1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Tài liệu NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH KH&CN docx

92 405 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu chính sách khoa học và công nghệ
Tác giả Hoàng Trọng Cư, Nguyễn Văn Học, Lê Thành Ý, Nguyễn Nghĩa, Nguyễn Mạnh Quân, Bạch Tân Sinh, Hoàng Ngọc Doanh, Hoàng Xuân Long, Nguyễn Thanh Thịnh, Nguyễn Quang Tuấn
Trường học Đại Học Toronto
Chuyên ngành Khoa học và công nghệ
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2008
Thành phố Toronto
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KẾT LUẬN Nhìn lại chặng đường 50 năm xây dựng và trưởng thành của cơ quan quản lý Nhà nước về KH&CN, bên cạnh những thành tích đã đạt được, cơ quan quản lý khoa học này còn tồn tại một s

Trang 1

NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH KH&CN

Trang 2

KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI

Hoàng Xuân Long

Xu hướng mới về liên kết giữa viện, trường và doanh nghiệp trên thế giới

Trang 3

Một số kinh nghiệm về đào tạo tiến sỹ tại đại học Toronto, Canada

Trang 4

CONTENTS

RESEARCH OF SCIENCE AND TECHNOLOGY POLICY

1 Hoang Trong Cu

Fifty years of the State Committee for Science

2 Nguyen Van Hoc

The linkages between research and education: the idea and reality

5 Nguyen Manh Quan

Policy solutions for increasing the role of science and technology intelligentsia during the period of industrialization, modernization and integration into the world economy

6 Bach Tan Sinh

The impacts of the transmission of science and technology policies on the transmission of creation and utilization of knowledge at R&D institutions

7 Hoang Ngoc Doanh

Discussion on the amendment of Science and Technology Law in organizing the implementation of science and technology tasks

INTERNATIONAL EXPERIENCE

8 Hoang Xuan Long

New trends of the linkages between research institutions and universities in the world

9 Nguyen Thanh Thinh

Innovation oriented planning, science and technology programs in foreign countries and implications for Vietnam

10 Nguyen Quang Tuan

Experiences of Ph.D education at the University of Toronto

Trang 5

NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

50 NĂM ỦY BAN KHOA HỌC NHÀ NƯỚC

Hoàng Trọng Cư 1

Tóm tắt

Ủy ban Khoa học Nhà nước qua nhiều lần đổi tên, nay là Bộ Khoa học và Công nghệ được thành lập theo Nghị quyết của Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 29 tháng 4 năm 1958 Qua 50 năm xây dựng và phát triển, Bộ Khoa học và Công nghệ đã thực hiện được nhiệm vụ tham mưu về KH&CN cho Trung ương Đảng và Chính phủ, đồng thời từng bước đổi mới cơ chế quản lý KH&CN phù hợp với nền kinh tế thị trường Để đáp ứng với nhiệm vụ được giao, Bộ Khoa học và Công nghệ hiện cần sớm khắc phục một số vấn đề về tổ chức và sử dụng đội ngũ cán bộ KH&CN

MỞ ĐẦU

Sau ngày hoà bình lặp lại năm 1954, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân miền Bắc bắt tay hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, ổn định đời sống và bắt đầu xây dựng lại đất nước Nhu cầu của công cuộc kiến thiết đất nước ngày càng mở rộng, đòi hỏi cần thiết phải có cơ quan giúp Chính phủ xây dựng nền khoa học và công nghệ đồng thời quản lý mọi hoạt động của khoa học và công nghệ Theo đề nghị của Chính phủ, ngày 29/4/1958 tại kỳ họp thứ 8, Khoá I, Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà thông qua nghị quyết “Lập Uỷ ban Khoa học Nhà Nước (phụ trách Khoa học tự nhiên và Khoa học xã hội) có quyền hạn và trách nhiệm ngang một bộ và trực thuộc Hội đồng Chính phủ” Trong năm 1958 Quốc hội bổ nhiệm Phó Thủ tướng Trường Chinh kiêm chức Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học Nhà nước và Hội đồng Chính phủ cử các thành viên của Uỷ ban Khoa học Nhà nước

Uỷ ban Khoa học Nhà nước là tiền thân của Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước (1965-1990), của Uỷ ban Khoa học Nhà nước (1990-1992), của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (1992-2002), của Bộ Khoa học và Công nghệ (2002 - đến nay) Việc thành lập Uỷ ban Khoa học Nhà nước ở thời điểm lúc bấy giờ có ý nghĩa rất quan trọng

Uỷ ban Khoa học Nhà nước trở thành cơ quan giúp Chính phủ chủ trì xây dựng nền Khoa học và công nghệ của đất nước, hoạch định chính sách phát triển khoa học và công nghệ, đồng thời giúp Chính phủ điều hành mọi hoạt động khoa học và công nghệ của Nhà nước

1 Nguyên Nghiên cứu viên cao cấp của Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN

Trang 6

Chính phủ sớm khẳng định vai trò và vị trí của phân hệ quản lý khoa học và công nghệ trong hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước

Uỷ ban Khoa học Nhà nước được thành lập vừa đáp ứng được nguyện vọng vừa động viên và cổ vũ rất lớn đối với các tổ chức khoa học, các nhà khoa học trong mọi hoạt động phục vụ công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trong giai đoạn ban đầu xây dựng một cơ quan đảm nhận chức năng quản lý nhà nước

về khoa học và công nghệ Trung ương Đảng và Chính phủ đã dành sự quan tâm đặc biệt cho Uỷ ban là đã lần lượt cử ba đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị giữ chức chủ nhiệm

Uỷ ban Khoa học Nhà nước: Đồng chí Trường Chinh (4/1958 - 7/1960), đồng chí Võ Nguyên Giáp (7/1960 - 1/1963), đồng chí Nguyễn Duy Trinh (1/1963 -10/1965)

Từ đó đến nay, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản quan trọng quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của cơ quan này Có thể nói từ Sắc lệnh đầu tiên số 016-SL ngày 4/3/1959 đến Nghị định sau cùng số 28/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008, Chính phủ đều giao cho Uỷ ban Khoa học Nhà nước trước đây, nay là Bộ Khoa học và Công nghệ chức năng quản lý Nhà nước về lĩnh vực KH&CN trong phạm

vị cả nước Song, trong thực tiễn nhiều năm qua, chức năng này có lúc tập trung 1965), có lúc phân chia (1966-1990), tập trung lại (1991- nay) Sự phân chia đó diễn biến theo không gian và thời gian như sau

(1958-Giai đoạn 1958-1965, Hội đồng Chính phủ giao cho Uỷ ban đảm nhận toàn bộ chức

năng quản lý Nhà nước về khoa học và công nghệ, cùng với chức năng này Uỷ ban đồng thời được giao nhiệm vụ xây dựng và quản lý các cơ sở nghiên cứu khoa học để tiến tới thành lập Viện Khoa học Việt nam (NĐ 43-CP năm 1962)

Giai đoạn 1966-1990, Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn tách Uỷ ban Khoa học

Nhà nước thành 2 cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ Từ đây, phần chức năng quản lý và phần nghiên cứu Khoa học xã hội được Chính phủ giao cho Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam đảm nhận

Giai đoạn từ 1990 đến nay, bộ máy quản lý Nhà nước được kiện toàn, chức năng quản

lý Nhà nước về KH&CN được tập trung trở lại và Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước đổi tên thành Uỷ ban Khoa học Nhà nước Năm 1992 Nhà nước giao thêm nhiệm

vụ quản lý môi trường và cơ quan này đổi tên thành Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường Năm 2002 Nhà nước chuyển nhiệm vụ quản lý môi trường cho Bộ Tài nguyên

và Môi trường Từ đây cơ quan quản lý này mang tên Bộ Khoa học và Công nghệ Như vậy, qua 50 năm xây dựng và trưởng thành, cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN

đã từng bước triển khai thực hiện chức năng và nhiệm vụ được Chính phủ giao và đóng góp phần quan trọng trong thành công chung của hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước

1 Về công tác tham mưu khoa học và công nghệ

Trong quá trình hoạt động của mình, Ủy ban đã kiên trì xây dựng được hệ thống

cơ quan quản lý KH&CN và hệ thống này càng ngày càng làm sáng tỏ vai trò và vị trí

Trang 7

then chốt của KH&CN trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Luận cứ này đã được ghi nhận trong Văn kiện Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 10 Khóa III và Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, điều 37 Hiến pháp năm

1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Từ trước đến nay, Trung ương Đảng và Chính phủ đều giao cho Ủy ban trước đây nay

là Bộ chủ trì chuẩn bị các văn bản về KH&CN Có thể tìm thấy trong văn ban này ví dụ trong phần KH&CN trong các văn Kiện Đại hội Đảng; Nghị quyết 157 của Ban Bí thư

về tăng cường công tác KH&CN trong tình hình và nhiệm vụ mới, về công tác phục vụ cách mạng kỹ thuật thời chiến, về công tác phục vụ cách mạng kỹ thuật sau chiến tranh; Nghị quyết 37 và 26 của Bộ Chính trị về chính sách KH&CN v.v Các văn bản này có tác dụng chỉ đạo và định hướng mọi hoạt động KH&CN đồng thời giúp các cấp lãnh đạo ngày càng thấy rõ vai trò của KH&CN trong nhiệm vụ lãnh đạo của mình Thực tiễn của quá trình xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật ở nước ta càng chứng minh các luận cứ khoa học không thể thiếu được trong các quyết định của Đảng và Chính phủ Vì vậy, để hữu thành và triển khai nhiều công trình trọng điểm quốc gia, Ủy ban

và Bộ đã tổ chức dưới nhiều hình thức để huy động trí tuệ của các nhà khoa học tham gia xây dựng luận cứ khoa học Trên cơ sở đó, Ủy ban và Bộ đã tham gia chuẩn bị các quyết định của Chính phủ với đầy đủ trách nhiệm của một cơ quan tham mưu về KH&CN

2 Về công tác quản lý khoa học và công nghệ

Trong những năm đầu thành lập Ủy ban, đất nước đang trong giai đoạn đan xen giữa hòa bình xây dựng với chiến tranh, công tác quản lý KH&CN gây nhiều khó khăn Nhà nước chưa có ngân sách dành riêng để đầu tư cho KH&CN; Quản lý KH&CN là một lĩnh vực hoàn toàn mới mẻ, nghiệp vụ quản lý chưa có kinh nghiệm và sẵn bài bản như lĩnh vực quản lý kinh tế; Ủy ban chưa tạo ra được cơ chế quản lý phù hợp với đặc điểm của hoạt động KH&CN Vì vậy, trong thời ký đầu mọi hoạt động KH&CN chịu sự điều chỉnh chung của guồng máy quản lý của Nhà nước

Bước sang thập kỷ 90 của thế kỷ trước, dưới ánh sáng của Nghị quyết 37 của Bộ Chính trị, Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, Ủy ban từng bước nghiên cứu tháo gỡ những ràng buộc của cơ chế quản lý chung và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động KH&CN theo đặc điểm riêng vốn có của nó Mở đầu bằng Quyết định 175-CP "Cho phép ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế trong nghiên cứu và triển khai" Với quyết định mở đầu này

đã tạo thuận lợi cho các tổ chức khoa học hoạt động tăng thêm nguồn vốn, đồng thời sử dụng có hiệu quả mọi năng lực sẵn có để phục vụ trực tiếp sản xuất và đời sống Khi đất nước bước sang thời kỳ đổi mới toàn diện, Quyết định 134-HĐBT tạo thêm cơ sở pháp lý cho các tổ chức khoa học hoạt động: Xác định quan hệ kinh tế giữa khoa học với sản xuất, xác định quyền được thỏa thuận về giá cả và lợi nhuận trong hợp đồng, xác định quyền được phân chia lợi nhuận giữa người tạo ra và người ứng dụng kỹ thuật tiến bộ, xác định quyền sử dụng các hình thức khuyến khích vật chất đối với cán bộ

Trang 8

khoa học Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý trong hoạt động KH&CN, Nghị định HĐBT tạo thêm thuận lợi cho các tổ chức khoa học chủ động tạo lập các nguồn vốn và

35-sử dụng một cách có hiệu quả đồng vốn trong việc tiếp cận nhanh chóng với nhu cầu thị trường

Đất nước chuyển sang kinh tế thị trường, mọi hoạt động KH&CN chịu sự điều chỉnh của các Luật: Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Sở hữu Trí tuệ, Luật Chuyển giao Công nghệ, Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, Luật Chất lượng và Sản phẩm hàng hóa Ngoài ra còn hình thành các quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ ở cấp Quốc gia, cấp Bộ và Tỉnh, Thành phố cũng góp phần phong phú và đa dạng trong hoạt động nhằm thúc đẩy nền KH&CN Việt Nam phát triển phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế và xã hội

Cùng với thời gian hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đã được ban hành ở mỗi giai đoạn lịch sử có giá trị thực tế điều chỉnh dần dần phù hợp với đặc điểm của hoạt động KH&CN Song, khi chuyển sang kinh tế thị trường, hoạt động KH&CN, đòi hỏi tính pháp lý hết sức chặt chẽ và đồng thời đáp ứng yêu cầu phù hợp với các thông lệ của khu vực và quốc tế Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải tiến hành nghiên cứu để xây dựng một

hệ thống pháp luật từ đạo luật cơ bản để điều chỉnh các quan hệ xã hội chủ yếu và có tính chất chung nhất của hoạt động KH&CN, đến các chế định pháp luật đảm bảo cho các luật nói trên phát huy tác dụng trong thực tế

3 Về cơ cấu tổ chức

Ngoài chức năng quản lý Nhà nước về KH&CN, trong những năm đầu xây dựng cơ

quan, Chính phủ còn giao cho Ủy ban nhiệm vụ "Xây dựng và quản lý các cơ sở nghiên cứu khoa học trực thuộc Ủy ban để tiến tới thành lập Viện Khoa học Việt Nam" - Thực

hiện chủ trương của Chính phủ, Ủy ban từng bước đề nghị Chính phủ cho tách dần các

cơ sở nghiên cứu khoa học ra khỏi Ủy ban để tạo điều kiện khách quan trong quản lý

và điều kiện thuận lợi trong việc xây dựng và trưởng thành cho hệ thống cơ quan nghiên cứu khoa học và cơ quan quản lý khoa học Đầu tiên vào năm 1965 đã thực hiện việc tách các cơ sở nghiên cứu khoa học xã hội để thành lập Viện Khoa học Xã hội Tiếp đó, vào năm 1975, tách các cơ sở nghiên cứu khoa học tự nhiên để thành lập Viện Khoa học Việt Nam Từ năm 1976 về sau là giai đoạn trọn vẹn xây dựng và củng cố cơ quan quản lý Nhà nước về KH&CN Có thể nói ở giai đoạn này, Ủy ban là thành viên đầu tiên và sớm nhất của Chính phủ tách bạch giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản

lý để xây dựng một cơ quan quản lý theo hướng quản lý của các nước phát triển Năm

1992 trong khi triển khai thực hiện Quyết định 324-CP của Chính phủ, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường đưa Viện Năng lượng Nguyên tử Quốc gia và Viện Công nghệ Quốc gia về trực thuộc Bộ Điều này không thật phù hợp với nguyên tắc tổ chức giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, vừa đi ngược lại tinh thần của quyết định

