biên chếchính thức, 10 người hợp đồng huyện 17 hợp đồng trường

Trang 10

- Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ được đào tạo: Thạc sỹ: Số lượng: 3; Đạihọc: Số lượng: 49; Cao đẳng: Số lượng: 3; Trung cấp: Số lượng: 2.

- Cán bộ quản lý: 3 người

- Ban Lãnh đạo: 3 người gồm 1 Hiệu trưởng và 2 Phó Hiệu trưởng

- Trường có 3 phòng, ( phòng tổ chức hành chính, phòng đào tạo, phòng TS &GTVL), 2 khoa ( Khoa giáo dục nghề nghiệp và khoa giáo dục thường xuyên)

Tuy nhiên, đội ngũ giáo viên trẻ chiếm tỉ lệ tương đối cao nên nhiệt tình trongcông tác giảng dạy và khả năng ứng dụng CNTT trong giảng dạy là tương đối thuậnlợi

Cơ sở vật chất của nhà trường

- Hiện nay, trường đã xây dựng được một số cơ sở hạ tầng, có dãy nhà hiệu

Mặc dù cơ sở vật chất khó khăn tuy nhiên trường luôn đứng trong tốp 10 trường

có chất lượng tốt nhất trong hệ thống các trường TCN, Trung tâm GDNN- GDTXtỉnh, đặc biệt là chất lượng thi học sinh giỏi kỹ năng tay nghề tỉnh và quốc gia, họcsinh giỏi cấp tỉnh hệ văn hóa,thi tốt nghiệp đạt kết quả cao

2.2 Thực trạng sử dụng PHT trong dạy học Địa lí ở trường TCN Nga Sơn

2.2.1 Đặc điểm tình hình của bộ môn Địa lí

Hiện nay bộ môn Địa lí gồm có 03 giáo viên, thuộc biên chế của tổ Văn- Sử - Địa, do cô Võ Thị Phương Thùy làm tổ trưởng

Các giáo viên trong bộ Địa lí đều trẻ, năng nổ nhiệt tình và được đào tạo bài bảnnên có kiến thức chuyên môn vững vàng Trong các kì thi học sinh giỏi tỉnh bộ mônĐịa lí luôn đạt điểm cao và có nhiều giải thưởng, đồng thời thành tích khác của bộmôn địa lí luôn giữ ổn định Đó là động lực để anh em bộ môn Địa lí cố gắng nhiềuhơn nữa trong việc tìm ra những phương pháp dạy học hợp lí để học sinh yêu thíchmôn học

Tuy nhiên, tuổi đời còn trẻ, tuổi nghề còn ít nên còn thiếu kinh nghiệm trong côngtác giảng dạy và giáo dục học sinh Bên cạnh đó nhóm lại thuộc biên chế của Tổ Văn-

Sử - Địa nên trong hoạt động chuyên môn cũng gặp nhiều khó khăn Nhà trường

Trang 11

chưa có phòng bộ môn nên muốn tổ chức một hoạt động mang màu sắc Địa lí là rấtkhó thực hiện.

2.2.2 Thực trạng sử dụng PHT trong dạy học môn Địa lí lớp 10 ở trường TCN

Nga Sơn

Vấn đề sử dụng phiếu học tập không mới tại trường TCN Nga Sơn Tuy nhiên,mức độ sử dụng còn rất ít, đa số sử dụng ở các giáo viên bộ môn xã hội nhân văn lànhiều, các môn tự nhiên rất ít sử dụng phiếu học tập ở lớp 10 Ngoài ra, việc thiết kếcác phiếu học tập khá mất thời gian và phức tạp nên nhiều giáo viên còn hạn chế thựchiện

Đối với giáo viên Địa lí trong trường TCN Nga Sơn, việc dạy học sử dụng phiếuhọc tập còn rất ít(qua khảo sát và kiểm tra giáo án của giáo viên) Đa số giáo viên thựchiện phiếu học tập khi thao giảng, dạy tốt hoặc dạy học chuyên đề các tiết còn lại hầunhư chưa thể hiện

Ngoài ra, việc sử dụng phiếu học tập của GV trong nhà trường nói chung và bộmôn Địa lí nói riêng chủ yếu nhằm mục đích thảo luận nhóm Đồng thời, GV chỉ sửdụng phiếu ở một số phần học nhất định trong bài học cụ thể

Qua dự giờ, giao lưu và trao đổi chuyên môn, tôi nhận thấy thực trang trên là gầnđúng với đa số trường học và giáo viên Địa lí ở tỉnh Thanh Hóa nói chung cũng nhưđối với học sinh và giáo viên Địa lí trường TCN Nga Sơn nói riêng

Do đầu vào của học sinh lớp 10 trên địa bàn còn thấp, hơn nữa khả năng làm quenvới nhiều dạng phiếu học tập ở THCS chưa nhiều nên giáo viên ngại sử dụng phiếuhọc tập hay việc sử dụng rất hạn chế

Để nâng cao hiệu quả việc dạy và học Địa lí, cần phải có phương pháp dạy họcphù hợp với mục đích yêu cầu của bài học là một trong những giải pháp cơ bản, lâudài nhằm nâng cao khả năng tự học, phát triển tư duy sáng tạo của học sinh trong thời

kỳ hội nhập của đất nước

3 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG PHT ĐỂ NÂNG CAO KẾT QUẢ VÀ KHẢ NĂNG TỰ HỌC TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ LỚP 10 Ở TRƯỜNG TCN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