324 - CP Sau này, với việc thành lập một số công ty kinh doanh trong Bộ đã làm tăng thêm việc tản mạn sức lực trong công việc xây dựng cơ quan quản lý Nhà nước tầm vĩ

Trang 9

mô và có phần đi ngược lại xu hướng quản lý hiện đại mà Uỷ ban đã bắt đầu xây dựng

từ năm 1976

KẾT LUẬN

Nhìn lại chặng đường 50 năm xây dựng và trưởng thành của cơ quan quản lý Nhà nước

về KH&CN, bên cạnh những thành tích đã đạt được, cơ quan quản lý khoa học này còn tồn tại một số vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện nhằm thúc đẩy sự phát triển nền KH&CN của đất nước, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước

Việc hình dung đầy đủ chức năng và nhiệm vụ của Bộ được Chính phủ giao là điều quyết định mọi hoạt động của công tác quản lý KH&CN tầm vĩ mô Trên cơ sở phương hướng và chiến lược phát triển nền KH&CN Việt Nam ở mỗi giai đoạn, cần xác định chính xác các nhiệm vụ trọng điểm và quyết định vốn đầu tư thích hợp

Khối công tác quản lý liên ngành luôn luôn giữ vị trí chủ đạo trong nhiệm vụ của Bộ

Vì vậy, việc tăng cường và mở rộng tổ chức của các Vụ này là điều quyết định sự thành công của công tác quản lý của Bộ Còn những tổ chức không thuộc nhiệm vụ quản lý của Bộ cần sớm chuyển ra khỏi bộ máy tổ chức của Bộ để đảm bảo sự tập trung xây dựng tổ chức quản lý theo xu hướng hiện đại

Trong công tác quản lý KH&CN tầm vĩ mô, sự cần thiết phải tập hợp được trí tuệ của các nhà khoa học thông qua các tổ chức hội đồng khoa học để làm tư vấn cho các quyết định chuẩn xác của Bộ

Ở giai đoạn nhập công nghệ là chính thì các nguồn thông tin giữ vị trí quan trọng cho các quyết định Trong phòng tư liệu thì kho ca-ta-lô được xem như nguồn cung cấp thông tin quan trọng nhất cho việc lựa chọn các công nghệ nhập Vì vậy, Bộ cần định hướng rõ ràng cho việc xây dựng phòng tư liệu và đầu tư thích đáng để các quyết định đảm bảo độ chính xác cao

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nghị quyết kỳ họp thứ 8 của Quốc hội khóa I của nước VNDCCH, thông qua ngày 29/4/1958,

về việc thành lập UBKHNN Công báo số 27/1958, trang 444

2 Sắc lệnh số 016/SL ngày 4/3/1959 về việc thành lập UBKHNN Công báo số 9/1959, trang 137

3 Nghị định số 43/CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của UBKHNN, Công báo số 13 ngày 18/4/1962, trang 189-190

4 Quyết định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội số 165-NQ/TVQH ngày 11/10/1965 phê chuẩn việc tách UBKHNN thành UBKHKTNN và Viện Khoa học Xã hội, Công báo số 14 ngày 1/11/1965 trang 205-206

Trang 10

5 Nghị định số 67/CP ngày 27/5/1967 quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của UBKHKTNN, Phụ lục Công báo số 5 năm 1967 trang 66-69

6 Nghị định số 192/CP ngày 13/10/1975 ban hành Điều lệ về tổ chức và hoạt động của UBKHKTNN

7 Nghị quyết của Hội đồng Nhà nước số 244/NQ-HĐNN ngày 31/3/1990 về việc đổi tên UBKHKTNN thành UBKHNN

8 Nghị định số 22-CP ngày 22/5/1993 của Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức

bộ máy của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường

9 Nghị định số 54/2003/NĐ-CP ngày 19/5/2003 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Khoa học và Công nghệ

10 Nghị định số 28/2008/NĐ-CP ngày14/3/2008 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Khoa học và Công nghệ

11 Báo cáo về 25 năm hoạt động của Uỷ ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước

12 50 năm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Nxb Khoa học và Kỹ thuật, 1995

13 40 năm Xây dựng và Phát triển của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường Nxb Khoa học

và Kỹ thuật, 1999

Trang 11

LIÊN KẾT NGHIÊN CỨU VỚI GIẢNG DẠY:

Ý NGHĨA VÀ THỰC TIỄN

Nguyễn Văn Học1

Tóm tắt

Vấn đề liên kết Giáo dục - Đại học (GD-ĐH) với KH&CN được đặt ra một cách nghiêm túc ở nước ta vào đầu những năm 90 sau khi có Nghị định số 35-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng và sau đó là Quyết định 324 - CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng vào năm 1993 Vào những năm đầu thiên niên kỷ, Luật Khoa học và công nghệ, Luật Giáo dục, Chiến lược phát triển KH&CN Việt nam đến năm 2010, Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2010 và các văn bản dưới luật khác đều tập trung các công cụ chính sách để giải quyết vấn đề liên kết này Tuy nhiên, cho đến nay, mối quan hệ đó vẫn được xem là yếu kém cần được khắc phục Câu hỏi đặt ra là liệu các chính sách đưa ra đã đúng hay chưa và nguyên nhân gốc rễ của yếu kém hiện nay là ở đâu? Bài viết này nhằm góp phần trả lời cho vấn đề nêu trên

1 Kết hợp giảng dạy với nghiên cứu đối với đội ngũ giáo viên

Tùy thuộc vào lĩnh vực khoa học, cách phối hợp giảng dạy với nghiên cứu sẽ khác nhau Đơn giản là vì mỗi lĩnh vực khoa học có đặc thù riêng Chẳng hạn, với khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, nhu cầu “cơ sở hạ tầng” cho việc nghiên cứu là

“bút chì + máy tính” còn đối với khoa học và công nghệ thì ngược lại, đòi hỏi một

cơ sở hạ tầng theo đúng nghĩa của nó Ngoài ra, tùy thuộc vào lĩnh vực khoa học mà người ta tiến hành các nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu ứng dụng trong các trường đại học Các lĩnh vực khoa học, về phần mình được phản ánh trong cấu trúc GD-ĐH.Ví dụ, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn, Trường Đại học Công nghệ v.v

Tuy nhiên, sự phản ánh ấy chưa nói lên sự thống nhất trong liên kết giảng dạy và nghiên cứu của chính lĩnh vực đó Vấn đề là ở chỗ, nhiều trở ngại nảy sinh trong việc phối hợp giảng dạy và nghiên cứu của chính đội ngũ giáo viên Xét về bản chất, quá trình giảng dạy - học tập (giảng bài, ôn tập thảo luận, làm thí nghiệm ) và quá trình nghiên cứu là hai lĩnh vực hoạt động khác nhau nhưng có tác động tương hỗ

và bổ sung cho nhau đối với sinh viên và đội ngũ giáo viên Điều khác biệt là ở chỗ, đối với sinh viên quá trình này được phân bố theo thời gian, còn đối với đội ngũ giáo viên - theo sự phân công lao động Thông thường, theo chức trách một số chuyên nghiên cứu, một số chuyên giảng dạy Từ đây, xuất hiện ý kiến cho rằng nghề giảng dạy và nghề nghiên cứu là hai nghiệp vụ khác nhau hoàn toàn, mỗi một

1 TS Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN

Trang 12

trong số đó phải giải quyết khối lượng công việc to lớn đến mức không thể đồng thời giải quyết được

Đối với giảng viên đại học, đòi hỏi phải giải quyết một tổ hợp các vấn đề Lập kế hoạch giảng dạy, bao gồm các trình, các giáo án, ôn tập, thảo luận, kiến tập, thực hành, thí nghiệm v.v Trình duyệt kế hoạch trên và sẵn sàng cho việc giảng bài vì thông thường những giáo viên soạn giáo trình thường được giao nhiệm vụ giảng bài Trên thực tế, giảng bài không thuần túy là truyền đạt kiến thức mà còn cần phải giải quyết các vấn đề lý luận và phương pháp luận sư phạm Người giảng viên, trước tiên phải là nhà sư phạm có kỹ năng tương tác với giảng đường, trình bày khúc triết bài giảng, liên kết các phần khác nhau của các trình sao cho sinh viên tiếp thu tối đa kiến thức một cách hệ thống

Câu hỏi đặt ra là, liệu có thể giao ngần ấy công việc và kỹ năng cho một nghiên cứu viên của viện nghiên cứu tương ứng nào đó được không, nhất là một khi anh ta chỉ chuyên tâm cho công việc nghiên cứu của mình Câu trả lời có lẽ đã rõ ràng cho mọi người

Tuy nhiên, cũng không thể không nói đến những nhà khoa học có tài năng sư phạm bẩm sinh Ví dụ, Richard Faiman - nhà vật lý học (đã được giải thưởng Nobel) đã soạn và giảng một giáo trình vật lý nổi tiếng Giáo trình này được in bằng nhiều thứ tiếng khác nhau Mặc dù vậy, sự nổi tiếng ấy cũng chỉ nói lên một điều là: đó là trường hợp hiếm gặp, riêng có mà thôi Chính vì vậy, tại nhiều trường đại học, giảng viên cho những năm đầu thường là các giảng viên chuyên giảng dạy

Điều đáng buồn là ở chỗ, các giáo trình cố định ấy thường mang tính bảo thủ cao, năm này sang năm khác hầu như không thay đổi Kết quả là, sinh viên những năm đầu - vốn muốn được biết điều mới lạ lại phải tiếp thu những điều không sát với thực tế đổi mới của khoa học hiện đại

Rõ ràng là, muốn có một giáo trình tốt, người soạn phải có tri thức khoa học tương hợp với thực tế phát triển của lĩnh vực khoa học hiện tại Giáo trình hiện đại phải là giáo trình có hơi thở của thành tựu khoa học hiện đại Liệu một giảng viên chuyên nghiệp giảng dạy có thể làm được việc này không? Câu trả lời cũng đã rõ đối với mọi người

2 Vấn đề kết hợp nghiên cứu với giảng dạy

Những phân tích trên đây cho thấy, để hoạt động giảng dạy có tính mới, tương hợp với các thành tựu khoa học hiện đại không thể không có sự đóng góp của các nhà khoa học có trình độ và nghệ thuật truyền đạt các tư liệu khoa học được biên soạn dưới dạng các bài giảng, giáo trình Yêu cầu này phải chăng chỉ là ý tưởng lý tưởng và những nỗ lực của chúng ta suy cho cùng chỉ nhằm tiệm tiến đến điều lý tưởng đó Nói cách khác theo các nhà quản lý là nhằm sử dụng hợp lý tiềm lực KH&CN đất nước Vấn đề là ở chỗ cần phân bổ hợp lý sức lực và thời gian cho

Trang 13

công việc nghiên cứu vốn đòi hỏi trí lực cường độ cao và trách nhiệm phức hợp của chức phận giảng dạy Tất nhiên, về điểm này, phẩm chất cá nhân rất quan trọng Chúng ta ai cũng đã từng biết một trong số những nhà vật lý nổi tiếng của đất nước

- Giáo sư, viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu, người luôn biết cách phân bổ thời gian vật chất cho công tác giảng dạy tại các trường đại học cũng như trường mà hiện ông đang là hiệu trưởng Ông là tác giả của nhiều công trình về vật lý lý thuyết mà nhiều thế hệ sinh viên và nghiên cứu sinh sử dụng với tư cách là sách giáo khoa

Những ví dụ trên cho ta thấy, dù là cá biệt song về nguyên tắc vấn đề kết hợp nghiên cứu với giảng dạy (kể cả biên soạn giáo trình) có thể giải quyết được Chúng

ta thử xem xét chức phận của một nghiên cứu viên nhằm trả lời câu hỏi liệu có cách nào để kết hợp hoạt động nghiên cứu với giảng dạy được không

Thực tế cho thấy, chức phận của nghiên cứu viên thật không ít hơn chút nào so với một giảng viên Nếu như giảng viên phải lên kế hoạch giảng dạy thì nghiên cứu viên cũng phải có kế hoạch nghiên cứu: thiết bị và mua sắm thiết bị khoa học, lắp đặt, thử nghiệm, làm việc trên thiết bị khoa học, chuẩn bị các đơn đặt hàng, yêu cầu phối hợp, viết báo cáo, viết báo, hội thảo khoa học, đào tạo hướng nghiệp, hướng dẫn nghiên cứu sinh v.v Chưa kể đến những chuyện riêng tư điều mà trong mỗi người chúng ta đều có Vấn đề là ở chỗ, liệu ta có thể “gắn” thêm một vài chức phận giảng dạy vào tổ hợp công việc của anh ta không? Về nguyên tắc có thể được trong trường hợp anh ta cảm thấy điều đó là cần thiết Trách nhiệm của các nhà hoạch định chính sách là đưa ra công cụ chính sách làm cho các nhà khoa học luôn thấy đó là cần thiết xét theo khía cạnh quy trình nghiên cứu cũng như các lợi ích mà anh ta nhận được nếu kết hợp công tác nghiên cứu với giảng dạy Đi trước một bước, cần nhấn mạnh rằng, các công cụ “bắt buộc” đều không dẫn đến các kết quả mong đợi trong vấn đề này

Bài học rút ra là: nếu một người có quá nhiều chức phận thì thời gian dành cho việc thực hiện chúng sẽ luôn được phân bố ngay cả khi chúng ta giao thêm chức phận thuộc ưu tiên cần thiết của anh ta Trong trường hợp nghiên cứu viên, các chức phận

bổ sung có thể là: giảng một số trình trong trường đại học (chính thức hoặc tự nguyện), thuyết trình trong các hội thảo, biên soạn sách giáo khoa, giáo trình, tham gia xây dựng các bộ môn đào tạo tại các cơ sở nghiên cứu, tham gia các hội đồng tham vấn v.v

Khi xây dựng các biện pháp thúc đẩy liên kết nghiên cứu với giảng dạy, không thể không xem xét sức ép giảng dạy của giảng viên Đây là vấn đề quan trọng trong tổ chức hoạt động liên kết

Thứ nhất, sức ép giảng dạy của giáo viên Như đã nói mục 1 trên đây, chức phận

của giảng viên rất lớn Ngoài ra, còn phải kể đến việc thời gian coi thi, chấm thi, tư vấn hướng nghiệp v.v Thông thường, khi xây dựng chỉ tiêu biên chế, nhà trường thường muốn người giảng viên sử dụng 100% thời gian cho công tác giảng dạy

Trang 14

(Điều này thực tế ở Việt nam cho thấy dường như đó cũng là mong muốn của giảng viên vì nhờ đó mới có thu nhập) Với cách tiếp cận như vậy, liệu còn có thời gian vật chất cho công tác nghiên cứu hay không (?) Có lẽ công tác nghiên cứu chỉ có thể tiến hành trong thời gian rỗi chứ không thể có câu trả lời khác được

Thứ hai, sức ép học tập của sinh viên Kết quả khảo sát giờ học của sinh viên một

số trường đại học (Đại học Đài Loan, Đại học Boston-Mỹ, Đại học Singapore, Đại học Băng Cốc) cho thấy số giờ học của sinh viên Việt Nam thường gấp đôi Điều đó không có nghĩa là sinh viên chúng ta làm việc căng thẳng hơn sinh viên các nước so sánh Chỉ đơn giản là vì quá trình học tập của sinh viên được thiết kế với 50% thời gian dành cho tự nghiên cứu, học tập Với cách đó, sức ép giảng dạy của giảng viên

tự động giảm đi ít nhất 50% Liệu cách này có thể áp dụng trong trường hợp của chúng ta hay không, câu trả lời nằm trong năng lực quản lý giờ học tự giác của sinh viên Trường hợp Boston - sinh viên được giao đọc 1000 trang sách có liên quan trong mỗi tuần và viết báo cáo thu hoạch Cách này người ta cho là cách kiểm soát hữu hiệu nhất, thực tế nhất Ở Việt nam, phòng ở của sinh viên còn đang thiếu, các phương tiện học tập chưa đủ, internet không phải trường nào cũng sẵn sàng, thư viện chưa đủ không gian cần thiết , thật khó tiến tới điều lý tưởng trên đây được

Thứ ba, thông thường giáo trình của các trường đại học được phân bổ theo kỳ học:

giáo trình 1 học kỳ, 2 học kỳ v.v Hiện nay, tại các nước có nền giáo dục tiên tiến, người ta áp dụng các trình mô -đun gồm 3-4 tiết giảng Trình học kiểu này có nhiều

ưu việt so với cách tiếp cận cũ: đáp ứng nhu cầu đổi mới nhanh chương trình giảng dạy; cho phép tổ chức quá trình giảng dạy theo đó giảng viên truyền đạt những gì biết rõ nhất; cho phép nhanh chóng đưa vào bài giảng những gì mới nhất trong lĩnh vực khoa học tương ứng; cuối cùng, cho phép mời các chuyên gia bên ngoài (viện nghiên cứu) xây dựng trình và giảng bài theo trình đã xây dựng

Đề mục của trình mô - đun có thể mở và rộng hơn nhiều so với trình trong kế hoạch giảng dạy Điều này giúp cho việc lựa chọn các trình học tự nguyện đồng thời cũng tạo điều kiện để các nhà khoa học tham gia vào quá trình giảng dạy theo cách đổi mới

Giáo dục đổi mới là hệ thống giáo dục mới có mục tiêu hình thành và phát triển năng lực đổi mới với nghĩa là tìm ra các giải pháp hành động trong môi trường cạnh

Trang 15

tranh luôn thay đổi và văn hóa đổi mới của đất nước Đơn giản là vì đổi mới không thuần túy là hiện tượng kỹ thuật mà là hiện tượng xã hội

Thành phần tạo hệ của giáo dục đổi mới là phương pháp hoạt động với tư cách là một hệ thống các quy tắc, nguyên tắc và thủ pháp trong hoạt động của con người nhằm kết nối lý luận và thực tiễn Khi xây dựng hệ thống giáo dục đổi mới, phải

tính hết các đặc điểm về tính chuyên môn hóa cao (vì không thể “ôm hết những gì không thể ôm”), tính tương thích với cấu trúc khoa học, sự cách biệt ngày một tăng

giữa các học sinh giỏi và học sinh kém, chi phí cho đào tạo tốt vốn sẽ đắt đỏ và sự trả giá cho đào tạo yếu kém sẽ đắt gấp nhiều

3.2 Phương án tối thiểu: Khắc phục những yếu kém cơ bản trong việc phối hợp hoạt động giảng dạy và nghiên cứu

Ngoài những cơ chế, chính sách hiện hành (như tổ chức các phòng thí nghiệm trung giữa khu vực nghiên cứu, giảng dạy, thành lập học viện, quy định bắt buộc có giờ nghiên cứu đối với giáo viên, có giờ giảng dạy đối với nghiên cứu viên ), còn có một số biện pháp nêu ra dưới đây Có thể là các biện pháp đơn giản xong đây là kinh nghiệm của một số nước mà giáo dục đã đem lại các điều kỳ diệu cho quốc gia

a) Giảm tải cho thày trò

Thoạt nhìn, tưởng đây là biện pháp chắp vá, nhưng xét kỹ thì quả là vấn đề nhỏ nhưng sức ảnh hưởng lớn, liên quan đến cải cách giáo dục nước nhà Trước hết, nó liên quan đến giảm cung đầu vào Về phần mình, việc này liên quan đến giảm giờ dạy thêm của các giáo viên công lập Không thể chấp nhận tuyển đầu vào với tổng 3 môn thi 9 điểm thậm trí có thời 4,5 Nâng cao chất lượng đầu vào không có nghĩa là làm mất đi quyền được học tập của lớp trẻ Quyền đó được đáp ứng bởi hệ thống trường dạy nghề, trường cao đẳng v.v Điều cơ bản là thầy có thời gian để dạy, để đọc, để nghiên cứu bổ sung cho bài giảng, trò có thời gian tự luyện, tự ôn bài Vấn

đề là giảm bao nhiêu phần trăm là vừa Kinh nghiệm các nước có nền giáo dục hiện đại cho thấy, giảm 50% là tốt nhất Đây là cách tổ chức quá trình học tập và giảng dạy tối ưu nhất mà các nước tiên tiến đã và đang áp dụng, theo đó sinh viên có 50% thời gian để tự học, thầy giáo có 50% để dành cho công tác nghiên cứu

Tuy nhiên, trong điều kiện nước ta, vấn đề kiểm soát học sinh trong thời gian tự học tập là rất khó khăn xét theo khía cạnh chủ quan và khách quan như đã phân tích trên đây Ngoài việc giao bài cho học sinh đọc, thu hoạch, thảo luận, tự đánh giá cho điểm, tại các nước trên, người ta còn thu hút sinh viên vào nghiên cứu khoa học

và đưa ra các giải có giá trị để khuyến khích, tuyển trọn các công trình này

Giảm giờ dạy và học sẽ kéo theo việc soạn lại giáo trình, tập trung hóa cao độ đến đối tượng môn học: học những gì sau này cần, không thể “ôm hết những gì không thể ôm được”

Trang 16

b) Cơ chế khuyến khích giảng viên tham gia nghiên cứu và nghiên cứu viên tham gia giảng dạy

Trước hết, cần dành một khoản kinh phí từ ngân sách cho các trường tổ chức nghiên cứu Kinh nghiệm các nước chuyển đổi cho thấy, việc này được tổ chức dưới dạng mô chương trình mục tiêu nhằm:

• Phát triển các nghiên cứu cơ bản trong trường và các viện trực thuộc (nhất là các viện chuyên nghiên cứu lý thuyết);

• Đảm bảo giao lưu, tương tác giữa các trường và viện thông qua việc thỉnh giảng hoặc kết hợp nghiên cứu, các đội điều tra, khảo sát phối hợp nghiên cứu viên của viện, giảng viên và sinh viên v.v

• Xây dựng các cơ sở thí nghiệm dùng chung cho thầy, trò, nghiên cứu viên của viện, nghiên cứu sinh và những người có nhu cầu khác

• Xây dựng cơ sở dữ liệu về nghiên cứu cơ bản phục vụ cho việc hoàn thiện giáo trình trong các trường đại học

Vấn đề của chúng ta là, hiện Chính phủ đã quyết định cấp một khoản kinh phí bằng 1% ngân sách chi cho giáo dục dành cho nghiên cứu trong các trường đại học Đã hai năm trôi qua, khoản này không được dùng đến Có thể có nhiều nguyên nhân

khác nhau như đã nói trên đây, song có lẽ vẫn là cách chọn đề tài/dự án chưa đúng

và cơ chế chi tiêu quá chặt và cùng với việc không đủ thời gian vật chất, việc nghiên cứu bị lãng quên

Bên cạnh đó, cần bổ sung quy chế tuyển chọn đề tài hiện nay để khuyến khích các

đề tài, dự án có sự kết hợp trên thực tế giữa viện và trường, không quá coi trọng cơ

sở vật chất-kỹ thuật với trọng số cao

c) Thành lập một số trường đại học (hoặc khoa) tại một số viện nghiên cứu

Đây là biện pháp nhằm hai mục tiêu Thứ nhất, để tăng cường mối liên kết giữa nghiên cứu và giảng dạy của đội ngũ nghiên cứu Các giảng viên của trường đại học

có thể được mời thỉnh giảng Các nghiên cứu viên có thể tìm được chỗ đứng trên bục giảng Thứ hai, để tìm đội ngũ nghiên cứu kế cận Đội ngũ nghiên cứu hiện đang bị hẫng hụt tại một số viện, số nghiên cứu viên có tuổi đời từ 55 trở lên đang tăng lên ở nhiều viện, nhất là ở hai Viện Khoa học quốc gia Có cơ chế để các sinh viên đang theo học ở các trường tương ứng có thể có cơ hội chuyển sang học tại các trường này Kinh nghiệm này đã được áp dụng tại nước Nga khi mà dòng chảy máu chất xám đổ ra nước ngoài cũng như sang các lĩnh vực thông thường khác Việc tìm học trò theo kiểu chọn “đệ tử” của các giáo sư trong các trường đại học ở Mỹ suy cho cùng cũng gần tương tự như kiểu thành lập trường trong khu vực nghiên cứu Điều khác biệt là các nhóm “đệ tử” được thành lập ngay trong khoa của trường đại học, nơi giáo sư toàn trị, thậm trí suốt đời./

Trang 17

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 L Nhekhoroxeva Xây dựng hệ thống đa lớp đào tạo chuyên gia cho hoạt động đổi mới : vấn đề và phương thức giải quyết Tuyển tập báo cáo khoa học hội thảo quốc tế lần thứ X về “Các vấn đề và triển vọng phát triển kinh tế theo hướng đổi mới”, Kiep - Moskva - Simpheropol, 2006

2 I.I Ignatov Hỗ trợ phát triển các tập thể nghiên cứu-giảng dạy tại các trường đạị học Hoa kỳ, Almanax Khoa hoc - Đổi mới - Đào tạo 2007, Viện Nghiên cứu Kinh tế, Chính trị và Pháp luật trong lĩnh vực KHKT, Liên bang Nga

3 V.V Borixov Liên kết đào tạo với khoa học, triết lý và phương thức thực hiện

Almanax Khoa hoc - Đổi mới - Đào tạo 2007, Viện Nghiên cứu Kinh tế, Chính trị và Pháp luật trong lĩnh vực KHKT, Liên bang Nga

Trang 18

HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ

Lê Thành Ý 1

Tóm tắt

Đổi mới công nghệ doanh nghiệp là nội dung quan trọng trong thực hiện những bước đi cụ thể của quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Bài báo trình bày những yêu cầu về đổi mới công nghệ ở doanh nghiệp, những chủ trương

và những giải pháp hỗ trợ của Nhà nước nhằm thúc đẩy xã hội hóa và đa dạng hóa nguồn lực KH&CN, khích lệ doạnh nghiệp mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ trong các hoạt động sản xuất kinh doanh Nêu lên những kết quả và những vấn đề đặt ra trong hoạt động đổi mới công nghệ doanh nghiệp ở nước ta

1 Đổi mới công nghệ doanh nghiệp đòi hỏi bức xúc của công nghiệp hóa

Liên quan đến mục tiêu và phương hướng phát triển đất nước giai đoạn 2006-2010, Đại hội X Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định, phải tạo ra những tiền đề cần thiết

để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại và nhấn mạnh việc đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức

Khái niệm công nghiệp hóa (CNH) được hiểu là quá trình cải biến nền nông nghiệp dựa trên nền tảng kỹ thuật của thủ công mang tính hiện vật, tự cấp, tự túc thành nền kinh tế công nghiệp - thị trường Đây chính là một nội dung kinh tế của các quá trình xây dựng một xã hội dựa trên nền văn minh công nghiệp CNH không chỉ đơn thuần là quá trình cải biến kinh tế mà còn là quá trình cải biến thể chế và cấu trúc nền kinh tế, chuyển từ kinh tế hiện vật khép kín sang nền kinh tế hàng hóa mở dựa trên sự phân công xã hội Ở mọi quốc gia, quá trình CNH đều tuân thủ theo logic tổng quát của những nguyên tắc tuần tự, song tùy thuộc vào điều kiện cụ thể lại có

sự lựa chọn mô hình, nội dung chiến lược, giải pháp thực hiện và bước khác nhau Đối với những nước đi sau, họ có thể tiếp cận với nhiều nguồn lực về vốn, nhân lực, đặc biệt là công nghệ do những nền kinh tế phát triển tạo ra để CNH Mặt khác, rút kinh nghiệm từ các quốc gia đi trước để có thể vượt lên, bứt phá và thu hẹp nhanh khoảng cách tụt hậu

Trên một thế kỷ trước đây, khi phân tích khái niệm kinh tế xã hội (KT-XH), Các Mác đã từng dự báo, đến một lúc nào đó, khoa học sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Ngày nay, với sự ra đời của nền kinh tế tri thức, điều tiên đoán của Mác đã trở thành hiện thực và sự thay đổi của nền kinh tế tri thức đang tạo ra bước ngoặt trong lịch sử nhân loại Nền kinh tế tri thức được hiểu là nền kinh tế được dẫn dắt bởi tri thức và công nghệ cao, gắn với hệ thống kỹ thuật hiện đại, có cấu trúc không

1

Trang 19

gian toàn cầu với tỷ trọng sản phẩm tri thức (cốt vật chất) chiếm trên 50% trong cơ cấu GDP Với nội hàm của kinh tế tri thức, công nghệ và trí tuệ con người sẽ là lực lượng sản xuất hàng đầu, có vai trò quyết định; đó chính là lợi thế quan trọng của thời đại

Thành công trong nỗ lực công nghiệp hóa nhanh ở các quốc gia Đông Á là biết tận dụng lợi thế của nước đi sau để vượt qua logic "tuần tự" về bước đi để thể hiện sự

"nhảy vọt về cơ cấu" Việc rút ngắn thời gian CNH theo những bước chuyển tuần tự

là cách làm phổ biến, còn "nhảy vọt cơ cấu" chỉ diễn ra khi có sự chuyển hóa công nghệ lớn, từ thời đại công nghệ này sang thời đại công nghệ khác Thế giới ngày nay đang chuyển từ cơ khí, điện tử sang công nghệ cao, mở ra cơ hội chưa từng có cho những nền kinh tế đi sau để thực hiện những bước "nhảy vọt" trong thu hẹp khoảng cách phát triển Cơ hội này chỉ có thể thực hiện thành công khi tiềm lực của mỗi quốc gia với chủ thể là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có đủ năng lực nội sinh để nắm bắt, tiếp thu và vận dụng kịp thời công nghệ cao không ngừng biến động vào những hoạt động hàng ngày

2 Tầm nhìn và những chủ trương hỗ trợ đổi mới công nghệ doanh nghiệp

Từ cuối thập niên 1980, vấn đề thương mại hóa nhằm gắn hoạt động nghiên cứu với sản xuất kinh doanh và đổi mới công nghệ doanh nghiệp đã được các tổ chức nhà nước quan tâm nghiên cứu trên các khía cạnh khác nhau trong quan hệ khoa học với sản xuất, tài chính và tổ chức KH&CN