Trong việc hình thành kiến thức mới trên lớp, GV có thể sử dụng cho toàn bàihoặc sử dụng cho một vài mục kiến thức cơ bản Đặc biệt tránh mỗi mục GV lại sửdụng một phiếu học tập khác nhau gây ra sự nhàm chán và quá tải cho học sinh

3.1.2 Sử dụng PHT để chuẩn bị kiến thức ở nhà(tự học ở nhà)

GV hướng dẫn HS cách thiết lập phiếu và trên cơ sở đó GV có thể hướng dẫn HSchuẩn bị kiến thức ở nhà và đánh giá quá trình chuẩn bị đó vào tiết hôm sau

Trang 12

Cụ thể, đối với việc chuẩn bị cho việc hình thành kiến thức mới GV nên chọnnhững bài học đơn giản, phù hợp với nhiều đối tượng, sau đó định hướng để HS cóthể chuẩn bị một cách tốt nhất Việc làm này của GV thông thường thực hiện vào cuốitiết học, trong phần chuẩn bị tiết học sau Phần này GV nên hướng dẫn kĩ để địnhhướng học tập cho học sinh tìm nguồn tài liệu tránh sự nhầm lẫn hoặc gây nên những

sự hứng thú dẫn đến quá tải và không đủ thời gian để thực hiện

3.1.4 Sử dụng PHT để kiểm tra bài cũ

Đây là dạng phiếu học tập mà GV không chỉ kiểm tra được bài cũ với nhiều họcsinh và nhiều đối tượng học sinh khác nhau mà còn định hướng bài học mới một cáchhiệu quả nhất

Khi sử dụng phiếu học tập dạng này GV nên lưu ý kiểu phiếu học tập có thể kiểmtra được nhiều học sinh một lúc, vì thời gian kiểm tra có hạn việc GV sử dụng phiếuhọc tập đơn giản sẽ gây mất thời gian Thông thường phiếu dạng này GV nên sử dụngphiếu dạng điền khuyết hay dạng ghép đôi với nhau

3.2 Nội dung và phương pháp sử dụng một số loại PHT

Sau đây là một vài ví dụ về việc sử dụng phiếu học tập trong chương trình Địa lí

10, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và tự học của học sinh

3.2.1 Phiếu học tập dưới dạng củng cố bài học:

Ví dụ: Bài 40: “Địa lí ngành thương mại”

Sau khi học xong bài 40 “Địa lí ngành thương mại”

Bước 1: giáo viên giao bài tập cho học sinh củng cố kiến thức, bằng cách phát cho

1 bàn 1 phiếu học tập

Dựa vào mục II, Sắp xếp nội dung ở cột (2), (3) cho thích hợp với các ngành ở cột(1), bằng cách điền các ký hiệu a, b, c, vào các ô trong 5 phút

Bước 2: 2 học sinh ngồi cùng bàn tiến hành thảo luận Giáo viên quan sát, theo dõi

tiến trình làm của học sinh

Bước 3: Đại diện các nhóm trình bày và các nhóm khác bổ sung ý kiến (nếu có) Bước 4: giáo viên nhận xét bài làm của học sinh và chuẩn kiến thức.

Trang 13

C - Thúc đẩy phân công lao động

c

3.2.2 Phiếu học tập dưới dạng kiểm tra bài cũ:

Ví dụ: Sau khi học xong bài 23: “Cơ cấu dân số”

- Giáo viên kiểm tra kiến thức cũ của học sinh bằng cách kẻ phiếu học tập lênbảng, sau đó gọi 2 học sinh lên trình bày để học sinh tự đối chiếu kết quả, tìm raphương án đúng

Cụ thể phiếu học tập như sau:

D a v o b ng s li u trong sách giáo khoa trang 90 v nh ng hi u bi t c a b iố liệu trong sách giáo khoa trang 90 và những hiểu biết của bài ệu trong sách giáo khoa trang 90 và những hiểu biết của bài ững hiểu biết của bài ểu biết của bài ết của bài ủa bài

h c, hãy i n nh ng thu n l i v khó kh n c a dân s gi v dân s tr ững hiểu biết của bài ận lợi và khó khăn của dân số già và dân số trẻ đới với ợi và khó khăn của dân số già và dân số trẻ đới với ăn của dân số già và dân số trẻ đới với ủa bài ố liệu trong sách giáo khoa trang 90 và những hiểu biết của bài ố liệu trong sách giáo khoa trang 90 và những hiểu biết của bài ẻ đới với ới với ới vớii v iquá trình phát tri n KT – XH?ểu biết của bài

Cụ thể kết quả như sau:

THUẬN LỢI - Lực lượng lao động dồi dào- Thị trường tiêu thụ rộng lớn - Ổn định phát triển KT và giảiquyết tốt các vấn đề của xã hội.KHÓ KHĂN

3.2.3 Phiếu học tập dùng để giảng bài mới (hình thành kiến thức mới)

Ví dụ 1: Bài 9: “ Tác động của ngoại lực đến địa hình bề mặt Trái Đất”

Giáo viên sử dụng phiếu học tập để học sinh hình thành kiến thức mới Có thể sửdụng cả tiết học để học sinh chuẩn bị bài học này Sau đó đánh giá và cho điểm đểkhuyến khích học sinh

Cụ thể: Giáo viên sử dụng phương án cặp đôi, yêu cầu 2 HS ngồi một bàn làm

Ngày đăng: 21/05/2021, 21:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w