Trên thực tế, quan hệ giữa các tổ chức KH&CN với doanh nghiệp là mối quan hệ giữa các tác nhân trong hệ thống đổi mới quốc gia, bao gồm: doanh nghiệp, tổ chức KH&CN và các cơ quan giáo dục-đào tạo Quan hệ tương tác trong hệ thống thực chất là việc đưa sản phẩm và những dịch vụ mới vào thị trường xã hội Quá trình đổi mới công nghệ doanh nghiệp được bắt đầu từ nảy sinh ý tưởng đến nghiên cứu thiết kế sản phẩm, sản xuất thử nghiệm rồi hoàn thiện sản phẩm để thâm nhập thị trường.Việc chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm và các quá trình công nghiệp, việc chuyển hóa tri thức thành sản phẩm thương mại và quy trình công nghiệp sẽ tác động trực tiếp và dài hạn đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp

Các nhà kinh tế cho rằng, trong hoạt động nghiên cứu và phát triển, nhiều vấn đề đòi hỏi Nhà nước không chỉ quan tâm về khung luật pháp, chính sách khuyến khích

mà còn cần hỗ trợ cả về tài chính cho các hoạt động công nghệ Hoạt động công nghệ một dạng tri thức được sử dụng để tăng năng xuất trong các nhà máy, cơ sở sản xuất kinh doanh cần được đưa vào chi phí sản xuất Với vai trò của một loại hàng hóa đặc biệt, công nghệ đem lại lợi ích xã hội thường lớn hơn nhiều lần lợi ích của nhà đầu tư, nếu được trợ cấp đổi mới hoăc khuyến khích để giảm chi phí và nâng cao lợi ích, chắc chắn người sản xuất sẽ quan tâm nhiều hơn để đổi mới công nghệ (SAREC 1999)

Trang 20

Hội nghị lần thứ 2 BCHTW Đảng khóa VIII (tháng 2 năm 1996) đã ra Nghị quyết

về định hướng chiến lược phát triển KH&CN trong thời kỳ CNH, HĐH Đối với phát triển công nghệ, nghị quyết chỉ ra "Lấy ứng dụng chuyển giao công nghệ là chính, tạo khả năng lựa chọn, thích nghi và làm chủ công nghệ nhập, đi thẳng vào công nghệ tiên tiến nhất, trước hết ở những ngành, những lĩnh vực có tác động chi phối nến kinh tế quốc dân, những ngành có giá trị gia tăng cao, ngành công nghiệp mới xây dựng, ngành sản xuất sản phẩm xuất khẩu chủ lực Đồng thời, đổi mới công nghệ từng phần, hiện đại hóa từng khâu đối với những lĩnh vực còn cơ sở vật

chất - kỹ thuật và sản xuất còn hiệu quả" Trên lĩnh vực công nghệ cao nghị quyết

xác định "Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh hoc, công nghệ vật liệu mới làm nhanh chóng hiện đại hóa công nghệ trong các ngành kinh tế quốc dân và tạo ra các ngành công nghiệp

mũi nhọn có giá trị gia tăng cao " Để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ phát triển

KH&CN, Nghị quyết đã đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm tạo lập thị trường cho KH&CN; chính sách đổi mới với cán bộ KH&CN; tăng cường đầu tư cho phát triển KH&CN từ nhiều nguồn, xã hội hóa hoạt động KH&CN; tăng cường kiểm soát, giám định công nghệ và chất lượng sản phẩm; tăng cường hợp tác quốc tế; đổi mới tổ chức quản lý hoạt động KH&CN và tăng cường hoạt động tuyên truyền, phổ cập kiến thức KH&CN Nét nổi bật của những giải pháp là hướng vào ưu tiên cho đổi mới công nghệ doanh nghiệp, gắn hoạt động nghiên cứu đào tạo với sản xuất kinh doanh, tư vấn và chuyển giao công nghệ

Với nhu cầu đổi mới công nghệ doanh nghiệp, từ thực tiễn nước nhà, ngày 18 tháng

9 năm 1999 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định 119/1999/NĐ-CP về Chính sách và cơ chế tài chính khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào hoạt động KH&CN Nghị định đã tập trung vào một số vấn đề cơ bản trong chính sách ưu tiên

về thuế, ưu đãi sử dụng đất, tín dụng cho doanh nghiệp trong hoạt động đổi mới công nghệ Trong những quy định cụ thể, Nhà nước hỗ trợ kinh phí thực hiện nhiệm

vụ nghiên cứu sáng tạo công nghệ mới cho doanh nghiệp (hoặc phối hợp với tổ chức KH&CN) thực hiện tới 30% tổng chi phí; doanh nghiệp được trích 50% lợi nhuận sau thuế do áp dụng công nghệ mới trong thời gian 3 năm để đầu tư cho KH&CN và khen thưởng; khi doanh nghiệp sử dụng kết quả KH&CN do nhà nước đầu tư nghiên cứu chỉ phải trả tiền thù lao tác giả với mức cao nhất là 30% giá trị chuyển giao công nghệ (Bộ KH&CN 2008) Cụ thể hóa Nghị định này, tháng 11 năm 2000 Liên bộ Tài chính - KH&CN&MT trước đây, nay là Bộ KH&CN đã có thông tư hướng dẫn quy trình, thủ tục và trách nhiệm của cơ quan quản lý và doanh nghiệp trong hỗ trợ kinh phí nghiên cứu Tháng 10 năm 2001 Bộ trưởng bộ KH&CN&MT đã có quy định về trình tự và thủ tục hỗ trợ doanh nghiệp, tạo sự minh bạch và điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp được thụ hưởng chính sách khuyến khích Tiếp đó, tháng 8 năm 2003 Liên bộ KH&CN - Tài chính lại ra thông

tư bổ sung một số quy định về quản lý tài chính cho phù hợp với Luật Ngân sách

Trang 21

Có thể nói, hệ thống văn bản pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ là một cú hích trong vận dụng chính sách khuyến khích cộng đồng doanh nghiệp đầu

tư vào hoạt động KH&CN, bước đầu Nghị định 119 đã thu hút được sự quan tâm và tham gia thực hiện đổi mới công nghệ của nhiều doanh nghiệp

3 Một số kết quả nổi bật trong hoạt động đổi mới công nghệ doanh nghiệp

Phân tích xu thế đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp ở Việt Nam, viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) cho biết, việc hiện đại hóa dây truyền công nghệ doanh nghiệp đã có những chuyển biến đáng kể; nếu những năm 1970, tỷ

lệ hiện đại hóa công nghệ trong các doanh nghiệp nhà nước ở mức 8,6% thì sau những năm 1990 đạt được 60%, còn tại những doanh nghiệp tư nhân tỷ lệ đã lên 46,5% Mức độ hiện đại của dây chuyền công nghệ doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế thể hiện ở bảng 1

Bảng 1 Mức độ hiện đại của dây chuyền công nghệ trong doanh nghiệp (%)

Doanh nghiệp nhà nước

Doanh nghiệp tư nhân

Doanh nghiệp có vốn đầu tư NN

8,6 9,3 13,6

42 48,8 12,6

60 46,5 72,7

Nguồn: Báo cáo đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp Việt Nam VIE/01/025

Cùng với khả năng hiện đại, tính đồng bộ trong dây chuyền công nghệ được nâng lên đến 20% trong các doanh nghiệp nhà nước và chừng 16,3% đối với khu vực tư nhân Tính đồng bộ trong đổi mới dây chuyền công nghệ được thể hiện ở bảng số 2

Bảng 2 Tính đồng bộ của dây chuyến công nghệ trong doanh nghiệp (%) Mức đồng bộ

Loại doanh nghiệp

Thấp (chắp vá)

Trung bình Đồng bộ cao

Doanh nghiệp nhà nước

Doanh nghiệptư nhân

Doanh nghiệp có vốn đầu tư NN

5,7 11,6 0,9

74,3 72,1 58,2

20 16,3 40,9

Nguồn: Báo cáo đổi mới công nghệ tại các doanh nghiệp Việt Nam VIE/01/025

Trong các loại hình doanh nghiệp, việc hiện đại hóa và đồng bộ dây chuyền công nghệ sản xuất diễn ra với mức độ cao ở những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tiếp đó là doanh nghiệp nhà nước khu vực doanh nghiệp tư nhân có mức độ thấp nhất

Những năm gần đây, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý, đã tạo sức ép thúc đẩy

Trang 22

doanh nghiệp trong nước phải ứng dụng tiến bộ công nghệ Vào năm 2002, trong khoảng 200 nghìn hợp đồng chuyển giao công nghệ được thực hiện, gần 90% là của

doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (Tuần tin KT-XH số 7 ngày 10 tháng 6 năm

2008 TT Thông tin & Dự báo KT-XH Quốc gia trang 14) Những khảo sát thực hiện

tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng cho thấy, nhu cầu công nghệ và chuyển giao công nghệ diễn ra chủ yếu ở khối doanh nghiệp liên doanh hoặc có vốn đầu tư nước ngoài Trong khi các doanh nghiệp quốc doanh chỉ đầu tư với mức bình quân khoảng 10 triệu USD hàng năm thì liên doanh hoặc doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư bình quân từ 150 đến 200 triệu USD, thậm chí đến 1.200 triệu USD/năm với những hình thức chuyển giao chủ yếu là công ty mẹ ở nước ngoài

giao cho các công ty con (Tài liệu đã dẫn) Với mức chuyển hóa nhanh công nghệ

từ nước ngoài, nhìn chung trình độ quản lý và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước đã ngày một chuyển biến, nâng cao

Những tư liệu công bố cho thấy, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài liên tục gia tăng, đã từ 21 vạn người năm 1995 lên 37,9 vạn năm

2000, tăng gấp 2,5 lần và cuối năm 2007 đã lên chừng 1,13 triệu người (Tài liệu đã

dẫn) Lực lượng lao động trực tiếp trong các doanh nghiệp được tiếp cận với công

nghệ hiện đại đã hình thành tác phong công nghiệp, có ý thức kỷ luật, học hỏi được

kỹ năng tiên tiến cũng đã góp phần thúc đẩy doanh nghiệp trong nước không ngừng đầu tư đổi mới công nghệ, phương pháp quản lý để nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp trong mở rộng sản xuất, tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu

Theo các nhà phân tích, đầu tư nước ngoài vào càng nhiều thì càng có tác động tích cực đến chuyển giao công nghệ tiên tiến, thúc đẩy những ngành quan trọng như dầu khí, viễn thông, điện tử - tin học, cơ khí chế tạo Trong đó, hầu hết những doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đều áp dụng phương thức quản lý tiên tiến, có trình độ công nghệ đồng bộ cao Thông qua thu hút đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp có thể nhanh chóng tiếp cận công nghệ, kỹ thuật hiện đại qua các hình thức chuyển giao công nghệ Nhờ vậy, đã rút ngắn thời gian tìm kiếm và giảm được chi phí nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng Bên cạnh tiếp nhận công nghệ, hoạt động đổi mới còn tạo điều kiện để nhiều doanh nghiệp tiếp cận với những thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ thế giới để vận dụng trong thực hiện mục tiêu CNH

Theo đà phát triển của hoạt động đổi mới công nghệ doanh nghiệp do làn sóng đầu tư nước ngoài mang lại, những năm đầu thiên niên kỷ mới, sự hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ cũng có nhiều tín hiệu đáng mừng Thực hiện Nghị định

119, thời gian từ năm 2002 đến 2007, đã có 484 đề xuất nghiên cứu đổi mới công nghệ doanh nghiệp được đưa ra từ các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế Trong số này, 111 đề xuất, chiếm 22,9%, được bộ KH&CN xét duyệt, hỗ trợ kinh phí nghiên cứu 105,8 tỷ đồng bằng 13% tổng chi phí đã thực hiện Cơ cấu và mức

Trang 23

độ hỗ trợ của nhà nước cho doanh nghiệp thực hiện đổi mới công nghệ được thực hiện ở bảng số 3

Bảng 3 Hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ theo Nghị định 119/1999/NĐ-CP

Kinh phí

hỗ trợ(tr.đ)

Kinh phí thực hiện(tr.đ)

Tỷ lệ hỗ trợ%

DN nhà nước%

DN nước ngoài%

và 13 cơ sở không thực hiện được do thay đổi tổ chức, không có thị trường tiêu thụ hoặc thủ tục khó khăn Ở những cơ sở thực hiện có kết quả, việc đổi mới công nghệ

đã tác động mạnh đến nâng cao năng lực nội sinh, khích lệ doanh nghiệp tiếp tục đầu tư vào hoạt động KH&CN, nhiều vấn đề kỹ thuật mới được hoàn thiện, mở ra

những triển vọng tốt đẹp trong cạnh tranh hội nhập khu vựa và quốc tế

Với 4% kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, Công ty Đóng tàu Hạ Long đã xây dựng được đà bán ụ 25.000 tấn phục vụ đóng tàu container 610TEU, tầu tải trọng trên 3 vạn tấn, góp phần đưa năng lực sản xuất của Công ty lên gấp 2 lần Nhờ hỗ trợ kinh phí nghiên cứu thiết kế, nhà máy cơ khí Quang Trung tỉnh Ninh Bình đã chế tạo thành công trục 1 dầm 450 tấn Đây là việc làm có ý nghĩa để bảo vệ ngành sản xuất cơ khí siêu trường siêu trọng, giảm được trên 30% chi phí sản xuất, làm lợi hàng chục triệu USD nhập khẩu Trong nghiên cứu thiết kế thiết bị chữa cháy tự động, công ty công nghệ An Sinh (Đà Nẵng) đã được cấp bằng sáng chế tại Việt Nam và Hoa Kỳ, thiết bị công ty làm ra được các ngành chức năng cho phép đưa vào sử dụng Công ty đã thành công trong hỗ trợ nghiên cứu thiết kế; đưa dây chuyền chế phẩm Zeolit 3.000 tấn/năm vào hoạt động phục vụ nuôi trồng thủy sản; sản xuất giống lúa lai F1-Nhị ưu với giá chỉ bằng 60% nhập ngoại; nghiên cứu nguyên liệu sản xuất thuốc chữa bệnh ở công ty TRAPHACO đã làm nổi bật vai trò trung tâm của hoạt động KH&CN trong doanh nghiệp Trên tinh thần lấy thị trường để định hướng, lấy chất lượng sản phẩm để cam kết khách hàng và dùng tăng trưởng làm động lực, nhiều sản phẩm đổi mới của các doanh nghiệp đã được tiêu chuẩn hóa, tạo ra những khác biệt để nâng cao thương hiệu ngành hàng, uy tín

Trang 24

công ty ( bằng tiến bộ KH&CN) đã làm rõ vai trò mở đường của cơ chế và chính

sách hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ

Tại hội nghị sơ kết việc hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ tiến hành gần đây, hầu hết ý kiến đều cho rằng, thực hiện Nghị định 119 đã góp phần nâng cao nhận thức doanh nghiệp về vai trò KH&CN trong sản xuất kinh doanh, đây là biện pháp

"kích cầu" để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư nâng cao trình độ công nghệ Thực thi chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đã tạo sân chơi bình đẳng cho mọi thành phần kinh

tế Từ thành công đạt được, nhiều doanh nghiệp đã tự tin hơn để sẵn sàng tiếp tục các chương trình dự án để đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực nội sinh (Bộ KH&CN 2008)

4 Những hạn chế trong hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ

Quá trình đổi mới công nghệ nước ta đã làm mức độ hiện đại, tính chất đồng bộ trong các dây chuyền sản xuất của nhiều doanh nghiệp chuyển hóa tích cực Đổi mới công nghệ doanh nghiệp đã góp phần thay đổi bộ mặt nền kinh tế với mức tăng trưởng ngày một cao và cơ cấu kinh tế đã thay đổi theo hướng CNH, HĐH Tuy nhiên, cùng với làn sóng đầu tư nước ngoài gia tăng, năng lực quản lý điều hành giới hạn năng lực công nghệ bất cập đã đặt doanh nghiệp nội địa trước nhiều thách thức, cần có sự hỗ trợ mạnh mẽ hơn của nhà nước để nâng cao năng lực trong quá trình hội nhập

Trong cạnh tranh phát triển, mục đích của các nhà đầu tư và hoạt động doanh nghiệp đều hướng theo lợi nhuận Những ngành, lĩnh vực có tỷ trọng sinh lời cao thường thu hút được nhiều vốn đầu tư Ở nước ta, đầu tư nước ngoài tập trung chủ yếu vào công nghiệp xây dựng và dịch vụ; những ngành cần cho dân sinh, nhưng lợi nhuận không cao thường ít hấp dẫn các nhà đầu tư Đến nay, trong 8.684 dự án FDI còn hiệu lực với số vốn đăng ký trên 85 tỷ USD, thì 88,6% dự án đều thuộc lĩnh vực công nghiệp xây dựng và dịch vụ Số liệu thống kê cũng cho thấy, đầu tư nước ngoài kéo theo là đổi mới công nghệ đã tạo sự không cân đối giữa một số lĩnh vực Cùng một ngành sản xuất, doanh nghiệp đầu tư nước ngoài với trình độ công nghệ

và tiềm lực tài chính mạnh hơn có nhiều lợi thế cạnh tranh hơn doanh nghiệp nội địa

Quá trình thu hút đầu tư nước ngoài thực chất là quá trình tiếp nhận khoa học kỹ thuật và công nghệ cao từ các nước đã phát triển Với mục tiêu lợi nhuận, các nhà đầu tư đều tận dụng tối đa nguồn lực của nước sở tại để tiến hành sản xuất kinh doanh và hạn chế đến mức cao nhất chi phí Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài thường có quy mô sản xuất lớn làm tăng đáng kể dư lượng chất thải Mặt khác, thông qua đầu tư trực tiếp, không ít nhà đầu tư đã chuyển những ngành sản xuất gây

ô nhiễm môi trường từ những nước đã phát triển sang nước chưa phát triển hoặc xây dựng những ngành sản xuất dùng nhiều tài nguyên thiên nhiên và vận hành những công nghệ chưa thân thiện môi trường Đây cũng là một đặc thù mà chính sách hỗ

Trang 25

trợ đổi mới công nghệ doanh nghiệp cũng cần quan tâm để có những tác động cần thiết Ở nước ta hiện nay, trong 154 khu công nghiệp và khu chế xuất, mới có chừng 50% quan tâm xây xựng hệ thống xử lý chất thải, nước thải Thực tế này đã dẫn đến tình trạng ô nhiễm không khí và nguồn nước ngày càng nghiêm trọng tại những khu dân cư gần cụm công nghiệp

Đồng hành với xu thế của nhà đầu tư nước ngoài, việc thu hút đầu tư nước ngoài diễn ra không đồng đều giữa các tỉnh, thành và trong từng lĩnh vực kinh tế Khuynh hướng này đã ảnh hưởng không nhỏ đến thực thi chính sách đổi mới công nghệ doanh nghiệp Trên 20 năm qua, đầu tư nước ngoài ở Việt Nam có xu hướng tập trung vào một số tỉnh, thành phố lớn Trong khi 10 đơn vị dẫn đầu đã thâu tóm trên 80% số dự án với 82,1% tổng vốn đăng ký và 82,7% vốn thực hiện thì ở 10 tỉnh, thành thuộc nhóm cuối bảng, số dự án chỉ có 0,44%, vốn đăng ký chiếm 0,16% và

chừng 0,27% tổng vốn thực hiện (Tuần tin KT-XH số 7 ngày 10 tháng 6 năm 2008 của Trung tâm Thông tin&Dự báo KT-XH Quốc gia) Cùng với phân hóa thu hút đầu tư nước ngoài, mức độ biến động của doanh nghiệp dân doanh (đó là khu vực ngươi dân kinh doanh ngoài nhà nước và đầu tư nước ngoài) cũng khá khác nhau

Trong giai đoạn 2005-2006 tốp 10 tỉnh dẫn đầu thu hút FĐI có mức tăng doanh nghiệp dân doanh từ 46,6% đến 60,2%, thì ở 10 tỉnh cuối bảng, số lượng doanh nghiệp dân doanh lại giảm từ 6,8% xuống còn 4,7% so với tổng số doanh nghiệp dân doanh cả nước Nhiều địa phương thu hút FĐI thấp đã rơi vào vòng "luẩn quẩn" đầu tư phát triển thấp, nguồn lực địa phương hạn chế, không phát triển được hạ tầng, lại càng khó có thể hỗ trợ được doanh nghiệp đổi mới công nghệ Đây đang là bài toán khó giải cần có sự hỗ trợ cụ thể từ tầm chính sách quốc gia

Nhìn nhận vai trò Nhà nước trong đổi mới công nghệ doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu cho rằng, trong nhiều hoạt động, Nhà nước không nên chỉ quan tâm đến khuôn khổ luật pháp, mà còn cần có những hỗ trợ cụ thể về tài chính Công nghệ thay thế ở các doanh nghiệp cần đươc đánh giá cả về kinh tế, kỹ thuật và tài chính Do thiếu thông tin thị trường công nghệ, doanh nghiệp vấp phải nhiều khó khăn, lúng túng trong lựa chọn phương án công nghệ tối ưu và thủ tục để chuyển giao công nghệ Trên thực tế, các cơ quan thông tin công nghệ nhà nước thường làm nhiệm vụ thu thập, tổng hợp thông tin để phục vụ lãnh đạo cấp trên nhiều hơn trong khi nhu cầu thông tin công nghệ gắn với nội dung kỹ thuật, giá cả thương mại phục vụ doanh nghiệp lại đang rất thiếu (Trần Công Liêm 2008)

Đại bộ phận doanh nghiệp Việt Nam là những doanh nghiệp vừa và nhỏ, thuộc thành phần kinh tế tư nhân, mới chỉ đủ sức duy trì việc làm, chưa đủ năng lực đầu

tư cho KH&CN và tiếp cận ưu đãi tín dụng còn nhiều khó khăn Kết quả điều tra của UNDP và CIEM cho thấy, trong khi 43% doanh nghiệp quốc doanh được hỗ trợ

từ Quỹ Đầu tư phát triển, thì chỉ có 9% số doanh nghiệp ngoài nhà nước tìm được

sự hỗ trợ từ quỹ này Nước ta hàng năm dư thừa hàng trăm tỷ đồng từ ngân sách dành cho KH&CN song các doanh nghiệp có nhu cầu đổi mới công nghệ lại đang

Trang 26

đói vốn Theo ông Phan Đình Phương ở Công ty Sáng chế Công nghệ An Sinh, nếu đổi mới được tiêu chí cấp vốn, hỗ trợ đúng chỗ, chắc chắn việc đổi mới công nghệ doanh nghiệp sẽ phát triển nhanh hơn

Cụ thể hóa cơ chế hỗ trợ vốn đổi mới công nghệ doanh nghiệp, các nhà phân tích cho rằng, việc xây dựng và xét duyệt đề cương nghiên cứu hiện nay dường như đi

theo hướng khuyến khích "càng phức tạp hóa, càng hỗ trợ nhiều" Cách làm này

chưa phản ánh đúng bản chất, chưa đánh giá đúng hiệu quả sáng tạo và càng khó thu hồi và phát triển được nguồn vốn cho KH&CN Nếu chưa có những thay đổi về

cơ chế và chính sách phù hợp thì rất khó được doanh nghiệp chấp nhận tham gia Với trên 300 ngàn doanh nghiệp, trong thời gian dài từ năm 2002 đến 2007, Bộ KH&CN chỉ nhận được 484 đề xuất nghiên cứu từ doanh nghiệp và cấp kinh phí hỗ trợ cho 111 đề xuất là con số quá nhỏ Thực tế này phản ánh công tác tuyên truyền phổ biến chưa sâu, rộng và ở khía cạnh khác, trong cơ chế, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và tổ chức thực hiện cũng còn nhiều việc cần bàn để có giải pháp thúc đẩy mạnh mẽ hơn

Phân tích tình hình thực hiện Nghị định 119, các nhà nghiên cứu có chung nhận xét,

kể từ năm 2003 đến nay, mức độ đề xuất, số nhiệm vụ được hỗ trợ và tổng kinh phí được hỗ trợ có xu thế giảm dần Điều quan ngại là, Nghị định 119 mở ra khả năng cấp kinh phí hỗ trợ đến 30% tổng chi phí thực hiện, song tổng mức hỗ trợ thời gian qua mới đạt 13% Một giới hạn khác là Nghị định 119 chưa có sự hưởng ứng từ phía các doanh nghiệp lớn, tập đoàn kinh tế hoặc tổng công ty Có thể vì giới hạn này nên trong hỗ trợ doanh nghiệp chưa tạo được chuyển biến cơ bản về trình độ công nghệ của các ngành hay lĩnh vực lớn Hầu hết những đề xuất chủ yếu là từ phía những doanh nghiệp có vốn pháp định nhỏ, khó đáp ứng được vốn đối ứng tự

có nên chỉ nhận được sự hỗ trợ không nhiều Kết quả nghiên cứu đổi mới thường chỉ đáp ứng nhu cầu trước mắt, ít có ý nghĩa lâu dài trong chiến lược kinh doanh doanh nghiệp

5 Vấn đề đặt ra nhằm thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới công nghệ

Muốn đổi mới công nghệ doanh nghiệp, chất lượng nguồn nhân lực là một đòi hỏi hàng đầu Nhân lực KH&CN trong đổi mới công nghệ nước ta đang là một rào cản lớn để nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp So với các nước công nghiệp mới trong khu vực, tỷ lệ lao động được đào tạo ở Việt Nam chỉ bằng 1/3 Tính đến

năm 2007, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo nghề đạt khoảng 23% Trong số này, những

người được đào tạo dài hạn chiếm khoảng 25% Sự thiên lệch trong đào tạo, nặng lý thuyết, yếu về kỹ năng phân tích thực tiễn và thiếu sự tham vấn của các ngành kinh

tế đã buộc các nhà tuyển dụng phải đào tạo lại hoặc đào tạo bổ sung đang là hạn chế gắn đào tạo với sản xuất và thị trường lao động Thực tế diễn ra cùng với mức giới hạn 3% lao động nước ngoài làm việc trong các khu công nghiệp, khiến thiếu hụt lao động trình độ cao trong từng doanh nghiệp ngày càng nghiêm trọng Tình trạng

Trang 27

thiếu hụt lao động kỹ thuật đã nảy sinh hiện tượng di chuyển lao động ngày càng phổ biến và cạnh tranh thiếu lành mạnh đã dẫn đến những vấn đề xã hội bức xúc, đặc biệt khi ưu thế giá nhân công rẻ ở Việt Nam không còn Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực hiện nay không chỉ là yêu cầu cấp bách mà còn mang ý nghĩa chiến lược lâu dài đối với đổi mới công nghệ doanh nghiệp trong sự nghiệp CNH đất nước

Đề nâng cao hiệu quả hỗ trợ đổi mới công nghệ doanh nghiệp trong làn sóng đầu tư nước ngoài mở rộng, nên chăng cơ quan quản lý nhà nước cần xem xét sửa đổi một cách đồng bộ những quy định liên quan đến ưu đãi đầu tư cho hoạt động KH&CN doanh nghiệp cho phù hợp với thông lệ quốc tế Từ sự ra đời của Quỹ Phát triển KH&CN Quốc gia, Quỹ Đổi mới Công nghệ Quốc gia và tới đây là Quỹ Đầu tư mạo hiểm, tạo những kênh thông thương hỗ trợ đổi mới, hy vọng là những kênh tài chính này với những thủ tục thông thoáng, đơn giản sẽ tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong tiếp cận với những nguồn vốn để nâng cao năng lực nội sinh, đáp ứng đòi hỏi của đổi mới công nghệ doanh nghiệp

Làm rõ việc cần làm để thúc đẩy đổi mới công nghệ doanh nghiệp, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, cần thay đổi phương thức hỗ trợ theo hướng nâng cao tính năng và hiệu quả xã hội Nhà nước không cần phải quản lý quá chi tiết những việc doanh nghiệp làm, chỉ cần nắm kết quả thực hiện, chi phí cần thiết và hiệu quả xã hội mang lại Tiêu chí cần và đủ để Bộ KH&CN đánh giá, tuyển chọn và Bộ Tài chính quản lý chặt chẽ ngân sách hỗ trợ nên tập trung vào: đáp ứng nhu cầu xã hội,

có được cái xã hội cần; giải pháp cần ưu việt hơn cái đã có để không đi sau thiên hạ

và nguồn tài chính đảm bảo thực hiện thành công và có lãi Với tiêu chí này, đã có nhiều đề nghị tập trung vào đơn giản hóa thủ tục đăng ký, phê duyệt đề cương, kiểm tra, nghiệm thu và quyết toán ngân sách hỗ trợ

Qua tiếp cận với nhiều doanh nghiệp thực hiện thành công dự án đổi mới công nghệ, chúng tôi nhận thấy, nguyên tắc khoán hỗ trợ kinh phí nghiên cứu là vấn đề được hầu hết doanh nghiệp đồng tình và cho rằng, nên đi vào những nội dung cụ thể, đơn giản hóa những vấn đề phức tạp hơn là phức tạp hóa những việc làm đơn giản nhằm giúp doanh nghiệp dề dàng tiếp cận được với chủ trương và chính sách khuyến khích, hỗ trợ của Nhà nước

Từ tiềm lực tài chính của số đông doanh nghiệp hiện nay, với ý nghĩa công nghệ là loại hàng hóa đặc biệt, đem lại lợi ích xã hội lớn hơn rất nhiều lần so với lợi ích riêng của nhà đầu tư, thì mức hỗ trợ đổi mới công nghệ doanh nghiệp 13% thực

hiện thời gian qua là quá nhỏ Phù hợp với thông lệ quốc tế (Hàm ý ở đây là luật lệ của WTO) trong điều kiện Việt Nam trở thành thành viên WTO, nên chăng mức hỗ

trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ cũng cần được nâng lên ngang bằng với những quốc gia trong điều kiện tương tự

Trang 28

Hướng vào mục tiêu hỗ trợ đổi mới công nghệ doanh nghiệp trong xu thế đầu tư nước ngoài mở rộng, để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa đất nước, giới nghiên cứu

và đại diện của nhiều doanh nghiệp cho rằng, chủ trương và chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cần được xây dựng mang tính chiến lược có tầm nhìn tổng thể để tập trung vào những nội dung trọng điểm mang tính đồng bộ, thống nhất ở mọi cấp, mọi ngành nhằm tạo sự chuyển biến rõ rệt cho từng ngành, từng lĩnh vực, tránh phân tán, nhỏ lẻ và thiếu tập trung như đã diễn ra

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện hội nghị lần thứ hai BCH TW khóa VIII, Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 19977

2 Bộ KH&CN, Báo cáo sơ kết thực hiện Nghị định 119/1999/NĐ-CP, Hà Nội tháng 6 năm 2008

3 Bộ KH&CN, Kỷ yếu Hội thảo sơ kết thực hiện Nghị định 119/1999/NĐ-CP, Hà Nội tháng 6/2008

4 SAREC, Vai trò Nhà nước đối với R&D, Hà Nội 11/1999

5 Trần Đình Thiên, Tiếp cận CNH, HĐH rút ngắn ở Việt Nam từ lý thuyết phát triển tổng quát, Kỷ yếu hội thảo KH&PT: Lý luận và thực tiễn Việt Nam, Hà Nội, 6/2008, Tr.66-

94

6 Trần Công Khiêm, Vai trò của Nhà nước trong phát triển thị trường công nghệ và thúc đẩy đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp, Tạp chí Thông tin và Dự báo KT-XH, 3/2008, Tr.52-59

Trang 29

CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI ĐỔI MỚI QUẢN LÝ KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ SAU KHI NƯỚC TA GIA NHẬP WTO

Nguyễn Nghĩa 1 Tóm tắt

Đến nay, Việt Nam đã gia nhập WTO được 2 năm Bài viết trình bày những cơ hội để phát triển KH&CN ở Việt Nam, chia sẻ một số suy nghĩ về những công việc cần làm trong phát triển nguồn nhân lực, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, đổi mới quản

lý KH&CN trước vận hội lịch sử này

Gần 2 năm qua, hoạt động KH&CN đã có nhiều nét đổi mới như tiếp tục chuyển đổi

tổ chức KH&CN sang doanh nghiệp, tăng cường gắn kết KH&CN với sản xuất thông qua thị trường công nghệ Với những tiến bộ rõ ràng, hoạt động KH&CN vẫn chưa thể đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế và xã hội, đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập WTO, nhiều vấn đề đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu giải quyết

1 Gia nhập WTO là cơ hội hiếm có đối với phát triển KH&CN Việt Nam

Việc gia nhập WTO sẽ cho phép Việt Nam tham gia rộng hơn và sâu hơn vào quá trình toàn cầu hoá kinh tế, tạo ra ảnh hưởng quan trọng và sâu xa đối với kinh tế, xã hội và KH&CN Việt Nam Nói chung, gia nhập WTO là cơ hội và cũng là thách thức đối với phát triển KH&CN Việt Nam Chúng ta phải tích cực chủ động nắm bắt cơ hội lịch sử này, đẩy nhanh phát triển KH&CN Việt Nam

Gia nhập WTO là cơ hội đối với KH&CN, thể hiện ở một số khía cạnh sau:

Một là, không gian phát triển KH&CN sẽ rộng lớn hơn Trong điều kiện toàn cầu

hoá kinh tế, Việt Nam có thể tiếp cận thế giới thuận lợi hơn, có thể mở rộng các quan hệ hợp tác và giao lưu quốc tế về KH&CN, để nâng cao trình độ phát triển KH&CN Việt Nam

Hai là, đầu tư KH&CN sẽ được gia tăng mạnh mẽ hơn Theo quy định “Hiệp định

trợ cấp và chống trợ cấp” của WTO thì trợ cấp của Chính phủ cho nghiên cứu công nghệ công nghiệp không được vượt quá 75% chi phí hợp pháp, trợ cấp cho phát triển công nghệ công nghiệp không vượt quá chi phí hợp pháp 50% Đây là quy định hợp lý Do đó, không chỉ các chương trình KH&CN cấp Nhà nước hiện nay của nước ta về cơ bản không có mâu thuẫn với điều khoản của WTO mà còn các khoản trợ cấp trực tiếp cho công nghiệp trước đây sẽ được Chính phủ chuyển sang

hỗ trợ tăng cường cho KH&CN công nghiệp

Ba là, nhu cầu đối với KH&CN sẽ cao và tăng nhanh chóng Sau khi gia nhập WTO,

sản phẩm nước ta, thậm chí cả sản phẩm công nghệ cao, sẽ phải đối mặt đồng thời với hai áp lực về công nghệ và giá cả của sản phẩm nước ngoài Khi ấy, doanh nghiệp chỉ thông qua tiến bộ công nghệ, tăng cường nghiên cứu phát triển độc lập, nâng cao trình độ công nghệ và chất lượng sản phẩm mới có thể thích ứng được với

1 TS, Viện Sở hữu Trí tuệ

Trang 30

cạnh tranh quốc tế gay gắt Về phần mình, cạnh tranh sẽ kích thích mạnh mẽ nhu cầu của doanh nghiệp đối với KH&CN, cạnh tranh thị trường sẽ gia tăng áp lực và động lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp

Bốn là, cơ chế hướng dẫn của thị trường tạo thuận lợi cho đổi mới công nghệ Gia

nhập WTO sẽ đẩy nhanh tiến trình thị trường hoá nền kinh tế nước ta Vận hành theo cơ chế này cùng với việc tăng cường liên kết sản xuất-giáo dục-nghiên cứu sẽ nhanh chóng nâng cao năng lực đổi mới công nghệ của doanh nghiệp

Bên cạnh đó, phát triển KH&CN nước ta sau khi gia nhập WTO cũng đối mặt với những thách thức Ví dụ, doanh nghiệp công nghệ cao tương đối nhỏ yếu của nước

ta sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh bất cân xứng với các doanh nghiệp công nghệ cao của các nước phát triển về lực lượng cán bộ KH&CN, vấn đề sáng chế và tiêu chuẩn kỹ thuật Vì thế, chúng ta phải chuẩn bị đầy đủ để chủ động điều chỉnh chiến lược và chính sách phát triển KH&CN nhằm đáp ứng với các hiệp định đa phương của WTO, giảm thiểu những ảnh hưởng xấu trong quá trình tiếp cận theo thông lệ với quốc tế Ví dụ, yêu cầu của “Hiệp định trợ cấp và chống trợ cấp”, “Hiệp định rào cản kỹ thuật trong thương mại” (TBT), “Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại” (TRIPS) và “Hiệp định công nghệ thông tin”

Trước mắt cần tiến hành một số vấn đề sau đây:

• Vận dụng các phương pháp tiên tiến, xây dựng một số chương trình đổi mới công nghệ tầm quốc gia nhằm tạo ra các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh quốc tế cao;

• Phát triển một số lĩnh vực công nghệ cao;

• Rà soát lại hệ thống văn bản về điều kiện kỹ thuật, Sở hữu trí tuệ để sửa đổi hoặc bổ sung cho phù hợp với thông lệ quốc tế cũng như để bảo hộ (trong trường hợp cần thiết) các ngành xương sống của đất nước;

• Hỗ trợ doanh nghiệp KH&CN vừa và nhỏ, đẩy nhanh phát triển công nghiệp công nghệ cao;

• Tích cực phát triển các cơ quan trung gian KH&CN, xây dựng hệ thống dịch vụ KH&CN thúc đẩy phát triển thị trường công nghệ;

• Tăng cường xây dựng đội ngũ cán bộ KH&CN, nâng cao nhanh chóng năng lực đổi mới của nước ta

2 Nhận thức đầy đủ tầm quan trọng thực hiện chiến lược tiêu chuẩn hoá cán

bộ KH&CN, sáng chế và tiêu chuẩn kỹ thuật

Suy cho cùng, cạnh tranh quốc tế là cạnh tranh nguồn nhân lực, trong đó nhân lực KH&CN có trình độ đóng vai trò trung tâm Khi thị trường nhân lực KH&CN được quốc tế hoá, thì nhân lực KH&CN Việt Nam trở thành đối tượng chú ý trên thế giới

Do đó trước hết phải xác lập tư duy nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất,

Trang 31

coi việc phát hiện, đào tạo, ổn định và sử dụng tốt nhân lực KH&CN là nhiệm vụ chiến lược Cố gắng nâng cao đãi ngộ cho nhân lực KH&CN, cải cách chế độ đánh giá KH&CN để thực hiện quan điểm lấy con người làm gốc

Việc phát triển nhân lực KH&CN cần được thực hiện thông qua hoàn thiện cơ chế khuyến khích, cải thiện điều kiện nghiên cứu khoa học, động viên đầy đủ tính tích cực của cán bộ KH&CN trong nước; khuyến khích và hỗ trợ các nhà khoa học Việt Nam hướng ra vũ đài KH&CN thế giới nhiều hơn nữa; nắm bắt cơ hội, tạo môi trường tốt, tích cực thúc đẩy cán bộ KH&CN ưu tú ở nước ngoài trở về nước khởi nghiệp, xây dựng doanh nghiệp KH&CN, đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển trọng điểm phải thu hút cán bộ KH&CN giỏi nhất, xuất sắc nhất

Cùng với việc thực hiện Hiệp định TRIPS, nước ta sẽ phải đối mặt với thách thức gay gắt về phương diện bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ Hiện nay, các quốc gia phát triển trong phạm vi thế giới tiếp tục chuyển lợi thế độc quyền công nghệ của mình

để lũng đoạn thị trường Ví dụ, lĩnh vực công nghệ sinh học, Mỹ chiếm 59% tổng số sáng chế trên thế giới, EU chiếm 19%, Nhật Bản chiếm 17%, các quốc gia khác chỉ chiếm 5%; lĩnh vực dược phẩm Mỹ chiếm 51% sáng chế, EU chiếm 33%, Nhật Bản chiếm 12%, các quốc gia khác chỉ chiếm 4%

Đến cuối 12/2007, trong số đơn nộp đăng ký sáng chế của Việt Nam, nước ngoài có khoảng 17990 đơn, trong nước chỉ có 1777 đơn (theo thống kê Cục SHTT) Cho nên, cần nâng cao chất lượng nghiên cứu và phát triển, nhanh chóng nâng cao số lượng sáng chế, thúc đẩy năng lựccạnh tranh của nền kinh tế nói chung và KH&CN nói riêng

Cạnh tranh về tiêu chuẩn kỹ thuật đã trở thành thủ pháp quan trọng của cạnh tranh kinh tế quốc tế ngày nay, cũng là công cụ cơ bản hỗ trợ triển khai các biện pháp rào cản kỹ thuật “Hiệp định rào cản kỹ thuật” của WTO cho phép áp dụng hợp lý các quy tắc, tiêu chuẩn kỹ thuật và trình tự thẩm định đạt tiêu chuẩn bảo đảm chất lượng

và an toàn sản phẩm nhập khẩu Các quốc gia phát triển dựa vào lợi thế kỹ thuật của mình, không ngừng đưa ra và sử dụng rào cản kỹ thuật để hạn chế xuất khẩu của các quốc gia khác và sử dụng quyền lãnh đạo của mình trong cơ quan tiêu chuẩn hoá quốc tế nhằm áp đặt các tiêu chuẩn kỹ thuật và phương pháp thử nghiệm có lợi cho nước mình vào tiêu chuẩn quốc tế

Đa số tiêu chuẩn kỹ thuật Việt Nam sử dụng tiêu chuẩn quốc tế, nên đối với sản phẩm nhập khẩu, không thể không nói đến rào cản kỹ thuật Trong những năm gần đây nhiều doanh nghiệp Việt Nam gặp phải hạn chế của rào cản kỹ thuật nước ngoài Ảnh hưởng của rào cản kỹ thuật đối với xuất khẩu Việt Nam rất lớn Vì vậy cần có

hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia có thể bảo vệ lợi ích của mình Cần tăng cường nghiên cứu rào cản kỹ thuật, nhanh chóng xây dựng quy tắc phù hợp với WTO, thay đổi tình hình lạc hậu của công tác tiêu chuẩn hoá kỹ thuật và phương pháp đo lường thử nghiệm của Việt Nam hiện nay, đặc biệt trong lĩnh vực công

Trang 32

nghệ cao Sau khi gia nhập WTO, việc giải quyết vấn đề này trở nên ngày càng cấp bách đòi hỏi tiến hành các biện pháp thực tế Trong trường hợp ngược lại tình hình lạc hậu này còn tiếp tục kéo dài, ảnh hưởng không nhỏ đến năng lực cạnh tranh kinh

tế quốc tế của Việt Nam

3 Tăng cường năng lực đổi mới là mục tiêu chiến lược quan trọng phát triển KH&CN

Đổi mới tạo ra động lực thay đổi và phát triển KH&CN Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam phải đối mặt với cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, tăng cường năng lực đổi mới sẽ trực tiếp liên quan đến địa vị cạnh tranh quốc tế của Việt Nam trong thế kỷ mới Ngày nay, tình trạng năng lực đổi mới Việt Nam còn thiếu và ảnh hưởng của nó ngày càng rõ nét

Kinh nghiệm thế giới chứng minh, trong điều kiện thị trường quốc tế mở, một quốc gia thiếu năng lực đổi mới thì rất khó tích cực và chủ động tiến hành điều chỉnh chiến lược cơ cấu kinh tế và có thể bị động trong phân công công nghiệp quốc tế mới do các nước phát triển chủ đạo

Trong môi trường quốc tế ngày nay, khi thế giới bước vào thời đại nền kinh tế tri thức, sức mạnh quốc gia bởi công nghệ quyết định chiến thắng trên thị trường - điều

mà bất kỳ một quốc gia nào cũng mong muốn phụ thuộc vào công nghệ nhiều hơn

so với phụ thuộc vào vốn Gia nhập WTO la cơ hộ cho chúng ta mở rộng tầm nhìn công nghệ, học tập, tiếp thu công nghệ tiên tiến nâng cao năng lực đổi mới công nghệ quốc gia tạo tiền đề và động lực cho phát triển KH&CN đất nước

4 Xử lý chính xác và tăng cường mối quan hệ giữa công tác KH&CN phát triển nông thôn, xã hội và thúc đẩy tiến bộ công nghệ công nghiệp

Sau khi gia nhập WTO, Nhà nước sẽ từng bước giảm sự trợ cấp đối với các lĩnh vực sản phẩm theo luật cạnh tranh quốc tế quy định, hỗ trợ có trọng điểm cho lĩnh vực mang tính công cộng và xây dựng môi trường chính sách Điều này có thể sẽ gia tăng mức hỗ trợ đối với công tác KH&CN phục vụ phát triển nông nghiệp và xã hội Trong tương lai, chúng ta vẫn còn phải tiến hành công nghiệp hoá-hiện đại hoá lâu dài, nền công nghiệp truyền thống vẫn chiếm địa vị chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân Giai đoạn 2006-2010, Nhà nước cần coi điều chính cơ cấu kinh tế là mặt trận chính, trong đó điều chỉnh cơ cấu công nghiệp là nội dung then chốt, phải coi trọng nhiệm vụ nâng cấp công nghệ công nghiệp

Trong giai đoạn hiện nay, cơ chế đổi mới công nghệ doanh nghiệp Việt Nam chưa hoàn chỉnh, năng lực đổi mới chưa mạnh, chưa thể đáp ứng yêu cầu của WTO Vì vậy, tích cực áp dụng công nghệ cao và nâng cấp công nghiệp truyền thống, nhanh chóng nâng cao năng lực đổi mới công nghệ trong lĩnh vực công nghiệp chế tạo, thúc đẩy nâng cấp cơ cấu công nghiệp là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của

Trang 33

công tác KH&CN hiện nay Sau khi gia nhập WTO, phải chú ý hỗ trợ KH&CN công nghiệp

Tăng cường vận dụng cơ chế thị trường trong quản lý hệ thống các chương trình KH&CN cấp Nhà nước, thu hút sự tham gia của doanh nghiệp nhiều hơn, gia tăng tài trợ cho KH&CN công nghiệp, bố trí lực lượng nghiên cứu khoa học tốt hơn, đẩy nhanh tốc độ chuyển hoá thành quả KH&CN Chuyển chế doanh nghiệp hoá các viện nghiên cứu khoa học loại hình phát triển công nghệ theo Nghị định 115 là xu thế như vậy

5 Đổi mới quản lý dự toán tài chính, nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí KH&CN

Đổi mới quản lý tài chính xu thế của thời đại, về bản chất là giảm thiểu các khâu quản lý, nâng cao hiệu quả điều hành và sử dụng vốn Trước hết, phải cải tiến dự toán kinh phí KH&CN, cố gắng xây dựng hệ thống mới về dự toán kinh phí KH&CN Thứ hai, phải thúc đẩy toàn diện chế độ quản lý đề tài nghiên cứu khoa học, cố gắng xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách và quy phạm quản lý đề tài Thứ ba, phải tiêu chuẩn hoá quản lý kinh phí KH&CN, nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí Coi trọng quản lý dự án cũng tương tự như quản lý kinh phí, tăng cường kiểm tra giám sát tài chính, xây dựng cơ chế phản hồi theo dõi toàn bộ quá trình kinh phí KH&CN từ nộp đơn đăng ký đến kiểm tra, cấp phát, thực hiện, đánh giá hiệu quả

Chúng ta phải lấy việc gia nhập WTO làm cái mốc, nắm chắc cơ hội, dũng cảm đối mặt với thách thức, để thúc đẩy nâng cấp công nghệ công nghiệp và nâng cao năng lực đổi mới KH&CN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Việc Việt Nam gia nhập WTO có ý nghĩa với cả Việt Nam và WTO, 2006, Trang WEB Đài TNVN;

2 Gia nhập WTO: Được, mất ra sao? 2006, Việt báo.vn;

3 Dương Trung Quốc, Gia nhập WTO:- cuộc hội nhập lần thứ hai, 2007, VietNamNet

4 Yêu cầu của WTO đối với công tác tiêu chuẩn hoá, 2003, (Tài liệu Internet);

Trang 34

GIẢI PHÁP CHÍNH SÁCH PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ

TRÍ THỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG THỜI KỲ

ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Nguyễn Mạnh Quân 1

Tóm tắt

Gần 50 năm qua, trong quá trình xây dựng và hình thành định hướng chiến

lược, chính sách và cơ chế quản lý khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp bảo vệ

và xây dựng đất nước chưa bao giờ vị trí và vai trò của chính sách đối với đội ngũ

trí thức khoa học và công nghệ lại được Đảng và Nhà nước quan tâm, chỉ đạo cụ

thể và sâu sát như trong giai đoạn hiện nay Trong bài viết này, tác giả đã khái quát

vai trò của trí thức KH&CN trong các chặng đường lịch sử dân tộc, nêu những khó

khăn và thách thức của đội ngũ trong bối cảnh mới, đề xuất một số quan điểm và cơ

chế chính sách cụ thể để phát huy những tiềm năng to lớn của trí thức KH&CN

trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập

quốc tế trong thời gian tới

Mở đầu

Đồng chí Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh trong chuyến thăm và làm việc mới đây tại

Bộ Khoa học và Công nghệ đã đề nghị “trong Chiến lược phát triển khoa học và

công nghệ đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 mà Bộ Khoa học và Công nghệ

đang xây dựng, ngoài việc xác định rõ mục tiêu, định hướng, nhiệm vụ và giải pháp

để đưa khoa học và công nghệ nước ta phát triển mạnh mẽ, đáp ứng yêu cầu của quá

trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và yêu cầu phát triển bền vững của đất nước,

còn phải cụ thể hoá một số chính sách đối với đội ngũ tri thức khoa học và công

nghệ”

Việc cụ thể hoá một số chính sách đối với đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ

mà đồng chí Tổng Bí thư nhận định là “đã đến lúc” trong tình hình hiện nay là đòi

hỏi tất yếu của quá trình thực hiện đường lối nhất quán của Đảng ta coi con người

vừa là “mục tiêu, vừa là động lực” của sự nghiệp cách mạng, coi trọng vai trò của

đội ngũ trí thức trong liên minh công-nông trí và xác định vai trò “then chốt”, “động

lực”, “nền tảng” và “quốc sách hàng đầu” của khoa học và công nghệ trong sự

nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

I Vai trò của trí thức và trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam trong các

chặng đường lịch sử dân tộc

1

Trang 35

Nhìn lại các giai đoạn lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, có thể

thấy nét tương đồng giữa các thế hệ trí thức đó là sự gắn bó máu thịt của trí thức Việt Nam đối với dân tộc Họ cùng dân tộc nổi chìm trong dòng lịch sử: hưng thịnh

hay suy vong, vinh quang hay tủi nhục, thất bại hay thành công2 thì đều đồng hành cùng dân tộc

Đóng góp của trí thức Việt Nam trong xã hội thời phong kiến chủ yếu tham gia vào công việc triều chính, tham mưu cho triều đình và trực tiếp quản lý ở các cấp, làm quan sau khi đỗ đạt, làm công tác giảng dạy ở các trường làng hoặc làm thầy thuốc cứu dân Nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp lạc hậu tiến hành theo kinh nghiệm dân gian, không có chỗ cho trí thức khoa học và vai trò của trí thức nhất là trong điều kiện xã hội đóng cửa với bên ngoài và “bế quan toả cảng”

Cách mạng Tháng Tám thành công lập nên Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là một bước ngoặt lịch sử của dân tộc và cũng là một bước ngoặt lịch sử đối với vai trò,

vị trí và những đóng góp của đội ngũ trí thức Việt Nam, đặc biệt là đã trực tiếp tạo điều kiện cho sự hình thành của một đội ngũ trí thức mới chưa hề có trong lịch sử dân tộc, đó là trí thức khoa học và công nghệ

Tiếp tục dòng chảy của truyền thống, vào những ngày đầu của chính quyền còn non trẻ, theo lời kêu gọi của Hồ Chủ Tịch, nhiều nhân sĩ trí thức lớn như Huỳnh Thúc Kháng, Phan Kế Toại, Phan Anh đã tham gia thành phần Chính phủ cùng toàn dân gìn giữ chính quyền, chuẩn bị cho kháng chiến Phần lớn trong 14 vị thành viên Chính phủ lúc bấy giờ đều là trí thức Đặc biệt, nhiều trí thức nổi tiếng được đào tạo bài bản về khoa học và công nghệ ở nước ngoài như: Hồ Đắc Di, Tôn Thất Tùng, Phạm Quang Lễ (Trần Đại Nghĩa), Nguyễn Văn Huyên, Trần Hữu Tước, Phạm Ngọc Thạch, Nguyễn Hữu Thọ, Đặng Văn Ngữ, Phạm Huy Thông, Lê văn Thiêm, Trần Đức Thảo, Đặng Vũ Hỷ… đã trở về nước trực tiếp xây dựng những cơ sở và nền móng ban đầu của nhiều chuyên ngành khoa học và công nghệ Việt Nam về sau này

Trong những năm kháng chiến chống Pháp gian khổ và đầy thử thách, những nhà trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam yêu nước đã vừa dốc sức tham gia kháng chiến, vừa nghiên cứu sản xuất vũ khí, phục vụ chiến đấu, chăm sóc thương bệnh binh, vừa tham gia xoá nạn mù chữ, xây dựng và phát triển hệ thống giáo dục phổ thông và cơ sở đào tạo đại học và bắt đầu tạo dựng một số cơ sở nghiên cứu khoa học và công nghệ Đặc biệt, đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ đã nỗ lực vượt bậc, từng bước đưa việc giảng dậy bằng tiếng Việt thành ngôn ngữ chính trong các trường đại học và cao đẳng, biên dịch tài liệu và sách giáo khoa, tài liệu phổ biến kiến thức để nâng cao dân trí Sự thành công này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tạo dựng những nền móng ban đầu để phát triển khoa học và công nghệ, đào

2 GS Vũ Khiêu, Trí thức Việt Nam, Báo Nhân dân và bài đăng trên trang

web:http://154.chungta.com/PortletBlank.aspx/

Trang 36

tạo cán bộ chuyên môn phục vụ cho công cuộc kháng chiến và xây dựng đất nước sau này3

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ lại một lần nữa đồng hành cùng dân tộc và có những đóng góp hết sức to lớn cho chiến thắng và thống nhất đất nước năm 1975 Đội ngũ trí thức khoa học và

công nghệ dù còn non trẻ đã đi theo Đảng tiến hành một “cuộc cách mạng kỹ thuật trong thời chiến”4 rộng khắp các tỉnh miền Bắc lúc bấy giờ, góp phần tăng năng suất lao động, tăng gia sản xuất lương thực và thực phẩm trên cơ sở thâm canh, duy trì và phát triển giao thông vận tải trong điều kiện chiến tranh, phát triển công nghiệp địa phương và tiểu thủ công nghiệp Đặc biệt, nhiều trí thức và tập thể các nhà khoa học trong điều kiện thời chiến, phương tiện vật chất thiếu thốn nhưng đã

có những kết quả nghiên cứu đóng góp trực tiếp cho chiến đấu chống lại nhiều vũ khí tối tân và hiện đại của kẻ địch Một số công trình tiêu biểu đã được Nhà nước trao các giải thưởng cao quý về khoa học và công nghệ, thí dụ như: Cụm công trình

rà phá thuỷ lôi của GS.TS Vũ Đình Cự

Trong thời kỳ xây dựng đất nước thống nhất, giai đoạn tiền đổi mới (1975-1985) đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ nước ta đã có những đóng góp quan trọng trong các lĩnh vực hoạt động khoa học và công nghệ, phát triển kinh tế-xã hội, chuẩn bị cơ sở khoa học và thực tiễn cho đất nước bước vào thời kỳ đổi mới

Về khoa học xã hội, hoạt động nghiên cứu của trí thức đã góp phần cụ thể hoá đường lối của Đảng trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội; đề xuất những vấn đề về chiến lược kinh tế - xã hội, cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội, cơ chế quản lý; đã biên soạn nhiều công trình có giá trị về lịch sử, văn học, về xây dựng nền văn hoá mới, con người mới, lối sống mới, đã góp phần đấu tranh chống những trào lưu tư tưởng phản động Trong khoa học tự nhiên, đã hoàn thành bản đồ địa chất miền Nam tỷ lệ 1/500.000, bản đồ đất tỷ lệ 1/25.000 cho vùng trung du Bắc Bộ; đã hoàn thành điều tra tổng hợp một số vùng lãnh thổ, lãnh hải và tổng sơ đồ phân bố lực lượng sản xuất đến năm 2000, sơ đồ môi sinh và bảo vệ môi trường vùng Đông Nam bộ; đã tiến hành nhiều công trình lý thuyết có giá trị về toán học, cơ học, vật lý, hoá học được đánh giá tốt trong và ngoài nước; Trên cơ sở đánh giá tài nguyên sinh vật, đã đề xuất các biện pháp khai thác hợp lý, đã áp dụng công nghệ sinh học trong nhân giống, điều chế chất kích thích sinh trưởng Khoa học nông nghiệp đã góp phần vào việc phát triển nông nghiệp toàn diện, đảm bảo lương thực - thực phẩm và một phần nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu Thành tựu nổi bật nhất là năm 1985 đã đưa năng suất lúa lên 28,5 tạ/ha/vụ và tổng sản lượng lương thực lên tới 18,2 tấn/năm Khoa học y dược đã giải quyết có hiệu quả các bệnh sốt rét và sốt xuất huyết; một số kỹ thuật hiện đại như vi phẫu thuật,

Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1995

4

Trang 37

ghép giác mạc được áp dụng thành công; một số kỹ thuật cổ truyền như châm cứu được áp dụng rộng rãi; đã bào chế được nhiều loại thuốc từ nguyên liệu trong nước Khoa học kỹ thuật đã góp phần giải quyết những khó khăn về nguyên nhiên, vật liệu

và phụ tùng thay thế phải nhập khẩu; đã thiết kế chế tạo được một số dây chuyền sản xuất công nghiệp, một số phương tiện vận tải thuỷ quy mô nhỏ và vừa; đã áp dụng có kết quả nhiều giải pháp kỹ thuật tiên tiến trong thi công xây dựng các công trình lớn như Nhiệt điện Phả Lại, Thuỷ điện Hoà Bình, Cầu Thăng Long, Cầu Chương Dương

Trong giai đoạn đổi mới (từ 1986 cho đến nay), đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, được sự quan tâm đầu tư của Nhà nước

và xã hội đã không ngừng lớn mạnh và đã có những đóng góp to lớn về nhiều mặt, góp phần đưa đất nước vượt qua khủng hoảng kinh tế-xã hội đầu những năm 1990, hội nhập vào nền kinh tế thế giới và chuẩn bị ra khỏi tình trạng chậm phát triển để bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước những năm đầu thế kỷ 21

Nghiên cứu khoa học trong các chương trình khoa học xã hội và nhân văn đã cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn cho hoạch định đường lối của Đảng tại các kỳ Đại hội VI, VII, VIII, IX và X, cùng toàn Đảng và toàn dân dần dần làm sáng tỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam Đặc biệt là đã góp phần quan trọng vào hình thành quan điểm của Đảng về xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần chuyển đổi thành công nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá, tập trung, quan liêu bao cấp sang thể chế kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X vừa xác định Nhiều kiến nghị, đề xuất cụ thể về chính sách xã hội, cải tiến lương, bỏ chế độ cấp hành chính chủ quản doanh nghiệp, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế ở từng vùng kinh tế trọng điểm đã phục vụ kịp thời cho công tác chỉ đạo, điều hành của Chính phủ

Trí thức hoạt động trong lĩnh vực khoa học tự nhiên đã có một số công trình nghiên cứu đạt trình độ ngang tầm các nước trong khu vực nhất là trong một số bộ môn mà Việt Nam có thế mạnh như toán, vật lý, y học Hoạt động nghiên cứu, điều tra cơ bản điều kiện tự nhiên đã góp phần nắm rõ các nguồn lợi tự nhiên của đất nước về địa chất, khoáng sản, dầu khí, hải sản, tạo cơ sở xây dựng và phát triển một số ngành kinh tế mũi nhọn hiện nay của đất nước như khai thác và chế biến dầu khí, khai thác, nuôi trồng và chế biến hải sản, dịch vụ du lịch,.v.v

Tựu trung lại, có thể khẳng định nhiều cống hiến lớn trong tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân mà đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam đã góp phần trong thời kỳ đổi mới Cụ thể là: khai hoang Đồng Tháp Mười; hệ thống công trình điều khiển lũ ở tứ giác Long Xuyên; sản xuất thuốc sốt rét từ cây thanh hao hoa vàng và nhiều loại vắc-xin phòng bệnh đặc biệt là vắc-xin phòng cúm

Trang 38

H5N1; các tiến bộ kĩ thuật trong nông nghiệp góp phần quan trọng nâng cao năng xuất và sản lượng lúa, đưa Việt Nam từ một nước nhập khẩu gạo trở thành một trong vài nước xuất khẩu gạo hàng đầu trên thế giới Trong đó những thành tựu đặc biệt là lai tạo giống ngô nội địa cạnh tranh được với giống ngô nhập ngoại; làm chủ công nghệ nuôi tôm sú và cá da trơn hình thành ngành nuôi trồng thủy sản có giá trị xuất khẩu ngày càng lớn; phát triển một số ngành công nghiệp kĩ thuật cao Lực lượng cán bộ khoa học và công nghệ trong nước đã nhanh chóng tiếp thu và làm chủ nhiều công nghệ hiện đại trong xây dựng, thi công cầu đường và các công trình ngầm góp phần nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho nền kinh tế Do nắm vững và làm chủ được một số công nghệ mới, ngành đóng tàu đã nhanh chóng trưởng thành, nhận được các đơn hàng trị giá hàng trăm triệu USD; đang thực hiện đơn hàng đóng mới những con tàu có trọng tải tới 53.000 DWT và 70.000 DWT; trong tương lai có thể đóng tàu chở dầu tới cỡ 100.000 DWT; đã tiếp thu và ứng dụng thành công một

số kĩ thuật hiện đại trong y tế nhất là trong phẫu thuật và ghép các cơ quan nội tạng như tim, gan, v.v…Riêng trong lĩnh vực quốc phòng, lực lượng khoa học và kỹ thuật bé nhỏ của chúng ta trong hai cuộc kháng chiến đã hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc: chế tạo được những vũ khí độc đáo trên cơ sở những nguyên lý khoa học tiên tiến nhưng cấu trúc đơn giản, có thể tự sản xuất trong những điều kiện còn rất hạn chế của nền kinh tế trong nước; sử dụng có hiệu quả các vũ khí và trang thiết

bị hiện đại do các nước bạn giúp, làm cho chính những người thiết kế, sản xuất và hướng dẫn chúng ta cũng phải ngạc nhiên; phân tích được chỗ mạnh, chỗ yếu của các kỹ thuật hiện đại của địch và có biện pháp đối phó hiệu quả5

II Những khó khăn và thách thức của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam trong thời kỳ mới

Bên cạnh nhiều thành tựu nổi bật và những đóng góp to lớn cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời gian qua, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ nước ta hiện nay đang đứng trước những thách thức to lớn của thời kỳ hội nhập quốc tế

Về truyền thống lịch sử, trí thức khoa học và công nghệ nước ta, về cơ bản xuất thân từ một nước nông nghiệp lạc hậu, trong một xã hội đặc trưng bởi Phương thức

sản xuất Châu Á, không có truyền thống khoa học và công nghệ từ lâu đời Có thể nói trong đội ngũ trí thức Việt Nam, trí thức khoa học và công nghệ là bộ phận trí thức non trẻ nhất (so với trí thức hoạt động văn học, nghệ thuật) Trong công cuộc

cạnh tranh vươn lên trong sáng tạo và sử dụng tri thức khoa học và công nghệ nhằm nhanh chóng rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các quốc gia trên thế giới ngày nay, sự non trẻ của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ nước là một bất lợi lớn

“Cuộc đua trên lĩnh vực trí tuệ này là một cuộc đua bất bình đẳng giữa các dân tộc: một bên có đầy đủ những phương tiện hiện đại nhất để nghiên cứu, tìm tòi, sáng tạo,

5

Trang 39

để luôn luôn có những phát minh kỳ diệu trước sự kinh ngạc của cả loài người Còn bên kia là những nước có mức sống thấp nhất, không đủ cơm ăn, áo mặc, không đủ sức chống đỡ với thiên tai và bệnh tật,…”6 Đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ7nước ta rất hạn chế và còn yếu kém về năng suất và hiệu quả hoạt động Nhiều năm qua, số công trình khoa học của các nhà khoa học Việt Nam đạt trình độ quốc tế để

có thể đăng tải và được đăng tải trên các tạp chí khoa học uy tín trên thế giới hầu như không đáng kể và thua kém nhiều lần so với các nước trong khu vực8 Số các bằng sáng chế và giải pháp hữu ích mà các nhà khoa học và công nghệ Việt Nam trong nước được cấp lại càng không đáng kể và thua kém hầu hết các nước, kể cả các nước trung bình trong khối ASEAN9

Trình độ, khả năng sử dụng ngoại ngữ và công nghệ thông tin là những yếu kém khác cản trở quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của trí thức khoa học và công nghệ nước ta Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ của Việt Nam được trang bị khá vững về lý thuyết nhưng yếu về năng lực sáng tạo công nghệ, trình độ quản lý, tinh thần kinh doanh và độ nhậy bén về thị trường Số trí thức khoa học và công nghệ đầu đàn đạt trình độ quốc tế, các tổng công trình sư có đủ năng lực chủ trì các chương trình, dự án trọng điểm mang tính đột phá còn rất ít Từ nhiều nguồn đào tạo khác nhau, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam hiện nay có thể nói

6 GS Vũ Khiêu, Trí thức Việt Nam http://154.chungta.com/PortletBlank.aspx/

7 Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, trí thức khoa học và công nghệ có thể được quan niệm bao gồm những người Việt nam đang ở trong và ngoài nước, người nước ngoài đang sinh sống và làm việc tại Việt nam và thuộc đối tượng cụ thể sau đây:

• Các cán bộ nghiên cứu trong các viện, các trường đại học;

• Cán bộ kỹ thuật, công nghệ, các chuyên gia khoa học (kỹ thuật viên, kỹ sư, kỹ sư trưởng, tổng công trình sư, nghiên cứu viên các cấp) làm việc trong các doanh nghiệp;

• Cán bộ quản lý các cấp (bao gồm cả quản lý ở các doanh nghiệp) tham gia hoặc chỉ đạo công việc nghiên cứu phục vụ hoạch định các chính sách, quyết sách, quyết định trong thẩm quyền của mình;

8 Theo ISI (Viện thông tin khoa học quốc tế- International Science Institute), trong vòng 11 năm,

từ tháng 1/1997-12/2007, các nhà khoa học Việt Nam thuộc 17 ngành (y học lâm sàng; vật lý; động, thực vật học; toán; kỹ thuật; sinh học và hoá sinh; hoá; nông nghiệp; vi sinh; môi trường; khoa học vật liệu; miễn dịch học; dược; sinh học phân tử và di truyền; khoa học thần kinh; toán; kinh tế) đã công bố tổng cộng 4.667 bài báo khoa học trên các tạp chí quốc tế chuẩn mực Trong khi đó, số công bố quốc tế ISI các ngành của Thái Lan là 20.672 bài báo; Malaysia: 13.059; Hàn Quốc: 203.637 Riêng Trung Quốc, trong khoảng thời gian nói trên, các nhà khoa học nước này đã công

bố tới 508.561 bài báo Như vậy, trong cùng khoảng thời gian nhưng các nhà khoa học Việt Nam chỉ công bố được số bài báo khoa học bằng 1/3 so với Malaysia (trong khi số dân nước ta lớn hơn 3 lần số dân Malaysia), 1/5 số bài của Thái Lan, dưới 1/11 của quốc đảo Singapore, 1/45 của Hàn Quốc, 1/110 của Trung Quốc (số dân VN bằng 1/16 TQ) Theo: [http://vietnamnet.vn/khoahoc/2008/05/782005/]

9 Vào khoảng năm 1997, số bằng sáng chế được cấp ở Mỹ đối với người Mỹ là 80.295, Nhật: 30.841, Hàn Quốc: 2.359, Singapore: 120, Trung Quốc: 3.100, Malaysia: 23, Thái Lan: 13, Philippin: 8 Trong các thống kê của Việt Nam, ta chỉ thấy số liệu về bằng sáng chế của người Việt là 1 Theo: [http://vietnamnet.vn/60nam/ctdod/2006/03/552637/]

Trang 40

là mất cân đối về cơ cấu, không đồng bộ về ngành nghề, phân bố thiếu cân đối theo khu vực10 và khả năng làm việc theo ê kíp còn nhiều hạn chế

Tuy nhiên, khó khăn và thách thức lớn hơn cả là sự trì trệ kéo dài nhiều chục năm qua trong việc cụ thể hoá đường lối, của Đảng đối với đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ thành những cơ chế, chính sách cụ thể có thể thực thi trong thực tế Nghị

quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III của Đảng đã chỉ rõ: “Trí thức là vốn quý của dân tộc Không có trí thức hợp tác với công nông thì cách mạng không thể thành công và sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam mới sẽ không hoàn thành được”11 Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2 (Khoá VIII) năm 1996 đã chỉ rõ vai trò của chính sách tạo động lực tinh thần và lợi ích vật chất cho cán bộ khoa học và công nghệ nhưng cho đến nay, những chủ trương đó vẫn chậm được cụ

thể hoá và thực thi trong thực tế Từ nhiều chục năm nay, chủ nghĩa bình quân và

cơ chế hành chính, công chức hoá cán bộ khoạ học và công nghệ vẫn tồn tại trong

môi trường làm việc của các cơ quan khoa học đã và đang làm xói mòn động lực và niềm tin của đại bộ phận trí thức khoa học và công nghệ Bối cảnh trì trệ kéo dài nhiều chục năm nay của chủ nghĩa bình quân và cơ chế hành chính hoá không phù hợp với những quy luật đặc thù của hoạt động khoa học đã vô hình chung tạo thành nếp nghĩ, thói quen thụ động, ỷ lại trong đội ngũ những người làm khoa học, làm mai một tiềm năng sáng tạo và đẩy phần lớn trí thức khoa học và công nghệ nước ta tụt hậu ngày càng xa so với các nước trong khu vực và thế giới

Người trí thức chân chính cần phải có chính kiến, khả năng tư duy độc lập, óc phê bình để có thể sáng tạo ra những công trình khoa học và văn hoá mới cho xã hội, cũng như có khả năng phát hiện những vấn đề, phê bình, phản biện nhằm góp phần làm cho xã hội phát triển Muốn như thế, tạo ra môi trường xã hội để những chính kiến riêng và óc phê bình có thể nảy sinh và phát triển Điều kiện xã hội, chính trị

lao động trong lĩnh vực KH&CN, bao gồm những người làm việc trực tiếp trong lĩnh vực nghiên cứu và triển khai, các viện, trung tâm nghiên cứu và triển khai ứng dụng KH-CN của cả nước là gần 40.000 người Ngoài ra, còn một số lực lượng nhất định trong tổng số gần 48.541 giảng viên trong các trường đại học, cao đẳng và các chuyên gia, kỹ sư làm việc trong các doanh nghiệp cũng được thu hút vào các hoạt động KH-CN Hiện nay, lực lượng này phân bố không đều giữa các vùng trong cả nước Có tới 92,2% cán bộ có trình độ tiến sĩ và tiến sĩ khoa học tập trung ở các cơ quan trung ương và hai thành phố lớn là Hà Nội (có 63,8% TS và 75,9% TSKH), và TPHCM (19,33%

TS và 17,11% TSKH) Số tiến sĩ ở các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và Nam bộ chưa tới 1% Trong

số các giáo sư, phó giáo sư, có 86,2% ở Hà Nội và 9,5% ở TPHCM, các nơi khác còn lại là 4,3% Cũng theo kết quả khảo sát nhân lực KH&CN năm 2006 của Viện KH&KT Lao động, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, tỉ lệ cán bộ có trình độ đại học trở lên chiếm 94,7% tổng số lao động trong lĩnh vực KH-CN, trong đó thạc sĩ là 35,5%, tiến sĩ là 30,5% Xét về mặt học vị, Việt Nam ở mức cao so với mức trung bình của khu vực.Có tới 92,2% cán bộ có trình độ tiến sĩ và tiến sĩ khoa học tập trung ở các cơ quan Trung ương và hai thành phố lớn là Hà Nội (có 63,8% TS và 75,9% TSKH), và TPHCM (19,33% TS và 17,11% TSKH) Số tiến sĩ ở các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên

và Nam bộ chưa tới 1% Trong số các giáo sư, phó giáo sư, có 86,2% ở Hà Nội và 9,5% ở TPHCM, các nơi khác còn lại là 4,3% [Theo, http://www.sggp.org.vn/trithuccongnghe/2008/6/156170/]

11

Ngày đăng: 10/12/2013, 04:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Tính đồng bộ của dây chuyến công nghệ trong doanh nghiệp (%)                            Mức đồng bộ - Tài liệu NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH KH&CN docx
Bảng 2. Tính đồng bộ của dây chuyến công nghệ trong doanh nghiệp (%) Mức đồng bộ (Trang 21)
Bảng 1. Mức độ hiện đại của dây chuyền công nghệ trong doanh nghiệp (%)                                  Thời gian - Tài liệu NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH KH&CN docx
Bảng 1. Mức độ hiện đại của dây chuyền công nghệ trong doanh nghiệp (%) Thời gian (Trang 21)
Bảng 3. Hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ theo Nghị định 119/1999/NĐ-CP - Tài liệu NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH KH&CN docx
Bảng 3. Hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ theo Nghị định 119/1999/NĐ-CP (Trang 23)
Bảng 1. Mâu thuẫn  giữa các nền văn hoá chính sách của Chính sách KH&CN - Tài liệu NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH KH&CN docx
Bảng 1. Mâu thuẫn giữa các nền văn hoá chính sách của Chính sách KH&CN (Trang 50)
Bảng 2. Các mô hình chính sách KH&CN - Tài liệu NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH KH&CN docx
Bảng 2. Các mô hình chính sách KH&CN (Trang 50)
Bảng 3. Chuyển đổi Chính sách KH&CN ở Việt nam trong giai đoạn 1960- 2000 2 - Tài liệu NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH KH&CN docx
Bảng 3. Chuyển đổi Chính sách KH&CN ở Việt nam trong giai đoạn 1960- 2000 2 (Trang 51)
Hình 1.  Những thay đổi của chính sách KH&CN tác động đến sự chuyển đổi của - Tài liệu NGHIÊN CỨU CHÍNH SÁCH KH&CN docx
Hình 1. Những thay đổi của chính sách KH&CN tác động đến sự chuyển đổi của (Trang 55)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w